Đơn xin trợ cấp thất nghiệp Mỹ tăng lần đầu trong bốn tuần lễ

WASHINGTON, DC (NV) – Số người Mỹ nộp đơn xin trợ cấp thất nghiệp tăng tuần qua, lần đầu tiên trong bốn tuần lễ, nhưng vẫn ở mức thấp đủ để cho thấy thị trường việc làm ổn định.

Bản báo cáo do Bộ Lao Động Mỹ đưa ra tại Washington, DC vào sáng ngày Thứ Năm cho thấy số đơn xin trợ cấp thất nghiệp tuần qua tăng thêm 10,000 so với tuần trước đó, lên tới con số 244,000, cho tuần lễ chấm dứt vào ngày 15 Tháng Tư.

Các dữ kiện về đơn xin trợ cấp thất nghiệp thường lên xuống theo từng tuần lễ vì những lý do không hẳn liên quan đến hình hình kinh tế như nghỉ lễ hay thời tiết.

Một cách tính khác, ít bị các giao động bất thường này ảnh hưởng là mức trung bình của bốn tuần lễ. Con số này cho thấy có sự sút giảm 4,250, đưa số đơn xuống còn 243,000 tuần qua.

Các đơn xin trợ cấp thất nghiệp tiếp tục ở dưới mức 300,000 trong 111 tuần lễ liên tiếp. Đây là khoảng thời gian lâu nhất kể từ năm 1970, thời điểm mà dân số Mỹ và lực lượng lao động nhỏ hơn nhiều so với hiện nay.

Số đơn nộp hàng tuần nói chung đã giảm dần từ khi cuộc Đại Suy Trầm chấm dứt vào năm 2009.

Do đơn xin trợ cấp thất nghiệp thường cho thấy mức độ giảm nhân viên của các hãng xưởng, sự kiện có số đơn thấp là chỉ dấu cho thấy thị trường lao động phát triển đều đặn.

Nhìn chung, số người Mỹ xin trợ cấp thất nghiệp giảm 49,000, xuống còn 1.98 triệu người, con số thấp nhất kể từ Tháng Tư, 2000. Mức đơn nộp giảm 7.7% trong năm ngoái và mức thất nghiệp ở Mỹ hiện là 4.5%, mức thấp nhất trong gần một thập niên.

Các kinh tế gia cho rằng phục hồi kinh tế Mỹ tuy không nhanh như mong muốn, nhưng đều đặn và ổn định. Họ tiên đoán rằng mức phát triển của quý 1 năm 2017 sẽ chỉ vào khoảng 1%, do giới tiêu thụ có vẻ giảm chi sau khi tăng mạnh vào quý 4 của năm ngoái. (V.Giang)

CIA và FBI săn lùng k3 rò rỉ tài liệu tối mật cho WikiLeaks

Đi tìm Bác Sĩ David Đào

LOUISVILLE, Kentucky (NV) – Hành trình đi tìm bác sĩ David Đào bắt đầu khuya thứ Tư, ngày 12 tháng Tư, khi chúng tôi đáp chuyến bay đêm từ LAX đến Chicago, rồi từ đó bay tiếp đến Louisville, Kentucky, theo đúng lộ trình của bác sĩ David Đào hôm Chủ Nhật trước đó, khi ông bị an ninh ở phi trường Chicago dùng vũ lực lôi ra khỏi chiếc phi cơ của United Airlines.

Khúc phim chiếu hình ảnh ông với khuôn mặt bê bết máu, thân thể bị kéo sềnh sệch dưới sàn, được truyền đi khắp nơi, đã tạo một cơn sóng phẫn nộ và những bàn tán không dứt gần như trên khắp thế giới.

Tại phi trường Chicago rạng sáng 13 Tháng Tư, trong khi chờ chuyến bay đến Louisville, Kentucky, người ta cũng bàn tán về sự kiện bác sĩ David Đào, nhưng lần này dư luận không chỉ lên án United Airlines, mà còn chỉ trích dữ dội những cơ quan truyền thông đang đua nhau đào bới quá khứ của vị bác sĩ bỗng dưng trở thành một “người của công chúng” một cách bất đắc dĩ.

Trước khi lên máy bay tôi đã đọc qua những bài viết đang được nhiều độc giả phản ứng mạnh mẽ, được cho là “bôi nhọ nạn nhân” này.

Courier-Journal, một tờ báo địa phương tại Louisville, mở màn với bài: “A doctor with [a] troubled past” nhắm vào sự phạm pháp khi cho toa thuốc giảm đau trái phép của bác sĩ Đào năm 2003, Tờ New York Post, chạy tít hấp dẫn không kém: “Doctor dragged off flight was convicted of trading drugs for sex.” Theo sau là một loạt bài tương tự của những tờ TMZ, Washington Times, Chicago Sun Times, People Magazine, Daily Mail, và Metro, …

Người đàn ông bên trái tôi, chỉ vào bài viết “A doctor with [a] troubled past” của Courier-Journal trên ipad, phân bua với người bên cạnh: “Ai mà không có quá khứ? Họ lôi ra những sự kiện xẩy ra đã 14 năm, và mảy may chẳng liên quan gì đến cách cư xử dã man của United Airlines. Làm vậy với mục đích gì? Tấn công nạn nhân hay sao?”

Người phụ nữ trước mặt tôi lắc đầu biểu đồng tình, chỉ vào tablet của mình, “New York Daily News cũng có bài: ‘Doctor pulled from United Airlines flight previously convicted of drug crimes, stripped of medical license.’ phụ họa: “Thực không hiểu mấy tờ báo vô lương tâm này đang làm cái gì. Dù ông ta có làm gì, có là ai chăng nữa thì United Airlines cũng không thể đối xử với ổng như vậy. Chẳng có gì dính dáng cả!”

Bác sĩ David Đào thật sự là ai? Chỉ qua khúc phim ông bị bạo hành và xấp tài liệu của cơ quan cấp bằng hành nghề y khoa, chúng ta có thể nào biết rõ về cả một con người? Đó là lý do tôi đến Louisville tìm câu trả lời.

 Căn biệt thự của gia đình bác sĩ David Đào tại Elizabeth Town. (Hình: Hà Giang/Người Việt)

Căn biệt thự của gia đình Bác Sĩ David Đào tại Elizabeth Town. (Hình: Hà Giang/Người Việt)

 

Cộng Đồng Người Việt tại Louisville

Louisville, cách thành phố Elizabeth Town, nơi bác sĩ David Đào sinh sống khoảng 40 dặm, có cộng đồng người Việt lớn nhất tại tiểu bang Kentucky, nơi bác sĩ David Đào và vợ là bà Teresa Đào thường xuyên lui tới sinh hoạt.

Từ phi trường, ông Nguyễn Tiến Dũng, chủ tịch Cộng Đồng Người Việt tại Louisville, đưa tôi đến nhà hàng Vietnam Kitchen ở trung tâm của cộng đồng khoảng trên dưới 5,000 người này. Gọi là “trung tâm” cho oai, chứ thật ra tiểu bang đất rộng người thưa Kentucky không có một khu buôn bán nào tụ họp các cửa hàng Việt Nam. Các tiệm do người Việt Nam làm chủ ở đây rải rác, cách nhau hai, ba blocks đường dài cũng được cho là rất gần.

Là địa phương nhỏ nhưng tình người nồng ấm. Các thành viên ban chấp hành của cộng đồng, người bận rộn với công việc trong buổi sáng ngày thường, người đang lo chuẩn bị cho buổi văn nghệ Đêm Tri Ân để gây quỹ xây dựng tượng đài chiến sĩ Việt Mỹ vào ngày 13 tháng Năm tới, nhưng ai cũng cố gắng đến gặp, rồi thu xếp thời khóa biểu để thay phiên nhau giúp đỡ người đến từ phương xa.

“Chị cứ mướn xe đi, vì từ Louisville qua Elizabeth Town lái xe mất gần một tiếng. Nhưng tụi tôi ai lúc nào có thời giờ sẽ tháp tùng chị, vì đường đi trong vùng Elizabeth Town hoang vắng quanh co lắm, buổi tối đi hơi sợ…” Ông Hùng Lê nói.

Sau buổi gặp gỡ ngắn ngủi tại Vietnam Kitchen, chúng tôi chia tay người nào việc nấy, nhưng hẹn sẽ gặp nhau tại đây lúc 3 giờ chiều để trao đổi tin tức. Vì bác sĩ David Đào nhất định “bế môn tỏa cảng,” không tiếp xúc với truyền thông báo chí, mà cũng không trả lời bạn bè thân thiết hỏi thăm, nên bà Trần Văn, phó chủ ngoại vụ của cộng đồng, đã giới thiệu chúng tôi với những bạn bè thân thiết nhất với gia đình vợ chồng bác sĩ David và Teresa Đào.

Cuối cùng thì sau thuyết phục qua điện thoại hơn 10 phút, chúng tôi cũng xin được một cái hẹn lúc 9 giờ tối, với vợ chồng Bác sĩ A. (xin được không dùng tên thật) một người bạn thân của Bác sĩ David Đào, nhà ở Elizabeth Town, cách nhà Bác sĩ David Đào không xa.

Vietnam Kitchen, một nhà hàng Việt Nam rất đông khách, nằm ở lòng Cộng Đồng Người Việt ở Louisville. (Hình: Hà Giang/Người Việt)
Vietnam Kitchen, một nhà hàng Việt Nam rất đông khách, nằm ở trung tâm cộng đồng người Việt ở Louisville. (Hình: Hà Giang/Người Việt)

Câu chuyện ở Elizabeth Town

Elizabeth Town, nơi bác sĩ David Đào cư ngụ là một thành phố nhỏ, dân số khoảng 29,000 người, với những ngôi biệt thự to lớn, nằm rải rác trên những khu đất tư rất lớn. Biết tôi sẽ gặp khó khăn khi tìm đường vào buổi tối, vợ chồng bà Trần Văn tình nguyện đưa tôi đến tận nơi.

Mở đầu câu chuyện, bà B, vợ bác sĩ A cho biết bà rất quan tâm và lo lắng cho hai vợ chồng người bạn, nhưng đành chịu không làm gì được, vì “không thể nào liên lạc được với chị Dung (vợ bác sĩ David Đào) cứ như mình gọi phôn hay gửi email vào khoảng không.”

“Thương quá, chỉ là bạn thôi, mà nhìn khúc phim tôi cũng thấy xót xa, nếu là chồng mình thì chắc chết mất.” bà B tâm sự.

Ông Tùng, chồng bà Trần Văn cho biết sáng sớm hôm thứ Hai sau khi nhìn kỹ khúc phim ông quả quyết với vợ: “Bác sĩ Anh đây nè em, sao ảnh khổ vậy, người tốt mà sao cứ hết chuyện này chuyện kia xảy ra cho ảnh vậy?”

Nói về tình thân giữa hai bên, bà B cho biết chồng bà, bác sĩ A, học y khoa cùng với bác sĩ David Đào từ Việt Nam, và sau khi qua Mỹ, thì hai người trở nên gần gũi:

“Anh ấy giỏi lắm, ở Việt Nam vừa học y khoa vừa học nhạc. Ngày xưa học phổ nhạc với giáo sư Nguyễn Hữu Ba ở trường quốc gia âm nhạc… Chúng tôi thân thiết nhau thì từ ngày về đây, thành phố nhỏ chỉ có vài gia đình Việt Nam, con cái học cùng trường St. James. Họ không phải người công giáo, nhưng thích giáo dục của trường công giáo, sau biến cố năm 2003, thì họ theo đạo Công Giáo.”

Ông Tùng cho biết ông đã sinh hoạt với bác sĩ David Đào từ năm 1990, trong những lần tổ chức Trại Về Nguồn.

“Bác sĩ Đào Duy Anh tham dự trại chừng ba lần. Ảnh trình bày về quốc nhạc Việt nam, rất tha thiết với những sinh hoạt cộng đồng và với đất nước.”

Bác sĩ A trầm ngâm: “Tôi thì tôi thấy rằng là gia đình đó dạy dỗ con cái hay lắm, bốn đứa con là bác sĩ nha, chứ không phải chuyện thường.”

Bà B phụ họa: “Anh chị ấy cả hai người đi làm suốt ngày, không có nhiều thì giờ ở nhà với con, thế mà con cái cứ răm rắp nghe lời. Nói chung là cả gia đình có phúc. Còn những chuyện lỗi lầm này kia của ảnh, thì con người ai chẳng có lỗi lầm, mình không phán xét người ta.”

Rồi bà bâng khuâng: “Có thể ông ấy là người có nhiều khuyết điểm nhưng ông cũng có nhiều ý chí, biết khiêm tốn và có quyết tâm để trở lại với nghề. Tôi cảm phục điều ông ấy phấn đấu với cái tôi của mình để mà lấy lại được cái bằng với nghề anh ấy chọn. Nhưng người tôi cảm phục nhất vẫn là chị Dung, vợ anh ấy, qua biết bao nhiêu sóng gió vẫn đứng bên cạnh người chồng của mình. Đó cũng là phước của anh ấy.”

Nhắc lại chuyện ngày xưa, bà Trần Văn ngậm ngùi: “Hồi đó ảnh chạy mấy cái marathon lớn lắm. Mấy người đó nói là vì chạy marathon, ảnh bị đau, nên uống thuốc giảm đau rồi bị nghiền. Năm 2005, sau khi bị mất bằng, ảnh khổ tâm lắm. Cố gắng hết sức để xin được cấp lại bằng.”

“Một lần, sau một buổi trình diễn với cộng đồng, ảnh thiệt vui, gọi phôn nói với em là từ giờ cả đời anh, anh sẽ làm việc cho cộng đồng… Vì qua sau bao biến cố ảnh đã nhìn đời khác trước…”

“Mới cách đây khoảng ba tuần, em còn mời ảnh tham dự một sinh hoạt cộng đồng. Ảnh nói anh chị sẽ tham dự, rồi ảnh nói anh bây giờ bận rộn lắm, được đi làm lại rồi.”

 Một ngôi chợ Việt Nam ở Louisville. (Hình: Hà Giang/Người Việt).

Một ngôi chợ Việt Nam ở Louisville. (Hình: Hà Giang/Người Việt).

Một quá khứ không liên quan?

Câu chuyện đến đây xoay qua việc báo chí moi móc quá khứ của bác sĩ David Đào. Là người theo dõi báo chí kỹ nhất, ông Tùng lên tiếng: “Quá khứ của ảnh thiệt không dính dáng gì đến vụ United Airlines, mà viết về những điều đó thì giá trị của tờ báo nó đi xuống, tôi sẽ có thành kiến với những tờ báo đó liền.”

“Ngày xưa vụ này cũng đã rùm beng lên, nhưng lúc đó là chuyện địa phương, có thể nhiều người không để ý. Còn bây giờ, báo chí đưa mấy cái tin này ra thì cả thế giới đều biết. Có phải là làm cho gia đình người ta đau khổ một lần nữa không. Mà có liên quan gì đến vụ này đâu chứ?”

Ông Tùng không phải là người Việt duy nhất ở Louisville bất mãn về sự kiện được cho là “bôi nhọ nạn nhân” của một số báo chí.

Buổi tối trước ngày rời Louisville, tôi có dịp được gặp những khuôn mặt trẻ rất năng nổ của Cộng Đồng Người Việt tại Louisville thì lại một lần nữa được nghe một cuộc tranh luận nẩy lửa giữa các em về vai trò của báo chí trong việc loan tin về quá khứ của bác sĩ David Đào. Đa số phản đối cách đưa tin về quá khứ của vị bác sĩ mà các em cho là không liên quan gì đến hành xử của United Airlines hiện đang được theo dõi.

Nhắc đến quá khứ của bác sĩ David Đào thì cũng không thể không nói đến tài liệu 130 trang của Kentucky Board of Medical Licensure, mà tờ Courier-Journal đã khai thác để viết về điều mà họ gọi là “quá khứ rắc rối” của ông.

Một cách tóm tắt, theo tài liệu nói trên, năm 2003 bác sĩ David Đào bị truy tố, và năm 2004 ông bị kết tội sử dụng và cho toa thuốc giảm đau trái phép, để trao đổi tình dục với một bệnh nhân, cũng là người bị kết cùng tội (co-defendant) cho toa thuốc giảm đau trái phép với ông. Năm 2005 bác sĩ David Đào tình nguyện trả lại (surrender) bằng bác sĩ cho tiểu bang Kentucky, và từ năm 2007 đã liên tục nộp đơn xin được cấp lại bằng hành nghề. Để được cấp lại bằng, bác sĩ David Đào đã trải qua nhiều cuộc trắc nghiệm về cả kiến thức y khoa, kỹ thuật khám và trị bệnh, lẫn những cuộc đánh giá về tâm lý. Năm 2015 bác sĩ David Đào được tiểu bang Kentucky cho phép hành nghề trở lại, và khiêm tốn nhận điều kiện chỉ được hành nghề mỗi tuần một ngày, dưới sự giám sát của một bác sĩ khác trong vùng. Trả lời câu hỏi là tại sao lại quá tha thiết và nhọc lòng với việc lấy lại bằng hành nghề, bác sĩ David Đào cho biết, với ông đây là “danh dự của gia đình.”

Buổi trưa hôm sau, một lần nữa gọi đến văn phòng của bác sĩ Teresa Đào nhưng vẫn không ai trả lời, tôi lái xe đến tận đây, thì thấy văn phòng vắng lặng, như đã lâu rồi không ai làm việc. Lái xe qua căn nhà to lớn của bác sĩ David Đào, ngồi chờ một lúc, cũng không thấy một bóng người. Trước đó, tôi được người trong vùng cho biết là nhìn thấy xe van của các hãng truyền thông qua lại đường vào nhà ông.

Được biết tuy đã xuất viện, hiện bác sĩ David Đào vẫn ở lại Chicago để chờ giải phẫu chỉnh hình, và vợ ông, bác sĩ Teresa Đào có lẽ vẫn đang sát cánh bên chồng.

___

Liên lạc tác giả: [email protected]

CIA, FBI săn lùng kẻ rò rỉ tài liệu tối mật cho WikiLeaks

WASHINGTON, DC (NV) – Hai cơ quan FBI và CIA hiện đang mở cuộc săn lùng một kẻ bị coi là có hành vi phản quốc ở ngay bên trong CIA vì rò rỉ các tin tức, tài liệu tối mật, theo hệ thống truyền hình CBS News.

Hai cơ quan này đang mở cuộc điều tra chung về một trong những vụ vi phạm an ninh trầm trọng nhất trong lịch sử của cơ quan tình báo CIA, qua việc hàng ngàn tài liệu tối mật liên quan đến cách CIA xâm nhập điện thoại thông minh, truyền hình thông minh và các hệ thống điện toán bị tiết lộ ra ngoài.

Bản tin của CBS News cho hay các nguồn tin thông thạo về cuộc điều tra nói rằng nghi can là một kẻ làm việc cho cơ quan này, có thể là nhân viên chính thức của CIA hay nhân viên làm việc theo giao kèo, và từng có dịp tham khảo những tài liệu đó.

CIA đến nay chưa cho biết là các tài liệu bị trộm lúc nào hoặc bằng cách gì.

Phần lớn các tài liệu bị coi là mật và được giữ trong một khu vực bảo vệ kỹ lưỡng của CIA, nhưng các nguồn tin thông thạo cho CBS News hay rằng có hàng trăm người từng sử dụng các tài liệu trên.

Các điều tra viên đang phải xem xét từng người trên danh sách đó.

WikiLeaks phổ biến các tài liệu này hồi Tháng Ba, nói rằng nhận được từ những người từng làm việc cho CIA.

Trong lời phát biểu chính thức đầu tiên kể từ khi lên giữ chức vụ giám đốc CIA, ông Mike Pompeo nói rằng: “Đã đến lúc phải gọi WikiLeaks theo đúng tên của nó— đó là một cơ quan tình báo thù nghịch không thuộc vào quốc gia nào, nhưng thường xuyên trợ giúp các quốc gia như Nga.”

Tuy CIA không bình luận về những tin tức có trong tài liệu, giới truyền thông cho hay CIA có thể xâm nhập vào máy truyền hình thông minh do Samsung chế tạo để biến microphone trong máy này thành dụng cụ thâu âm và chuyển cho người nghe bên ngoài. (V.Giang)

GM ngưng hoạt động ở Venezuela sau khi cơ xưởng bị chiếm đoạt

Điểm tin buổi sáng ngày 20 tháng 4 năm 2017

Sắc lệnh của TT Trump làm Emirates giảm chuyến bay đến Mỹ
Sáu trong 10 thành phố ô nhiễm nhất nước Mỹ đều ở California
Người dẫn chương trình “giờ vàng” Fox News Bill O’Reilly bị sa thải
Hệ thống phòng thủ chống hỏa tiễn của Mỹ có thể không hữu hiệu
Úc thay đổi chính sách nhập quốc tịch

Mỹ chuyển giao tàu tuần duyên đầu tiên cho Việt Nam

HONOLULU (NV) – Tàu tuần duyên vừa làm lễ nghỉ hưu từng phục vụ trong chiến tranh Việt Nam sẽ được chuyển giao cho Việt Nam trong chương trình thanh toán các trang bị dư thừa của chính phủ Mỹ.

Lực lượng Tuần Duyên Hoa Kỳ cho hay tàu tuần duyên USCGC Morgenthau (WHEC 722) vừa được nghỉ hưu trong một buổi lễ tổ chức ở Honolulu, Hawaii, hôm Thứ Ba sẽ được chuyển giao cho Việt Nam theo Đạo luật Viện Trợ Ngoại Quốc (Foreign Assistance Act) dành cho các nước thân hữu.

Trước đó, tin trên đã được Cơ quan Hợp tác An ninh Quốc phòng Hoa Kỳ (Defense Security Cooperation Agency – DSCA) loan báo ngày 13 Tháng Tư 2017.

Tàu tuần USCGC Morgenthau thuộc lớp Hamilton do công ty Avondale Shipyards ở New Orleans tiểu bang Louisiana đóng cho Lực lượng Tuần Duyên Hoa Kỳ, hạ thủy tử năm 1969. Ngay sau đó, nó đã được đưa sang Việt Nam yểm trợ các cuộc tuần tiễu chống xâm nhập người và vũ khí đường biển của quân đội Cộng Sản Bắc Việt.

Chiến công nổi bật của USCGC Morgenthau là năm 1971, tàu đã phát hiện, theo dấu rồi đánh chìm một tàu tiếp vận giả trang thành tàu đánh cá đang trên đường chở đồ tiếp tế cho cộng quân, sau 2 giờ tác chiến.

Lớp tàu Hamilton từng được viện trợ cho hải quân các nước Philippines, Bangladesh, Nigeria, dài 115 mét, trọng tải 3,250 tấn, vận tốc 29 hải lý (hay 54km/giờ). Tầm hoạt động 14,000 hải lý (hay 26,000 km) với thời gian đi biển liên tục 45 ngày do một thủy thủ đoàn 167 người vận hành. Nó cũng có nhà chứa trực thăng.

Trang bị trên tàu khá mạnh về hỏa lực từ đại bác 76 ly, đại bác bắn nhanh 25 ly Mk38, đại bác bắn nhanh 6 nòng 20mm Phalanx và 6 đại liên 50 cùng các loại radar phòng không và radar tìm kiếm mặt nước.

Tuy nhiên, người ta không rõ chính phủ Hoa Kỳ chuyển giao “nguyên con” tàu tuần nói trên cho Việt Nam hay lấy lại các vũ khí (như áp dụng với Philippines) dù năm ngoái, tổng thống Barack Obama loan báo gỡ bỏ toàn diện lệnh cấm bán võ khí sát thương cho Việt Nam khi ông đến Hà Nội hồi Tháng Năm 2016.

Báo chí trong nước nói rằng Việt Nam đã đề nghị mua lại 3 tàu tuần tra của Mỹ nhưng chỉ được chấp thuận chuyển giao cho một chiếc dưới thời tổng thống Obama khoảng hai tháng trước khi ông đi Việt Nam.

Mỹ cũng đã thỏa thuân cấp viện cho Việt Nam 18 triệu đô la để mua một số tàu cao tốc cỡ nhỏ do công ty Metal Shark ở bang Louisiana đóng, tăng cường khả năng tuần tra biển. Tuy nhiên, không thấy có tin tức gì cho hay số tàu này đã giao cho Việt Nam hay chưa.

Tin tức mấy ngày gần đây cho hay phó thủ tướng kiêm ngoại trưởng CSVN Phạm Bình Minh sang Mỹ gần một tuần lễ bắt đầu từ ngày 19 Tháng Tư 2017 ngay sau khi ông cùng một phái đoàn đến Bắc Kinh hứa hẹn nâng cao mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Trung Quốc.

Một trong những lý do đưa ông Phạm Bình Minh đến Washington DC ngoài các vấn đề kinh tế mậu dịch cần đàm phán, có thể có cả chuyện nhận chuyển giao tàu tuần duyên USCGC Morgenthau. Sau đó Việt Nam sẽ giữ tàu cho Hải quân hay chuyển cho Lực lượng Cảnh sát biển, phải chờ xem các tính toán của Hà Nội.

Dù dùng cho nhu cầu nào, tàu USCGC Morgenthau cũng sẽ là tàu quân sự hay bán quân sự lớn nhất của Việt Nam. (TN)

Sắc lệnh của TT Trump làm Emirates giảm chuyến bay đến Mỹ

DUBAI, UAE (AP) – Hãng hàng không Emirates hôm Thứ Tư loan báo sẽ giảm số chuyến bay từ Trung Đông đến Mỹ do lượng hành khách giảm vì ảnh hưởng của các biện pháp an ninh và hạn chế đối với một số nước Hồi Giáo do chính quyền Donald Trump đưa ra.

Emirates, có trụ sở trung ương đặt tại Dubai, là công ty hàng không quốc doanh của Dubai, một tiểu vương quốc trong Liên Hiệp các Tiểu Vương Quốc Á Rập (UAE).

Bản thông cáo do Emirates đưa ra viết: “Biện pháp của chính quyền Mỹ liên quan đến việc cấp phát visa nhập cảnh, điều chỉnh thủ tục an ninh, giới hạn các dụng cụ điện tử mang lên máy bay có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của hành khách và việc sử dụng đường hàng không vào Mỹ.”

Bản thông cáo cũng cho biết: “Ba tháng đầu của chính quyền Trump đem đến sự suy sụp đáng kể trong hệ thống bán vé của Emirates trên tất cả các đường bay thẳng hay liên kết đến Mỹ.”

Theo Emirates, các chuyến bay thường lệ đến năm phi cảng trên đất Mỹ sẽ được giảm bớt, số chuyến bay mỗi tuần hiện nay là 16 sẽ rút xuống còn 10. Mỗi ngày Emirates có hai chuyến bay đến Boston, Los Angeles, và Seattle, sẽ được rút xuống còn một.

Emrates cũng giải thích: “Giống như mọi cơ sở kinh doanh vì mục đích lợi nhuận, chúng tôi sẽ tái phối trí khả năng để đáp ứng đòi hỏi cho những đường bay khác trong mạng lưới toàn cầu của chúng tôi.”

Quyết định này cho thấy công ty hàng không quốc doanh đang phát triển nhanh này chịu tác động nặng về mặt  kinh doanh.

Các công ty hàng không Trung Đông, lớn như Emirates, hoặc nhỏ hơn như Qatar Airways và Etihad Airways của Abu Dhabi, trong ít năm vừa qua đã phát triển nhanh sự hiện diện ở thị trường Mỹ.

Các đại công ty hàng không Mỹ phàn nàn tình trạng này, cho rằng có sự cạnh tranh không công bằng vì những hãng ấy nhận được hàng tỷ đô la tài trợ của chính quyền.

Delta Airlines và United Airlines đã chấm dứt các chuyến bay tới Dubai từ năm ngoái và Emirates trở thành hãng hàng không duy nhất có đường bay trực tiếp giữa Dubai với Mỹ. (HC)

Orange County có 29 trường được vinh danh ‘Gold Ribbon’ của California

SACRAMENTO, Califormia (NV) – Bộ Giáo Dục Califormia hôm Thứ Ba vừa công bố danh sách 275 trường học khắp tiểu bang được vinh danh “Gold Ribbon” trong đó có 29 trường ở Orange County và vùng Little Saigon.

“Những trường học tuyệt vời này đang dẫn đầu trong việc áp dụng các tiêu chuẩn học tập rất mới và cho các trường khác thấy họ giúp học sinh thành công như thế nào, trên con đường vào đại học và chọn nghề trong thế kỷ 21,” Bộ Trưởng Tom Torlakson được trích lời nói trong thông cáo báo chí. “Tôi sẽ đi đến một số nơi trong tiểu bang để vinh danh các trường này, và giúp chia sẻ các chương trình, phương pháp, và kỹ thuật trong việc giáo dục hiệu quả.”

Tại vùng Little Saigon, các trường được danh hiệu “Gold Ribbon” gồm có trung học Westminster thuộc Học Khu Huntington Beach; Alamitos Intermediate, Dr. Walter C. Ralston Intermediate, và Hilton D. Bell Intermediate thuộc Học Khu Garden Grove; Helen Stacey Middle School, Johnson Middle School, và Warner Middle School thuộc Học Khu Westminster.

Giải thưởng “California Gold Ribbon Schools Award” được lập ra để vinh danh các trường học, thay thế cho giải thưởng “California Distinguished Schools Program,” hiện đang bị gián đoạn trong khi tiểu bang đánh giá lại chương trình này.

Năm nay, có 477 trường nộp đơn xin giải thưởng.

Các trường nộp đơn dựa trên chương trình kiểu mẫu hoặc thực tế của trường đó.

Giải thưởng “California Gold Ribbon Awards” được trao cho các trường học áp dụng các nội dung học tập và các tiêu chuẩn thực hành, được Hội Đồng Giáo Dục Tiểu Bang chấp nhận. Các tiêu chuẩn này bao gồm tiêu chuẩn dạy Anh Ngữ, Nghệ Thuật, và Toán, cùng các tiêu chuẩn khác. (Đ.D.)

Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc bận rộn nhất Châu Á?

“Không biết thủ tướng còn thời gian ăn ngủ nữa không?”

“Không biết thủ tướng còn thời gian ăn ngủ nữa không?” giống như một câu hỏi tự vấn mà có thể được suy diễn theo nhiều nghĩa, phát ra bởi ông Nguyễn Sĩ Dũng – nguyên phó chủ nhiệm Văn Phòng Quốc Hội – vào những ngày gần đây.

Kêu thủ tướng và xin thủ tướng có vẻ như đang là mô thức vận hành của nền quản trị quốc gia. Bị cát tặc đe dọa – kêu thủ tướng. Bị chậm trễ trong việc điều tra tội phạm ấu dâm – kêu thủ tướng. Xây resort- xin ý kiến thủ tướng. Ðiều chỉnh giá xăng dầu- xin ý kiến thủ tướng,…

Chưa xét theo nghĩa bóng mà chỉ nhìn vào nghĩa đen, ông Nguyễn Xuân Phúc đang đầy triển vọng để nhận danh hiệu “Thủ tướng bận rộn nhất Châu Á.”

Nhưng tiếp đó, liệu ông Phúc có được tôn vinh “Thủ tướng xuất sắc nhất Châu Á” như trường hợp thủ trưởng cũ của ông là Nguyễn Tấn Dũng?

Thật quá khó để cho rằng nếu Thủ Tướng Dũng từng được một tờ báo thương mại nhỏ của Hàn Quốc dành cho biệt hiệu trên, trong khi rất nhiều dư luận ở Việt Nam lại phán quyết triều đại của ông Nguyễn Tấn Dũng là “phá chưa từng thấy,” Thủ Tướng Phúc sẽ tạo được những thành tích đủ lớn để cũng được xem là như vậy, dù loại thành tích ấy còn lâu mới đạt đến mặt bằng “kiến tạo” mà ngay trước mắt chỉ đơn giản là “đổ vỏ” cho đời “ăn ốc” cũ.

Nông nỗi nào?

Một năm sau ngày ông Phúc – gương mặt hớn hở lộ diện để nhận bó hoa tươi thắm trao lại cái ghế thủ tướng từ nụ cười gượng gạo của Nguyễn Tấn Dũng, cho đến giờ đã bắt đầu hiện ra vài bài viết đẩy vọt Thủ Tướng Phúc lên đỉnh vinh quang.

Một trong những cái đỉnh vinh quang như thế là một bài viết tập trung liệt kê một cách lộ liễu những đầu việc mà ông Phúc đã “làm được” như : Xem xét vụ quán Xin Chào; Rà soát bãi bỏ giấy phép con cho doanh nghiệp; Xem xét lại đào tạo tiến sĩ; Rà soát giảm phí BOT; Ðiều tra vụ Formosa và hỗ trợ ngư dân; Chỉ đạo đảm bảo cuộc sống cho người Việt tạm cư ở Campuchia trở về; Chỉ đạo truy tìm hung thủ vụ giết 4 bà cháu ở Quảng Ninh; Yêu cầu làm rõ nguyên nhân mùi hôi thối ở phía Nam Sài Gòn; Yêu cầu bỏ điều 292 bỏ tù người kinh doanh qua mạng; Lập đội phản ứng nhanh về an toàn thực phẩm; Yêu cầu làm rõ vụ nước mắm công nghiệp chứa Arsen; Chỉ đạo làm rõ thông tin bổ nhiệm người nhà; Yêu cầu thanh tra một sở có 44 cán bộ quản lý; Tinh giảm biên chế nhà nước. Yêu cầu xác định trách nhiệm xả lũ sai; Chỉ đạo khoán xe công; Chỉ đạo vụ xây nhà cao tầng, chung cư ở Hà Nội; Yêu cầu xử lý lấn làm xe buýt nhanh; Chỉ đạo cắt giảm biên chế nhà nước; Vạch ra vấn đề con ông cháu cha tại các tỉnh; Cấm công chức chúc Tết lãnh đạo và dùng xe công đi lễ chùa.

Với những đầu việc đã làm được ở trên thì công bằng mà nói, cái nét “chịu thương chịu khó” của Nguyễn Xuân Phúc đã hơn hẳn thói quan liêu mút mùa Nguyễn Tấn Dũng.

Nhưng nếu lật úp trang giấy, người ta lại nhìn thấy ngay cái mặt trái phiến diện kinh khủng của nó: nông nỗi nào mà một thủ tướng như ông Phúc lại phải quán xuyến không chỉ loại việc “thượng vàng” mà cả “hạ cám” vốn thuộc phần hành của đám nha sai địa phương? Chẳng lẽ hiệu lực quản lý của “Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam” sau hơn bảy chục năm lịch sử “đảng quang vinh” đã chỉ còn ý nghĩa điều hành nghiệp dư vụn vỡ đến thế?

Người chỉ còn là cựu phó chủ nhiệm Văn Phòng Quốc Hội – ông Nguyễn Sĩ Dũng – đã lý giải thích tình trạng “tất cả đổ cho thủ tướng” như sau: “Trước hết, đó là vấn đề phân cấp, phân quyền không đủ rõ ràng, mạch lạc. Kể từ khi Hiến Pháp năm 1960 được thông qua, chúng ta đã áp dụng mô hình song trùng trực thuộc kiểu Xô Viết cho hệ thống quản lý nhà nước. Nét đặc trưng của mô hình này là các cơ quan quản lý nhà nước các cấp vừa trực thuộc Ủy Ban Nhân Dân cùng cấp, vừa trực thuộc cơ quan quản lý cấp trên. Chính sự song trùng trực thuộc này làm phát sinh nhu cầu phải xin ý kiến cả hai nơi. Và kiểu gì thì cũng phải xin ý kiến cấp trên: xã xin ý kiến huyện, huyện xin ý kiến tỉnh, tỉnh xin ý kiến trung ương. Và hậu quả là cả 63 tỉnh, thành đều xếp hàng xin ý kiến thủ tướng…”

Nhưng chẳng lẽ tình trạng trên đã kéo dài đến gần ba chục năm sau khi Việt Nam “mở cửa” mà không được điều chỉnh gì?

Ông Nguyễn Sĩ Dũng lại giải thích: “Trong quá trình đổi mới, chính phủ đã cố gắng phân quyền nhiều hơn cho các địa phương. Tuy nhiên, việc này thường được triển khai theo nhu cầu thực tế, mà ít được dẫn dắt bởi một lý thuyết nào cả. Ngoài ra, việc phân quyền lại thường không đi kèm với việc bổ sung các thiết chế giám sát phù hợp, nên sự tự tung, tự tác đã xảy ra ở khá nhiều nơi.”

“Không ăn không làm”

Song tất cả cũng chỉ đến thế. Cái thực tế chồng chéo khủng khiếp cố ý ấy được ông Nguyễn Sĩ Dũng cố gắng làm nhẹ đi lại là một mô phỏng cho một sự thật về việc từ rất nhiều năm qua, nhiều bộ ngành đã tìm cách “ôm” hết các thẩm quyền cấp giấy phép, từ giấy phép mẹ đến vô số giấy phép con, để thu lợi cho ngành và vô số thu lợi bất chính khác,… mà gần như không quan tâm đến vai trò và công tác “hậu kiểm.” Trong khi đó, nhiều chính quyền địa phương cũng chỉ chăm bẳm đòi hỏi buộc các bộ ngành trung ương phải “nhả” quyền cấp giấy phép cho mình mà cũng chẳng thèm đoái hoài đến việc phải quản lý kinh tế-xã hội sau khi cấp phép. Một cuộc tranh ăn không hơn không kém. Kết quả là trong lúc nạn cấp phép trở nên quá nhiều và bừa bãi, nền kinh tế lại xuất hiện quá nhiều doanh nghiệp “ma” mà chẳng ai biết ở đâu đến và biến mất đàng nào. Xã hội cũng bởi thế nhanh chóng rơi vào trạng thái “loạn”: loạn cấp phép, loạn cấp quản lý, loạn thanh tra, loạn hành dân…

Ðể cuối cùng, hậu quả đang ứng với cái điều mà ông Nguyễn Sĩ Dũng phải thừa nhận: “Việc chức năng, nhiệm vụ không được phân định rõ ràng đang tạo cơ hội cho tâm lý dựa dẫm, ỷ lại bùng phát. Một việc không rõ thẩm quyền thì tốt nhất là xin ý kiến Thủ tướng. Một việc đã rõ thẩm quyền, nhưng xin ý kiến Thủ tướng sẽ đỡ phần trách nhiệm thì tại sao lại không xin?! Xin ý kiến để không phải chịu trách nhiệm đang là tâm lý khá phổ biến của nhiều lãnh đạo địa phương và các ngành hiện nay.”

Thật dễ hiểu là sau quá nhiều năm “ăn của dân không chừa thứ gì,” giới quan lại Việt Nam đã tích tụ được não trạng và thói quen “có ăn mới có làm,” đi cùng với “không ăn không làm.” Tất cả những gì thuộc về “không màu,” “không ăn” đều được đẩy vọt lên cấp chính phủ để các phó thủ tướng và thủ tướng phải cùng chịu trách nhiệm.

Và đó cũng là nguồn cơn vì sao Nguyễn Xuân Phúc lại xứng đáng đạt danh hiệu “Thủ tướng bận rộn nhất Châu Á.” Trong một nền hành pháp thuộc loại vô trách nhiệm nhất và cũng yếu kém nhất, thủ tướng bị biến thành một khổ sai chung thân.

Thế nhưng không phải khổ sai chung thân nào cũng nhận chân được thân phận mình. Mới đây lại có một bài báo trong nước đã cả gan so sánh Nguyễn Xuân Phúc với “tư tưởng khai phóng” của chí sĩ Phan Châu Trinh cùng quê đất Quảng gần một thế kỷ trước. Khỏi phải nói, không chỉ dư luận xã hội buông lời đàm tiếu đối với Thủ Tướng Phúc, mà những đối thủ chính trị của ông cũng vớ được cơ hội để tuôn ra gièm pha bất tận.

Trong khi cung đường thủ tướng của ông Phúc mới chỉ bắt đầu và chưa có bảo đảm là ông ta sẽ ngồi vào cái ghế cao nhất ở Ðại Hội 13 của đảng cầm quyền, nếu quả thực còn có sự kiện này, những bài báo trên quả là một cách để “giết” Thủ Tướng Phúc nhanh nhất – tương tự tâm lý “thổi sao” trong giới ca sĩ và showbiz ở Việt Nam.

Ông Anton Đỗ Đức Du

10581341-PU14-Ong Anton DO DU...

Ông Anton Đỗ Đức Du

10581284-PU14-Ong Anton DO DU...

Bà Nguyễn Thị Hạnh Nhơn

cao pho ba nguyen thi hanh nhon.cdr

Ông Huỳnh Hữu Hiền

Microsoft Word - C?M T? (TG) Huynh Huu Hien (Yellow highlights f

Nhóm Hương Thời Gian hát tưởng niệm Tháng Tư Đen

WESTMINSTER, California (NV) – Buổi tưởng niệm Tháng Tư Đen bằng một chương trình cùng nhau hát tình ca quê hương vừa được nhóm Hương Thời Gian tổ chức tại giảng đường nhà thờ Jesus of Later Day Saints, Westminster, chiều Thứ Bảy, 15 Tháng Tư.

Mỗi Tháng Tư về lại khiến người Việt tị nạn Cộng Sản khắp nơi trên thế giới tổ chức những buổi tưởng niệm để nhắc nhở nhau và cho thế hệ con em biết đến biến cố 30 Tháng Tư, 1975, là một biến cố đau thương nhất trong dòng lịch sử dân tộc.

Hơn 25 triệu người Việt miền Nam bị thay đổi cuộc đời đến tận gốc rễ. Hàng trăm ngàn Quân Cán Chính VNCH phải bị vào tù Cộng Sản cả hơn chục năm trời. Hàng triệu người phải bỏ nước ra đi dù hiểm nguy “chín chết một sống.” Hàng chục năm trời cả đất nước tối tăm mù mịt, đói khổ không bút nào tả xiết.

Nhóm Hương Thời Gian, một nhóm anh chị em nghệ sĩ tài tử, là một trong những tổ chức hằng năm vào dịp Tháng Tư Đen vẫn đứng ra tổ chức những buổi tưởng niệm.

Buổi tưởng niệm của nhóm không có những bài diễn văn phát biểu mong đốt lên khí thế, nhưng là những tâm tình của người dân Việt trải dài theo dòng lịch sử từ ngày có sự xuất hiện bí mật của Cộng Sản từ năm 1932 và công khai dưới lớp vỏ kháng chiến Việt Minh từ năm 1945.

Từ trước năm 1945, tuổi trẻ Việt Nam được khích lệ lòng yêu nước do Nguyễn Thái Học và Việt Nam Quốc Dân Đảng đứng lên khởi nghĩa. Cuộc khởi nghĩa không thành công lật đổ được chính quyền thực dân Pháp, nhưng đã là ngọn lửa cứu nước rực đỏ trong tâm hồn tuổi trẻ Việt Nam để tiến tới cuộc khởi nghĩa 19 Tháng Tám, 1945, của toàn dân mà Cộng Sản đã nhanh tay cướp đoạt công trạng.

Dòng tân nhạc Việt Nam phôi thai trong bối cảnh này. Những bài ca lịch sử ra đời. Các tác giả là những sinh viên đã sáng tác những bài ca yêu nước mượn oai linh từ các anh hùng dân tộc Việt Nam để tránh sự bắt bớ của mật thám Pháp. Những ca khúc lịch sử ấy nhanh chóng lan truyền trong dân chúng.

“Bóng Cờ Lau” nhắc đến anh hùng Đinh Tiên Hoàng có công thống nhất đất nước khi dẹp xong loạn 12 sứ quân. “Bạch Đằng Giang” nhắc đến vua tôi nhà Trần ba lần thắng quân Nguyên bên Trung Quốc sang xâm lược.

Rồi toàn quốc kháng chiến chống Pháp. Những bản nhạc nức lòng chiến đấu của các tác giả Văn Cao, Đỗ Nhuận, Phạm Duy,… thi nhau ra đời. Đó là nhạc thời kháng chiến mà Cộng Sản chưa dám lộ mặt, đã đóng một vai trò vào công cuộc hy sinh cứu nước chống ngoại xâm.

Cuộc kháng chiến kết thức với đất nước bị chia hai. Các nhạc sĩ trong vùng tự do miền Nam đã thể hiện nỗi đau của dân tộc qua nhiều bản nhạc nói về hai bờ Nam Bắc chia miền Bắc cho Cộng Sản Việt Nam khiến toàn dân bị bức màn tre độc tài phủ chụp.

Còn miền Nam tự do là miền đất sinh sôi nảy nở những sáng tác theo dòng thời sự. Gọi là theo dòng thời sự nhưng không khô cứng như nhạc ở miền Bắc do chủ trương tuyên truyền, khích động chiến tranh của đảng Cộng Sản, mà là những tình cảm chân thực của người Việt Nam muốn tỏ lòng thương yêu đất nước quê hương.

Trong một chiều dài lịch sử 20 năm ở miền Nam, ca nhạc miền Nam trăm hoa đua nở, nhưng nở rộ nhất là thời gian Cộng Sản phát động chiến tranh tàn khốc để Mỹ phải đưa quân vào miền Nam. Đó là nhạc thời chinh chiến, nó đã sống mãi, vượt thời gian vì tính nghệ thuật và vì sự trung thực thể hiện được tâm tình của người dân miền Nam chan hòa tính nhân bản.

Nhóm Hương Thời Gian đã nỗ lực tối đa để thể hiện dòng nhạc lịch sử cận đại Việt Nam qua một chương trình gồm 25 ca khúc gần như tiêu biểu được cho từng thời gian như Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà, Về Miền trung, Anh Đi Chiến Dịch, Bên Bờ Đại Dương, Gánh Lúa… (tiêu biểu cho thời gian toàn dân kháng chiến chống Pháp), Người Tình Không Chân Dung, Chiều Trên Phá Tam Giang, Đêm Nguyện Cầu, Cờ Bay Trên Thành Phố Thân Yêu… (tiêu biểu cho thời gian chiến tranh chống Cộng Sản Bắc Việt xâm lược), Đêm Chôn Dầu Vượt Biển, Khi Tôi Chết Hãy Đem Tôi Ra Biển, Chút Quà Cho Quê Hương, Con Đường Tôi Về, Em Vẫn Mơ Một Ngày Về… (tiêu biểu cho thời gian di tản tị nạn).

Hơn 20 ca sĩ, không là những ca sĩ chuyên nghiệp nhưng là những nghệ sĩ có tâm huyết với quê hương, với đất nước nên lời ca rất truyền đạt làm rung động đến những trái tim người đến tham dự.

Hơn 300 khán giả ngồi chật phòng hội lớn của nhà thờ Jesus of Later Day Saints lắng nghe từng đoạn nhạc, từng ca sĩ trình diễn, từng lời giải thích của hai MC Minh Ngọc và Nguyễn Phú Hùng.

MC Nguyễn Phú Hùng lôi cuốn được khán giả vì những lời giải thích về thời gian các tác giả sáng tác những ca khúc được trình diễn trong chương trình, và qua trình diễn của các ca sĩ Bùi Thiện, Vũ Anh, Ngọc Quỳnh, Bích Thủy, Phương Mai, Phương Thảo, Túy Hoa và các nghệ sĩ Bác Sĩ Vương Đức Hậu, nhà văn Chu Tất Tiến…

Dân Đồng Tâm vẫn giữ 20 công an, cán bộ

Sáu trong 10 thành phố ô nhiễm nhất nước Mỹ đều ở California

LOS ANGELES – Báo cáo mới nhất của American Lung Association (Hiệp Hội Phổi Hoa Kỳ) đưa ra hôm Thứ Tư nói rằng, trong số 10 thành phố Mỹ có mức ô nhiễm không khí cao nhất thì 6 ở tại tiểu bang California.

Bakerfield đứng đầu với số ngày trong năm có phẩm chất không khí lên quá mức độc hại.

Ðứng đầu về ô nhiễm quanh năm là Visalia/Hanford miền Trung California gần xa lộ 99 từ Bakersfield đi Sacramento.

Khu vực Los Angeles-Long Beach có lượng ozone cao nhất trong không khí.

Ông Paul Billings thuộc American Lung Association nói rằng những quy định chặt chẽ về môi trường của tiểu bang không đủ hiệu quả vì dân số gia tăng nhanh chóng. Lý do là vì số xe hơi và xe vận tải gia tăng, cùng với hiện trạng nhiều dân chúng sống ở các vùng đất trũng và trong khu vực thung lũng là những nơi mà không khí ô nhiễm tụ lại.

Theo ông, tình hình sẽ còn tệ hại hơn nữa nếu như California không phải là tiểu bang có quy định khắt khe nhất về khói thải của xe hơi và cấm các nhà máy nhiệt điện đốt bằng than đá.

Bản báo cáo của America Lung Association cũng nhận xét là trong khi tình hình ô nhiễm quanh năm giảm dần trên toàn quốc trong hơn 10 năm nay thì ô nhiễm ngắn hạn, số ngày không khí có mức ô nhiễm cao, lại tăng. Theo báo cáo, 125 triệu dân Mỹ sống trong điều kiện không khí dưới mức lành mạnh cho sức khỏe mà hậu quả có thể là các chứng bệnh đường hô hấp.

Trên toàn quốc chỉ có 6 thành phố không có ngày nào không khí nhiễm tới mức độc hại, đó là Burlington, Vermont; Honolulu, Hawaii; Wilmington, North Carolina; Elmira, New York; Fort Myers/Naples và Melbourne, Florida.

Các thành viên American Lung Association tỏ ra lo lắng với kế hoạch của Tổng Thống Donald Trump về môi trường. Ngân sách của EPA, cơ quan bảo vệ môi trường, dự trù sẽ bị cắt giảm 31%. Tân giám đốc EPA Scott Pruitt, theo cùng một quan niệm của Tổng Thống Trump, đã nói rằng biến đổi khí hậu Ðịa Cầu không phải là hậu quả của mức khí thải Carbonic. (HC)

Chính phủ Trump đòi diệt băng đảng tàn bạo MS-13

Little Saigon có một nơi tập thiền để chữa bệnh

LITTLE SAIGON, California (NV) – Ở Little Saigon hiện nay có nhiều lớp dạy thiền, không ngoài mục đích giúp mọi người thoát khỏi những đau khổ, trong đó bệnh là một trong những khổ đau của con người, cả thân và tâm.

Đại Đức Thích Phổ Đức, phó trụ trì thiền viện Chánh Tâm, Anaheim, giải thích: “Mục đích của thiền tập là hướng dẫn cho mọi người nói chung và Phật tử nói riêng, hiểu biết đúng về thân, về tâm và nhìn đúng về sự việc bên ngoài. Thiền là một phương pháp giúp biết sống thật, từ xưa giờ con người sống không thật cho chính mình, khi tập thiền mới thấy là cái gì thật, cái gì không thật.” 

Một ngày thiền tập

Tại thiền viện Chánh Tâm, bắt đầu của thời khóa thiền tập mỗi Chủ Nhật là sám hối, sau đó là ngồi thiền, nghe pháp, hỏi đáp và chia sẻ với nhau những kinh nghiệm thiền tập.

Theo vị phó trụ trì, thiền viện thành lập 10 năm nay, là một chi nhánh của thiền viện Đại Đăng, theo thiền phái Trúc Lâm, do Hòa Thượng Thích Thanh Từ truyền thừa từ dòng thiền Việt Nam của Phật Hoàng Trần Nhân Tông.

“Cuộc sống như dòng nước tuôn chảy, muốn lội ngược lại cũng không được, đó là chuyện vô lý, nhưng nếu là người hiểu biết, sẽ dẫn dòng nước chảy vào những ngõ ngách có lợi hơn. Người nông dân, thay vì ngăn chận, bằng cách be bờ đắp đập, dẫn nguồn nước đi vào đồng ruộng, sẽ được lợi lạc hơn,” đại đức giảng giải.

Bằng một thí dụ nữa, đại đức nói: “Như con rối trong một vở diễn, thể hiện những động tác múa may quay cuồng trên sân khấu, mọi người vỗ tay khen con rối hay, nhưng không ai hiểu rằng con rối chỉ là một dụng cụ, tự nó không làm gì được hết, mà chính người điều khiển nó từ bên trong, diễn cho người xem mọi sự vui buồn thương ghét mới là chính.”

“Xưa nay con người thường lấy cái sự biểu hiện bên ngoài mà chạy theo, nắm bắt nó, để thỏa mãn, hoặc không chấp nhận, từ đó tạo ra bất an. Nguồn gốc của sự bất an đó do cái nhìn sai lầm của chính mình tạo ra, để rồi đeo đuổi theo. Từ sai lầm này sinh ra những sai lầm khác, nên sinh ra những buồn vui khổ não. Do vậy, thiền sẽ giúp không xa rời cuộc sống,” đại đức nói thêm.

Giờ tọa thiền tại thiền viện Chánh Tâm. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Giờ tọa thiền tại thiền viện Chánh Tâm. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Phật tử Tuệ Giám chia sẻ: “Khi tu tập thiền tôi thấy mình ngày càng nhiều lỗi hơn, phải tu sửa thêm nhiều hơn nữa. Hơn nữa, qua thời gian thiền tập, sự phiền não càng bị bào mòn dần đi, cái ngã của mình càng bớt đi.”

Còn Phật tử Tuệ Thông nhận xét: “Có sự tiến triển trong thiền tập, tham sân si trong cuôc sống thấy bớt nhiều, sự suy nghĩ và cách giải quyết vấn đề có khác hơn lúc trước, biết rõ hơn tánh thật của sự việc.” 

Thiền chữa bệnh cho thân

Mang một sắc thái khác, tại Đạo Đường Thể Dục Dưỡng Sinh Hồng Gia Khí Công Tâm Pháp, Garden Grove, phần đông là các vị cao niên, với ít nhất là một bệnh trong người. Buổi tập thật an nhiên tự tại bằng những động tác võ thuật thật nhẹ nhàng nhưng tràn đầy khí lực.

Sư huynh Võ Thiện Hiếu, phụ trách đạo đường, cho biết phương pháp thở khí công được sư phụ Lý Hồng Thái phối hợp với Như Lai Thiền truyền thụ.

“Thở vào biết đang thở vào, thở ra biết đang thở ra. Buông xả thân tâm chú ý theo dõi hơi thở, hít thật sâu đầy bụng, phình bụng lên, nén khí xuống vùng bọng đái, nín thở một giây, quán hơi thở xuống xương cùng đi theo sống lưng lên dần tới đỉnh đầu, cong lưỡi lên nướu trong hàm trên, ngậm miệng, từ từ thở ra nhẹ nhàng bằng mũi,” ông hướng dẫn.

Theo ông. đây là cách “quán khí,” một thuật ngữ của thiền để chỉ phương pháp buông xả, đầu óc cần trống rỗng, chỉ theo dõi cái biết của hơi thở bằng sự tưởng tượng (quán tưởng). Tập lâu dần sẽ thành phản xạ tự nhiên, đi đứng nằm ngồi đều làm được, thả lỏng toàn thân, quán sự phồng xẹp của bụng, hít vào thở ra cảm nhận thân tâm buông xã, cũng là chiêu thức để làm dịu cơn phiền não lo âu, tránh được tâm bệnh.

Ông Lý Bình cho biết: “Trước khi tập, vai phải tôi bị đau nhức không đưa cánh tay lên được. Sau thời gian tập hiện nay sức khỏe rất tốt, đi đứng gần như bình thường.” Để chứng minh, ông tập gần 1 giờ vẫn thấy khỏe. Không ai biết được ông mắc bệnh Parkinson hơn 10 năm mà khỏe như thế!

Bà Trần Thị Huệ, từ tiểu bang Minnesota qua, nói: “Tôi bị đau đầu gối, thấp khớp đi không nổi, cao máu, tiểu đường, lại bị té rất nặng. Sau khi tập hai năm, nhận thấy các bệnh trên giảm nhẹ hẳn, đi đứng mạnh dạn, rất yêu đời, không hổ danh với biệt hiệu ‘người đẹp lão nhất’ mà các bạn cùng tập đặt cho!”

Còn tại phòng tập thiền chuyển tâm công, yoga, chuyển tâm đao tự trị bệnh của võ sư Chu Tất Tiến lại chú trọng nhiều hơn về thiền như một cách tự chữa bệnh, mà đa số người tập ở đây là những vị cao niên.

Võ sư Chu Tất Tiến cho biết “Chuyển Tâm Công” có nghĩa là tự tâm của mình, phải thay đổi quan niệm của mình, phải hòa hợp với cuộc đời, với tha nhân, với vũ trụ, thiên nhiên, con người mới thật sự khỏe mạnh được. Trọng tâm chính là trong khi tập, dùng phương pháp hít thở thật sâu trong phương pháp thiền.

Sinh hoạt tại đây, ông Nguyễn Viết Nghĩa cho biết bị bệnh Parkinson hơn ba năm, sau khi theo lớp tập, nay thấy bệnh không nặng thêm nữa, có vẻ như dừng lại, ông mừng lắm và cho biết sẽ siêng năng tập luyện nhiều hơn nữa.

Còn ông Trần Văn Ngôi, tập hơn ba năm cho biết: “Tôi bị bệnh gout mấy mươi năm rồi, đem theo từ Việt Nam qua đây, hai đầu gối đau nhức lắm, không ngồi xổm được. Sau khi theo tập ba tháng thì đầu gối mềm đi. Ba năm nay có thể ngồi xuống đứng lên nhẹ nhàng hơn, nhất là không thấy bệnh trở lại.” Ông cho biết vừa tập vừa uống thuốc vẫn tốt hơn, nếu bỏ tập thì bị đau lại, ông rất sợ.

Bà Nguyễn Ngọc Dung, lớp trưởng, cho biết bà có bệnh “ba cao,” và chồng bà bị gout, nhưng “Sau ba năm tập, giờ thấy bình thường, thiệt là mừng,” bà nói.

Mời độc giả xem điểm tin buổi sáng ngày 19 tháng 4 năm 2017

Làng lụa Mã Châu đang dần lụi tàn

QUẢNG NAM, Việt Nam (NV) – Cơ sở lụa Mã Châu, thị trấn Nam Phước, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, nơi kế thừa nghề nuôi tằm, dệt lụa danh tiếng trong và ngoài nước bậc nhất của xứ Quảng một thời, hiện đang dần lụi tàn.

Trước đây, lụa Mã Châu, thứ lụa mà hàng trăm năm trước được các thương buôn Nhật, Tây phương… ghé Hội An, đi thuyền nhỏ theo sông Thu Bồn đến tận làng trồng dâu dệt lụa để đưa các sản phẩm dệt tơ lụa nổi tiếng như đoạn, lĩnh, gấm, vóc, trườu, sa… của xứ Đàng Trong đi khắp thế giới.

Về phẩm chất các làng lụa xứ Quảng, danh nhân Lê Quý Đôn đã viết trong Phủ Biên Tạp Lục rằng: “Người Phủ Thăng, Phủ Điện dệt được các loại the, đoạn, lụa, là hoa hòe chẳng kém gì Quảng Đông.”

Vậy mà giờ đây cơ sở lụa đã thưa dần tiếng khung cửi, tiếng nói cười của công nhân, và chỉ vài tấm lụa trắng đang phơi phất phơ.

Ông Trần Hữu Phương, người duy nhất còn sống chết với nghề lụa Mã Châu, kể: “Cùng thời với tôi vào những năm bao cấp, Hợp Tác Xã Lụa Mã Châu có hơn 300 người làm nghề, nhưng bây giờ thì không còn ai.”

Ông là cháu đời thứ 17 của một nghệ nhân quê ngoài Bắc, ông bà ôm cả tro cốt thân nhân vào định cư làm nghề nuôi tằm dệt lụa Mã Châu. Bà tổ truyền nghề dệt cho làng này cũng từ miền Bắc vào, tên bà là Mã Chấu, sau gọi trại đi thành Mã Châu.

Cô Trần Thị Yến, chủ cơ sở lụa, bên khúc Mã Châu nhuộm màu từ chất liệu thiên nhiên. (Hình: Trần Tiến Dũng/Người Việt)
Cô Trần Thị Yến, chủ cơ sở lụa, bên khúc Mã Châu nhuộm màu từ chất liệu thiên nhiên. (Hình: Trần Tiến Dũng/Người Việt)

Chỉ vào máng nhuộm, ông chân thật nói: “Chúng tôi nhuộm bằng phẩm màu công nghiệp. Còn loại lụa nhuộm bằng màu tự nhiên thì thỉnh thoảng mới làm vì giá thành cao nên ít khách hàng. Ai cũng biết lụa Mã Châu nếu được nhuộm bằng màu có gốc từ cây cỏ tự nhiên là nhất hạng. Ví như một xấp lụa màu vàng nhuộm hoa hòe đủ may một cái áo dài chỉ có giá khoảng 1.4 triệu đồng (khoảng $75).”

Nói về cách làm các loại màu tự nhiên truyền thống của làng nghề, ông chỉ vào cái nia tre, nơi có các loại vỏ cây, hạt cỏ, cho biết: “Các màu căn bản có gốc thiên nhiên của lụa Mã Châu như màu xanh chàm, từ vỏ cây già (cây chỉ có ở Quảng Nam), màu vàng từ hoa hòe, màu cà rốt từ quả cau, màu đỏ tươi từ cà rốt và đất phèn, màu xanh dương đậm từ lá trà, màu xanh ngọc từ đậu đen xanh lòng, màu đen từ lá bàng…”

“Có người hỏi lụa Mã Châu có gì khác biệt, tôi thưa với họ, hiện nay chỉ có lụa Mã Châu được kéo tơ dệt thẳng từ kén tằm, mà tơ tằm sống cũng có đặc tính sinh học như con tằm, luôn đề kháng với các biến đổi bất thường bên ngoài môi trường nên phần nào giúp bảo vệ sức khỏe của người mặc lụa,” ông chia sẻ.

Cầm trên tay xấp lụa Mã Châu chúng tôi cảm nhận được vẻ đẹp quý phái không gì có thể so sánh, nhưng buồn thay mình lụa này lại không phải là thứ được các bà, các cô ưa chuộng so với các loại vải hàng hiệu, thậm chí các loại lụa công nghiệp thời thượng mà vô duyên của Trung Quốc hay Nam Hàn.

Loại vỏ cây già chỉ có ở xứ Quảng Nam dùng để làm phẩm nhuộm màu xanh chàm. (Hình: Trần Tiến Dũng/Người Việt)
Loại vỏ cây già chỉ có ở xứ Quảng Nam dùng để làm phẩm nhuộm màu xanh chàm. (Hình: Trần Tiến Dũng/Người Việt)

Bà Thanh Thúy, một khách hàng, nói: “Từ hồi biết được các đặc tính quý giá của lụa Mã Châu, tôi cố hết sức giúp quảng bá để tìm khách hàng nhưng phải nói là khó. Phải chăng thị hiếu của chúng ta ngày nay thay đổi đến mức không còn nhìn ra vẻ đẹp của mình khi mặc lụa Việt Nam?”

Cả làng lụa Mã Châu lừng danh một thời vậy mà hiện nay mỗi tháng chỉ sản xuất lụa tơ tằm tự nhiên không hơn 300 mét, người dệt lụa thu nhập chỉ hơn ba triệu đồng một tháng (khoảng $135) và các mảnh đất phì nhiêu để trồng dâu nuôi tằm cũng bị “cưỡng chế” cho các mục đích khác.

Rời làng lụa Mã Châu, chúng tôi đi viếng lăng mộ Hiếu Chiêu Hoàng Hậu còn gọi là Đoàn Quý Phi. Bà là chánh phu nhân của chúa Nguyễn Phúc Lan, thân mẫu của chúa Nguyễn Phúc Tần, là vị quốc mẫu nhân đức với công gầy dựng nghề ươm tơ dệt lụa vang danh của xứ Đàng Trong được người đời xưng tụng là Bà Chúa Tằm Tang.

Nhìn ngôi mộ uy nghi giữa núi rừng hoang vu vắng lạnh của bà, không thể không liên tưởng đến nghề nuôi tằm dệt lụa ở xứ Quảng và cả nước đang ngày một lụi tàn. Không thể đổ thừa là thời đại này nhu cầu thị hiếu của người Việt đã khác.

Có lẽ, nếu các tấm lụa tuyệt mỹ Mã Châu có thể lên tiếng về số phận của mình, hẳn nó cũng sẽ có chung tiếng nói với mọi người Việt: Chính hàng hóa giá rẻ và độc hại từ Trung Quốc đã đẩy nghề dệt lụa và các nghề thủ công tinh hoa của dân tộc vào chỗ kêu cứu mãi mà không có tiếng phản hồi.

Dân Đồng Tâm vẫn giữ 20 công an, cán bộ

Tháng Tư nhớ Nguyên Sa, chuyện trò cùng ‘Nga buồn như con chó ốm’

WESTMINSTER (NV) – Mười chín năm qua, từ ngày nhà thơ Nguyên Sa qua đời (18 Tháng Tư 1998), những đóa cúc vàng trên mộ ông trong nghĩa trang ở thành phố Westminster vẫn vàng rực, nhờ sự chăm sóc ân cần từ người vợ thủy chung.

Vợ nhà thơ Nguyên Sa, bà Trịnh Thúy Nga, người đi vào cõi thơ Nguyên Sa với những câu mở đầu “tếu táo”: “Hôm nay Nga buồn như một con chó ốm/Như con mèo ngái ngủ trên tay anh /Ðôi mắt cá ươn như sắp sửa se mình /Ðể anh giận sao chả là nước biển!…”

Trên đời, chắc chỉ có mình ông, nhà thơ Nguyên Sa, viết thư thông báo đám cưới của mình bằng thơ. Cũng chẳng có ai đặt tựa cho bài thơ báo hỷ “cộc lốc” như ông – chỉ vỏn vẹn một chữ “Nga,” tên người con gái ông lấy làm vợ.

Thế mà người ta nhớ! Có ai mà không nhớ thơ tình Nguyên Sa!

Và bà Nguyên Sa-Trịnh Thúy Nga, luôn nhớ một câu chuyện chẳng thể nào cũ.

Tháng Giêng Mai Thảo đã qua
Tháng Tư chợt nhớ Nguyên Sa, lại buồn.
(Thơ Ngọc Hoài Phương)

“Năm 1952, sau khi hồi cư về Hà Nội, tôi được gia đình cho sang Pháp du học cùng với người anh họ. Ông Lan (tên nhà thơ Nguyên Sa: Trần Bích Lan) qua trước hai năm. Ông thân sinh của ông ấy  buôn bán lớn, sợ Việt Cộng làm phiền nên cho ba người con lớn sang Pháp du học. Tôi quen em gái ông ấy ở Paris, tình cờ đến nhà chơi nên quen ông.”

Quen nhau Tháng Mười Hai năm 1952, đến mùa Hè năm 1953, ông làm bài thơ tỏ tình tặng bà. Cho đến giờ, chưa ai biết nội dung bài thơ đó như thế nào, vì bà muốn giữ kín, cho riêng bà. Chỉ biết rằng, trái tim của cô nữ sinh tên Nga từ đó có một hình bóng, mà cô luôn trân trọng nhớ về, từ mùa Hè năm đó.

Bà hồi tưởng lại: “Hồi đó tôi còn trẻ, cũng chẳng suy nghĩ gì cả, chỉ lo học thi đậu xong rồi về. Phải lo học xong cho sớm chứ đời sống bên Pháp đắt đỏ lắm. Cũng trong năm 1953, cụ thân sinh ông Lan mất ở Hà Nội, ông ấy phải ngưng học, về nước để giúp đỡ gia đình. Lúc đó chúng tôi yêu nhau rồi, ông ấy cũng muốn dỗ dành tôi về Việt Nam chung, nhưng tôi còn ham học cao lên. Tuổi trẻ mà, ai cũng có giấc mơ lớn, và tôi cũng muốn thực hiện ước mơ của mình.”

Cuộc chia tay này là nguyên nhân bài thơ “Paris có gì lạ không em?” ra đời trong nỗi nhớ khắc khoải của ông.

“Paris có gì lạ không em?
Mai anh về em có còn ngoan
Mùa xuân hoa lá vương đầy ngõ
Em có tìm anh trong cánh chim

Paris có gì lạ không em?
Mai anh về mắt vẫn lánh đen
Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm
Chả biết tay ai làm lá sen?…”

Câu hỏi cuối ông gởi lại bà trong sự chờ đợi, thay cho câu hỏi “Em có bằng lòng làm vợ anh không?” Để rồi hai năm sau gặp lại nhau ở Paris, khi bà khẽ gật đầu ưng thuận “làm lá sen” suốt đời cho ông, thì ông mới viết bài thơ đính hôn thay cho thiệp báo hỷ gởi cho gia đình, bằng hữu, trong niềm vui sướng tột độ.

“Chúng mình lấy nhau
Cần gì phải ai hỏi…
Cả anh cũng không cần phải hỏi anh
‘Có bằng lòng lấy em?…’
Vì anh đã trả lời anh
Cũng như em trả lời em
Và cũng nghẹn ngào nước mắt!…”
(Nga – Nguyên Sa)

Bà Nga nhớ lại: “Sinh viên tụi tôi ở lại Pháp sau Hiệp Định Genève chia đôi đất nước, gia đình lo tản cư vào Nam nên đâu có gởi tiền qua được. Chúng tôi ra Tòa Đốc Lý Paris ký giấy hôn thú, bạn bè theo đông lắm. Xong kéo nhau ra quán cà phê đối diện uống cà phê, ăn bánh. Bạn bè chung tiền trả tiền cho cô dâu, chú rể. Thế thôi.”

Nơi yên nghỉ của nhà thơ Nguyên Sa (1932-1998). (Hình: Vũ Đình Trọng/Người Việt)
Nơi yên nghỉ của nhà thơ Nguyên Sa (1932-1998). (Hình: Vũ Đình Trọng/Người Việt)

Đám cưới sinh viên Việt Nam nghèo ở kinh đô ánh sáng diễn ra như thế. Chú rể chẳng mặc lễ phục, cô dâu không có áo cưới, mà ngay cả nhẫn cưới họ cũng chẳng mua được. Nhưng có sao đâu, vì ông trao cho bà những thứ quý hơn nhẫn cưới.

“Người ta làm thế nào cấm được chúng mình yêu nhau
Nếu anh không có tiền mua nhẫn đeo tay
Anh sẽ hôn đền em
Và anh bảo em soi gương
Nhìn vết môi anh trên má
Môi anh tròn lắm cơ
Tròn hơn cả chữ O
Tròn hơn cả chiếc nhẫnTròn hơn cả hai chiếc
nhẫn đeo tay!…”
(Nga – Nguyên Sa)

***

Mười chín năm ông ra đi, chữ O tròn trên má vẫn chẳng phai nhòa, vì với bà, ông chẳng bao giờ đi xa cả, mà chỉ chuyển chỗ từ ngôi nhà ở thành phố Irvine đến nơi đầy nắng và gió ở thành phố Westminster.

“Đối với tôi thì lúc nào ông cũng quanh quẩn đâu đây, trong cái nhà này. Tôi ở trong nhà, hay đi bất cứ con đường nào, đều thấy hình bóng ông ở bên cạnh tôi hết.” Bà Nga nói.

Nhà thơ Ngọc Hoài Phương cho biết, lúc sinh thời Nguyên Sa rất thích hoa cúc vàng – như câu thơ trong bài “Áo lụa Hà Đông” của ông: Áo nàng vàng, anh về yêu hoa cúc – nên bà Nga chỉ mang hoa cúc ra mộ ông thôi. “Nếu để ý sẽ thấy, hoa cúc vàng trên mộ nhà thơ Nguyên Sa không bao giờ tàn hay héo cả vì được bà Nga chăm sóc rất kỹ. Hoa sắp héo sẽ được bà thay bằng hoa mới.” Nhà thơ Ngọc Hoài Phương cho biết.

Hôm gặp bà ở mộ ông, bà cho hay: “Ông ấy không bao giờ nghĩ đến cái chết, hay mình được chôn cất ở đâu cả. Khi ông ấy mất, tôi ra đây xem rồi chọn cho ông chỗ này. Nó gần hồ nước, lại dưới một bóng cây. Lúc trước trông vắng vẻ, giờ trông ấm cúng vì chung quanh ông có rất nhiều bạn bè.”

“Hồi nhà tôi mới mất, ngày nào tôi cũng ra đây, sửa bông, cắt cỏ. Giờ thì lớn tuổi rồi, thì một tuần tôi ra thăm ông ấy 2 lần. Nhiều khi bực mình với ông ấy cũng ra đây nói cho ông ấy biết.”

“Hồi ông Lan còn sống, tôi rất ít tiếp xúc với bạn ông ấy lắm, nhưng từ hồi ông ra đây, tôi được gặp nhiều người thăm ông, an ủi nâng đỡ tôi. Tôi nhớ ông Đỗ Ngọc Yến (nhà báo, sáng lập nhật báo Người Việt), hồi đó, cứ có ai từ xa đến Little Saigon, muốn gặp tôi thì ông ấy cứ nói cứ ra thăm mộ Nguyên Sa thì gặp bà Nga. Cho nên ở đây tôi được gặp nhiều người lắm, kể cả bạn cũ ở Việt Nam sang chơi. Cuối năm còn có người hẹn tôi ra đây cho cá kho, dưa chua nữa.”

Điều trùng hợp là sự lựa chọn nơi yên nghỉ cho ông, lại chính là nơi ông từng mơ ước được về qua câu thơ của ông, được bà khắc trên mộ.

“Nằm chơi ở góc rừng này
Chưa thiên thu cũng đã đầy cỏ hoang
Xin em một sợi tóc vàng
Làm hoa khởi sự cho ngàn kiếp sau
Biết đâu thảo mộc bớt đau
Biết đâu có bản kinh cầu dâng lên?”

Và trong bài Tân Ước trong tập thơ cuối cùng, hình như lời “năn nỉ” của ông cũng được bà chiều theo.

“…Anh vẫn nhận ra em, em khác biệt mà vẫn đồng nhất, giấc mơ gián đoạn bao nhiêu, em vẫn trở lại, giấc mơ phi lý, em khắng khít bằng những liên tục vuốt ve, liên tục hiền dịu, liên tục chăm sóc. Em liên tục không gian em, liên tục luận lý em. Tân ước nói có thế giới ở ngoài thế giới, khác biệt và bao trùm thế giới. Em có phải là giấc mơ ở trong giấc mơ và phủ kín giấc mơ?”

Chẳng biết như thế nào, nhưng trong thế giới thật này, “Nga buồn như con chó ốm” tiếp tục dùng đôi tay “làm lá sen” phủ kín “hương cốm” Nguyên Sa cho đến tận cùng.

Mời độc giả xem điểm tin buổi sáng ngày 19 tháng 4 năm 2017

Bắt con cá lóc nướng trui…

Vùng đất trẻ miền Tây Nam bộ từ thời khai hoang lập ấp cách đây ơn ba trăm năm, do những con người “dọc ngang nào biết trên đầu có ai” kéo vào mảnh đất hoang sơ phía Nam khai phá, khi mà nơi đây chỉ có rừng ngập mặn hoang vu, muỗi mòng như sáo thổi, rắn độc, thú dữ tràn đầy “dưới sông cá sấu, trên bờ cọp um.” Cuộc đời rày đây mai đó trên sông nước giang hồ, cùng nhau chiến đấu để giành giật sự sống với thiên nhiên khắc nghiệt, có lẽ vì vậy mà họ mang theo và truyền lại cho con cháu đời sau cái khí chất “Ăn to nói lớn,” “Kiến nghĩa bất vi vô dõng dã/Lâm nguy bất cứu mặt anh hùng,” “Giữa đường thấy sự bất bình mà tha,” “Trọng nghĩa khinh tài.”

Ðiều đó tạo nên cách ăn uống của người miền Tây cũng đầy tính chất hoang dã: Chất lượng về “nội dung,” đơn sơ về “hình thức,” không cầu kỳ, bày vẽ, không cần tốn nhiều thời gian chế biến, bất kỳ ở đâu cũng có thể làm được trong thời gian ngắn nhất và thưởng thức ngon lành mùi vị hoang dã của thiên nhiên. Người miền Tây không khách sáo hình thức. Nếu có đủ đồ ăn thì mời khách, không đủ không mời hoặc chỉ mời giới hạn; không phải cái kiểu có con gà luộc mời cả làng như đàng ngoài.

Do đó, món nướng là món khoái khẩu hạng nhất của người miền Tây. Bắt được con gì cũng nướng, có rau củ gì cũng nướng. Từ cá nướng, tôm nướng, sò nướng, ốc nướng, nghêu nướng, thịt nướng, gà nướng, vịt nướng, chim nướng, trứng nướng, khô nướng… đến bắp nướng, chuối nướng, khoai nướng, bánh nướng…

Riêng món cá nướng thôi đã có hàng loạt thứ cá chỉ cần ngửi thấy mùi nướng bay ra đã chảy nước dãi thòm thèm rồi. Nướng trui là một cách nướng đặt biệt của người miền Tây, không xài lò nướng, không xài bếp cồn, bếp gas, không xài than gỗ dù thời ấy than đước xứ này không hề thiếu.

Người nông dân đi làm đồng, mang theo cái giỏ đan bằng lá dừa đựng cơm nguội, mắm sống, chén muối ớt đã giã sẵn, nắm ớt hiểm, xị rượu đế, ra đồng hái thêm rau đồng ăn bữa trưa, tiện tay bắt được vài con cá lóc bằng cườm tay đang bơi loi nhoi dưới ruộng, vậy là cùng nhau làm thêm món cá lóc nướng trui, í ới anh em lại hùn vô nhâm nhi với vài xị đế, ca hát vang trời, vui không kể xiết.

Cá bắt được để nguyên con không cần làm gì hết. Lấy cái dao chẻ một đoạn tre dài cỡ hai chiếc đũa ăn cơm, một đầu nhọn, xuyên cái que này vô miệng con cá lóc cho đến phần đuôi. Cắm cái que tre xuống đất, lấy rơm chất xung quanh phủ kín con cá rồi nổi lửa đốt rơm. Rơm rạ khô thì ngoài ruộng thiếu gì, tha hồ mà đốt. Rơm cháy bừng bừng một lúc đã ngửi thấy mùi cá cháy bốc lên thơm phức, cứ để cho rơm cháy hết than đến khi thành tàn tro thì bươi đống tro lấy con cá lóc ra. Lúc này, con cá lóc đã bị rơm đốt cháy đen hết lớp vảy và da bên ngoài, thịt bên trong chín trắng phếu lộ ra. Như vậy là đã xong món cá lóc nướng trui.

Rau ăn kèm có thể hái bất cứ loại rau nào có sẵn ngoài ruộng dùng để ăn sống. Từ rau muống, rau tróc, hẹ nước, rau đắng biển, rau dừa, bông súng, bông lục bình, bông điên điển, bồn bồn, kèo nèo, rau nhút, rau dừa, đọt me, đợt chùm ruột, đọt xoài,…

Cắt tàu lá chuối thiệt bự lau sạch trải ra đất dưới gốc cây, để con cá nướng lên. Lúc này mới bày ra thêm mắm sống, cơm nguội, rau sống, rượu đế, muối ớt lên tàu lá chuối. Vậy là có thể “chén chú chén anh” vô tư thoải mái được rồi. Lấy tay lột hết lớp da cháy bên ngoài con cá lóc đi, xé cá ra thành miếng cỡ ngón tay. Mắm sống cũng vậy, mắm nhỏ để nguyên con mà ăn, mắm lớn cũng xé ra miếng bằng ngón tay.

Cứ một miếng cá lóc nướng cặp với miếng mắm sống, lấy rau sống bao bên ngoài cuộn chặt lại thành cuộn lớn hơn ngón chưn cái một chút, hoặc không có mắm sống thì chấm muối ớt, cứ vậy đưa lên miệng nhai rau ráu. Ai thích ăn cay cắn thêm trái ớt hiểm. Cá lóc nướng trui vừa ngọt vừa vừa mềm, thơm mùi thịt cá cháy, mắm sống vừa mặn vừa ngọt dịu đậm đà của cá, vị ớt cay nóng lên như lửa, vị chua chát ngọt mát giòn của các thứ rau… tất cả hòa quyện vào nhau, làm nên cái ngon rất riêng biệt của món cá lóc nướng trui. Bưng chén cơm lên lua một phát, xong lại nhấp thêm ngụm đế “súc miệng,” để ly rượu xuống “khà” một tiếng lớn. Thiệt là sảng khoái vô cùng. Chỉ có ta và ta giữa cái đất trời bao la bát ngát cò bay thẳng cánh tít tắp tận chân trời, gió lộng tứ bề mang hương vị nồng nàn của cỏ cây, của rơm rạ, làm cho lòng người cũng say say đến ngất ngây, cũng muốn trải lòng như đất trời rộng lớn kia, tự dưng muốn trở thành Lục Vân Tiên hội ngộ Vương Tử Trực.

Ðó là cái thú thưởng thức món cá lóc nướng trui ở ngoài đồng, còn ở nhà nếu ăn món này thì có sự thay đổi chút ít tùy theo khẩu vị của tay “đầu bếp ngang hông.”

Tất nhiên, không thể kiếm đâu ra rơm với mảnh đất trống mà nướng cho đúng kiểu hoang dã miệt vườn thì xài đỡ bếp than hoa cũng được. Rau sống thì có rau răm, rau thơm, húng lủi, húng chó, rau quế, giấp cá, xà lách, cà chua, dưa leo cắt miếng dài như ngón tay, hẹ lá, hành lá, lá bạc hà non, cọng bạc hà lột vỏ bào mỏng…

Có người thích ăn chấm muối hột giã ớt hiểm, cũng có người thích pha nước mắm tỏi ớt để chấm, cũng có người làm một chén cơm mẻ sả ớt để chấm, mỗi thứ có một kiểu ngon khác nhau, không thể nói cách nào ngon hơn cách nào. Riêng tôi thì tôi vẫn thích ăn với muối hột giã ớt cho thêm chút bột ngọt hơn. Nghe “giang hồ đồn đại” không nên ăn bột ngọt sẽ có hại cho sức khỏe. Ðã lỡ ăn mấy chục năm nay, nhất là thập niên 80-90 của thế kỷ 20, có khi bữa cơm chỉ độc có một món muối hột, ớt hiểm, bột ngọt trộn với nhau giã cho hột muối còn tròn tròn nhỏ nhỏ bằng đầu tăm xỉa răng, hoặc nước mắm bỏ thêm chút bột ngọt rồi kho quẹt lại, lấy đầu đũa quẹt quẹt sồn sột, chấm chấm mút mút cũng ngon đáo để. Hổng biết có ai ăn cái món chanh muối với cơm chưa, chớ tôi thì ăn rồi. Chanh tươi vắt nước vô chén muối ớt đã kể ở trên ăn với cơm tôi cũng đã ăn rồi. Rau mơ tím (loại hay dùng ăn thịt chó nướng, mắm tôm) luộc chấm muối ớt bột ngọt giã như tôi đã kể ở trên cũng đã ăn rồi. Từ đó đến nay vẫn chưa thấy “ngộ độc bột ngọt” mà chết, cũng chưa thấy mình kém thông minh đi (tự khen), bây giờ gần “lên Thiên Ðàng” rồi thì “bịnh gì cữ,” cứ ăn tới tới đi, chớ ở hạ giới suốt ngày nghe bài ca “Thiên Ðàng Xã Hội Chủ Nghĩa” tìm hoài hổng thấy sao mà nó mệt quá chừng luôn.

Ăn ở nhà nó có cái cái ngon hơn ăn ngoài ruộng do chỗ rau sống có thêm các loại rau chứa nhiều tinh dầu thơm và cay như húng, quế, giấp cá, rau răm… Có trái cóc non gọt bỏ vỏ rồi bào thành miếng mỏng (bào luôn cái hột) ăn kèm cũng bá chấy lắm đó.

Không cỗ cao mâm đầy, cái tình cái nghĩa mới là chính, bằng hữu lâu ngày gặp lại, chỉ cần con cá lóc nướng, ly rượu đế là đủ ấm tình huynh đệ chi giao: “Bắt con cá lóc nướng trui/Làm mâm rượu trắng đãi người bạn xa.” Tôi cũng “nối điêu” thêm vô hai câu: “Còn trời còn đất quê nhà/Còn con cá lóc, còn ta với mình.”

Mời độc giả xem điểm tin buổi sáng ngày 19 tháng 4 năm 2017

Tháng Tư đã tới: Nhìn lại liên hệ Việt-Mỹ thời 1990-2000

“Tháng Tư Đen” đã đến lần thứ 42; đây là dịp tiếp tục nhìn lại liên hệ Việt-Mỹ một cách đúng đắn để có khái niệm phần nào về tương lai. Như thường lệ, người viết dựa vào những học hỏi, nghiên cứu, và khám phá từ người đi trước và đương thời của những chuyên gia, giáo sư đại học – những vị này cũng đều dựa vào những khám phá, học hỏi và nghiên cứu của người đi trước và đương thời, theo đúng truyền thống học thuật.

Trong số những người trên đáng kể nhất là Giáo Sư George C. Herring; nay đã về hưu, ông vẫn nghiên cứu, diễn thuyết và viết sách. Ông chuyên về chính sách, đường lối ngoại giao Mỹ; đặc biệt là Chiến Tranh Lạnh/Cold War (như Aid to Russia, 1941-1946, năm 1973), và chính sách đối với Việt Nam, như qua hai tác phẩm: America’s Longest War: The United States and Vietnam, 1950-1975 (tái bản bốn lần), và From Colony to Superpower: U.S. Foreign Relations since 1776  (2008) được hội Sử gia Bang giao Quốc tế (SHAFR) xem là “công trình vĩ đại nhất” liên hệ đến ngoại giao Mỹ. Tập sách mới nhất của ông là The American Century and Beyond: US Foreign Relations, 1893-2014 (2017).

Bài kỳ trước nói về liên hệ Việt-Mỹ sau cuộc chiến gần 30 năm. Đây thật ra là trận chiến trong đó Washington nắm phần chủ động, sau “thất bại đau đớn và nhục nhã” về quân sự lẫn chính trị năm 1975 (từ cái “kiêu căng vì quyền lực/arrogance of power” mà các đế quốc lớn trong lịch sử đều kinh qua, theo chữ và ý của cố Thượng Nghị Sĩ William Fulbright). Và ngay sau đó Hà Nội thành nạn nhân của chính chiến thắng này, hay của chính mình – hai cái “nghiệp” cửa Phật từng nhắc nhở, và kịch tác gia Anh William Shakespeare nổi tiếng “khám phá” ra hơn nghìn năm sau – và từ đây gây nhiều lỗi lầm kinh tế và chính trị.

Theo ông Herring, đầu thập niên 1990 “trận chiến sau cuộc chiến” trở thành gánh nặng cho cả đôi bên, dẫn đến những thay đổi lớn. 

Hòa giải và “hóa giải”  

Chuyển qua thời bình sau 1975, Hà Nội đặt để khuôn mẫu kinh tế chỉ đạo của đàn anh Joseph Stalin (Liên Xô) và Mao Trạch Đông (Trung Quốc); đây đạt tới mức tai họa kinh tế cho dân chúng cả ba nước “xã hội chủ nghĩa độc tài, chuyên chế” – khác với “xã hội chủ nghĩa tự do, dân chủ/không cộng sản” ở nhiều nước Bắc và Tây Âu, như Thượng Nghị Sĩ Bernie Sanders kêu đòi trong kỳ tranh cử tổng thống 2016 và được ủng hộ rộng rãi.

Cuối thập niên 1980, giới lãnh đạo thực tế và tỉnh ngộ hơn đưa ra cải tổ kinh tế “Renovation/Đổi mới,” đều dựa trên khuôn mẫu đàn anh Trung Quốc, Đặng Tiểu Bình (với tuyên bố nổi tiếng “Mèo trắng hay đen cũng tốt miễn là bắt được chuột”) và Nga, Mikhail Gorbachev (với “perestroika/đổi mới”). (Xin mở ngoặc về ba yếu tố cần phải có để phát triển kinh tế, “tài nguyên thiên nhiên/natural resources, tài nguyên nhân lực/human resources, và tư bản/capital,” trong hội thảo ở  báo Người Việt đầu Hè 1986, do chủ nhiệm Đỗ Ngọc Yến, chủ bút Lê Đình Điểu, và người viết điều hợp). “Renovation” chấp nhận một số yếu tố kinh tế tư bản, ví dụ như quyền tư hữu, và nỗ lực đi tìm đầu tư từ nước ngoài – trong đó ngoại thương với Hoa Kỳ đại tư bản là yếu tố quan trọng vô cùng. Dân chúng những “thiên đường cộng sản tan vỡ” có vẻ như quá mệt mỏi với “bình đẳng trong túng đói, khốn khổ” và hăng hái hướng về tư bản “bất bình đẳng, người bóc lột người, nhưng no đủ” – với những hệ quả khôn lường.

Khi đế quốc Liên Xô “sụp đổ từ bên trong ra/implode,” Hà Nội không còn đồng minh và ân nhân kinh tế chính đành chấp nhận kế hoạch rút khỏi Cambodia của Liên Hiệp Quốc. Dù còn hơn 300 nghìn người Việt chưa dò ra tung tích, Hà Nội lấy lòng Washington qua nỗ lực tìm lính Mỹ mất tích (MIA) – hợp tác liên tục này tạo nhiều cơ hội để đối thoại về những vấn đề khác. Nhà nước cũng đưa ra một số hành động tượng trưng về “cởi mở/openness/glasnost” giảm bớt những khắt khe về mặt chính trị.

Washhington cũng bị nhiều thúc đẩy để đi tới “bình thường hóa/normalisation” với Việt Nam: nhiều người Mỹ tin rằng hòa giải với Việt Nam là cách độc nhất để “hóa giải” cuộc chiến tàn bạo, chia rẽ xã hội Mỹ đã kéo dài quá lâu; thăm dò dư luận dân chúng cho thấy mức ủng hộ normalisation gia tăng trong khi phản đối đi xuống. Giữa thời 1990, Hà Nội đáp ứng hầu hết điều kiện chính quyền George W. H. Bush (bố) đã đề ra, dù “cấm vận/embargo” vẫn còn. Vì quyền lợi “làm ăn lớn” với “mức lời cao/great profit magin” của mình giới đại kỹ thương, tài phiệt Mỹ ào ạt làm “áp lực/lobby” Quốc Hội và chính quyền bãi bỏ embargo. Những cựu chiến binh Việt Nam với ảnh hưởng lớn như Thượng Nghị Sĩ John McCain và Thượng Nghị Sĩ John Kerry đưa ra bằng chứng không còn tù binh Mỹ (POW) ở Việt Nam.

Cùng quê quán với Thượng Nghị Sĩ Fulbright (Arkansas) và từng là sinh viên công khai phản chiến, Tổng Thống Dân Chủ Bill Clinton vô cùng thận trọng, nhưng đi tới rất nhanh: giữa năm 1993 ông chấp thuận quốc tế cho Việt Nam vay tiền và đặt nhân viên ngoại giao ở Hà Nội nhằm theo rõi về MIA. Đầu 1994, embargo được bãi bỏ; cuối năm Việt Nam trả lại Washington tòa đại sứ Mỹ ở Sài Gòn, “một biểu tượng của hiện diện quyền uy và ra đi nhục nhã.” Giữa 1995 ông Clinton tuyên bố chính thức nối lại bang giao giữa hai nước, với chọn lựa đại sứ đầy ý nghĩa: ông Douglas Peterson, một phi công bị bắn rớt và cựu tù binh chiến tranh (POW), và cũng là yếu tố đẩy mạnh hòa giải và hóa giải tiến tới.

Theo ông Herring, hòa giải đưa đến những kết quả có ý nghĩa tuy có phần hạn chế. Những đại công ty Mỹ như PepsiCo, Nike và United Airlines ào ạt đi vào Việt Nam. Theo University of Michigan (viện đại học dính dáng nhiều đến Nam Việt Nam ngay từ thời 1960), Nike thành chủ nhân làm giầy lớn nhất ở Việt Nam, trả công nhân $1.60 một ngày, bắt làm việc 65 giờ một tuần, sản xuất giầy bán cả trăm đô-la một đôi, thưởng danh thủ bóng rổ Michael Jordan $25 triệu làm quảng cáo!

Nhưng cuối thời 1990, Hoa Kỳ vẫn là nước đầu tư hàng thứ tám vào Việt Nam; mãi tới 1999 hai nước mới ký thỏa ước mậu dịch, tuy nhiên Việt Nam vẫn không được hưởng qui chế “tối huệ quốc/most-favoured-nation” với giới hạn đặt trên số lượng hàng hóa và dịch vụ Hoa Kỳ có thể bán cho Việt Nam – đây có nghĩa là với lợi tức đồng niên thấp người Việt bị hạn chế rất nhiều về những gì mình có thể mua được.

Tổng Thống Clinton cùng gia đình chính thức thăm viếng Việt Nam cuối năm 2000 là một bước tiến quan trọng  trong liên hệ đôi bên. Ông có tiếng như người học sâu hiểu rộng, đồng thời cũng là người của đại chúng với cung cách xuề xòa, thân mật, được dân chúng mến mộ vô cùng. Ông cẩn thận không xin lỗi về cuộc chiến, như nhiều giới trí thức Mỹ thúc đẩy ông làm, nhưng nhấn mạnh “Việt Nam là một quốc gia, chứ không phải là một cuộc chiến” – một điều ít người Mỹ trung bình có thể hiểu nổi. Ông rất xúc động khi thăm viếng một công trường đào mộ MIA, nhưng cũng tỏ bùi ngùi về những người MIA Việt chưa tìm ra.

Cuộc thăm viếng lịch sử cũng cho thấy những khác biệt còn nhiều: Hà Nội vẫn đòi Washington phải chịu trách nhiệm lớn hơn về tai họa đau đớn và lâu dài từ những đợt rải “thuốc khai quang/Agent Orange” trong thời chiến cùng những bom, mìn chưa nổ rải rác khắp Việt Nam (riêng Việt Nam chịu gần 7.1 triệu tấn bom, gấp ba lần rưỡi số bom Hoa Kỳ thả ở Âu, Á và Phi Châu trong Thế Chiến 2, theo Wikipedia). Khi ông Clinton nhẹ nhàng nhắc tới “thành tích” đáng buồn của Hà Nội về nhân quyền, và thúc đẩy thêm cởi mở cùng tham gia vào toàn cầu hóa kinh tế, giới lãnh đạo Việt Nam lên án Hoa Kỳ vẫn “đế quốc” và “vẫn cố áp đặt ý nguyện của mình lên nước ngoài.”

Dân Đồng Tâm vẫn giữ 20 công an, cán bộ

Tin mới cập nhật