Ngân Hàng Trung Ũơng Hoa Kỳ

 


Hùng Tâm/Người Việt


Vì sao biện pháp QE không gây lạm phát? Cũng chẳng kích thích kinh tế?

Trong năm năm qua, kinh tế Hoa Kỳ gặp rất nhiều trở ngại gọi là “ngược gió” theo thuật ngữ đầy ví von của kinh tế học. Ngân Hàng Trung Ương Hoa Kỳ phải đối phó bằng hàng loạt biện pháp tiền tệ, trong đó có một loại biện pháp bất thường đã gây thắc mắc và tranh luận, gọi là “quantitative easing.” Hồ Sơ Người Việt cố gắng tìm hiểu về biện pháp rất chuyên môn này và trình bày thật đơn giản để mọi người có thể phần nào hiểu ra nội dung.


Những biện pháp ứng phó

Khi kinh tế bị suy trầm và thất nghiệp tăng, hai cơ chế Hoa Kỳ có thể tung ra những biện pháp kích thích kinh tế. Ðó là chính quyền Liên Bang và Hệ Thống Ngân Hàng Dự Trữ Liên Bang, gọi là Federal Board of Reserve hay thường được viết tắt là Fed (khác với Feds là chữ viết tắt về cơ quan FBI). Chúng ta lần lượt nói về đại cương của hai cách ứng phó này.

Chính quyền Hoa Kỳ có thể gia tăng công chi, bơm thêm tiền và tạo ra nhu cầu để từ đó thúc đẩy sản xuất. Biện pháp thuộc lãnh vực ngân sách này chưa đủ công hiệu mà còn gây thêm bội chi ngân sách (chi nhiều hơn thu) khiến chính quyền Liên Bang phải vay thêm tiền. Vay tiền là phát hành trái phiếu (giấy nợ, của công quyền thì gọi là công khố phiếu). Vì thế khối công trái (nợ của khu vực công) đã lên tới mức kỷ lục, tính đến ngày 23 vừa qua là 16 ngàn 787 tỷ Mỹ kim, so với Tổng Sản Lượng Nội Ðịa (GDP) của nước Mỹ tính đến cuối năm 2012 là khoảng 15 ngàn 700 tỷ.

Cùng biện pháp ngân sách của chính quyền (thường được gọi là fiscal), Ngân Hàng Trung Ương Hoa Kỳ cũng có khả năng ứng phó riêng.

Là một định chế độc lập, Hội Ðồng Dự Trữ Liên Bang giữ vai trò của một Ngân Hàng Trung Ương (hay ngân hàng quốc gia). Vì mỗi nơi phiên dịch tên gọi một cách (như Hội Ðồng, Cục, Quỹ hay Ngân Hàng Dự Trữ Liên Bang), chúng ta có thể dùng cái tên dễ hiểu xuất phát từ chức năng mà gọi là “Ngân Hàng Trung Ương” hay Fed. Biện pháp của Fed thuộc lãnh vực tiền tệ (khác với biện pháp ngân sách của chính quyền Liên Bang) và là thẩm quyền của một định chế độc lập, không bị chính quyền chi phối (vì những mục tiêu chính trị).

Biện pháp thông thường nhất là hạ lãi suất ngắn hạn.

Lãi suất dài hạn không thuộc thẩm quyền tác động của Fed mà là kết quả của quy luật cung cầu, cho vay và đi vay dài hạn bằng cách mua hay bán trái phiếu để kiếm lời. Một chi tiết nhỏ: người ta không gọi tỷ lệ tiền lời trả cho tờ giấy nợ (trái phiếu) là “lãi suất” (interest rate) mà gọi là “phân lời” (yield).

Hoa Kỳ có hai loại lãi suất ngắn hạn. Phổ thông nhất là loại lãi suất căn bản mà các ngân hàng thiếu thanh khoản (tiền mặt, hiện kim) phải tạm vay nhau, đó là “Fed Funds Rate,” thuộc thẩm quyền tác động của ngân hàng Fed.

Ðấy là lãi suất nền tảng vì chi phối mức lãi suất mà các ngân hàng hay tổ chức tín dụng tính cho các loại khách hàng khác nhau tùy theo mức đáng tin cậy của khách hàng và rủi ro của việc cho vay. Lãi suất ngắn hạn thứ hai là “Lãi suất thế chấp” hay Discount Rate mà các ngân hàng phải trả cho Fed nếu cần vay tiền ngắn hạn.

Khi nâng hai loại lãi suất này, Fed làm cho tiền đi vay trở thành đắt hơn và qua đó mà tiết giảm khối lượng tín dụng trong nền kinh tế, thường là để kềm hãm lạm phát. Ngược lại, khi hạ lãi suất, Fed gia tăng khả năng vay mượn trong nền kinh tế để kích thích việc sản xuất và tiêu thụ.

Trong trận khủng hoảng rồi suy trầm kinh tế vừa qua, Fed đã hạ lãi suất tới sàn, mấp mé 0% so với lạm phát, và còn thông báo là có thể giữ mức này cho đến năm 2015, mà chưa thấy công hiệu. Vì vậy mới có biện pháp gọi tắt là QE.


“Quantitative Easing”

Khi hạ lãi suất, ngân hàng Fed muốn làm đồng tiền trở thành rẻ hơn để kích thích sản xuất và tiêu thụ, tức là làm “tài hóa dễ lưu thông,” tiền tài và hàng hóa đều lưu hoạt hơn.

Nhưng khối tiền tệ lưu hành không tất nhiên tăng giảm theo cùng một nhịp độ với lãi suất, thành một số tiền có thể đếm được. Vì vậy, biện pháp lãi suất có tính cách định phẩm hơn định lượng, qualitative hơn là quantitative. Nhân đây, xin nói thêm là báo chí Việt Nam trong nước cứ viết hay dịch sai chữ “quality” hay “qualitative” thành “chất lượng”: “phẩm chất” là từ chính xác hơn vì nhấn mạnh đến sự khác biệt với “số lượng”!

Vì vậy, Fed mới phải áp dụng thêm một loại biện pháp bất thường theo kiểu Nhật Bản là nới lỏng mức lưu hoạt tiền tệ qua một số lượng tiền tệ nhất định, gọi là “quantitative easing.” Mỗi nơi mỗi nước lại có một lối dịch riêng, nhưng phổ biến nhất vẫn là cách giữ nguyên văn, hoặc viết tắt là QE. “Hồ Sơ Người Việt” tạm dùng cách gọi đó vì mục tiêu là để trình bày biện pháp quá chuyên môn phức tạp này.

Từ năm 2008, ngân hàng Fed có ba đợt gia tăng mức lưu hoạt tiền tệ như vậy (Tháng Chín năm 2008, Tháng Mười Một năm 2010 và Tháng Mười Một năm 2012). Ðấy là biện pháp “định lượng” (quantitative) vì mỗi lần cơ chế này lại định sẵn số tiền được mình bơm thêm vào kinh tế.

Khi báo chí nói đến chuyện “bơm” thêm tiền, mọi người đều có thể hiểu không sai lắm rằng Fed in bạc và bơm tiền để cứu nguy kinh tế. Không sai lắm mà thật ra chưa đúng hẳn vì đấy không là quyết định cho Nha Phát Hành bấm nút in ra vài trăm hay vài ngàn tỷ đô la. Hình ảnh in bạc trên truyền hình có thể gây ra hoặc củng cố ấn tượng sai lạc này.

Sự thật nó lại rắc rối hơn vậy vì nếu cứ cho rằng nha phát hành có in thêm tiền thì làm sao đưa cả tấn giấy bạc đó vào kinh tế, qua tay những ai và đến những ai?

Chúng ta phải vòng qua hai ngả khác thì mới hiểu được những khúc mắc bên trong.

Thứ nhất, khi “bơm” thêm tiền vào kinh tế (xin tạm hiểu như vậy), cơ quan Fed chỉ nhắm vào việc gia tăng khối tiền tệ lưu hành trong công chúng. Khối tiền tệ lưu hành này thường được gọi tắt là M2, gồm có bạc mặt, tiền ký thác vào ngân hàng, khối dự trữ của cả hệ thống ngân hàng được giữ bên trong hoặc ký thác vào trương mục của Ngân Hàng Trung Ương, v.v… Ðể khỏi làm độc giả thêm nhức đầu, xin tạm nói rằng khối tiền tệ M2 này co hay giãn thì chi phối mức lưu hành của đồng bạc trong kinh tế nên tác động vào sinh hoạt kinh tế. Vì vậy, biện pháp QE có ảnh hưởng đến khối M2 này.

Thứ hai, làm sao Fed tác động vào khối M2 đó?

Ta có thể mường tượng rằng định chế này giữ vai trò thủ quỹ của hệ thống ngân hàng gồm các ngân hàng thương mại lẫn các tổ chức tài trợ tín dụng vì tập trung sổ sách của cả hệ thống trong bảng cân đối kế toán hay kết toán tài sản của mình. Xin cáo lỗi độc giả về chi tiết nhức đầu nhưng cần thiết này để nói tới “bảng kết toán tài sản” của ngân hàng Fed. Họ có trong tay tổng số tích sản (nguồn gốc của tài sản) và tiêu sản (cách sử dụng tài sản này) của cả hệ thống, vì vậy ta mới tạm liên tưởng đến vai trò của thủ quỹ hay nhà cái.

Khi tung ra biện pháp QE, Fed “mua vào” một lượng trái phiếu nhất định từ cả hệ thống ngân hàng và bán ra (thanh toán) bằng cách ghi vào bảng kết toán một số tiền nhất định cho từng ngân hàng. Với số tiền được ghi thêm như dự trữ trong kết toán tài sản, các ngân hàng có quyền cho thân chủ vay thêm và nhờ đó mà nâng mức lưu hoạt tiền tệ và kích thích kinh tế.

Cho nên, thay vì in bạc bơm tiền như công chúng có thể hiểu, Fed áp dụng một biện pháp phức tạp hơn, nhưng cũng biết chắc là mỗi lần “bơm” thêm bao nhiêu tiền vào nền kinh tế qua hệ thống ngân hàng. Quyết định QE3 xác định là mỗi tháng sẽ bơm thêm 85 tỷ đô la cho đến khi đạt mức công hiệu là làm tỷ lệ thất nghiệp giảm tới số 6%. Tức là không hẹn trước ngày chấm dứt. Vì thế biện pháp QE mới bị chế diễu là QEternity. Miên viễn!
Nhưng, sau khi được bơm thêm tiền qua một nghiệp vụ bút ghi kế toán, các ngân hàng cho cho thân chủ vay hay không và các thân chủ có vay hay không là chuyện khác. Thực tế là không.
Chúng ta bước qua phần tìm hiểu về sự công hiệu.


Hiệu quả của QE

Sau ba đợt QE, Ngân Hàng Trung Ương Hoa Kỳ bị đả kích là in bạc bơm ra mấy ngàn tỷ đô la để kích thích kinh tế, với rủi ro là gây ra lạm phát, vậy mà vẫn chẳng kích thích được gì. Tại sao lại như vậy?

Năm 2008, khi suy trầm kinh tế rồi khủng hoảng tài chánh bùng nổ, khối tiền tệ căn bản của Hoa Kỳ gồm có mọi loại tiền giấy và xu, hào, cắc, được ước lượng vào khoảng 840 tỷ. Xin tạm hiểu rằng đấy là cái nền M0 để trên đó người ta vay thêm, ký thêm chi phiếu, v.v… và nâng khối tiền tệ M2 là con số then chốt, thước đo của sự co giãn kinh tế.

Ba đợt QE đã nâng khối tiền tệ căn bản từ 840 tỷ lên tới hai ngàn 930 tỷ tính đến Tháng Ba vừa qua. Nghĩa là khối M0 đã tăng đến 249%. Cùng giai đoạn ấy, khối tiền tệ M2 đã từ khoảng bảy ngàn 400 tỷ lên tới 10 ngàn 400 tỷ đô la, tăng chừng 40%. Ðây là chuyện lạ vì cái đòn bảy QE mà Fed áp dụng không tạo ra sức bật tương xứng: tăng mức M0 lên 249% mà M2 chỉ tăng có 40%.

Tiền tệ không lưu thông nhiều hơn nên lạm phát không tăng, như nhiều người đã lo sợ.

Nhưng cũng vì tiền tệ chẳng lưu thông nhiều hơn, sinh hoạt kinh tế vẫn èo uột. Tại sao như vậy, ta lại phải vòng qua hai chuyện khác, là “phát hành đồng bạc” và vận tốc luân lưu của đồng tiền.

Ngân Hàng Trung Ương không trực tiếp in tiền và phát hành đồng bạc như ta có thể hiểu một cách thông thường.

Chính là hệ thống ngân hàng mới phát hành thêm tiền khi cho vay ra ngoài. Mức cho vay cao hay thấp là tùy khối dự trữ của từng ngân hàng, vào lãi suất và nhất là tùy theo số thân chủ muốn đi vay. Trong năm năm qua, các ngân hàng không phát hành tiền tệ nhiều như mọi người trông đợi hay lo sợ.

Phát hành nhiều hay ít thì mình có thể đo lường ở vận tốc luân lưu của đồng tiền, gọi là velocity, viết tắng bằng ký hiệu V.

Kinh tế càng sung mãn thì đồng bạc quay càng nhanh và người ta có thể đo lường sự sung mãn ấy bằng Tổng Sản Lượng Nội Ðịa GDP hay bằng mức luân lưu (V) của khối tiền tệ M. Ðấy là cơ sở của phương trình GDP = MV. Muốn nâng đà tăng trưởng của kinh tế, người ta có thể bơm thêm tiền (M) hoặc gia tăng sức “quay” của đồng bạc (V).

Thí dụ là… tiệm phở: thêm bàn cho khách ngồi M và mỗi bàn hàng ngày có thêm nhiều đợt khách V. Mỗi đợt luân lưu là lại tạo thêm lợi tức. Dù cò bày thêm bàn nếu khách ngồi ỳ hàng giờ với một tô phở là coi như nhà hàng bị lỗ! Ðó là hoàn cảnh hiện nay của nhà hàng Hoa Kỳ.

Nói cách khác, Fed có bơm thêm tiền mà đồng tiền không quay, bộ máy kinh tế cứ ì ra đấy. Nguy hơn thế là sự đình đọng của mức luân lưu V. Tốc độ luân lưu của đồng bạc tại Hoa Kỳ vào cuối năm 2007 – trước khi bị gió chướng – được ước tính vào khoảng chín lần, mỗi lẫn lại sinh thêm lợi tức cho kinh tế. Ðến năm 2009, tốc độ V sụt dưới số năm và hiện nay đang ở con số 3,6, thấp chưa từng thấy kể từ 60 năm qua.

Chuyện đáng nói ở đây là Fed chỉ có thể phần nào tác động vào khối tiền tệ khi “bơm” thêm tiền và nâng số M0.

Nhưng khối tiền tệ lưu hành tăng nhiều hay ít là… quyền dân, là do thị trường quyết định, ở số M2. Và đồng tiềm quay nhanh hay chậm cùng là nằm bên ngoài ảnh hưởng của Ngân Hàng Trung Ương.

Sau cùng, khi khối dự trữ được nâng cao, tức là có quyền cho vay nhiều hơn, mà lại ít người xin vay, hệ thống ngân hàng không thể ngồi yên trên đống bạc vô dụng. Họ trích ra chừng 18% để đầu tư vào thị trường chứng khoán làm cổ phiếu tại Hoa Kỳ tăng vọt. Và Fed bị trách cứ là bơm tiền cho tài phiệt Wall Street chơi stock.


Kết luận ở đây là gì?

Ngân Hàng Trung Ương Mỹ bị oan về nhiều chuyện.

Kinh tế Mỹ chưa thể khá vì nhiều lý do, quan trọng nhất là tâm lý của người dân, của thị trường. Lạm phát chưa là mối nguy nhưng có khi giảm phát mới là vấn đề khi kinh tế vẫn còn bải hoải. Nếu nạn giảm phát (deflation) xảy ra, chúng ta còn chứng kiến nhiều sự lạ khác.

Nhưng hồ sơ quá rắc rối thế này là tạm đủ. Xin hẹn một kỳ sau!

Năm người trong một gia đình ở Illinois bị bắn chết


 MANCHESTER, Il (Chicago Tribune)Một  bà ngoại 65 tuỗi, một cặp vợ chồng trẻ và hai đứa con nhỏ, 1 và 5 tuổi, bị giết hôm Thứ Tư tại nhà ở Manchester, một thị trấn nhỏ 300 cư dân cách Springfield, Illinois, 50 dặm về phía Tây-Nam









Cảnh sát đến điều tra tại ngôi nhà nơi xảy ra án mạng tại Manchester, Illinois. (Hình: AP/The State Journal –Register)


Ngoài ra còn một đứa con gái 6 tuổi bị thương nặng được đưa vào bệnh viện cấp cứu.

Hung thủ chết trong cuộc chạm súng với cảnh sát sau một cuộc rượt đuổi bằng xe, danh tánh chưa được nhà chức trách công bố. Nhưng những người hàng xóm và thân nhân của gia đình bị sát hại nhận diện hung thủ là Rick Smith, 43 tuổi, ở Redhouse cách Manchester khoảng 5 dặm.

Cảnh sát còn đang điều tra và chưa cho biết nguyên nhân của án mạng này nhưng một số người hiểu chuyện nói rằng do vụ tranh chấp về giữ con. Nơi xảy ra án mạng là một căn nhà trợ cấp housing bởi liên bang, và theo lời thị trưởng Ronald Drake thì việc xác định lý lịch của những người cư trú ở đây khá khó khăn  do luôn luôn có sự thay đổi.

Hung thủ bất ngờ đột nhập bắn tất cả mọi người găp trong nhà rồi chạy khỏi hiện trường bằng chiếc xe Chevy Lumina trắng. Cảnh sát chỉ đuổi theo trong vòng 10 phút thì xảy ra nổ súng, hung thủ bị thương nặng và chết khi đưa tới bệnh viện. Trên xe của hung thủ còn bỏ lại một số vũ khí, phía cảnh sát không người nào bị thương. (HC)

‘Giữa Hai Dòng Nước’ – Ngày Văn Hoá Việt tại UC Berkeley


BERKELEY (NV) – 
Sinh viên Việt Nam tại Đại học UC Berkeley vừa tổ chức Ngày Văn Hóa Việt tại Hý viện Zellerbach Hall của trường vào trưa 21 Tháng Tư, với chủ đề “Vertigo- Giữa Hai Dòng Nước,” nói lên tâm trạng của một người trẻ đứng giữa hai nền văn hóa Việt – Mỹ.

Vợ chồng ông bà Miller và cậu con nuôi gốc Việt. (Hình: Lenna Nguyễn & Steven Phạm cung cấp)

Mượn câu chuyện của một người con Việt được ba mẹ Mỹ nhận nuôi trong chiến dịch Operation Babylift, chương trình văn nghệ nêu lên những thử thách mà một người trẻ phải đối diện để tìm ra hướng đi cho chính mình. Xuyên suốt câu truyện là những khó khăn của một đứa con khi ở “ngã ba đường,” kẹt giữa hai nền văn hóa hoàn toàn khác biệt.

Dù buổi trình diễn bắt đầu vào 1 giờ, khán giả đã đến từ rất sớm trước đó để xếp hàng chờ được lần lượt vào chỗ ngồi. Sau tấm màn sân khấu, các “diễn viên” sinh viên hồi hộp đếm từng phút chờ giờ diễn bắt đầu.

Sinh viên Việt Nam tại Đại học UC Berkeley (Cal VSA) chọn hình thức kịch nói làm chủ đề cho đêm văn nghệ, kèm thêm các tiết mục ca hát, múa truyền thống và hiện đại. Khác với hình thức tổng hợp ca vũ kịch, hình thức mà Cal VSA chọn đòi hỏi một kịch bản lớn, dẫn theo các tiết mục khác một cách tự nhiên, mà vẫn giữ người xem tập trung vào câu truyện và thấu hiểu được ý nghĩa của nó.

Cal VSA không những có được một kịch bản đủ các yêu cầu trên, mà còn cuốn hút khán giả từng giây phút trong suốt ba giờ đồng hồ đó.

Câu chuyện bắt đầu tại thời điểm ngay sau biến cố Tháng Tư năm 1975. Giữa những nạn nhân của cuộc chiến, gần 2,000 trẻ mồ côi được Hoa Kỳ mang đi trong chiến dịch cứu trẻ cô nhi Operation Babylift.

Nhân vật chính trong câu truyện là một cậu bé mồ côi, do Justin Nguyễn đóng, đến Mỹ từ chiến dịch trên. Adam Miller và Ruth Miller, một cặp vợ chồng ở vùng Trung Tây Hoa Kỳ, quyết định nhận nuôi cậu bé này sau khi họ nghe tin người con đi lính ở Việt Nam của mình đã tử nạn. Cậu bé được đặt tên là Daniel Miller.

Lớn lên tại một vùng đất có ít người Á Châu, Daniel Miller không những phải chịu các trò nghịch ác ý của bạn bè người bản xứ, mà còn đối diện những khó khăn tâm lý, đôi khi trở thành khủng hoảng, của thân phận con nuôi. Tuy ông bà  Adam và Ruth rất mực yêu thương Daniel, ông bà muốn cậu vào đại học chứ không để cậu theo đuổi đam mê âm nhạc. Khi hai bên xảy ra gây gỗ, Daniel cho rằng cậu không hợp với văn hóa Mỹ nên quyết định dọn tới California, nơi có nhiều người Việt Nam sinh sống. Tại vùng đất phía Tây này, Daniel gặp nhiều bạn gốc Việt, trong đó có Alex và Anh.

Hai người bạn mới giới thiệu Daniel nhiều nét văn hóa và con người Việt Nam, cũng như những khuôn mẫu, kỳ vọng mà cộng đồng dành cho thanh niên gốc Việt. Daniel một lần nữa rơi vào tâm trạng lạc lõng, xa lạ với xã hội mà anh tưởng anh thuộc về.

Màn múa cổ truyền trong Ngày Văn Hoá Việt tại UC Berkeley năm nay. (Hình: một cảnh quay khán giả cung cấp)

Daniel tìm về Việt Nam, nhưng cuộc tìm kiếm gia đình ruột của anh trở nên vô vọng giữa triệu người đông đúc. Đau lắm trong đoạn kịch hai mẹ con Daniel gặp nhau nhưng không  hay biết, mặt đối mặt nhưng không thể nhận ra nhau.

Câu chuyện kết thúc không có đoạn kết rõ ràng. Daniel vẫn không tìm được một xã hội mà anh thực sự thuộc về. Bù lại, những kinh nghiệm thu được từ hành trình tìm gia đình giúp anh học cách cảm nghiệm hạnh phúc đơn giản giữa tình bạn bè, tình gia đình với những người xung quanh yêu thương anh.

Buổi văn nghệ lấy tên “Vertigo – Giữa Hai Dòng Nước,” ý nói lên cảm giác chao đảo, hoang mang của Daniel khi bước vào đời, đối diện với sự khác biệt của các nền văn hóa. Cảm giác này không riêng gì những trẻ mồ côi của chiến dịch  Operation Babylift mới có, mà là cảm nhận chung của nhiều thanh niên gốc Việt khi sinh ra và lớn lên tại Hoa Kỳ.

Tạo nên một chương trình văn hóa Việt đặc sắc hôm đó, không thể không nhắc đến các nhóm múa cổ truyền và múa hiện đại của Cal VSA như múa cờ, nhảy đôi nam nữ, múa hiện đại, múa lân… Các màn trình diễn nhịp nhàng, khéo léo thể hiện công sức của các sinh viên trong những buổi tập dượt nhiều giờ đồng hồ, dù họ rất bận rộn với việc học.

Âm thanh và ánh sáng có thể nói là hoàn hảo của Hý viện Zellerbach Hall, nơi từng đón các nghệ sĩ tên tuổi hàng đầu thế giới đến biễu diễn, đưa khán giả đắm chìm vào ngày văn hóa  Việt đầy ý nghĩa tại trường UC Bekeley. Những sinh viên gốc Việt ở đây, bên cạnh thành tích học tập và thiện nguyện, còn thật tài giỏi, duyên dáng khi đứng trên sân khấu. (T.A.)

Khi đoàn thanh niên CS là cánh tay của đảng CS

 


Bùi Tín
(Nguồn: VOA)


Theo kiểu mẫu gốc là Ðoàn Thanh niên Cộng sản Liên Xô – Komsomol – mang tên Lenin do chính Lenin thành lập năm 1918, ở nước ta Ðoàn Thanh Niên do ông Hồ Chí Minh thành lập từ năm 1931 lúc đầu mang tên Ðoàn Thanh Niên Dân Chủ Ðông Dương (khi đảng Cộng sản mang tên đảng Cộng Sản Ðông Dương), sau này cũng mang tên Ðoàn Thanh Niên Cộng Sản (ÐTNCS) Hồ Chí Minh cho đến nay.









Một thiếu nữ Việt Nam tại hội chợ triển lãm robot tại Nuremberg, Ðức, hồi Tháng Giêng, 2012. (Hình minh họa: Christof Stache/AFP/Getty Images)
Theo điều lệ, ÐTNCS Hồ Chí Minh là “đội dự bị tin cậy,” là “lực lượng xung kích của cách mạng,” cũng còn là cánh tay của đảng Cộng sản trong “sự nghiệp xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa, một xã hội tiên tiến, hiện đại.”

Trong quá trình suy thoái của đảng Cộng sản, ÐTNCS cũng suy thoái theo, mất dần tính chất tiến bộ, cách mạng được phô trương, thêu dệt và trình diễn quá lố trong chiến tranh, để trở nên một tổ chức cồng kềnh nặng nề, cổ lỗ, chạy theo danh lợi cá nhân, cực kỳ lạc hậu so với thanh niên thế giới.

Những điển hình tiêu biểu như Lê Văn Tám, Kim Ðồng, Nguyễn Văn Trỗi,… được thêu dệt từ con số không, hoặc thổi phồng theo tưởng tượng hơn là theo thực tế, nay chỉ còn là những hình tượng dỏm đầy mỉa mai, bẽ bàng cho đảng Cộng sản.

Ðây là một bế tắc cay đắng cho thanh niên nước ta khi trong xã hội chỉ có một đảng chính trị duy nhất, một đoàn thể thanh niên duy nhất, bất cứ nam nữ thanh niên nào muốn vào đời, có công ăn việc làm, tham gia xây dựng đất nước đều không có sự lựa chọn, buộc phải gia nhập ÐTNCS, rồi gia nhập đảng Cộng sản, dù hiểu rõ đoàn nay đã trở nên thoái hóa, xa rời nhân dân, chạy theo danh lợi cá nhân, làm công cụ phục vụ những tham vọng phe phái, ích kỷ của đảng Cộng sản, của các đảng ủy, của các quan chức suy đồi và tham nhũng đầy rẫy ở các cấp của đảng.

Không thể nào quên lời khai trước tòa của các em nữ sinh trong vụ án tên hiệu trưởng ma cô Sầm Ðức Xương rằng các em được bí thư huyện đoàn ÐTNCS ra lệnh “phải vâng lời và làm theo mọi chỉ thị, yêu cầu của các đồng chí lãnh đạo của đảng” vì “các em là đoàn viên ÐTNCS” nhằm phục vụ sinh lý cho tên tỉnh trưởng kiêm phó bí thư tỉnh ủy Nguyễn Trường Tô và đồng bọn.

Mới đây lại xảy ra chuyện ÐTNCS trường Ðại Học Luật ở Sài Gòn theo lệnh đảng viết bài trên mạng doanthanhnienluat.com ký tên Trung Nhân, vu cáo và lên án 3 sinh viên Nguyễn Trang Nhung, Bùi Quang Viễn (còn có bí danh Bùi Chát) và Phạm Lê Vương Các vừa có sáng kiến ra “Tuyên ngôn Công lý cho Ðoàn Văn Vươn” ngay sau vụ xử sơ thẩm này kết thúc. Ngày 15 Tháng Tư ba sinh viên này đã ra tuyên bố công khai bác bỏ mọi sự vu cáo trên và yêu cầu ÐTNCS nhà trường phải rút bài báo trên đây xuống và xin lỗi dư luận nội trong 7 ngày, quá thời hạn đó, ba sinh viên sẽ khởi kiện theo đúng Bộ Luật Hình Sự hiện hành. Tuyên ngôn và tuyên bố vừa kể đã được nhà báo Ðoan Trang dịch ngay ra tiếng Anh và phổ biến ra toàn thế giới.

Phối hợp với cuộc đấu tranh, sinh viên trường Ðại Học Luật Sài Gòn liền công bố tin tố cáo bà hiệu trưởng – Giáo Sư Mai Hồng Quỳ – vừa đây có thái độ gia trưởng phi pháp, phân biệt đối xử, cấm không cho Thạc Sĩ Hoàng Việt xuất ngoại dự cuộc họp quốc tế chỉ vì ông chưa phải là đảng viên Cộng sản.

Năm 2012, sau Ðại Hội XI của đảng Cộng sản, Tướng Ðặng Quốc Bảo, từng là bí thư thứ nhất ÐTNCS Hồ Chí Minh, từng là trưởng Ban Khoa Giáo của Trung Ương đảng Cộng sản, trong một cuộc trả lời phỏng vấn đã nhận xét: “Theo tôi, cái sai lầm, có thể coi là cái tội lỗi của ÐTNCS là năm qua đã giới thiệu vào đảng Cộng sản 20 vạn thanh niên, toàn là những thanh niên theo chủ nghĩa cơ hội, không có tư duy độc lập, chỉ có hại…” Ðây là một nhận xét chân thực, mạnh dạn, đáng để cho toàn đảng, toàn thể đoàn viên ÐTNCS và nhân dân ta suy nghĩ.

Cùng với tình hình nhiều đảng viên CS chán đảng, nhạt đảng, bỏ sinh hoạt đảng, bỏ hẳn đảng, không ít đoàn viên ÐTNCS cũng chán đoàn, nhạt đoàn, bỏ sinh hoạt đoàn, bỏ luôn đoàn, trong khi quá trình suy thoái của đảng và của đoàn không thể nào ngăn chặn được, nếu không từ bỏ cả hệ thống độc đảng và độc đoàn, đi vào con đường sáng sủa đa nguyên để có sự cạnh tranh, ganh đua lành mạnh, để công dân có thể tự do lựa chọn chính đảng và đoàn thể của mình.

Mong rằng thanh niên nước ta từ 18 tuổi trở lên hãy tự tin, khẳng định mình đã trưởng thành, là công dân đầy đủ bình đẳng với mọi người có tuổi lớn hơn mình, tuy rằng vẫn giữ ý thức truyền thống “kính lão đắc thọ,” nhưng không để cho người khác coi mình là trẻ người non dạ, bị coi là công dân hạng hai, là công cụ của đảng, là cánh tay của người khác để sử dụng, sai bảo, như trường hợp đã xảy ra đối với các em nữ sinh trong trắng nạn nhân của tên hiệu trưởng ma cô Sầm Ðức Xương.

Ðiếu thi: Thơ Tháng Tư

 


Viên Linh


Trong kỳ trước, trang báo này đã trích dẫn “Những Câu Thơ Tháng Tư” từ nhiều tuyển tập Văn Thơ Việt Nam Hải Ngoại xuất bản sớm nhất sau 1975, một cuốn phát hành năm 1982 và một cuốn phát hành năm 1985, gom lại gần một ngàn trang sách.









Phạm Duy và Viên Linh chụp ngay sau khi nhạc sĩ vừa hát xong bài Gọi Hồn, tại Westminster, CA, 1982. Hình trên đĩa nhạc Tâm Sử Ca sắp phát hành. (Hình: Viên Linh cung cấp)
Thơ hải ngoại về biến cố đã khiến hàng triệu người Việt phải bỏ nước ra đi còn nhiều nữa, song nếu chia loại, có thể xếp vào nhiều đề mục khác nhau, như thơ di tản, thơ xa xứ, thơ hoài niệm, thơ chào mừng tổ quốc thứ hai, thơ chống Cộng, thơ tù đày. Nhưng có một thể loại rất ít người làm, đó là điếu thi, hay thơ khóc người chết. Năm 1982, bài điếu thi dài gần 100 câu đã xuất hiện trong thi tập Thủy Mộ Quan, là bài thơ của người viết bài này, ngay sau đó đã được nhạc sĩ Phạm Duy phổ thành một bản “tiểu trường ca,” hòa âm thành nhiều bè, cho một ban hợp ca. Bản nhạc Gọi Hồn là nhan đề lúc đầu, Phạm Duy viết thêm mấy chữ “Qui Hồi Cố Hương,” đã được chính nhạc sĩ trình bày trên sân khấu ở Westminster ngay sau đó, vào khoảng 1983. Năm 2012, bản này đã được nhạc sĩ du ca Nguyễn Thiện Cơ trình bày, với hòa âm của hai nhạc sĩ Hoàng Cường, Minh Tân, tây ban cầm Trung Nghĩa, Xuân Vũ, trống Nhật Tiến, kèn Anh Thư, v.v… và dàn hát bè nữ The Cadilac Band, và một bè nam nữa ở Sài Gòn.

Khi sinh thời, nhà Hán học thi sĩ Nguyễn Tôn Nhan trong một bài viết, xếp Gọi Hồn vào “trường phái” Quỉ Thi của Lý Hạ, một nhà thơ nổi danh độc đáo của đời Ðường, vì bài thơ này nhằm vào các oan hồn uổng tử ngoài Biển Ðông, tưởng tượng ra cảnh hỗn chiến nơi Thủy Môn Quan, các oan hồn đó dựng ra một thế giới trong Biển Ðông, và tiếp tục cuộc chiến:


Trên Huyết Hải thuyền trôi về một chiếc
Chiều bầm đen trời rực rỡ đau thương
Thân chìm xuống băng tuyền giờ tận biệt
Sóng bạc đầu hối hả phủ trùng dương


Thấp thoáng trần gian
Mịt mù bóng đảo
Trôi về tây về bắc về đông
Trôi về đâu bốn bề thủy thảo
Về đâu kiếp đắm với thân trầm.


Hồn ơi dương thế xa dần
Hồn đi thôi nhé thủy âm là nhà
Hồn về trong cõi hà sa
Sống không trọn kiếp chết là hồi sinh.
Xong rồi một cỗi u minh
Ngựa Hồ chim Việt biến hình mà đi.


Hồn vẫn ở la đà Ðông Hải
Hồn còn trôi mê mải ngoài khơi
Hồn còn tầm tã mưa rơi
Tháng Tư máu chảy một trời sương tan.


Thân chìm đắm cõi điêu tàn nước cũ
Những lâu đài thành quách những vàng son
Những tân thư kỳ mặc những linh đường
Những rực rỡ của một thời dựng nước
Bao mắt mở bao tóc sầu dựng ngược
Bao tay cùm bao ngực vỡ hôm qua


Trong rêu xanh ngần ngật bóng sơn hà
Lướt hải phận về dưới trời cố quốc.


Nhắm hướng hôi tanh
Chia bày trận mạc
Hồn binh tàn hỗn chiến Thủy Mộ Quan.


Ðêm rơi thời hết vận tàn
Ô y cầu nhỏ người sang Lạc Hà (1)
Thác rồi thân hóa phù sa
Mon men trở lại quê nhà mỗi đêm.


Về đâu đêm tối
Hương lửa lung linh
Những ai còn bóng
Những ai mất hình


Những ai vào kiếp phù sinh
Hóa thân hồ hải làm binh giặc trời
Khi nào hết quỉ ngoài khơi
Ta vào lục địa ta hồi cố hương.


Cùng nhau ta dựng lại nguồn
Chẻ tre đẵn gỗ vạch mương xây đình.
Ông Nghè về lại trong dinh
Tướng quân giữ ải thư sinh dưới đèn.
Từ Thức lại trở về tiên
Sĩ phu giảng huấn người hiền bình văn
Nương dâu trả lại con tằm
Ruộng xanh trả bác nông dân cần cù.
Ngựa ông trả lại thằng cu
Nhà chung trả Chúa chùa tu trả Thày
Quạt mo tao trả lại mày
Các cô yếm thắm trả bày trai tơ.


Việt Nam dựng lại sơn hà
Móng rồng năn lượt Quê Nhà phục hưng.


Ðã tỉnh sầu u thương tiếc hết
Bình minh lên nghe, hoàng hôn biết
Chim lạnh về Nam sông núi ta
Không nói không cười chân trở bước.
Nỏ thần thủa trước
Gươm bén hồ xưa
Tràn lên như nước vỡ bờ
Lạc Long lại đón Âu Cơ về thuyền.
Các con từ dưới biển lên
Từ trên núi xuống hai miền gặp nhau.


Năm nghìn năm lại bắt đầu
Chim nào tha đá người đâu vá trời (2)
Chúng ta rời bỏ xứ người
Loài chim trốn tuyết qui hồi cố hương.


1. Lạc Hà hay Nại Hà, là nếu ai qua cầu đó là đi vào thế giới bên kia. “Bia đề rằng Nại Hà Kiều, Kẻ nào có phước quỉ đều dắt qua.” (Nguyễn Ðình Chiểu, Dương Từ Hà Mậu).

2. Kiếp trước của chim Tinh Vệ là công chúa con gái vua Viêm Ðế, đi chơi ngoài biển chẳng may chết đuối, nàng tức giận biến thành con chim tha đá, quyết lấp cho đầy biển, đặng không còn ai chết đuối nữa. Nàng Nữ Oa là em gái vua Phục Hy, thấy trời có những khoảng trống, nàng nghĩ rằng vòm trời bị thủng, bị vỡ, nên tha đá ngũ sắc lên vá trời, đặng vòm trời sẽ liền lại. Xin khỏi chú thích các huyền thoại khác như Từ Thức, Thằng Bờm và cái quạt mo, hay Ông Nghè, Sĩ phu. (Chú thích của V.L.)

3. Nhắn tin của tác giả: “Bài thơ và bài ca Gọi Hồn của Viên Linh-Phạm Duy là một trong 10 bài thơ và bài ca trong thi tập Những Bài Thơ Tâm Sử Ca và đĩa nhạc Tâm Sử Ca, sẽ phát hành vào tháng sau, cũng là Tạp chí Khởi Hành số đặc biệt Tháng Tư, 2013. Xin đón xem các thông tin về hai tác phẩm này trên Người Việt, và Người Việt Online. Liên lạc: [email protected] hay P.O. BOX 670, Midway City, CA 92655.”

Nghề dạy hát

 


Quỳnh Giao


Ða số chúng ta mới chỉ ca hát như hiện nay kể từ khoảng bảy chục năm trở lại thôi. Ấy là khi xuất hiện nền “tân nhạc” thời xưa ta gọi là “nhạc cải cách.” Trong một lĩnh vực khác, khi nghe hát nhạc gọi là “cải lương,” mình cũng biết rằng đấy là một thể loại còn mới mẻ…

Trong lĩnh vực tân nhạc, thời phôi thai thì chúng ta chưa có nhiều người hát chuyên nghiệp. Ða số các ca sĩ đều xuất hiện nhờ có giọng ca thiên phú hơn là được am hiểu về nhạc lý mới. Thế hệ nối tiếp có được học thêm về nhạc lý, nhưng thường là chỉ trong vòng gia đình hay thân hữu và trở thành ngôi sao trong các chương trình phát thanh vì là nơi đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao. Họ hát cho thính giả nghe hơn là cho khán giả xem nên không thể dùng nhan sắc hay bộ điệu thay thế cho nghệ thuật trình bày. Họ hát hơn là ca.

Sau đấy chúng ta mới có lớp phổ biến nhạc lý và ký âm pháp đã đào tạo ra nhiều ca sĩ có tài hơn xưa. Một số khai thác giọng ca trời cho để nổi tiếng một thời nhờ thể loại là trữ tình hay lãng mạn, dân ca hay nhạc mới…

Ngày nay, chúng ta mới thấy xuất hiện những lớp dạy hát, gọi là thanh nhạc hay luyện giọng… Ðấy là một sự tiến bộ đáng mừng và cũng nhờ vậy mà số lượng ca sĩ đã đông đảo hơn trước.

Một cách nhìn khác là nói về mỹ nhân và người đẹp.

So với thời xưa, điều kiện dưỡng sinh và việc phổ biến mỹ phẩm thời nay có giúp cho chúng ta có nhiều người đẹp hơn xưa. Nhưng rồi kỹ thuật giải phẫu thẩm mỹ cũng làm ta gặp quá nhiều người đẹp đồng dạng. Họ có cùng một cái cầm xẻ, sống mũi dọc dừa hay đôi môi hình trái tim. Vì vậy, mình nên e rằng lối dạy hát cũng sẽ lại đưa đến những tiếng ca đồng dạng, là cùng một lối gào thét cho những cuộc tình dang dở hay sự quằn quại về nỗi chia ly.

Khi nghe “Tình Ca” của Phạm Duy hay “Ðêm Màu Hồng” của Phạm Ðình Chương, đôi khi mình lại bắt được âm hưởng nhạc “blues” vì cô ca sĩ có giọng thiên phú được học lớp thanh nhạc Mỹ. Cũng vì thế mà một ca khúc Dương Thiệu Tước, Văn Cao hay Cung Tiến lại có lúc trổ giọng như trong một bài “aria” từ một vở nhạc kịch Opera. Cái chất tưởng như cao quý của nhạc cổ điển Tây phương trong tiếng hát không tôn vinh tác phẩm tân nhạc của chúng ta mà còn gây ra một nỗi ngậm ngùi.

Khi các ca khúc đời nay lại không bằng những tác phẩm thời xưa về lời từ và nhạc thuật mà còn đầy kịch tích của nhạc Hong Kong hay Ðại Hàn thì mình có thể nghĩ đến cuối chân cầu vồng của 70 năm tân nhạc. Ðó là sau khi lên tới đỉnh cao thì trôi vào khoảng trũng.

Chúng ta có thể giải thích rằng trình độ thưởng ngoạn của khán thính giả đời nay đã dẫn đến hiện tượng này. Nhưng, những người phục vụ âm nhạc hay nghệ thuật có nghĩ rằng mình cũng chia sẻ trách nhiệm ấy hay không?

Các bậc thầy luyện giọng chuyên nghiệp cho ca sĩ hát nhạc Opera đều nhấn mạnh đến ba thời. Quá khứ là cốt cách trình bày của những đại danh ca hay diva, divo mà học sinh thanh nhạc phải chịu khó nghe lại. Hiện tại là những gì học viên đang tập luyện để trình bày. Tương lai là vị trí mà người học muốn đạt tới sau này trong thế giới trình diễn của họ.

Xuyên qua cả ba giai đoạn học hành và trưởng thành, học viên phải biết hồn nhạc là nội dung của ca khúc, rồi cách phát âm và diễn tả cho đúng với sáng tác. Sau đó mới là kỹ thuật luyến láy, hít thở hay bắt câu, ngân giọng và chấm dứt với dàn nhạc để gây tối đa tác dụng nơi người nghe.

Nếu không làm người nghe hiểu ra lời ca, có lẽ chúng ta mới ở vào trình độ phát âm.

Khi uốn giọng để hát nhạc Lê Thương như trong một night club thì mình bắt Lê Thương phải khoác áo của Duke Ellington hay một nhạc sĩ tầm thường Âu Mỹ nào đó. Khi luyến láy một bài dân ca cải biên, nhưng theo cách hát của Barbra Streisand, có khi chúng ta bóp méo khúc Nam ai Nam bình hay quan họ Bắc Ninh và làm cho người Việt lẫn người Mỹ không còn hiểu gì hết. Nếu lại muốn chứng tỏ khả năng trác tuyệt của giọng hát qua lối ngắt câu và kéo dài tiếng ngân đầy những kịch tính opera của đoạn coda, có khi mình trở thành kịch sĩ diễn lầm vở. Chỉ vì người sáng tác và bản hòa âm muốn nhấn mạnh đến điểm khác trong ca khúc.

Người ca sĩ có nhiệm vụ diễn tả (interprete) tình cảm và thông điệp của tác giả muốn gửi tới thính giả. Nhạc sĩ Vũ Thành lúc sinh thời thường ví von điều này như là đọc một lá thư. Người đọc lá thư phải đọc hoàn toàn đúng với nội dung, không được thêm hay bớt một chữ!

Một nốt “giữ” (point d’orgue) chỉ dài hơn nốt chính gấp đôi mà thôi. Không thể ngân nga đến sáu, bẩy trường canh (mesures) để khoe làn hơi phong phú của mình được.

Quỳnh Giao phải nhắc đến chuyện này vì trông đợi những người trẻ, có giọng hát thiên phú và nội lực sung mãn đừng phụ lòng nghệ sĩ sáng tác và lãng quên mất văn hóa của người Việt.

Venezuela muốn đối thoại với Hoa Kỳ

 


CARACAS, Venezuela (Reuters) Tổng Thống Nicolas Maduro của Venezuela vừa bổ nhiệm nghị sĩ Calix Ortega, một đồng minh chính trị của ông, vào chức vụ đại biện lâm thời tại sứ quán Venezuela ở Wachington D.C.









Tổng thống Nicola Maduro nói chuyện trong buổi lễ tuyên thệ nhiệm chức của hội đồng chính phủ Venezuela hôm Thứ Hai 22 tháng 4. (Hình: Leo Ramirez/AFP/Getty Images)


Theo Reuters, trong lời phát biểu trên truyền hình Maduro cho biết việc bổ nhiệm Ortega nhằm tăng gia các cuộc đối thoại với Hoa Kỳ. Ông nói: “Chúng tôi muốn có những mối quan hệ tốt nhất với mọi chính quyền dân chủ trên thế giới gồm cả Hoa Kỳ. Tuy nhiên các quan hệ này phải dựa trên cơ sở tôn trọng nhau, không thể tồn tại những lời đe dọa”.  Ông cũng bày tỏ hy vọng “trong tương lai sẽ có sự đối thoại bình đẳng với Hoa Kỳ”.

Mới tuần trước, Maduro đã nặng lời chỉ trích Hoa Kỳ về sự tán thành yêu cầu của phe đối lập đòi hỏi kiểm lại phiếu bầu cử Tổng thống Venezuela.. Trong cuộc bầu cử ngày 14 tháng 4, Madura chỉ hơn đối thủ Henrique Capriles 2% phiếu.

Dù Venezuela đã có nhiều xung khắc với Hoa Kỳ từ thời cố Tổng thống Hugo Chavez, nhưng thương mại dầu khí giữa hai nước vẫn diễn tiến đều đặn; mỗi năm Venezuela bán cho Hoa Kỳ khoảng gần 1 triệu thùng dầu. (HC)

Vụ đánh bom Boston nhìn từ Anh

 


Lê Mạnh Hùng


Phải chăng các giới chức Mỹ đã không làm đủ để nhận diện những kẻ cực đoan Hồi Giáo sinh trưởng bên trong xã hội mình và ngăn chặn chúng đi tới các hành động khủng bố trước khi quá muộn?

Ðó là câu hỏi mà những chuyên gia về an ninh tại Anh đặt ra khi tìm hiểu những hệ quả của vụ đánh bom vừa qua tại thành phố Boston mà theo họ cho thấy những khác biệt giữa Anh và Mỹ trong việc thực hiện các hoạt động chống khủng bố.

Vào ngày 7 Tháng Bảy, 2005, một nhóm bốn người Anh theo Hồi Giáo, tất cả trước đó đều được coi có một cuộc sống bình thường bên trong xã hội Anh, đã bất ngờ đánh bom hệ thống chuyên chở công cộng của Luân Ðôn, làm chết 52 người. Kể từ đó, các chính phủ Anh liên tiếp, dù Lao Ðộng hay Bảo Thủ đã gia tăng đáng kể chi phí cho các hoạt động này. Và cũng kể từ đó, chưa có một hành động khủng bố nào được thực hiện thành công tại Anh tuy rằng các cố gắng để thực hiện những cuộc tấn công đó từ chính những người là công dân Anh vẫn thường xuyên bị phát hiện.

Hầu hết những ngân khoản chi thêm được dành cho các hoạt động thu thập tin tức tình báo của cơ quan an ninh quốc nội MI-5 và các lực lượng cảnh sát. Một thành phần quan trọng của những hoạt động chống khủng bố tại Anh là chiến lược mà chính phủ Anh gọi là “Chiến lược Ngăn Chặn” (Prevent strategy). Chiến lược này bao gồm việc cảnh sát và các chính quyền địa phương hoạt động chung với các tổ chức và cộng đồng Hồi Giáo để bảo đảm rằng những người dân Anh Hồi Giáo nào mà bất mãn hoặc trở thành cực đoan được nhận diện và khuyến khích hướng những căm giận của họ sang hướng khác trước khi họ đi vào bạo động.

Giáo Sư Michael Clarke, một chuyên gia về chống khủng bố tại Học Viện Royal United Services Institute (RUSI), một trung tâm nghiên cứu về những vấn đề an ninh và quốc phòng, cho biết chiến lược này đã đạt được một số thành công. Ông nói: “Ðiều quan trọng là làm sao để các cộng đồng Hồi Giáo nhận trách nhiệm của họ về những người sống trong lòng cộng đồng họ, giúp nhận dạng những người bị cực đoan hóa và hợp tác với cảnh sát và chính quyền địa phương để chặn họ trước khi họ có thể tạo nên bạo động.”

Giáo Sư Clarke cho biết các viên chức Bộ Nội Vụ Anh cho ông biết riêng rằng họ đã can thiệp trong “500 đến 600 trường hợp cụ thể” trong đó các công dân Anh bị cực đoan hóa đã được “lái sang một chiều hướng khác.”

Tuy nhiên ông cũng công nhận rằng không thể biết được là liệu một chiến lược như chiến lược Ngăn Chặn của Anh có thể phát hiện ra những hoạt động của hai nghi phạm nổ bom tại Boston, Tamerlan và Dzhokhar Tsernaev để kịp thời ngăn chặn. “Không có một bằng chứng nào rằng hai người này có những quan hệ tích cực với những phần tử nguy hiểm. Ðối với thế giới bên ngoài có vẻ như họ chỉ tải từ trên mạng xuống một số tài liệu về “jihad.” Thế thôi. Không có gì để làm người ta nghĩ rằng họ theo đuổi một chuỗi các hoạt động dẫn đến một chuyện đánh bom như vậy.”

Mặc dầu vậy, một số chuyên gia Anh thì cho rằng các chính quyền Mỹ đã chậm chạp trong việc tích cực đối phó với các phần tử cực đoan bản xứ vì, theo Giáo Sư Clarke, “Người Mỹ vẫn còn thấy khó có thể chấp nhận được rằng chủ nghĩa Jihad có thể bắt rễ được bên trong xã hội của họ. Người Mỹ vẫn còn cảm thấy rằng hiện tượng này được thúc đẩy vào nước Mỹ bởi những thế lực ngoại lai hoặc là những kẻ gây rối bên ngoài.”

Các chuyên gia Anh đưa ra một số lý do tại sao nước Anh cần phải tích cực hơn nhiều so với Mỹ trong việc chống lại những phần tử Hồi Giáo cực đoan bên trong xã hội mình. Một trong những lý do là dân số. Theo một phúc trình năm 2010 của tổ chức Pew thì 0.8% công dân Mỹ là Hồi Giáo so với 4.6% tại Anh. Ngoài ra một phần quan trọng trong số dân Hồi Giáo gốc người Pakistan (một thành phần chính trong cộng đồng Hồi Giáo Anh) đến từ Kashmir, tiêu điểm của những cuộc tranh chấp đẫm máu giữa Ấn Ðộ và Pakistan.

Và có lẽ ở một khía cạnh nào đó, Anh Quốc gần gũi hơn với các hoạt động khủng bố. Chỉ chưa đầy một thập niên kể từ ngày Anh Quốc thường xuyên phải đối diện với những vụ nổ bom của các nhóm thuộc phong trào Ái Nhĩ Lan quá khích. Sống với khủng bố không những làm cho người ta lì lợm hơn, nhưng cũng làm cho các chính phủ liên tiếp ở Anh phải tìm cách để đối phó. Mà không có đối phó nào tốt hơn là làm sao để ngăn ngừa cho giảm thiểu càng nhiều càng tốt.

Nhưng tuy không quen thuộc, Hoa Kỳ không phải là không có những trường hợp khủng bố Hồi Giáo xuất phát từ trong lòng xã hội Mỹ. Tháng Mười Một năm 2009, Nidal Malik Hasan, một thiếu tá trong quân đội Mỹ đã nổ súng bắn vào một đám đông những quân dân và dân sự tại Fort Hood, Texas, giết chết 13 người. Sinh ra tại Virginia trong một gia đình di dân người Palestine, ông Hasan đã bị dày xéo bởi những mâu thuẫn bên trong nội tâm, giữa nhiệm vụ của mình với tư cách là một sĩ quan trong quân đội Mỹ và sự trung thành của mình với Hồi Giáo.

Năm 2010, Faisal Shahzad, một sinh viên cao học tại trường Ðại Học Bridgeport thuộc tiểu bang Connecticut, đã âm mưu đánh bom Times Square tại New York sau khi bị lôi cuốn theo Hồi Giáo cực đoan.

Valentina Soria, một chuyên gia nghiên cứu về khủng bố tại tổ chức tư vấn IHS Jane’s Consulting, cho rằng với vụ anh em Tsernaev vừa mới xảy ra tại Boston, có thể rằng ở Mỹ sẽ bắt đầu có những cuộc tranh luận sâu sắc hơn về việc làm sao chống lại những kẻ khủng bố nội tại. Bà cho biết: “Nếu người ta thấy được là hai anh em này không có một quan hệ cụ thể nào với nước ngoài thì điều đó chắc chắn sẽ làm cho người ta thêm cảm thấy đang xuất hiện một chiều hướng mới. Trong trường hợp đó, sau vụ Boston này sẽ cần có một cuộc tranh luận về làm thế nào để các chính quyền liên bang và địa phương đối phó với vấn đề này.”

Nhà hàng Nhật “đổ bộ” Việt Nam


SÀI GÒN (NV).- Dựa vào thế mạnh là niềm tin của người tiêu thụ đối với phẩm chất hàng hóa, đặc biệt là thực phẩm, người Nhật đã mở hai siêu thị và ít nhất 250 nhà hàng tại Việt Nam trong thời gian qua.









Một trong hàng trăm nhà hàng Nhật hoạt động rộn rịp tại Sài Gòn. (Hình: báo Tuổi Trẻ)


 
Hôm 23 tháng 4, các doanh gia Nhật Bản đã mở hội chợ giới thiệu “Món ngon Nhật Bản” tại Sài Gòn, thu hút đông đảo thực khách Việt Nam thuộc mọi giới và nhiều lứa tuổi.
 
Theo báo Tuổi Trẻ, người Nhật hoạt động mạnh trong lĩnh vực cung cấp thực phẩm tại Việt Nam qua việc mở nhà máy sản xuất thực phẩm và đồng loạt nhiều hệ thống nhà hàng khắp Việt Nam. Ông Harumitsu Hida, tổng lãnh sự Nhật tại Sài Gòn xác nhận rằng khuynh hướng đầu tư vào lĩnh vực thực phẩm của người Nhật tại Việt Nam ngày càng rõ rệt và khởi sắc.
 
Ông Harumitsu Hida còn nói rằng tại Việt Nam hiện có hai siêu thị bán thực phẩm và 250 nhà hàng đang hoạt động mạnh. Riêng trong lĩnh vực sản xuất các vật liệu chuyên dùng, người Nhật cũng có tới hàng trăm nhà máy, cơ xưởng ở Việt Nam. Hầu như các công ty sản xuất thực phẩm lớn ở Việt Nam như Cholimex, Acecook, Nissinfoods, Marubeni… đều có cổ phần của người Nhật.
 
Ông Harumitsu Hida còn cho biết, hội chợ giới thiệu “Món ngon Nhật Bản” tạo thêm nhiều cơ hội để các công ty Nhật đặt chân đến Việt Nam. (PL)  
 

Khu Rừng Lau (Kỳ 141)

 


Kỳ 141


Giọng Miên phát biểu vui hẳn, như một luồng gió muốn thổi quang bầu trời u ám: “Anh kinh doanh giỏi thế thì nền tài chính cách mạng dồi dào quá rồi anh nhỉ?”

-Không đâu cô ơi, bởi tôi phải nuôi một số anh em khá đông nên nhiều khi còn ít tiền quá, anh em bèn kéo nhau đến “nhậm xà” tại Tân An Mỹ Quán trước Bộ Ngoại Giao đường Tôn Trung Sơn làm ra vẻ phong lưu tài tử một lũ, kỳ thực đến gọi thật nhiều lạc rang, ăn thứ đó chả chóng đầy, rồi về nhà mỗi anh làm thêm một bát cơm với món gắp duy nhất, món dưa góp ca la thầu măn mặn nữa là… bế mạc!

Khiết cười, đứng dậy nói:

-Thôi chúng ta cũng nên tạm bế mạc cuộc họp mặt ở đây, chứ cứ nói chuyện mãi về cuộc đời hoạt động hải ngoại của tôi thì… chán lắm!

Hãng cũng đứng dậy nói:

-Bây giờ còn sớm (chàng nhìn đồng hồ) mới tám giờ rưỡi, chúng ta hãy mỗi người kéo một ghế ra sân ngồi cho mát, nói chuyện thêm một lúc nữa.

-Vâng thì ra!

Khiết đáp và mỗi người lôi xành xạch một ghế ra sân.

Hiển vươn vai sung sướng:

-Chà mát thật, thoáng thật.

Kha hỏi Khiết:

-Con đường Nam Kinh Thương Hải dài bao nhiêu cây số hở anh?

-Chừng hơn ba trăm cây gì đó. Từ Nam Kinh đi Thượng Hải tuần tự qua máy thị trấn chính này: qua Tô Châu, gái Tô Châu đẹp có tiếng đấy, đôi má cứ tự nhiên hồng lên, khí hậu nơi đây thế, qua Trần Giang, qua Vô Tích rồi đến Thượng Hải trong ra cửa bể Ngô Tùng.

-Có đúng địa danh Vô Tích trong truyện Kiều của cụ Nguyễn Du: Hoạn Thư sai Khuyển, Ưng đến Lâm Truy bắt Kiều về Vô Tích?

-Chính thị!

Kha gật gù vẻ mơ màng:

-Thích nhỉ, anh đi qua những nơi mang những tên gợi cảm lạ.

-Chà có tâm hồn thi sĩ thì chẳng phải đi đâu xa, cứ ở ngay Nam Kinh anh cũng ngắm được nhiều cảnh, nghe được nhiều tên gợi cảm.

Thế là tưởng ra sân để thay đổi câu chuyện, rồi cũng trở lại chuyện Nam Kinh, nhưng lần này Khiết đã khéo chuyển hướng câu chuyện, chứng tỏ “nhà chính khách có khuynh hướng vương đạo” này cũng có tâm hồn nghệ sĩ lắm (có thể mới vương đạo được chứ).

Khiết nói:

-Thấy Nam Kinh còn vượng địa e đế vương còn có thể xuất hiện nơi đây, bèn sai lấy vàng yểm cho hết vượng khí, vì vậy có tên Kim Lăng. Phía Bắc Nam Kinh có cái đồi gọi là Kê Minh Sơn trên Kê Minh Sơn có một ngôi chùa nhỏ gọi là Kê Minh Tự. Tương truyền Vũ Ðế cất quân đi dẹp giặc đến đây hạ lệnh cho quân nghỉ, định đến sáng hôm sau mới bắt đầu tiến đánh. Vào canh hai Vũ Ðế sực dậy nghe có tiếng gà gáy ngỡ sắp sáng bèn hạ lệnh cho quân sĩ dậy. Giặc ập tới cướp trại, Vũ Ðế không bị đánh bất ngờ, trái lại còn nắm được thế chủ động để tận diệt địch. Sau đó Tề Vũ Ðế nằm mộng thấy một ông già chống gậy tới cho hay ông là thần núi đã làm cho gà gáy để nhà vua hạ lệnh quân sĩ chuẩn bị kịp thời. Do đó Tề Vũ Ðế đặt tên núi này là Kê Minh Sơn và cho xây Kê Minh Tự để tạ ơn thần. Dưới chân Kê Minh Tự có một cái giếng cạn gọi là Yên Chi tỉnh, sát miệng giếng là một phiến đá lớn rất nhẵn, lấm tấm đỏ màu máu. Lại tương truyền rằng Trần Hậu Chủ đời Lục Triều vì mê yến ẩm với nàng Trương Quí Phi, mê khúc Ngọc Thụ Hậu Ðình Hoa, mà rồi cơ nghiệp nhà Trần tan vỡ. Vào lúc tình thế đã nguy khốn quá rồi, quần thần cương quyết đòi giết nàng Trương khiến nàng phải lẩn xuống Yên Trí Tỉnh trốn, quân sĩ tìm được, lôi lên chặt đầu trên phiến đá…

Kha nói:

-Ờ cũng tương tự chuyện Ðường Minh Hoàng với Dương Quý Phi.

Khiết gật đầu:

-Vâng, đại khái vậy. Anh xem tôi cũng chịu khó nhớ sử tích Nam Kinh đấy chứ, tôi ở đấy hơn một năm còn gì! Người ta còn nói Trần Hậu Chủ đã cho xây trên núi này khá nhiều cung điện mà di tích ngày nay chỉ còn lại cái nền Bắc Cực Các, đứng ở đây trông thấy toàn thể Nam Kinh. Phía Nam Nam Kinh xưa có Minh Cố Cung rộng mênh mông, nơi chứa ba ngàn cung nữ nhưng nơi này cũng bị tàn phá hệt vào hồi có loạn Thái Bình Thiên Quốc (1850 64). Di tích xưa, nay chỉ còn chiếc cầu gọi là Ngũ Long Kiều. Trên đồi phía Tây Nam Kinh có Mạc Sầu Hồ Hồ không bao giờ buồn tương truyền có từ đời Nam Tề. Ngoại thành cũng về phía Tây còn có Huyền Vũ Hồ, đặt tên vậy vì tương truyền đời Tống người ta có thấy một con rồng đen xuất hiện ở đây. Huyền Vũ Hồ đặc biệt có một thứ sen hoa tím và vàng rất lớn, trong hồ có năm hòn đảo nhỏ gọi là Ngũ Châu. Sau cùng về phía Tây Bắc, ngay trong thành Nam Kinh, còn một sử tích đáng nhớ nữa là núi Dã Thành nơi xưa Ngô Vương đúc kiếm báu. Chữ “dã” đây nghĩa là đúc. Lẽ cố nhiên đó cũng chỉ là một cái đồi thôi. Lẽ cố nhiên đó cũng chỉ là một cái đồi thôi.

Người ngoại quốc: miếng mồi ngon ở Việt Nam?

 
*Trộm lúc vắng nhà * “Giá cắt cổ” lúc ngồi xích lô
 
HÀ NỘI (NV) – Chỉ riêng ba tháng đầu năm nay, khoảng 10 vụ trộm xảy ra tại quận Tây Hồ, Hà Nội. Điều lạ là tất cả các “khổ chủ” đều là người ngoại quốc, hoặc là viên chức ngoại giao cư ngụ tại khu vực này.








Người ngoại quốc đến Hà Nội ngồi xe xích lô lo sợ bị “chặt chém.” (Hình: báo Tuổi Trẻ)

 
Chẳng đặng đừng, công an Hà Nội và quận Tây Hồ bắt tay vào việc điều tra, theo dõi hành tung của băng nhóm chuyên đột nhập vào nhà của người ngoại quốc để trộm. Cho đến giữa tháng 4, 2013 vừa qua, một băng bốn người bị bắt gồm Nguyễn Ngọc Vượng 40 tuổi, ngụ tại quận Ba Đình; Nguyễn Việt Hùng 34 tuổi, ngụ tại quận Hoàng Mai; Dương Văn Được 22 tuổi, vô gia cư; và Nguyễn Văn Anh 23 tuổi, ngụ tại quận Tây Hồ, Hà Nội.
 
Báo Tiền Phong dẫn hồ sơ điều tra của công an Tây Hồ cho biết, tất cả 4 người nói trên đều có tiền án, nhiều lần vào tù ra khám về tội trộm cắp. Trong số này, có người từng là nhân viên dân phòng, thông thuộc đường đi nước bước của mọi cư dân  trong khu vực.
 
Trong cuộc họp báo tổ chức tại Hà Nội hôm 24 tháng 4, công an Hà Nội công bố tin bắt được băng  4 người chuyên đột nhập vào nhà của người ngoại quốc trú ngụ tại quận Tây Hồ để trộm. Các thành viên băng nhóm này khai rằng, “đối tượng” mà họ nhắm tới là người ngoại quốc cư ngụ tại Hà Nội nhưng thường xuyên khóa cửa, vắng nhà. Một nghi can nói rằng nhà của người ngoại quốc trú ngụ tại Việt Nam có nhiều cửa sổ và cửa thông gió rất dễ cạy.
 
Băng trộm nói trên còn thú nhận đã đột nhập và trộm thành công, trót lọt cả 10 vụ trong vòng mấy tháng qua. “Chiến lợi phẩm” mà họ thu được bao gồm hàng chục chiếc điện thoại di động, máy tính xách tay, iPad, kể cả tiền mặt…Có người còn khai, chỉ hoạt động về đêm, lúc nào cũng thủ sẵn trong người kềm, đèn pin, tuộc nơ vít… Họ rảo vòng vòng ở khu vực phường Quảng An, thuộc quận Tây Hồ để rình rập, theo dõi. Thấy vắng người, họ leo rào, cạy khóa, đột nhập vào trong nhà các khổ chủ một cách dễ dàng và dọn sạch tài vật quý rồi tẩu thoát êm.
 
Người ngoại quốc còn là “đối tượng” để một số người đạp xích lô “chặt chém” khi có dịp. Mới đây, hôm 24 tháng 4, một du khách Úc cùng hai con nhỏ ngồi xe xích lô đi từ phố Ông Ích Khiêm về phố Hàng Trống đã phải trút hết ví để trả 1.3 triệu đồng, tương đương 65 đô.
 
Người lái xích lô là ông Nguyễn Văn Chiêu 39 tuổi, cư dân tỉnh Nam Định bị bắt, thú nhận đã ép bà khách ngoại quốc phải trả tiền công chở nhiều gấp 20 lần mức thông thường. (PL)

Ông Đào Khánh Thọ

Nam Phi gia tăng bảo vệ tê giác


JOHANNESBURG (AP)  Chính quyền Nam Phi và các tổ chức bảo vệ thiên nhiên tìm cách ngăn chặn việc buôn bán lậu sừng tê giác mà một số dân châu Á tin tưởng là một dược liệu quý có những tính chất y khoa đặc biệt.









Xác một con tê giác bị thợ săn giết trái phép bỏ lại sau khi đã cắt lấy sừng, tại công viên Finfoot Lake, Nam Phi tháng 11, 2012. (Hình: AP/Denis Farrell)


Một công ty Mỹ cung cấp điện thoại smartphone cho cảnh sát công viên Nam Phi để giúp thêm phương tiện theo dõi những kẻ săn bắn trộm. Tại Việt Nam, Worl Wildlife Fund và TRAFFIC, những tổ chức bảo vệ sinh vật thiên nhiên, mở chiến dịch quảng bá trên các mạng xã hội, giải thích là sừng tê chỉ được cấu tạo bằng những chất keratin giống như móng tay móng chân người ta mà thôi, không có gíá trị gì đặc biệt.


Việt Nam là một trong những thị trường buôn lậu sừng tê quan trọng nhất. Từ đây sừng tê được chuyển đi Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc, Hong Kong và nhiều nước Đông Nam Á hay Trung Đông. Hơn nữa chính thị trưởng nội địa Việt Nam đã là một nơi  có nhu cầu tiêu thụ  cao. Ước lượng giá thị trường 1kg sừng tê khoảng $65,000 và vì thế cũng có không ít sừng tê làm giả.

Hiện nay khoảng 75% tê giác còn lại trên thế giới sống ở các công viên quốc gia Nam Phi. Mặc dầu lệnh cấm, nhưng nạn săn bắn trộm vẫn gia tăng ở mức đáng lo ngại. Năm 2012 có 668 con tê giác bị giết và trong mấy tháng đầu năm nay đã có 232 con bị bắn hạ, hầu hết tại công viên bảo tồn thiên nhiên Kruger National Park.

Nam Phi đã chặn giữ những trường hợp người từ Việt Nam đến với lý do du lịch hay săn bắn như môn thể thao, nhưng thật ra là để tìm kiếm và đưa lậu sừng tê giác ra khỏi Nam Phi.

Cuối năm ngoái, Nam Phi và Việt Nam đã ký một thỏa thuận về bảo vệ tê giác. Tuy nhiên hội nghị quốc tế về bảo tồn động vật họp tại Bangkok hồi tháng 3 chỉ trích Việt Nam chưa tích cực thi hành việc ngăn cấm nạn mua bán sừng tê giác.

Dân Biểu phái đối lập Anthony Benadie ở Nam Phi cho rằng “Tuyệt đối ngăn cấm buôn bán sứng tê chỉ đưa đến sự tuyệt chủng của loài động vật này vì sẽ làm cho buôn lậu gia tăng”. Các giới bảo vệ động vật không tin tưởng giải pháp này vì cho rằng hợp pháp hóa mua bán không có nghĩa buôn lậu chấm dứt. (HC)

Tin tặc dùng TWITTER của AP tung tin tòa Bạch c bị tấn công

 


WASHINGTON (RFI) –  Trưa Thứ Ba 23 tháng 4, tài khoản Twitter của thông tấn xã AP đã bị tin tặc chiếm dụng để đưa tin khủng bố tấn công tòa Bạch Ốc và Tổng Thống Obama bị thương.










Một logo của TWITTER


Sự việc chỉ kéo dà i mấy phút nhưng cũng đủ gây hoang mang, trước hết cho các phóng viên hiện diện tại phòng họp báo chỉ cách văn phòng làm việc của Tổng Thống vài mét và ảnh hưởng tức thời đến thị trường Wall Street.

Ngay sau khi trên Twitter của AP xuất hiện giòng tin nhắn: “Hai vụ nổ tại tòa Bạch Ốc – Obama bị thương”, tại thị trường chứng khoán New York, do tin nhắn đã được ‘tweet’ đi hàng trăm lần trong khoảnh khắc ít giây đồng hồ,  chỉ số Dow Jones sụt tức thời 143 điểm nghĩa là khoảng 1%.

Mấy phút sau hãng AP kịp thời phủ nhận tin nhắn và cho biết là do tin tặc xâm nhập quậy phá, Dow Jones đã trở lại bình thường ở mức cũ. Phát ngôn viên Jay Carney ra trước buổi họp báo 15 phút sau xác định rằng không có chuyện gì xảy ra và “Tôi vừa gặp Tổng Thống”.

Tới buổi chiếu, một tổ chức ủng hộ Tổng Thống Bashar al-Assad tự xưng là “Quân đội điện tử Syria” (SEA), đã lên tiếng nhận tạo ra vụ tin tặc này. Theo thông tấn xã Pháp AFP, trong thời gian gần đây, nhiều hãng thông tấn lớn trên thế giới đã là nạn nhân tin tặc của tổ chức ấy,  bao gồm AFP, BBC, NPR, Sky News Arabia, Al-Jazeera Mobile, và tài khoản Twitter của một số chương trình trọng điểm trên truyền hình CBS.


Phát ngôn Paul Conford) của AP cho biết là vụ tấn công này xảy ra sau nhiều mưu toan thâm nhập vào mạng điện toán của hãng, hãng AP đã khóa các tài khoản Twitter khác ngay nhằm bảo vệ an ninh mạng và sẽ cùng với FBI  điều tra vụ việc.

Bình luận viên Dan Gilmore viết trên nhật báo The Guardian ở Anh,  cho là với trình độ kỹ thuật thông tin hiện nay và việc tin tặc có nhiều cách để xâm nhập mạng lưới điện toán, công chúng chớ vội tin tưởng ngay bất cứ chuyện gì trước khi kiểm chứng đầy đủ.(HC)

Thơ Lê Quang Lưỡng

 


Mai tôi chết cờ vàng xin đừng phủ


Mai tôi chết cờ vàng xin đừng phủ
Xác thân này đâu chết cho quê hương?
Súng gươm xưa đã bỏ lại chiến trường!
Thân chiến bại nhục nhằn nơi đất khách!


Hơn nửa đời đã tan rồi khí phách.
Nhớ bạn bè nằm xuống nghĩ mà đau!
Không quan tài cờ phủ giữa chiến hào,
Máu thịt đã thấm vào lòng đất mẹ.


Bao năm trời bao nhiêu người trai trẻ,
Chết không cần cờ phủ vẫn uy nghi.
Khi nằm xuống bạn nào có cần gì?
Chỉ ước muốn thân này dâng đất nước,


Ta giờ đây đã tàn bao mơ ước!
Chuyện ngày xưa chỉ còn thấy trong mơ…
Ngày về quê càng lúc càng xa mờ.
Thời gian vẫn lạnh lùng theo năm tháng,


Tuổi càng cao lòng càng nghe mặn đắng!
Xót thân này khi chết bỏ lại đây!
Nơi xứ người bạn hữu chẳng còn ai?
Mai tôi chết cờ vàng xin đừng phủ.


*Tướng Lê Quang Lưỡng, nguyên tư lệnh Sư Ðoàn Nhẩy Dù QLVNCH: “Xin mặc đồ đen, không mặc quân phục, nếu muốn đến đưa tôi lần chót.”

(Nguồn: [email protected])

Thơ Viên Dung

 


Vỡ đau


Tháng Tư nắm tay tôi, đứng lại
Thành phố bàng hoàng. Xổng tầm tay!
Gió hanh hao đưa mùi thảm hại
Nắng rưng rưng hỏi làm sao đây?


Giận ai, áo trận buồn quăng vãi
Rộn người, xe, trốn chạy bể dâu
Người di cư nọ từng hớt hãi
Phương Nam cùng, chứ phải về đâu?


Không khí vuốt mặt rầu xanh mét,
Vây mặt phố lấm lét hư hao
Giữa táo tác cột đèn ngơ ngác
Quanh quất e sát phạt cận kề


Tháng Tư buông tay tôi, rưng lệ,
Tưởng mùa sau dài kiệt quệ đen
Rụng xuống nương, đồng, rụng xuống núi
Ước mơ tôi rụng cuối trời xanh


Trong thầm tưởng, em tôi nhặt lại
Không kịp rồi! Hối tiếc đầy tay
Mà lắm kẻ vô tâm nhún nhảy
Chống trả ư – xúc xiểm trùng vây!


Tháng Tư dúi vào tôi nỗi nhớ
Tan tành một thuở nắm yên cương
Dúi không quên: tội đồ vô cớ
Người đi, kẻ ở, vỡ đau thương


Tiếng vang nhục dúi lòng nhân thế
Vách gian nan hằn vết kêu ca
Tháng Tư vạch trần chân với giả
Ðể thời gian vá lại thịt, da
____


Về nỗi đau


Anh đầu trại. Mẹ ôm em
Ôm cả đàn cháu hom hem tư bề
Tội từ dâu bể tội về
Tội không giữ vẹn lời thề nước non
Buông tay anh, vái sống còn
Dưới rừng thống khổ, dọc đường tử sinh
Thất thế mùa trĩu nạn nhân
Em lần quán xuyến sanh nhai trăm bề
Giấu một cắn răng nuốt thề
Hai ta tay vẫy, bước về nỗi đau
Buổi về, anh biết khi nào?!
Tai bay vạ gió khi nào dừng tay
Lệ rơi trại hóa lưu đày
Lệ rơi từng tuổi đợi ngày hôn mau
_____


Thành sầu


Thôi rồi, thân ta lãng nhách
Hẹn trong tay, đời vét sạch
Lãng tử bây giờ è ạch tương lai


Thôi em về, ta vào trại
Lộc đời còn đâu mà hái
Không trăng sao, đêm thở dài thườn thượt


Ta vói hụt mây mùa trước
Trăng xưa em không cầm được
Ta ở, em về xước xược niềm đau


Ðau bất ngờ, đau xương thấu
Em về, buồn đậu rất lâu
Lâu đến nỗi dựng thành sầu bất hạnh


Ðêm vác kiếm mộng sầu đánh
Ngựa không qua thành, quẩn quanh
Sầu đâm ta ngã vòng quanh nỗi sầu

Số báo Mười Ngàn

 


Ngô Nhân Dụng


Vào năm 1978 cộng đồng người Việt ở ngoại quốc đã có gần 100 tờ báo đủ các loại, nhiều nhất là ở Mỹ, kế đó là Pháp, Úc và Canada; nhiều nhất các tờ ra theo là khổ tạp chí, khổ tabloid, khổ nhỏ như cuốn sách và chỉ có vài ba tờ khổ lớn như nhật báo.

Có vài tờ ra vỏn vẹn một số báo rồi vĩnh viễn im hơi lặng tiếng. Trần Công Sung, một người làm báo sống ở Paris, đã nhại câu nói của một viên chức người Pháp thời xưa ở Việt Nam. Ông Tây thuộc địa này nói: “Trong mỗi người An Nam đều có một ông quan.” Anh Trần Công Sung nói: “Trong mỗi người Việt Nam tị nạn đều có một ông chủ báo” đang chờ ra báo. Tất cả là do nhu cầu tìm đọc tin tức của nửa triệu người tị nạn khắp thế giới. Ngoài các báo có ý làm chuyên nghiệp còn các đặc san của sinh viên các trường. Như sinh viên Ðại học Long Beach, đã dịch chữ Long Beach thành “Bãi Dài” dùng làm tên, báo Bãi Dài.

Tờ báo Việt ngữ sớm nhất là tờ Hồn Việt do ký giả Nguyễn Hoàng Ðoan chủ trương, được ra đời ngay trong lúc trong trại tị nạn nhờ được người bảo trợ yêu quý người Việt Nam nên giúp phương tiện ấn loát. Tờ báo này bây giờ vẫn xuất bản hàng tháng. Nhật báo Người Việt khi mới ra cũng được tờ Hồn Việt giúp đỡ tận tình, giống như vậy.










Nhật báo Người Việt Cali xuất bản số đầu tiên vào cuối năm 1978, đáng lý ra số báo thứ 10,000 đã phải được đánh dấu từ dăm bẩy năm trước đây. Nhưng vì ngay lúc sinh ra còn xuất bản hàng tuần, chưa phải là nhật báo, cho nên đến hôm nay mới tới số 10,000.

Trên trang nhất nhật báo Người Việt số 1, 15 Tháng Mười Hai, 1978, bản tin lớn nhất loan báo hàng trăm ngàn người Việt tị nạn ở Ðông Nam Á hy vọng sẽ được không lực Mỹ “bốc” đi. Trong lúc đó, ở Los Angeles, Montréal, cũng như khắp các thành phố khác trên thế giới, đâu đâu bà con tị nạn cũng lo vận động dân địa phương đón tiếp những đồng bào thuyền nhân. Vào thời gian đó, người tị nạn chỉ muốn vượt biển đi bất cứ đâu miễn là có tự do, dù tương lai mờ mịt.

Sau 35 năm, 10,000 số báo, thế giới và nước Việt Nam, người Việt Nam đã thay đổi. Cộng đồng tị nạn cũng thay đổi. Không ai có thể ngờ rằng sau hơn 30 năm khối thuyền nhân ngày một đông đúc này đã tạo thành một lực lượng kinh tế lớn tính ra trị giá hàng trăm tỷ đô la. Cũng không ai tiên đoán được là ở nhiều quốc gia người Việt tị nạn đã trở thành một nhóm áp lực quyết định các cuộc bầu cử địa phương, và họ có thể ảnh hưởng đến chính sách những quốc gia đó trong việc bang giao với Việt Nam, để dùng ảnh hưởng này thúc đẩy dân chủ hoá đất nước. Một người Việt tị nạn đã được bầu làm dân biểu Quốc Hội Hoa Kỳ trong một khóa, hai người gốc Việt khác, một cô đắc cử dân biểu Canada, và một ông đã được cử làm nghị sĩ trong Thượng Viện liên bang Canada. Một thanh niên gốc Việt lớn lên ở Ðức đã làm bộ trưởng và phó thủ tướng trong chính phủ Cộng Hoà Liên Bang Ðức.

Trong hơn 30 năm qua, nhật báo Ngưoi Việt đã chuyển hóa, từ một tờ báo ra hàng tuần, nửa tuần, rồi thành nhật báo xuất hiện bảy ngày một tuần lễ. Từ một tờ báo làm theo lối thủ công, đánh máy chữ Anh rồi bỏ dấu tiếng Việt, cắt, dán; bây giờ là một tờ báo dùng máy điện tử để nhận tin, nhận hình, “xếp chữ,” trình bày, sửa bài trên màn hình; rồi chuyển tất cả tới nhà in qua mạng lưới. Mỗi ngày hàng trăm ngàn độc giả khắp thế giới đọc Người Việt Online, đông nhất ở Los Angeles, thứ nhì ở Sài Gòn, và rải rác trong 40 quốc gia: Phần Lan, Iraq, Brazil, Côte d’Ivoire, vân vân. Nhật báo Người Việt cũng tiến từ tình trạng “sản xuất gia đình,” cả nhà góp công làm việc trong một garage, giờ đã trưởng thành với số nhân viên cũ mới mấy trăm người, số thân hữu cộng tác xa gần trong 35 năm qua phải kể đến hàng ngàn người, ở khắp năm châu.

Ngay từ đầu, những người góp sức xây dựng tờ báo Người Việt, ngoài một số nhà báo chuyên nghiệp, còn quy tụ những người bạn đường đã cùng nhau gây dựng, lãnh đạo và tham dự các phong trào thanh niên trong những năm từ 1964 đến 1975 ở Việt Nam. Ðó là những phong trào học sinh, sinh viên đi làm công tác xã hội, giúp các đồng bào nông thôn cải thiện đời sống, đồng bào nạn nhân chiến tranh. Những phong trào đó cũng nhắm vào việc tác động thanh thiếu niên bằng công tác phục vụ xã hội; trong bản chất, đó chính là những hoạt động giáo dục, rèn luỵên thế hệ trẻ bằng công việc tình nguyện giúp ích. Các hoạt động thanh niên, sinh viên, học sinh tự với mục đích luyện tánh khí và giúp ích đã nở rộ từ năm 1964 đến 1975. Ðó chính là một phong trào xây dựng xã hội công dân gồm các tổ chức tự nguyện, tự do, đứng ngoài và độc lập đối với guồng máy nhà nước. Tác động các thanh niên qua các hoạt động giúp ích là một cách gieo rắc những hạt giống cho một xã hội công dân tương lai, là nền tảng của mọi chế độ tự do dân chủ.

Sống tại California thời 1978, đối với Ðỗ Ngọc Yến và những thanh niên bạn đường này, làm báo Người Việt là một cơ hội phục vụ mới, trong một môi trường mới, với phương tiện mới là công việc truyền thông. Vì vậy, mọi người vẫn chọn mục tiêu của tờ báo là phục vụ cộng đồng, phục vụ đất nước, và sau cùng là tranh đấu xây dựng một nước Việt Nam tự do dân chủ.

Khi anh Ðỗ Ngọc Yến chuyển giao quyền sở hữu tờ báo sang cho một công ty, anh đã yêu cầu những cổ đông đã góp vốn và góp công sức xây dựng tờ báo đồng ý giữ riêng một số cổ phần không phát hành, để sau này đem tặng không cho những người bạn đã cùng nhau hoạt động xã hội và thanh niên ở Việt Nam trước năm 1975. Vào lúc mọi người quyết định việc tặng dữ này, những cổ phần của nhật báo Người Việt chưa có giá trị tiền bạc nào đáng chú ý; cho nên số quà tặng này chỉ được coi như những phần thưởng tượng trưng để khích lệ những người đã từng sử dụng thời thanh niên của mình cho lý tưởng phục vụ tuổi trẻ và quê hương Việt Nam. Trong số những “cổ đông” được tặng cổ phần khích lệ đó còn có nhiều anh em còn đang bị đầy ải trong các nhà tù gọi là cải tạo, mà vào lúc đó không ai biết bao giờ họ mới có ngày được tự do.

Từ những năm gian lao đó, nhật báo Người Việt đã vươn lên cùng với sự phát triển mạnh mẽ của cộng đồng người Việt tị nạn, dần dần trở thành một công ty truyền thông có giá trị và uy tín, có lúc một công ty ngoại quốc đã đề nghị mua với giá vài chục triệu Mỹ kim. Nhưng từ năm 2009, quyền sở hữu của công ty đã được chuyển giao, như ước nguyện ban đầu của người sáng lập. Nay công ta đang thuộc về quỹ hưu bổng của tất cả các nhân viên Người Việt, theo quy chế ESOP, một định chế đặc biệt ở nước Mỹ. Tiền lời của công ty, sau khi trả nợ cho các cổ đông cũ, sẽ được dùng để trả hưu bổng cho các nhân viên Người Việt. Ước nguyện của Ðỗ Ngọc Yến đã được thể hiện: Tờ báo Người Việt thuộc quyền sở hữu của tất cả những người cùng đóng góp vào tờ báo; vì nếu tờ báo thành công thì chính họ sẽ được thụ hưởng. Tương lai tờ báo tùy thuộc vào Người Việt Online, mạng lưới điện tử đang lớn lên nhanh chóng, với hàng trăm ngàn người đọc mỗi ngày. Những độc giả này sống khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là rất đông người đang sống ở Việt Nam vẫn tìm cách vượt tường lửa để vào thăm Người Việt. Trên Người Việt Online, hình thức thông tin không còn bị giới hạn trong chữ viết mà đã phát triển thêm hình ảnh, âm thanh, và phim video. Mạng Người Việt Online đang trở thành mạng được nhiều người vào coi nhất.

Những tiến bộ này thực hiện được là nhờ quí vị độc giả và thân chủ đã đặt niềm tin vào tờ báo, và nhờ các vị nhà báo, nhà văn, thân hữu đã đóng góp, hỗ trợ công tác ích lợi chung này. Làm báo là nhận trách nhiệm thực hiện một công việc mang tính công ích. Một tờ báo, hay bất cứ một cơ sở truyền thông nào, luôn luôn đứng ra chấp nhận thử thách. Thử thách lớn nhất là có được công chúng tin tưởng hay không. Chữ “tín” là sợi dây nối liền mỗi tờ báo và công chúng. Nếu người làm báo xứng đáng với niềm tin đó, thì sẽ tiếp tục được đồng bào tín nhiệm. Ngược lại, thì độc giả và công chúng sẽ bỏ rơi, vì niềm tin đã mất.

Trong một xã hội dân chủ, các định chế xã hội đều bị thử thách như thế. Kinh tế thị trường thành công hay không cũng dựa trên niềm tin. Quốc gia nào cũng có thể tổ chức bầu cử, cũng có quốc hội, có tòa án, có ngân hàng, thị trường chứng khoán, v.v… Nhưng giá trị của một dân tộc hay một quốc gia không phải là do sự hiện hữu của các định chế đó, mà do các định chế đó có thành công trước thử thách về lòng tín nhiệm của mọi người hay không. Niềm tin đó càng cao thì phẩm chất của nền dân chủ, mức độ thịnh vượng về kinh tế, và trình độ văn minh của quốc gia càng cao. Một cơ quan truyền thông cũng là một định chế xã hội, cũng bị thử thách như vậy.

Người Việt quan niệm rằng chế độ tự do dân chủ được thiết lập trên quyền tự do ngôn luận, tự do phát biểu. Làm một tờ báo, hay bất cứ một cơ sở truyền thông nào, một cách đứng đắn, tức lá đang phục vụ cho tương lai tự do dân chủ của nước Việt Nam.

Một dân tộc có giá trị cần phải có những tờ báo, đài truyền thanh, truyền hình, các mạng lưới tự do và độc lập, với nhiều ký giả hay nhà bình luận được mọi người tin tưởng. Người viết báo có trách nhiệm phải bảo vệ niềm tin của cộng đồng và cho cộng đồng. Ý thức vai trò đó, nhật báo Người Việt vẫn tâm niệm phải sử dụng nghề truyền thông bảo vệ niềm tin chung của xã hội. Chúng ta đang muốn xây dựng một nước Việt Nam dân chủ tự do. Nhật báo Người Việt đang cố gắng xây dựng một trong những định chế tương lai, là một nền báo chí độc lập, có tinh thần trách nhiệm, của nước Việt Nam tự do dân chủ. Ghi dấu tờ báo số 10,000 này, Người Việt sẽ còn phải cố gắng, mỗi ngày mỗi cải thiện để xứng đáng với niềm tin mà quý vị độc giả và đồng bào đã trao cho.

Thơ Trương Nghĩa Kỳ

 


Lục Bát Hai Câu


Tháng Tư nữa! Tháng Tư về…
Người đi, ai nhớ Lời Thề Nước Non?


Người còn ở lại, ai còn
Mở thơ mà đọc Lý Thường Kiệt xưa?


Ba mươi tám năm, giấc mơ
Dài như là những giọt mưa – lệ Trời?


Lệ Trời, và lệ của người
Của anh, của chị, của tôi… ngọt ngào!


Ngọt mà ngào! Ngọt là sao?
Ngọt như vị ngọt máu đào phải không?


Ngào là nước chảy vào sông
Tuôn ra cửa biền Cửu Long đoạn trường?


Tháng Tư… Vẫn Tháng Tư buồn
Cầm vo hai chữ Quê Hương, khóc ròng…


Tôi, người lính trận đã xong
Hay chưa gì cả? Bởi lòng nát tan!


Nước ta nói có bốn ngàn
Ngàn Năm Văn Hiến, nghe càng xót xa…


Hèn chi đất Nước chia ba
Bắc, Nam, Trung… một sơn hà tả tơi!


Tháng Tư nữa, Tháng Tư hoài
Xé thêm tờ lịch… đâu rồi trái tim?

Thơ Phan Nghĩa

 


Cổ Tự


Mây không buồn trôi
Thành quách còn ngái ngủ
Dấu gạch buồn loang nhớ chân ai
Khung cửa long sơn
Bệ thờ phủ bụi
Cả quá thời nghi ngút trầm hương
Chơ vơ trời đất chứng nhân
Thở dài buồn thương tuế nguyệt
Nét bút sắt thay lời bộc bạch
Tiếng gió chiều như thoảng chuông đưa
Âm thầm cùng núi non
Từ bi vùi quên lãng
Thương trách thầm sự thế đổi thay
Bao hừng đông hào quang chói lọi
Những chiều tà đạt đạo thiền tâm
Mưa có rơi nhưng đá chẳng mòn
Trăng có khuyết mà lòng không cạn
Vẳng đâu đây âm hồi tụng niệm
Nhớ cõi lòng sám hối từ đây
Xuyên cả sương chiều buông lãng đãng
Mái cửa thiền cong vút trong mây.
____


Vọng Cố Nhân


Em, em ở đâu?
Ta gọi tên em khắp nẻo
Kiếm tìm em trong mộng hao gầy
Em ở Arizona nắng cháy, Texas khô cằn hay Santa Ana cuồng nhiệt
Có khi nào ẩn mình nơi Boston buồn thương.


Ôi, giọng nói nét mắt làn môi
Còn chút gì đọng lại hay đã nhòa theo thời gian mất mát
Từ trong tim, mạch máu cùng các thần kinh ảo giác
Hình dáng tiếng cười quấn quít không nguôi.
Ngồi nhớ em trong nhịp đời chất ngất
Hình hài này tàn lụn bởi thời gian
Rồi một giây tất cả mãi xa rời
Ta tìm kiếm bàn tay em sưởi ấm.
Bây giờ em ở đâu, hỡi người con gái hiền ngoan thùy mỵ
Trong phút nào quay quắt nhớ em
Những giọt lệ hay giọng cười quá vãng
Làm tim ta lạc mất lối về.


Bây giờ em ở đâu?
Khi hoàng hôn tắt nắng hay bình minh thức giấc
Em có nghĩ về ta như kẻ tìm trầm
Bao đắng cay bao uất nghẹn đổi dời
Ta một lòng khắc khoải nhớ thương em!

Thơ Huệ Thu

 


Xé thơ, rồi lại làm thơ



Nửa đêm
xé một bài thơ,
thơ nguyên thì nát,
đêm thừa cứ nguyên.


Giận gì?
đâu dám giận anh.
yêu đâu dám giận,
nhớ thêm lại buồn.


Ô kìa!
thơ đó lại tuôn,
thơ đau mà bút
không cùn cũng hay.


Gửi đi?
biết gửi cho ai?
để đây thì tủi,
xé hoài tiếc chăng?


Nửa đêm,
tròn một vầng trăng.
phải chi trăng rớt,
mình cầm đi chơi!


Tự nhiên
hết muốn làm người.
kiếp sau làm đám
mây trời chắc vui…


Hỏi anh
gió đáp ngậm ngùi
tóc thơm lừng lựng
trong mùi dạ hương


Anh đâu rồi?
hỏi làn sương,
ta đưa tay vuốt
giữa đường anh tan…


Thơ ta
viết đã đầy trang.
cầm lên tính xé,
thương chàng lại ngưng!


Biết đâu,
mai mốt không chừng.
ai đem mở đọc,
bỗng dưng thấy buồn…


(Nguồn: sangtao@org)

Tin mới cập nhật