GS-TS Nguyễn Vân Nam
Không ai nghi ngờ những bất cập, bất lợi, yếu kém thuộc về bản chất của doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Vậy thì phải cải cách DNNN như thế nào?
Giữa các thông tin, văn kiện chính thức nói đến doanh nghiệp nhà nước (DNNN) với thực tế đã và đang diễn ra, hầu như tất cả đều trái ngược. Theo các văn kiện chính thống, DNNN được thành lập để:“Thực hiện định hướng XHCN, kinh tế nhà nước là chủ đạo.” Tuy nhiên, trên thực tế, thế giới chưa có một nền kinh tế thị trường (KTTT) theo định hướng XHCN nào thành công, hay đang thực hiện có kết quả, để có thể so sánh rút kinh nghiệm. Dù vậy, nhiều nước đã xây dựng thành công một nền KTTT chú ý giải quyết hài hòa các vấn đề xã hội với trọng tâm không phải là lợi nhuận, mà là bảo đảm cuộc sống có phẩm giá cho mỗi người. Đó là nền Kinh tế Thị trường Xã hội, điển hình là Cộng hoà Liên bang Đức. Trong nền kinh tế này không có kinh tế Nhà nước, không có việc ưu tiên một thành phần kinh tế nào để nó thành chủ đạo; Nhà nước tham gia hoạt động kinh tế theo những nguyên tắc khác hẳn Việt Nam.
Ở Việt nam, Nhà nước nói phải có DNNN vì:
– DNNN “kinh doanh trong những lĩnh vực thiết yếu để phục vụ nền KT và giữ độc lập, tự chủ về kinh tế.” Thực tế: Sự phát triển của đại đa số các quốc gia đều chứng minh hoạt động của doanh nghiệp tư nhân mới là có hiệu quả nhất trong đa số các lĩnh vực thiết yếu của nền kinh tế quốc dân. Trong thời đại toàn cầu hóa, không có bất kỳ quốc gia nào có khả năng- nên cũng không đặt thành nhiệm vụ- giữ độc lập và tự chủ về kinh tế theo cách hiểu truyền thống về độc lập tự chủ của Việt Nam.
– DNNN “tạo những quả đấm thép làm trụ cột và chủ lực trong cạnh tranh, đi đầu phát triển doanh nghiệp.” Thực tế, hoạt động của các DNNN cho thấy họ lại chính là những quả đấm thép làm cản trở hình thành các trụ cột phát triển kinh tế thông qua cạnh tranh hiệu quả.
Nhiều tập đoàn, tổng công ty nhà nước nợ nần nghìn tỷ.
Mua con tàu Hoa Sen, Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (Vinashin) “ôm” một đống nợ.
Hình minh hoạ. Nguồn: dtnews.vn
– DNNN “thực hiện chiến lược phát triển một số ngành, một số nhiệm vụ kinh tế-xã hội”. Thực tế, với sự hỗ trợ của Nhà nước về chính sách, doanh nghiệp tư nhân mới làm tố, còn các DNNN không hoạt động theo mục tiêu hoàn thành một số nhiệm vụ KT-XH mà vẫn là lợi nhuận. Ngoài ra, cũng theo các văn kiện chính thống, DNNN “kinh doanh, đầu tư trong những lãnh vực tư nhân không làm, không muốn làm.” Thực tế cho thấy DNNN hoạt động tại đây lại không phải để đáp ứng nhu cầu xã hội mà DN tư nhân không muốn đáp ứng vì không đem lại lợi nhuận, mà vẫn là để thu lợi nhuận, thậm chí là lợi nhuận cao hơn do được độc quyền.
– Nói về các mục tiêu, DNNN “là lực lượng đảm bảo sự phát triển của các ngành/lĩnh vực theo kế hoạch nhà nước“; “thể hiện tính ưu việt của khu vực công hữu về quan hệ lao động, năng lực quản lý, năng suất, hiệu quả, là trụ cột trong cạnh tranh, đặc biệt là cạnh tranh với các tập đoàn, công ty lớn của nước ngoài.”; “tạo nguồn thu lớn cho ngân sách khi sử dụng vốn và các nguồn lực được NN phân bổ.” Thực tế thì với những mục tiêu như vậy, nền kinh tế của VN thực chất chỉ là chuyển từ Kinh tế kế hoạch tập trung sang Kinh tế kế hoạch chỉ huy (KTKHCH); hoạt động của công ty quốc doanh ở rất nhiều quốc gia cũng như tại Việt Nam đã chứng minh DNNN không hề là trụ cột trong cạnh tranh. Ngoại trừ tính ưu việt về quan hệ lao động, thì quản lý kém cỏi, năng suất lao động thấp, kinh doanh không hiệu quả là những đặc trưng mang tính phổ biến của DNNN. DNNN, tự bản chất, đã là cản trở mạnh mẽ nhất cho những cố gắng xây dựng một môi trường cạnh tranh tự do, lành mạnh và bình đẳng. Duy trì hoạt động của DNNN làm trụ cột cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài cũng là đi ngược lại những cam kết của ta với WTO. Nếu được sử dụng vốn và các nguồn lực khác như nhà nước đang phân bổ cho DNNN, doanh nghiệp tư nhân sẽ tạo nguồn thu lớn hơn nhiều so với DNNN.
– Ngoài ra có những mục tiêu khác mà chính phủ VN đặt ra cho DNNN như “là chỗ dựa để Nhà nước thiết kế và thực hiện chiến lược, chính sách kinh tế, dự án đầu tư của nhà nước.”; Thực tế thì sao? Chính là do dựa vào hoạt động của DNNN-một yếu tố phi thị trường và hoàn toàn mang ý chí chủ quan- mà hầu hết các chiến lược, chính sách kinh tế của VN luôn “tiền hậu bất nhất” và phải điều chỉnh liên tục.
Là chỗ dựa để Nhà nước thiết kế và thực hiện chiến lược, chính sách kinh tế,…
nhưng DNNN nào cũng nợ nần chồng chất, làm ăn thua lỗ.
– Nói DNNN “là chỗ dựa trong điều hành vĩ mô đối với các tình huống nhà nước cần ứng phó, kiểm soát thị trường (ổn định giá, bảo đảm nguồn cung, kiềm chế lạm phát, giảm nhập siêu…” chỉ có thể là lý do chính đáng biện minh cho sự tồn tại của DNNN, nếu có những tiêu chí luật định rõ ràng xác định được nhiệm vụ, cơ chế kiểm soát và các lĩnh vực mà DNNN được phép hoạt động, điều mà chính phủ VN chưa làm được.
Dù không ai nghi ngờ những bất cập, bất lợi, yếu kém thuộc về bản chất của DNNN, nhưng ở Việt nam, người ta chủ yếu chỉ đang thảo luận theo hai hướng: a) cải cách nâng cao hiệu quả, tác dụng tích cực của DNNN (công nhận vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước); hoặc, b) hạn chế tác động tiêu cực của DNNN bằng cách giới hạn tỷ trọng DNNN trong nền kinh tế quốc dân (công nhận sự cần thiết của DNNN). Có thể thấy trường phái a) chắc chắn thất bại, nhưng vẫn sẽ chiếm ưu thế do DNNN vẫn được dùng như một công cụ điều hòa lợi ích của các nhóm lợi ích; trường phái b) sẽ không thành công, nếu không chỉ ra được sự khác nhau về bản chất hoạt động giữa DNNN và doanh nghiệp thông thường kinh doanh vì lợi nhuận.
Trong lịch sử kinh tế thế giới, Kinh tế kế hoạch chỉ huy (KTKHCH) không phải là xa lạ. Đây là nền kinh tế dựa vào ý tưởng kết hợp các ưu điểm của cơ chế thị trường dưới sự chỉ huy của lý trí “luôn đúng” của lãnh tụ. Nền KTKHCH thành công nổi tiếng nhất là nền kinh tế của nước Đức phát xít dưới sự lãnh đạo của Hitler. Thời đó, tỷ lệ thất nghiệp của Đức là 0%, Đức quốc xã là nước áp dụng thành công lý thuyết về vai trò kích cầu Nhà nước của nhà kinh tế học nổi tiếng Keynes. Thành quả của nền KTKHCH này đã tạo đầy đủ cơ sở vật chất cho Hitler tiến hành chiến tranh thế giới. Điểm đặc biệt nguy hại của KTKHCH là ở chỗ nó luôn phải tự tạo ra các nhu cầu phi thị trường theo ý chí chủ quan của người lãnh đạo. Với nước Đức phát xít, đó là nhu cầu chuẩn bị và phục vụ chiến tranh.
Kinh nghiệm nhiều nước cho thấy chỉ có thể lựa chọn dứt khoát kinh tế thị trường hay KTKH chứ không thể kết hợp cả hai. Là thành viên WTO, VN đã không chỉ cam kết xây dựng kinh tế thị trường, mà còn có nghĩa vụ tự do hóa thị trường. Điều này ngược với chiến lược lấy kinh tế nhà nước làm vai trò chủ đạo.
Kinh tế thị trường giải quyết hiệu quả hầu hết các vấn đề của doanh nghiệp, của hoạt động kinh tế. Nhưng Kinh tế thị trường làm phát sinh vấn đề xã hội mà không phải lúc nào nó cũng giải quyết ổn thỏa. Chính tại đây, Nhà nước có trách nhiệm, nghĩa vụ và được phép hoạt động thay thị trường. Tuy nhiên, hoạt động kinh tế này của Nhà nước phải tuân thủ 03 nguyên tắc: (1) Chỉ can thiệp vào nơi và khi thị trường đã bất lực; (2) Nguyên tắc hỗ trợ; (3) Hạn chế đến mức thấp nhất tác động làm sai lệch môi trường cạnh tranh, hạn chế quyền tự do kinh doanh.
Nước nào cũng vậy, ở giai đoạn đầu phát triển kinh tế, giá thành sản xuất trong một số lĩnh vực thiết yếu cho đời sống-chẳng hạn điện, nước- rất cao so với sức mua, không tương xứng với thu nhập của phần lớn người dân; làm tăng chi phí sản xuất và không khuyến khích cạnh tranh hiệu quả. Nhu cầu thiết yếu của phần lớn người tiêu dùng sẽ không được thị trường điện, nước tự do đáp ứng, do họ không đủ tiền mua và vì vậy có thể làm nẩy sinh các vấn đề gây xáo trộn xã hội. Đó là lúc thị trường bất lực.
Phần lớn người dân không đủ tiền chi tiêu cho các nhu cầu thiết yếu, có thể nẩy sinh các vấn đề xáo trộn xã hội.
Hình minh hoạ. Nguồn: Reuter
Một mặt, vì nhà nước có nhiệm vụ Hiến định phải bảo đảm mức sống ổn định tối thiểu cho người dân, mặt khác nhà nước phải can thiệp khi thị trường bất lực, nên nhà nước phải sử dụng công cụ là các DNNN. Nhiệm vụ và mục đích của các doanh nghiệp này là bảo đảm đáp ứng ổn định nhu cầu thiết yếu của người dân và xã hội. Chính là để hoàn thành nhiệm vụ Hiến định ấy mà các DNNN đó mới được độc quyền. Nhà nước có nghĩa vụ sử dụng DNNN độc quyền trong một số lĩnh vực quan trọng để đáp ứng nhu cầu cần thiết tối thiểu cho hoạt động xã hội và cuộc sống người dân. Những lĩnh vực này cần do Quốc hội qui định (nhưng phải phù hợp với tiêu chí của WTO), chúng có thể là: Điện, nước, giao thông công cộng, bưu điện,…
DNNN độc quyền có mục đích và hoạt động khác về cơ bản với doanh nghiệp thông thường. (xem sơ đồ)
Vì thế, nên đặt vấn đề cải cách DNNN trong tổng thể chung giải quyết vấn đề kinh tế Nhà nước như thế nào để hội nhập thành công. Cần có qui định pháp lý phân biệt rõ ràng DNNN độc quyền với doanh nghiệp có vốn góp của nhà nước.
Thứ nhất, DNNN độc quyền hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, mà là để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người dân, của xã hội. Trước mắt, cần có luật về hoạt động của DNNN độc quyền phù hợp với các đặc trưng được WTO công nhận. Quốc hội quyết định các lĩnh vực nào là thiết yếu đối với đời sống người dân, xã hội mà DNNN được độc quyền. Về lâu dài, cần xác định rõ DNNN độc quyền chỉ là giải pháp tình thế. Ngay khi sức mua (thu nhập bình quân đầu người) tăng đến mức hấp dẫn DNTN và khi môi trường kinh doanh đủ điều kiện cho cuộc cạnh tranh hiệu quả giữa các doanh nghiệp nhằm hạ giá sản phẩm thiết yếu, thì phải từ bỏ độc quyền, mở cửa thị trường cho DNTN.
Thứ hai, cần nhanh chóng xây dựng cơ sở pháp lý rõ ràng cho hoạt động của DN có vốn góp của NN. Dứt khoát-trên cơ sở luật định- đối xử với các doanh nghiệp này hoàn toàn bình đẳng như các doanh nghiệp tư nhân khác, đặc biệt trong tiếp cận vốn, bảo lãnh vay vốn, cấp đất, giải quyết nợ nần, phá sản và cạnh tranh.
Về mặt pháp lý, cần phân biệt hai loại doanh nghiệp có vốn góp của nhà nước: trên 25% và dưới 25%. Theo thông lệ quốc tế, mà ta sẽ phải chấp nhận, ai có vốn góp trên 25% là „thiểu số quyết định“, vì không có ý kiến chấp thuận của thiểu số này thì không một quyết định quan trọng nào của doanh nghiệp có giá trị thi hành cả. Do đó doanh nghiệp nào có trên 25% vốn nhà nước phải được coi là DNNN. Ngoài việc phải tuân thủ qui định pháp luật cho hoạt động quản lý sản xuất kinh doanh như các doanh nghiệp tư nhân khác, DNNN còn phải chịu sự điều chỉnh của Luật hành chính. Nghĩa là các quyết định của người đại diện vốn nhà nước trong hoạt động của DNNN loại này có thể bị khởi kiện ra Tòa hành chính. Doanh nghiệp có vốn góp của nhà nước dưới 25% có thể được xem là doanh nghiệp tư .
(*) Những dòng in nghiêng trong bài này được trích từ các văn kiện của nhà nước.