Thương nhớ anh Trần Xuân Đức


Chị sợ về nhà! Chị sợ bước lên bậc thềm, nơi bao tháng năm in đẫm bước chân anh, vào ra. Chị sợ nhìn căn phòng mình, nơi hơi hướm anh, còn đọng. Chị sợ con ngõ vào nhà, giờ đây chỉ mình Chị, khuya sớm…



Hôm thứ Tư, trước ngày anh đi, con trai út nằm mơ thấy Bố than: “Chết khó quá con ơi!”. Chị nghe mà không ngăn được nước mắt. Có điều gì đó dấu sâu trong lòng mà Anh không muốn thố lộ!? Vợ chồng mọi điều luôn có nhau. Giữa họ không có sự riêng tư. Vậy mà điều gì khiến anh không nói được? Nghe con kể lại, Chị băn khoăn, không một lúc nào yên, cố rà soát xem trong đời sống chung đã có điều gì vướng mắc. Mấy lần Chị muốn hỏi anh, điều gì khiến anh không thể thổ lộ. Nhưng thấy anh không khoẻ, thở dốc từng hồi, chị lại thôi, lại cố dằn xuống những ấm ức trong lòng.


Cuối cùng rồi Anh cũng nói cho Chị biết: Đó là nỗi âu lo, sợ chị không kham nỗi mọi chuyện khi anh ra đi! Anh sợ chi phí lễ tang quá khả năng của chị. Cả một đời thương vợ con, đến ngày cuối sắp ra đi anh cũng không dứt được nỗi bận tâm. Chị kể, mãi cho đến khi chị cho anh biết, gia đình sẽ không để chị lo một mình. Anh mới thở hắt ra và nhẹ nhàng xuôi tay. Tội nghiệp anh, lòng thương và lo cho vợ theo mãi đến cuối cuộc đời.


Sống bên nhau 25 năm, lúc nào với vợ con, anh cũng nhẹ nhàng, kín đáo chăm sóc. Biết Chị túi bụi công việc ở sở, nên đỡ đần được điều gì cho chị trong công việc nhà, anh đều sẵn lòng. Cứ nhìn cảnh anh ngồi ăn chung với chị, lặng lẽ, anh chăm sóc từng li từng tí, khi thay cái đĩa, khi gắp thêm thức ăn… mới thấy hết tình riêng của anh.


Anh muốn đền đáp thật đầy tình chị dành cho, nhất là những ngày cơn bệnh ập đến, làm sao mà anh không biết được với đồng lương hiện tại của chị, đã chi gần hết vào những lọ thuốc đặc biệt, khó kiếm với giá trên trời. Lòng người vợ, lúc nào cũng chỉ ước ao một điều là chồng được tai qua nạn khỏi, ao ước không chỉ bên anh từng ấy năm chung sống, mà mãi mãi.


Không, chị không đòi hỏi gì hơn là anh cứ còn đấy, cứ hiện diện trong nhà, dù là sự hiện diện mang lại bao bận rộn cho chị. Hôm tiễn anh, về nhà lạnh lẽo, trống trơn, hai mẹ con côi cút, chẳng màng đến cơm nước. Mãi hai hôm sau chị mới vào bếp nấu cho con trai miếng cơm lót lòng, không biết điều gì khiến, chị nấu canh bí đao hầm và xào tàu hũ cà chua. Cơm dọn lên, hai hàng nước mắt không kìm được, chị than thầm, hai món anh thích đây mà! vậy mà anh đang ở đâu vậy anh ơi!


Mấy tháng nằm một chỗ, chẳng lúc nào vắng bóng vợ con bên cạnh. Sức yếu, có lúc cơn bệnh cũng hành hạ tấm thân, nhưng biết những đứa con của mình ngày nay đã công thành danh toại, lòng anh cũng hân hoan, vui mừng. Anh nhắm mắt ra đi, để lại biết bao nhiêu là đau xót, nhớ thương cho con cháu, các em, cho người vợ đầu gối tay ấp bao năm. Nhưng sinh ký tử quy, sống là gửi thác là về. Chỉ mong rằng người có tâm lành như anh sẽ có một cuộc sống tốt đẹp, an bình ở nơi anh đến.


tp






Vĩnh Biệt Anh Đức




Vĩnh biệt ĐỨC ơi! Vĩnh biệt Đời!


Tiếc thương, thương tiếc, cũng đành thôi!


Ngặt nghèo bệnh khó, vô phương cứu


Cải số, than ôi! Chẳng đặng rồi!


Bao nhiêu Bạn hữu đang thân thiết


Một phút đành xa hết mọi người!


Mười bảy tháng Giêng ngày Anh mất


Chung nhau khấn nguyện, dạ bồi hồi.




Gia Đình Sư Phạm Sài Gòn Hải Ngoại

Sở Lao Ðộng Ðức gửi thiếu nữ đến làm việc tại động mại dâm


BERLIN (Reuters) –
Một thiếu nữ Ðức nộp đơn tìm việc đã được Sở Lao Ðộng địa phương gửi đến một nhà mại dâm, theo nhật báo Augsburger Allgemeine Zeitung hôm Thứ Tư.









Ông Karl Diller (phải), thị trưởng Augsburg, Ðức, trình làng mẫu tem mới. Sở Lao Ðộng thành phố vừa giới thiệu “lộn” việc làm cho một cô gái. (Hình minh họa: Johannes Simon/AFP/Getty Images)


Thiếu nữ 19 tuổi này cho hay cô hoảng hồn khi mở lá thư báo việc làm của Sở Lao Ðộng ở Augsburg hôm Thứ Bảy, nói rằng họ đã kiếm ra việc chạy bàn cho cô tại nhà mại dâm Augsburg Colosseum.


“Tôi kiếm một việc dọn dẹp nhà cửa đàng hoàng chứ không phải việc chạy bàn trong nơi nhậu nhẹt của nhà mại dâm,” cô gái này cho tờ báo hay. “Tôi hết sức bàng hoàng khi đọc bức thư. Bà mẹ tôi la ầm lên khi đọc được thư này.”


Mại dâm là điều hợp pháp ở Ðức.


Người đứng đầu Sở Lao Ðộng ở Augsburg, ông Roland Fuerst, cho tờ báo hay rằng cơ quan này đã phạm lỗi lầm dù rằng họ biết Augsburg Colosseum là nhà mại dâm. Ông nói rằng đáng lý ra họ phải gọi điện thoại hỏi cô gái xem có muốn làm việc trong đó hay không. (V.Giang)

Thuyền chở trăng về


Cao Mỵ Nhân/Người Việt Utah


 


Hình ảnh vầng trăng sáng rỡ ràng rớt xuống đáy sông, đã khiến bao nhiêu khách yêu thơ, phải thổn thức, hay trầm trồ ca tụng.


Vầng trăng của nhà thơ Hàn Mặc Tử lại phong cách tuyệt vời, vầng trăng ấy cứ nấn ná giữa bến sông, nhà thơ chờ mãi, bèn hỏi con đò của ai, lại cũng phong cách như vầng trăng, chần chờ chưa rời bến, đến nỗi Hàn Mặc Tử phải thốt ra thơ rằng:


Thuyền ai đậu bến sông trăng đó


Có chở trăng về kịp tối nay?


(Hàn Mặc Tử)


Ôi sao mà khách sáo, nhiêu khê thế, hay khách yêu trăng vốn ngại ngần, muốn có trăng riêng chỉ của mình, trong lúc trăng muôn thu, ngàn kiếp của vũ trụ, nhân gian, làm sao gọi thuyền tình chở trăng về bến mộng chứ.


Ngày xưa, thủa còn thiếu nữ, tôi viết tập thơ Mùa Trăng Con Gái, ý nói trăng tròn 16, trăng dậy thì, thế mà có ít vị nam nhi cũng còn chưa khôn lớn như tôi, bèn nhếch miệng cười… bút chiến:


“Trăng của chung thiên hạ, kể cả nam, phụ, lão, ấu… chẳng của riêng ai mà xí phần nhé.”


Tôi đành làm thơ trăng thì cứ làm, nhưng không dám đề (Mùa trăng con gái) trong ngoặc lớn, dưới tên tác giả nữa.


Tôi vẫn yêu trăng như quý vị sáng tác và quý khách ngắm trăng – biết bao lời lẽ tôn sùng, mê đắm trăng, giới văn học nghệ thuật thì hầu như nghề nào, nghiệp nấy thổ lộ, tôn vinh trăng, nào là suối trăng, sông trăng, biển trăng, rừng trăng, đồi trăng, vườn trăng, sân trăng, hiên trăng, thềm trăng, v.v…


Cứ thế quý vị tác giả thi văn sĩ, họa sĩ, nhạc sĩ, v.v… biểu lộ, luận bàn về trăng.


Nếu các văn thi sĩ, nhạc sĩ, thốt ra lời, như thi sĩ Hàn Mặc Tử nhắn hỏi thuyền ai đậu bến sông trăng, có chở trăng về cho Hàn thi sĩ kịp tối nay không? Sao không đợi tối mai, tối mốt v.v… mà phải tối nay, sợ không kịp nữa, vì có thể mai mốt trăng già hơn, không còn tròn như trăng mười sáu chẳng hạn.


Nhạc sĩ Văn Cao thì:


Thiên thai, ánh trăng xanh mơ tan thành suối trần gian…


Ánh trăng nơi thiên thai của Văn Cao mầu xanh, không phải mầu vàng kim, hay mầu nguyệt bạch như thường thấy, có nghĩa là ánh trăng… bình thường thôi, nhưng phản ảnh qua rừng cây, vách núi, uyển chuyển, dạt dào, mềm mại như dòng suối, ánh trăng tạo thành dòng suối vậy.


Tình cờ tôi được nghe thi sĩ Cung Trầm Tưởng diễn tả vầng trăng mùa Ðông ở Minnesota, cho Giáo Sư Nguyễn Sỹ Tế lúc sinh thời nghe:


“Ánh trăng xuyên qua thành phố tôi ở ông ạ, nó màu xanh lạ lắm, chưa bao giờ tôi thấy trăng màu xanh.”


Giáo Sư Nguyễn Sỹ Tế cười nụ, rất sư phạm, có lẽ nhà giáo vẫn đinh ninh trăng phải màu vàng, màu ngà, hay có thể tán thành vòng trắng mỏng khi đêm về sáng.


Mới đây, tôi có dịp lên thủ phủ Cali, lại cũng tình cờ, tới thăm một tư thất thân quen, gia chủ là nhiếp ảnh gia Ðặng Ðức Cương, đúng lúc ông từ phố thị Sacto trở về, nhiếp ảnh gia cho tôi xem mấy bức ảnh mà ông ghi hình được từ thời còn ở Phan Rang, cách đây chắc cũng nửa thế kỷ.


Nơi bức tranh chụp ban đêm ở dòng sông, có chiếc thuyền chơi vơi dưới vầng trăng tròn, đẹp lạ kỳ, ấy là trong vòng cung trăng, hiện rõ ràng hình ảnh cây đa mà quý vị đã thấy ở ngoài… đời.


Nhiếp ảnh gia đã lão thành, nên khá nhiều kinh nghiệm về chụp hình trăng. Cụ ôn tồn, ý nhị, chỉ vầng trăng trong bức ảnh trắng đen, tất nhiên trăng màu trắng, có hình cây đa mờ màu đen, thuyền neo màu đen sậm, trên sông trăng dưới ánh sáng bạc tuyệt vời. Ở góc trái, phía trên, là 2 câu thơ dẫn thượng, của thi sĩ Hàn Mặc Tử từ thủa xa xôi.


Sự kiện chan hòa đến nỗi thơ đã nhập vào ảnh từ bao giờ, hay tình cờ chụp được ảnh bến sông, dòng sông có ánh trăng tròn kia, giống y… thơ Hàn Mặc Tử, nên cụ tức cảnh sinh tình, mượn thơ Hàn Thi Sĩ đề vào bức ảnh. Tôi hỏi:


“Ảnh đẹp như thế này, mà sao cụ không triển lãm?”


“Có chứ, nhóm ảnh của chúng tôi đã trưng bày được mấy lần ở đây.”


“Sao quý cụ không triển lãm gần, xa?”


“Thôi được rồi, ở Sacto cho gần nhà, vả lại dưới Nam Cali, cũng có 2 hội ảnh lớn, thay phiên triển lãm. Song, tôi thấy trăng của quý vị khác, thường chỉ là một hình tròn màu trắng trên nền đen. Còn tôi, thủa xưa tôi canh lắm, mới chụp được bức ảnh này.”


Nhiếp ảnh gia Ðặng Ðức Cương rất hòa nhã, không có ý khoe, chỉ nhận định cho có ý kiến thôi. Cụ hỏi tôi:


“Cô có thấy hình cây đa đó không?”


“Dạ thấy, in trong lòng vầng trăng.”


“Cây đa, vầng trăng, thì cũng thường thôi, điều tôi, cụ nhiếp ảnh gia, đắc ý nhất là bức ảnh tôi chụp đây, nói lên được tinh thân 2 câu thơ của Hàn Mặc Tử cô ạ. Bến sông này, con thuyền đó, vầng trăng kia, ôi, một hư không đầy phẩm cách.”


“Vâng, cái hư không ở tinh thần thơ, cái phẩm cách ở sắc thái hình ảnh này, cô đơn mà vẫn chấp nhận vũ trụ quan, nhân sinh quan một cách không thể chối cãi được Chân, Thiện, Mỹ của sự vật – thi sĩ Hàn Mặc Tử mang về cho chúng ta một học thuyết Duy Mỹ, đẹp từ lời thơ đến ý thơ.”


“Thế là cô hiểu được bức tranh này rồi, bức ảnh chứ, ảnh là từ thực tế, còn tranh cần thêm tưởng tượng. Họa sĩ, nhiếp ảnh gia đều có một ngôn ngữ tĩnh lặng, hình ảnh là lời lẽ vô ngôn, Hàn Mặc Tử thốt ra được ngôn ngữ của ảnh, bởi Hàn quân tử là thi sĩ, diễn tả giùm chúng tôi tiếng nói của hình ảnh thiên nhiên bao la, trầm lặng…”

Tiếng Xuân

 


Minh Nhã/Người Việt Utah


 


Anh có hay Xuân về tối qua?


Giận đời chối bỏ gánh sơn hà,


Trách trời cao thẳm bày thời cuộc,


Hờn đất nghìn trùng phân cách xa.


 


Anh có nghe thời gian thở than?


Quê hương tích tụ lắm nguy nàn.


Quay qua thoắt đã gần về đất,


Ngoảnh lại đoạn đời luống dở dang.


 


Xuân đến muôn người tiếp đãi bôi


Bâng khuâng, sầu tủi chỉ riêng tôi.


Non sông chưa trả vui sao được,


Nợ nước lãng quên. Thẹn, phí đời.


 


Hai thứ tóc tâm cằn trí cỗi.


Xót đau nhìn Tổ Quốc điêu linh…


____________


 


Thềm Xuân


 


Minh Nhã/Người Việt Utah


 


Xuân về tuyết phủ trắng phau.


Ngóng trông chẳng thấy mai đào hé duyên.


Âm thầm tơ nắng ươm mềm,


Hoa râm tóc rụng ven thềm xuân đi…

Tết Nguyên Ðán


Lê Thương/Người Việt Utah


 


Tết Nguyên Ðán là ngày lễ truyền thống lớn nhất trong năm của Việt Nam. Ngày Tết không những là ngày thiêng liêng của người Việt mà nó còn mang sắc thái văn hóa đặc thù của dân tộc ta.


Trên bầu trời cao, những cánh én đã về, mùa Xuân đã trở lại với vạn vật. Những cành lá trơ trụi của mùa Ðông đã chuyển mình với những mầm non, với lá xanh mơn mởn. Trong bốn mùa, Xuân là mùa của ngàn hoa tươi thắm, với những cành lộc non xanh tươi vì thế mùa Xuân được người đời ưa chuộng hơn cả. Trong niềm rạo rực đón Xuân, Hàn Mạc Tử đã sáng tác bài “Mùa Xuân Chín,” xin hãy nghe:


 


Trong làn nắng ửng khói mơ tan,


Ðôi mái nhà tranh lấm tấm vàng.


Sột soạt gió trêu tà áo biếc,


Trên giàn thiên lý – bóng xuân sang.


 


Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời,


Bao cô thôn nữ hát trên đồi;


Ngày mai trong đám xuân xanh ấy,


Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi.


 


Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi,


Hổn hển như lời của nước mây.


Thầm thì với ai ngồi dưới trúc,


Nghe ra ý vị và thơ ngây.


 


Khách xa gặp lúc mùa xuân chín,


Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng.


“Chị ấy năm nay còn gánh thóc,


Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?”


 


Sau 37 năm lưu lạc nơi đất khách quê người, cứ mỗi lần Tết đến người Việt tha hương khắp năm châu cảm thấy lòng nao nao nhớ lại những mùa Xuân êm đềm mang nhiều kỷ niệm nơi cố quốc và cảm thấy thấm thía qua những vần thơ “Xuân Tha Hương” của Nguyễn Bính:


 


Bốn biển vẫn chưa yên sóng gió,


Xuân nầy em chị vẫn tha hương.


Vẫn ăn cái Tết ngoài thiên hạ,


Son sắc say hoài rượu bốn phương.


 


Em đi non nước xa khơi quá,


Nỗi độ Xuân về bao nhớ thương.


Mỗi độ Xuân về em lại thấy,


Buồn như tên lính ở biên cương.


 


Chữ Tết Nguyên Ðán mang các nghĩa: Tết do chữ Tiết, có nghĩa là ngày lễ; Nguyên có nghĩa là bắt đầu; Ðán có nghĩa là buổi sớm mai.


Vậy Tết Nguyên Ðán là ngày mở đầu cho một năm mới với nhiều hy vọng và may mắn mới.


Ðúng ra phải dùng cả ba chữ Tết Nguyên Ðán, nhưng người Việt ta có tính giản dị nên chỉ gọi Tết hay Ngày Tết. Chữ Tết được dùng trong nhiều thành ngữ như: Ngày Tư Ngày Tết, Năm Hết Tết Ðến, Sống Tết Chết Giỗ, Tết Nhất, Chợ Tết, Ăn Tết, Chúc Tết, Thiệp Tết, Quà Tết, Lương Tết, Tết Thầy, Tết Xếp… Ngày Tết mang rất nhiều phong tục cổ truyền và các phong tục này đã thấm nhuần trong lòng người Việt Nam từ xưa đến nay.


 


Sửa soạn Tết


 


Ngay từ đầu Tháng Chạp, ở thôn quê cũng như thị thành, thiên hạ đã bắt đầu sửa soạn Tết. Nhà nhà lo mua heo, bò, gà, vịt để sẵn, rồi còn mua nếp, đậu hầu chuẩn bị gói bánh chưng, bánh tét. Ngoài ra còn muối dưa, nén hành, may sắm quần áo mới, sơn phết trang hoàng nhà cửa, lau chùi bàn thờ, mua tranh, pháo, câu đối, cùng các loại bánh mứt, trái cây, trà, rượu… Còn những người thích chơi cảnh, chơi hoa như các loại hoa hải đường, hoa mai, bích đào, thủy tiên… phải lo vun trồng, cắt xén để hoa kịp nở vào đầu Xuân. Ða số người Việt Nam chỉ lo ăn Tết có 3 ngày, tuy nhiên nhiều gia đình, nhất là những gia đình khá giả chuẩn bị Tết trong nhiều tháng trước.


 


Chợ Tết


 


Khoảng trung tuần Tháng Chạp, phố xá, chợ búa bắt đầu thêm nhộn nhịp, nhất là các buổi chợ cuối năm càng tưng bừng tấp nập, đông đúc kẻ bán người mua. “Ðông như chợ Tết.” Vào những ngày chợ Tết hàng hóa tràn ngập, nhiều gấp bội ngày thường, nào gian hàng vải, gian hàng bánh mứt, hàng hoa, hàng trái cây, dưa hấu bày bán la liệt. Thấy dưa hấu là thấy Tết. Dưa hấu lềnh khênh, chất cao thành đống. Khách mua cố lựa những trái dưa khi cắt ra ruột đỏ tươi vì người ta cho rằng mua dưa đầu năm lựa được những trái dưa ruột đỏ thắm thì suốt năm gặp toàn những điều may mắn. Còn những người bán thì trưng bày những trái dưa mẫu ruột đỏ au để chiêu dụ khách hàng. Ðặc biệt là vào những ngày cận Tết, ta thấy các ông đồ Nho râu tóc bạc phơ gò mình trên những tờ giấy hoa ở vỉa hè hay góc chợ, múa bút viết những câu đối với những nét chữ “Rồng bay, Phượng múa” để bán cho những khách hàng mua về dán ở nhà hay ở bàn thờ.


 


Ðưa ông Táo về Trời


 


Một trong những cổ tục của ngày Tết là đưa ông Táo về Trời. Ông Táo là cái bếp nấu cơm trong mọi gia đình. Người ta tiễn ông Táo về Trời bằng bánh mứt, thèo lèo, trà và pháo. Theo truyền thuyết, cứ mỗi năm vào ngày 23 tháng Chạp, ông Táo cỡi cá chép bay về Trời để “báo cáo” với Ngọc Hoàng mọi chuyện xảy ra dưới trần gian trong suốt năm qua.


 


Cây Nêu, Hoa Mai, Bánh Chưng, Tràng Pháo


 


Nói đến Tết, theo truyền thống, người Việt nghĩ ngay đến bốn thứ điển hình là Cây Nêu, Hoa Mai, Bánh Chưng với Tràng Pháo:


Ở thôn quê, thiên hạ bắt đầu dựng cây nêu vào ngày 27 Tháng Chạp, trễ lắm là vào buổi chiều ngày 30 Tết, nếu tháng thiếu là ngày 29 và hạ nêu vào ngày mồng 7 Tháng Giêng. Nêu là cây tre dài chặt tới gốc còn đủ ngọn lá, được dựng ở trước sân với một cỗ mũ nhỏ và một tảng vàng buộc ngang thân, có nơi treo trên ngọn mấy chiếc khánh và bùa chú mà người ta tin tưởng rằng có thể ngăn cản, xua đuổi tà ma xâm nhập vào nhà để quấy phá gia chủ trong những ngày Tết. Riêng ở thành thị vì nhà cửa phố phường san sát không tiện trồng cây nêu nên ta thường buộc cành đa, lá dứa ngoài ngõ. Có nơi thiên hạ rắc vôi ngoài sân, ngoài cổng với hình bàn cờ, cây cung cùng tên bắn ra đằng trước và hai bên, ngụ ý trấn giữ nhà cửa ngăn chận tà ma.


 


Cu kêu ba tiếng cu kêu,


Trông mau đến Tết dựng nêu ăn chè.


 


Vật điển hình thứ hai của Tết là hoa mai. Mai vàng là màu sắc đặc thù của ngày Tết, thấy mai là thấy Tết và mai vàng tạo niềm rạo rực, rộn ràng trong lòng mọi người. Cho nên, dù giàu, dù nghèo thiên hạ nhà nào cũng tạo cho được một cành mai. Giàu có, khá giả không những tạo một nhành mai mà còn rước cả một cây mai to lớn đầy hoa về để trang trí nhà cửa trong những ngày Xuân. Còn nghèo khó không mua nổi một nhánh mai tươi thì cũng phải sắm cho được một cành mai giả để cũng có màu sắc Tết cho gia đình.


 


Tết không mai không ai biết Tết,


Mai không Tết chẳng thiết khoe vàng.


 


Vật điển hình thứ ba của Tết là bánh chưng. Tùy theo tục lệ từng miền, người ta có bánh chưng hay bánh tét, đó là hương vị không thể thiếu được của mọi gia đình trong những ngày Tết. Bánh chưng, bánh tét thường được ăn với thịt mỡ, dưa hành hay củ kiệu. Trong lúc nhìn mai vàng nở trên cành, nghe những tràng pháo Tết rộn rã mà ăn một lát bánh chưng hay một khoanh bánh tét với một cục thịt mỡ và một miếng dưa hành là nuốt cả một mùa Xuân dân tộc vào tâm hồn ta vậy.


Vật điển hình thứ tư của ngày Tết là pháo. Pháo là âm thanh, âm điệu rạo rực nhất của ngày Xuân. Nghe pháo nổ là nghe như Tết đang reo vang trong lòng mọi người. Pháo bắt đầu nổ lác đác từ chiều 23 Tháng Chạp, ngày đưa ông Táo về Trời. Rồi đến Giao Thừa pháo càng rộ lên cùng một lúc, xen lẫn trong những tràng pháo chuột là những tiếng pháo đại nổ chát chúa, vang rền như những quả đạn pháo kích. Tết đến, từ các cơ sở thương mại cho đến tư gia, nhà nào cũng đốt một vài phong pháo để đón Chúa Xuân. Người ta đốt pháo từ lễ Giao Thừa và vào sáng mồng một, mồng hai, mồng ba. Ngoài ra khi người bạn quý đến “xông đất” chủ nhà cũng mang ra một phong pháo đốt để “nghinh tân” ngược lai, người bạn cũng đốt một phong pháo để “Chúc Xuân” gia chủ. Còn các cơ sở thương mại, những nhà giàu có vào ngày Tết đốt pháo thường có múa lân vì thiên hạ tin tưởng rằng lân đến nhà đầu năm sẽ mang lại thịnh vượng.


 


Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ,


Cây nêu tràng pháo bánh chưng xanh.


 


Mâm Ngũ Quả


 


Mâm ngũ quả thường gồm thơm, đu đủ, dừa, xoài, trái sung. Phải thừa nhận rằng đa số người Việt Nam, nhất là giới bình dân mang nhiều sự mê tín, dị đoan rất dễ thương. Vì thế mâm ngũ quả chưng bàn thờ trong những ngày Tết người ta thường chọn những loại trái cây có tên tốt, mang ý nghĩa như thơm, đu đủ, dừa, xoài, sung… vì theo họ, những loại hoa quả nầy tượng trưng cho một năm mới đầy thơm tho, tiền bạc trong nhà đầy đủ và cuộc sống sung túc.


 


Tiệc Tất Niên


 


Ở thành thị, theo thông lệ, cứ đến cuối năm, thiên hạ thường tổ chức những bữa tiệc tất niên tại các công, tư sở, xí nghiệp, trường học hầu các công tư chức, nhân viên, hoc sinh, sinh viên, thầy cô có dịp họp mặt vui vẻ, chuyện trò thân mật, chúc Tết lẫn nhau trước khi chia tay để về nhà hoặc về quê ăn Tết với gia đình.


 


Ðưa rước ông bà


 


Vào ngày Tết người Việt Nam ta có tục đưa rước ông bà. Trưa hôm 30 Tết người ta làm lễ cúng tất niên đồng thời đón rước ông bà hoặc người thân quá cố để vong linh họ về sum họp với gia đình trong những ngày Xuân. Qua đến ngày mồng bốn, ta tiễn đưa vong linh ông bà về phương cũ.


 


Giao Thừa và Lễ Trừ Tịch


 


Giao Thừa có nghĩa là cũ giao lại cho mới tiếp nhận. Hết giờ Hợi sang giờ Tý vào lúc nửa đêm 30 Tết là Giao Thừa, thiên hạ làm lễ Trừ Tịch tiễn vị thần năm cũ, đón vị thần năm mới còn được gọi là lễ “Tống Cựu, Nghinh Tân.” Theo cổ tục, người ta tin rằng từ năm Tý đến năm Hợi là 12 năm thì có 12 vị thần Hành Khiển luân phiên nhau, mỗi năm một vị lo trông coi việc nhân gian vì thế mà ta có lễ Trừ Tịch để tiễn đưa và đón các vị thần Hành Khiển của năm cũ và năm mới, đồng thời cầu cúng cả Bản Cảnh Thành Hoàng và Thổ Công Thần Kỳ mà ta có câu tục ngữ “Ðất có Thổ Công, sông có Hà Bá.”


Lễ Trừ Tịch ở các làng xã còn giữ cổ tục, người ta thiết lập hương án ở trong trung thiên hoặc nơi sân đình, cũng có khi ở ngã ba làng xã với vàng mã, hương, đèn, trầu, rượu, hoa quả, xôi gà tế lễ rất trọng thể. Trong khi tế lễ, họ đánh trống, khua chiêng, đốt pháo vang dậy trong giờ Giao Thừa. Còn các tư gia cũng cúng lễ Giao Thừa trong sân hay trước cửa nhà với mâm lễ vật đặt trên bàn rồi vái tứ phương. Khi tới Giao Thừa chuông, trống ở các Ðình, Chùa, Giáo Ðường khắp nơi cũng được đánh lên vang rền kèm theo tiếng pháo đón Giao Thừa nổ giòn giã. Tiếng chuông, tiếng trống, tiếng pháo của giờ Giao Thừa là âm điệu truyền thống của ngày Tết.


Những kẻ đã từng nghe những âm điệu nầy trong quá khứ, nay vì hoàn cảnh bắt buộc họ phải xa lìa đất mẹ thân yêu, vào đêm Giao Thừa họ thường gục đầu im lặng để chờ nghe lại âm điệu ngày xưa, nhưng giờ Giao Thừa cứ lặng lẽ trôi qua và những âm điệu âu yếm kia vẫn biền biệt, khiến họ hụt hẫng, lòng họ dâng trào niềm nuối tiếc và uất hận, rồi lòng họ cảm thấy nghẹn ngào và đôi dòng lệ tự nhiên tuôn trào thấm ướt bờ mi. Vì ai mà họ đã đánh mất kỷ niệm thân yêu nầy? Vì ai mà họ phải khóc trong những đêm Giao Thừa xa cố quận?


Về Giao Thừa, nữ sĩ Hồ Xuân Hương có hai câu đối như sau:


 


Tối ba mươi khép cánh càn khôn,


Kẻo sợ ma vương đem quỷ tới.


Sáng mồng một lỏng then tạo hóa,


Ðể cho thiếu nữ rước Xuân vào.


 


Tiền của vào như nước


 


Ở thành thị, phố phường ta có tục lệ sau giờ Giao Thừa, những người gánh nước mướn tự động gánh nước đến những nhà trong hàng xóm một vài đôi nước ngụ ý rằng năm mới gia chủ sẽ làm ăn phát đạt “tiền của vào như nước” và gia chủ vui vẻ thưởng tiền rất hậu. Cũng có những người buôn bán, vào những ngày cận Tết đã ân cần dặn trước những người gánh nước thuê đừng quên gánh nước đổ vào nhà cho mình.


 


Ði lễ chùa, giáo đường và hái lộc


 


Sau khi cúng Giao Thừa xong, thiên hạ làm lễ Thổ Công rồi sửa soạn đi lễ tại các Ðền, Miếu, Ðình, Chùa, Giáo Ðường để cầu phúc, cầu may cho năm mới. Ngoài mục đích đi lễ Phật, lễ Chúa, lễ các vị Thần Linh họ còn có dụng ý hái lộc và xin xăm. Hái lộc là một tục lệ nên thơ của người Việt Nam. Người ta tin rằng lộc là lộc của Trời vì thế hái lộc đầu năm sẽ mang lại nhiều may mắn, thịnh vượng cho suốt một năm. Vì lẽ đó mà vào ngày đầu năm thiên hạ già, trẻ, trai, gái chen chúc nhau lên Chùa để hái lộc. Còn xin xăm, đa số người Việt rất tin vào số mệnh nên song song với việc lên Chùa lễ Phật, hái lộc họ còn lên Chùa để xin xăm hầu biết vận mệnh của mình và gia đình mình trong năm mới. Hình thức xin xăm là sau khi van vái Trời, Phật với tất cả lòng thành rồi người ta rút một thẻ xăm trong ống (hoặc lắc cho thẻ xăm rơi ra), đoạn mang đến cho người đoán xăm, đôi khi là một thầy bói, đôi khi là một nhà sư để giải đoán giùm những ngụ ý trong quẻ xăm. Hầu hết những người lên Chùa xin xăm vào dịp đầu năm đều ra về với vẻ mặt “vui như ngày Tết” vì những lá xăm của họ đều hứa hẹn những điều tốt đẹp.


 


Xông nhà, xông đất


 


Theo cổ tục, vào đầu năm người đến nhà ai trước nhất là người “xông nhà, xông đất” cho gia chủ và thiên hạ tin rằng đầu năm mới được người vui vẻ, dễ tính, tốt nết hoặc những người có tên như: Thương, Mến, Hùng, Dũng, Ðẹp, Giàu, Sang, Phú, Quý, Thịnh, Vượng, Tài, Báu, Lợi, Phước, Lộc, Thọ, Có, Tiền, Bạc, Vàng, Triệu, Tỷ, Thơm… đến nhà trước nhất thì gia chủ sẽ được mọi chuyện tốt lành, đẹp đẽ, thịnh vượng, phú quý, may mắn quanh năm. Còn ngược lại, gặp người khẳn tính, cộc cằn, độc ác, khờ dại, ngu ngơ, đần độn hoặc những người có tên như: Nghèo, Khổ, Xấu, Ghét, Ngu, Hư, Thúi, Chết, Xụi, Thua, Lỗ, Nợ, Nần, Túng, Thiếu, Ðau, Ốm, Bệnh, Ghẻ, Chốc, Bại, Xụi, Bần, Hàn, Ðói, Rách, Gian, Ác… thì suốt năm gia chủ làm ăn lủng củng, thất bại hay gặp những chuyện vẩn vơ, bực mình…. Chinh vì vậy mà các cụ lớn tuổi hoặc những người còn mang nặng cổ tục rất kén chọn người đến xông nhà, xông đất, thường họ mượn người tốt nết, tinh tình dễ thương, có tên đẹp đến xông đất giùm. Còn trong gia đình, sau khi đi lễ Chùa, Nhà Thờ về là xông đất nhà mình và gia đình thường để cho người tốt nết nhất vào nhà trước.


Theo tục lệ, người đến xông đất đốt một phong pháo và chúc gia chủ mọi điều tốt lành, tùy theo trường hợp, lời chúc có thể:


-Nếu gia chủ có cha mẹ già thì chúc “Tăng phúc, tăng thọ”


-Nếu gia chủ là nhà nông thì chúc “Phong đăng hòa cốc”


-Nếu gia chủ là một nhà công kỹ nghệ thì chúc “Tốt tài sai lộc”


-Nếu gia chủ là một thương gia thì chúc “Buôn may, bán đắt, nhất bản vạn lợi”


-Nếu gia chủ là một quân nhân hay công chức thì chúc “Mau thăng quan, tiến chức”


Trong trường hợp chẳng may gặp người xấu nết, tính tình cộc cằn hay xui hơn nữa bị một lão ăn mày đến viếng đầu năm thì gia chủ phải lấy gạo, muối ra vãi tứ phía và cúng vái gọi là “đốt phong long” rồi chờ một người khác khá hơn đến “tái xông.”


 


Mừng tuổi và chúc xuân


 


Một trong những tục lệ đẹp đẽ nhất của người Việt Nam là mừng tuổi ông bà, cha mẹ vào dịp đầu Xuân. Ðây là một hình thức hiếu đạo của con cháu đối với công ơn dưỡng dục của các đấng sinh thành đã nuôi dưỡng nên minh mà chỉ Việt Nam mới hãnh diện có cổ tục nầy trên thế giới ngày nay.


Mừng tuổi là mừng ông bà, cha mẹ thọ thêm một tuổi. Sáng mồng Một Tết, sau khi ông bà, cha mẹ khăn áo chỉnh tề, con cháu cũng xúng xính trong những bộ quần áo mới, trải chiếu xuống đất lạy 2 lạy đồng thời chúc ông bà, cha mẹ những lời tốt đẹp, hiếu thảo. Ông bà, cha mẹ cũng chúc lại con cháu ngoan ngoãn, thông minh, chóng lớn, học hành mau đỗ đạt rồi cho con cháu những tờ giấy bạc mới đựng trong những phong bì màu đỏ gọi là tiền “lì xì,” có nghĩa là những đồng tiền may mắn.


Ngoài tục lệ mừng tuổi, vào ngày Tết thiên hạ còn có lệ chúc Tết lẫn nhau. Nếu ở xa người ta gởi thiệp, còn nếu ở gần bạn bè, họ hàng thăm viếng và chúc Tết với nhau. Những lời chúc thông dụng là “Phước, Lộc, Thọ,” “An Khang, Thịnh Vượng,” “Vạn Sự Như Ý,” “Sống Lâu Trăm Tuổi,” “Tân Xuân Vạn Hạnh,” “Con Ðàn, Cháu Lũ,” “Tiền Vào Như Nước,” “Tiền Rừng Bạc Biển,” “Ða Tài, Ða Lộc,” “Mau Thăng Quan, Tiến Chức.”..


Ngoài việc họ hàng, bạn bè thăm viếng chúc Tết lẫn nhau, các nhân viên thuộc quyền ở các Ty, Sở, Ðơn Vị vào ngày Tết cũng có lệ đến chúc Tết các xếp của mình. Kèm theo những lời chúc Tết đẹp nhất, họ còn có “quà biếu” cho các xếp họ nữa. Xin hãy nghe bài “Chúc Tết” của nhà thơ trào phúng Trần Tế Xương:


 


Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau,


Chúc nhau: Trăm tuổi bạc đầu râu.


Phen nầy ông quyết đi buôn cối,


Thiên hạ bao nhiêu đứa giã trầu.


 


Lẳng lặng mà nghe nó chúc giàu,


Trăm, nghìn, vạn, mớ để vào đâu.


Phen nầy ắt hẳn gà ăn bạc,


Ðồng rụng, đồng rơi lọ phải cầu.


 


Lẳng lặng mà nghe nó chúc sang,


Ðứa thì mua tước, đứa mua quan.


Phen nầy ông quyết đi buôn lộng,


Vừa bán, vừa la cũng đắt hàng.


 


Lẳng lặng mà nghe nó chúc con,


Sinh năm, đẻ bảy được vuông tròn.


Phố phường chật hẹp người đông đúc,


Bồng bế nhau lên nó ở non.


 


Kiêng cữ


 


Ða số người Việt Nam ta tin rằng việc gì xảy ra đầu năm thì sẽ liên tục xảy ra suốt năm vì thế ta có rất nhiều tục kiêng cữ trong những ngày Tết:


 


Giông


 


Giông có nghĩa là xui xẻo, cho nên vào những ngày cuối năm có mượn đồ vật hoặc nợ nần của ai thì phải lo trả vì nếu để sang năm mới người ta đến đòi thì bị “giông.” Vì thế vào những ngày cuối năm, các chủ nợ thường đến đòi tiền các con nợ vì để qua năm mới đến đòi sợ “giông” người vay nợ. Ngược lại, các con nợ Tết đến cũng lo chạy đôn, chạy đáo để thanh toán tiền nợ của mình vì sợ để leo qua năm mới sẽ bị xui và sẽ bị mang nợ suốt cả năm nên ta có câu:


 


Khôn ngoan đến cửa quan mới biết,


Giàu khó ba mươi Tết mới hay.


 


Cữ quét nhà


 


Vào ngày Tết người ta cữ quét nhà trong suốt ngày mồng một, mồng hai và mồng ba vì sợ rằng quét nhà sẽ quét hết tiền bạc, của cải và các điều may mắn ra ngoài. Nếu nhà có rác, ta chỉ quét sơ và gom vào một xó để chờ hết Tết rồi mới đem đi đổ.


 


Cữ quần áo


 


Trong những ngày Tết, người Việt ta cữ ăn mặc quần áo trắng hoặc đội khăn trắng vì sợ trong năm sẽ có tang.


 


Cữ ăn nói


 


Vào những ngày đầu năm, người trong gia đình phải hết sức thận trọng về “lời ăn tiếng nói,” chỉ nên dùng những lời lẽ đẹp và tránh những lời nói không hay như khỉ, chết, đau, ốm hay những lời nói tục tằn, chửi thề… để suốt năm không gặp những chuyện xui xẻo.


 


Cữ đánh con


 


Vào ngày Tết cha mẹ phải cữ đánh con cho dù rằng vào những ngày nầy con cái “phá như quỷ” cha mẹ cũng đành dằn lòng vì nếu đánh con trong những ngày Tết thì con sẽ bị “huông,” nghĩa là suốt năm con sẽ bị đòn hoài.


Ngoài các điều trên, thiên hạ còn kiêng cữ nhiều thứ khác trong ngày Tết như kiêng cãi nhau, kiêng đánh lộn, kiêng gây tiếng động, kiêng làm vỡ chén bát, ly tách, kiêng tiếng khóc dù là tiếng khóc của trẻ con đòi bú sữa. Ngoài việc kiêng cữ những điều “xấu,” người ta còn phải làm những điều “tốt,” đó là tục lệ đi mua muối đầu năm. Muối tượng trưng cho sự đâm đà, mặn mòi. Nhưng ngược lại ta cữ đi mua vôi vì vôi tượng trưng cho sự bạc bẽo, vong ân, bội nghĩa như ta thường nghe câu “ăn ở bạc như vôi” vì thế dân gian có câu tục ngữ “Ðầu năm mua muối, cuối năm mua vôi.”


 


Bói toán


 


Vào ngày đầu năm người Việt ta thích đi xem bói toán để biết vận mệnh của mình trong năm mới. Bói toán có nhiều cách, như bói Kiều, bói sách, bói tuồng, nhờ thầy bói xem bói giùm… Bói Kiều là lấy cuốn Kiều ra để trên bàn, sau khi thắp hương đèn và khấn vái Nguyễn Du, Thúy Kiều, Kim Trọng rồi người ta lật bất cứ trang nào của Kiều ra xem, những câu thơ sau đây được xem là tốt:


 


Dưới dòng suối chảy trong veo,


Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha.


Kiều từ trở gót trướng hoa,


Mặt trời gác núi chiêng đà thu không.


Gương nga chênh chếch dòm song,


Vàng gieo ngấn nước, cây lồng bóng sân.


 


 


Ðầu năm mà gặp nước, gặp cầu, gặp vàng thì không có gì may mắn, hạnh phước cho bằng. Nước tượng trưng cho tiền bạc nên ta có câu thành ngữ “tiền vào như nước,” còn cây cầu tượng trưng cho sự thông giao, sự liên lạc, sự đoàn tụ và vàng tượng trưng cho sự giàu sang, phú quý.


Ngược lại những câu thơ sau đây được xem là điềm xấu:


 


Hàn huyên chưa kịp giãi giề,


Sai nha bỗng thấy bốn bề xôn xao.


Người nách thước, kẻ tay đao,


Ðầu trâu, mặt ngựa ào ào như sôi.


Già giang một lão một trai,


Một dây vô lại buộc hai thâm tình.


 


Hoặc:


 


Sầu đong càng lắc càng đầy,


Ba thu dồn lại một ngày dài ghê.


 


Ðầu năm bói Kiều mà gặp cảnh gia đình tan nát, phân ly hay gặp cảnh “Sầu đong càng lắc càng đây” như trên thì người ta tin rằng đó là điềm xui xẻo.


Bói sách cũng tương tự như bói Kiều, còn bói tuồng là ngày Tết ta chọn tuồng hát để xem, nếu xem nhằm tuồng kết thúc cốt truyện bằng sự sum họp, thắng lợi, hạnh phúc, giàu có là điềm may. Còn nếu tuồng hát kết thúc bằng cảnh gia đình tan nát, chia ly, chết chóc là điềm không tốt. Ngoài việc bói Kiều, bói sách, bói tuồng, thiên hạ còn tìm đến các thầy bói để nhờ xem giùm vận mệnh, tình duyên, công ăn, việc làm của mình trong năm mới.


 


Khai bút


 


Vào dịp đầu Xuân, người Việt Nam ta có tục lệ tao nhã khác đó là tục lệ Khai BƠt đầu năm. Khai Bút là năm mới cầm bút viết lần đâu tiên. Những người thường hay viết lách như các cụ đồ, các nhà khoa giáp, các văn nhân thi sĩ, các nhà báo vào dịp đầu Xuân chọn ngày giờ tốt lấy giấy mực ra làm thơ, viết văn, ngâm vịnh và thưởng Xuân.


 


Khai quân


 


Dưới thời Việt Nam Cộng Hòa, các đơn vị Quân Ðội có truyền thống tổ chức Lễ Khai Quân và Lễ Thượng Kỳ Ðầu Năm với mục đích phô trương sức mạnh của quân đội cũng như nâng cao ý chí và tinh thần của binh sĩ hầu đạt được nhiều thắng lợi cho đơn vị trong năm mới.


Kính Chúc Quý Vị Ðộc Giả Một Năm Mới An Khang, Thịnh Vượng.

Tin tức cộng đồng Người Việt Utah


Phóng viên Người Việt Utah thực hiện


 


Chương Trình Lễ Giao Thừa và Các Lễ Ðầu Năm tại Chùa Phổ Quang Utah:


Chùa Phổ Quang, tọa lạc tại địa chỉ 1185 West 1000 North, Salt Lake City, Utah sẽ tổ chức Lễ Giao Thừa và các Lễ Ðầu Năm Mừng Xuân Quý Tỵ với sự chứng minh, chủ lễ và thuyết giảng của Thượng Tọa Thích Thông Triết và Ðại Ðức Thích Nhật Thiện, Chương trình như sau:


Thứ Bảy, ngày 2 tháng 9 năm 2013 (29 Tháng Chạp):


6:30 chiều: Lễ Sám Hối Cuối Năm


– Cúng linh, Tiến rước tổ tiên


– Văn nghệ giúp vui


10:30 đêm: Lễ Giao Thừa


– Mừng Xuân Quý Tỵ 2013


– đốt pháo, chúc tết, phát lộc, lì xì…


Thứ Sáu, ngày 15 tháng 2 năm 2013 (Mùng 6 Tháng Giêng):


6:30 chiều: Khai Kinh Dược Sư


7:30 tối: Thuyết pháp (T.T. Thích Thông Triết)


Thứ Bảy, ngày 16 tháng 2 năm 2013 (Mùng 7 Tháng Giêng):


9:30 sáng: Lễ Dược Sư Cầu An Ðầu Năm


– Nhương Tinh Giải Hạn (Cúng Sao)


– Thuyết Pháp


Kính mời toàn thể quý đồng hương, Phật tử đến tham dự các lễ nói trên tại Chùa Phổ Quang. Quý vị xem thư mời của Chùa Phổ Quang có đăng trong số báo kỳ này để biết thêm chi tiết.


Ðịa chỉ liên lạc Chùa Phổ Quang:


1185 West 1000 North


P.O. Box 161092


Salt Lake City, UT 84116


Ðiện thoại: (801) 328-2701


 


Chương trình Tết Mừng Xuân Quý Tỵ tại Chùa Tam Bảo Utah:


Thứ Bảy: 9 tháng 2, 2013:


– Rước Giao Thừa, Nghinh Xuân Quý Tỵ


Chủ Nhựt: 10 tháng 2, 2013: (Mùng 1 Tết năm Quý Tỵ)


Chùa mở cửa từ 8 giờ sáng đến 8 giờ tối


11:00 AM Cúng Ngọ Phật


12:00 Trưa Múa Lân


06:00 PM Khai và Tụng Kinh Pháp Hoa


Chủ Nhựt: 17 tháng , 2013 (Mùng 8 Tết)


Cầu an đầu năm


Ðịa chỉ liên lạc Chùa Tam Bảo


469 North 700 West


Salt Lake City, UT 84116


Tel. (801) 537-7354


 


Tết Cộng Ðồng 2013 Do Ban Chấp Hành CÐNVTDU tổ chức: Thứ Bảy, ngày 9 tháng 2 năm 2013


Theo thông tin từ Cộng Ðồng, năm nay Ban Chấp Hành Cộng Ðồng Người Việt Tự Do Utah sẽ tổ chức Tết mừng Xuân Quý Tỵ 2013, mở cửa từ 10 giờ sáng, Thứ Bảy, ngày 9 tháng 2 năm 2013 tại Trung Tâm Ða Văn Hóa, 1355 West 3100 South, West Valley City, Utah.


Chương trình Tết có nhiều tiết mục như đốt pháo múa lân, thi tài năng, thi vẽ thiệp Tết, thi cờ tướng, thi bóng bàn, phát bằng thưởng cho các em học sinh xuất sắc. Vào cửa tự do. Ngoài ra còn có tối đa 5 gian hàng bán ẩm thực. Mỗi gian hàng đăng ký giá $200 cho hội đoàn bất vụ lợi, giá $300 cho các nhà hàng hay tư nhân. Quý vị muốn đăng ký bán gian hàng ẩm thực, xin liên lạc Hữu Trần (801) 879-7130.


 


Chuyến xe Bus đi Wendover xem Show Nhạc “Mừng Xuân Quý Tỵ 2013”: Chủ Nhật ngày 17 tháng 2, 2013


Nhân dịp Wendover có show nhạc “Mừng Xuân Quý Tỵ 2013”, Tuần Báo Người Việt Utah tổ chức các chuyến xe buýt đi Wendover vào Chủ Nhật, ngày 17 tháng 2 năm 2013. Các chuyến xe buýt khởi hành lúc 1 giờ trưa và rời Wendover lúc 12 giờ đêm tại địa điểm bãi đậu xe của Nhà Hàng New East Sea, 3695 South Redwood Road, West Valley City, Utah.


Ðồng thời, chúng tôi có vé ca nhạc loại hạng nhì $35, sẽ bán giảm giá cho quí vị là $20. Vé xe buýt đặt trước giá $18 một người, chỗ ngồi sẽ theo thứ tự đặt chỗ trước sau. Quý vị sẽ được phục vụ thức ăn nhẹ và nước uống, chơi Bingo trên tuyến đường đi đến Wendover. Ðặc biệt mỗi quý vị sẽ nhận được một fun pack trong đó có $5 cash back, phiếu ăn Buffet tại Wendover.


Mọi chi tiết xin vui lòng liên lạc:


Hòa: (801) 231-0054


Victoria: (801) 462-5190


 


Mừng Xuân Quý Tỵ của Hội Tương Trợ Người Việt Cao Niên Utah: Chủ Nhật, ngày 17 tháng 2 năm 2013


Hội Tương Trợ Người Việt Cao Niên Utah sẽ tổ chức tiệc Mừng Xuân Quý Tỵ 2013 tại Câu Lạc Bộ FOE, 1104 West 2100 South, Salt Lake City, Utah 84119.


Chương trình bắt đầu từ 11 giờ 30 sáng đến 3 giờ chiều Chủ Nhật, ngày 17 tháng 2 năm 2013 với nhiều tiết mục vui nhộn. Vào cửa tự do.

Ðêm Văn Nghệ Ca Nhạc Dạ Vũ “Xuân An Lạc”


Tuần Báo Người Việt Utah tổ chức thành công


 


* Thanh Nguyên/Phóng viên Người Việt Utah


 


WEST VALLEY CITY (UT) – Vào lúc 7 giờ 30 tối Thứ Bảy, ngày 2 Tháng Hai vừa qua, tại nhà hàng New East Sea, Tuần Báo Người Việt Utah đã tổ chức thành công đêm Văn Nghệ Ca Nhạc Dạ Vũ “Xuân An Lạc.”









Một vài hình ảnh Ðêm Văn Nghệ Ca Nhạc Dạ Vũ “Xuân An Lạc” do Tuần Báo Người Việt Utah tổ chức vào Thứ Bảy, ngày 2 Tháng Hai vừa qua tại nhà hàng New East Sea.


Ðêm ca nhạc dạ vũ đánh dấu sự thành công rực rỡ và được sự yểm trợ nồng nhiệt của các cơ sở thương mại, mạnh thường quân, bạn bè và đồng hương Utah đối với Tuần Báo Người Việt Utah.


Nhà hàng New East Sea, với sức chứa 450 người đã không còn một chỗ trống. Quan khách tham dự gồm nhiều thành phần trong cộng đồng, các cơ sở thương mại cũng như bạn bè, thân hữu và đồng hương yểm trợ Tuần Báo Người Việt Utah, trong đó có sự tham dự của các thân hữu bạn bè ngoại quốc.



Cũng trong dịp này Chợ Asian City đã gửi tặng 4 phần quà, rút thăm trúng giải cho những khách tham dự trong đêm văn nghệ ca nhạc dạ vũ.


Theo nhận xét của đồng hương tham dự thì đây là 1 trong những đêm ca nhạc khiêu vũ thành công bậc nhất tại Salt Lake City, Utah trong những năm qua – sau show ca nhạc dạ vũ mùa hè 2011 của chùa Phổ Quang tổ chức trước đây với ca sĩ Lương Tùng Quang, Kỳ Phương Uyên và Hương Thủy.



Hơn 450 đồng hương tham dự buổi ca nhạc dạ vũ đã say sưa thưởng thức tiếng hát của các nghệ sĩ đến từ các Trung Tâm Thúy Nga, Asia, Vân Sơn và Việt Nam là ca sĩ Tóc Tiên, Ðan Nguyên, Andy Quách và Thanh Thanh Tâm. Tiếng hát của Ðan Nguyên trong những bài “Anh Là Ai”, “Việt Nam Tôi Ðâu” đã làm cảm động người nghe, thấm sâu lòng người. Những bài tân cổ với tiếng hát điêu luyện của nữ nghệ sĩ Thanh Thanh Tâm đã làm sống lại nền ca cổ Việt Nam. Và đặc biệt với tiếng hát của ca sĩ Andy Quách và Tóc Tiên, đã làm rộn ràng giới trẻ, sàn nhảy tưng bừng vui nhộn như ngày hội lớn.



Chương trình ca nhạc và khiêu vũ kéo dài đến 1 giờ sáng mới chấm dứt. Ai nấy cũng còn chưa muốn ra về, quyến luyến hẹn nhau “mai này sẽ gặp lại”.


Tuần Báo Người Việt Utah chân thành cám ơn các cơ sở thương mại, tất cả bạn bè, và quý vị đồng hương đã đến tham dự. Nếu trong đêm tổ chức có gì sơ sót xin quý vị thông cảm bỏ qua cho. Kính chúc quý vị một năm mới nhiều sức khỏe, an khang thịnh vượng.

Thơ điên Ngu Í

 



Nhà văn nhà báo Nguiễn Ngu Í (1921-1979). (Ảnh chụp 1958, nguồn Châu Hải Kỳ)




 


 


 


 


Nhiều người biết đến ông như một nhà báo, Nguiễn Ngu Í, một “cí jả kông chuiên ngiệb” (ký giả không chuyên nghiệp, theo danh thiếp của ông) như ông tự nhận với loạt bài phỏng vấn văn nghệ sĩ rất tài hoa trên tạp chí Bách Khoa; nhiều người biết đến ông như một nhà giáo dạy văn, dạy sử ở nhiều trường tư thục Sài Gòn, nhưng ông, trước hết là một nhà thơ, một người làm thơ đặc biệt hơn bất cứ một người làm thơ nào khác: thơ điên. Thơ ông là cuộc đời riêng ông. Có khi là một tiếng thét uất hận, có khi là một tiếng lòng thổn thức, có khi là nỗi hờn căm, khi khác lại là những tiếng hát dịu dàng âu yếm thiết tha tùy lúc bài thơ được viết giữa các cơn điên hay trong cơn điên, giữa những ngày tháng nằm vùi trong Bệnh viện tâm thần Chợ Quán hay Dưỡng trí viện Biên Hòa.


Cũng viết về trăng, nhưng là Trăng của ông, năm 19 tuổi, một đêm trong nhà thương điên Chợ Quán:


Ta sẽ đánh đầu ta


 Vào mặt Trăng bơ sữa


Thì Trăng ơi, em sẽ ngã ngữa tan tành.


Rồi ta nuốt


Mảnh của Trăng vào ruột


Rồi tống ra


Khỏi cơ thể ta mà…




(Van Trăng, 1940)




Ông viết về cái màu trắng, màu của Bệnh viện vẫn luôn ám ảnh ông:


Nhưng mà lạ quá, ôi là lạ


Ngó phía nào đây Trắng cũng theo


Trắng phủ vây tôi, tôi sợ quá


Làm sao trốn Trắng, hỡi người ôi!


(Trắng, 1940)




Hết Chợ Quán tới Biên Hòa, hết vào rồi lại ra, giữa các đợt lên cơn như vậy, ông sống như một người mộng du, đi trên mặt đất mà như đi trên tường cao, trên mái ngói, nghiêng nghiêng, lảo đảo, lênh khênh, lãng đãng… Ông thân thiết với với tất cả các bác sĩ, nhân viên của Bệnh viện tâm thần, của Dưỡng trí viện:




Cũng tưởng một đi không trở lại


Nào ngờ duyên nợ lại dằng dai


Bỗng nhiên sực tỉnh nằm trong “khám”


Khám của lòng ai, ai của ai…


(Bài thơ tái ngộ Dưỡng trí viện, 1966)




Vâng, ông là một người điên, một người điên thứ thiệt, không phải là người giả điên của buổi nhiễu nhương thường thấy, nên ngay trong thời gian nằm ở Dưỡng trí viện Biên Hòa, ông đã cùng những người đồng bệnh ra một tập thơ có tên là “Thơ điên thứ thiệt” (1970), trong đó có Bùi Giáng cùng nhiều “bạn điên” khác của ông. Một tập thơ rất độc đáo, lạ lùng.


Trong một bài thơ ông viết:


Ta đi lang thang


Ta nói tàng tàng


Ta cười nghinh ngang


Ta chửi đàng hoàng


 





(Bài thơ tự giết, 1966)




”Chửi đàng hoàng” quả không phải là chuyện dễ, nhưng với ông thì ông làm được. Nhưng chửi ai? ”Chửi cả và thiên hạ, trong đó có mình”, đó là cái tựa của một bài thơ khác của ông.


Nhưng tại sao điên? Dĩ nhiên là có một số tế bào thần kinh nào đó bị rối loạn, bị xáo trộn, nhưng điều đó không quan trọng, điều quan trọng là cái lòng ông, cái chí ông, cái tình ông đối với cõi đời, với con người, với quê hương và đất nước, với gia đình, bè bạn, anh em… Cái tình đó vĩ đại quá, bao la quá, nên không nhốt được trong những sợi dây thần kinh chật hẹp bình thường của một kiếp người.


Chẳng hạn, có lúc tỉnh táo, ông viết:


Kiếp sau xin cứ làm người


Còn bao nhiêu việc trên đời, còn bao…




(Kiếp sau, 1947)


Ông làm câu đối cho cha mình, ông Giáo Hoàn, người đã tham gia phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục:


Mắt mở, đã thấy xiềng nô lệ


Hồn đi, còn mơ gió tự do




(Thầy, 1953)




Rồi khi ông dạy sử, ông viết:




Ba trăm quyển sử to dày


 Cũng không sánh được một ngày tự do




(Học và hành, 1955)




Ông viết cho mẹ, có lẽ đây là bài thơ viết về mẹ cảm động nhất ở một người con điên:




Má ơi, con má điên rồi


Má còn trông đứng đợi ngồi mà chi




(Má, 1950)




Năm 1960, trong chuyến về quê cải táng mộ cho song thân, đến Nước Nhỉ, khi nằm nghỉ dưới những tán cây dứa đầy gai nhọn, bên cạnh đống gạch đổ vụn, ông viết một bài thơ nhớ về những người bạn thuở thiếu thời của mình ở quê hương ”Núi Cú Hòn Bà”:




Nằm đây mà ngó lên trời


Lá cây dứa đã mấy đời đong đưa


Nằm đây mà nhớ mơ hồ


Những xanh tóc ấy bây giờ về đâu?




Đó là lúc ông đã vào tuổi bốn mươi. Rồi khi đến Ngãnh Tam Tân, nơi quê ngoại của ông, nơi ông đặt sẵn ngôi mộ cho chính mình, ông cảm khái nhìn ra biển xanh, núi biếc, với những hàng dương vi vút gió:




Em có đến… mà không anh đón tiếp


Cát mịn này sẽ mơn trớn gót chân em


Em có đến mà anh không đứng đợi


Biển khơi này sẽ thỏ thẻ chuyện đời anh




Phải rồi, cái quê hương nhỏ bé đó của ông, quê hương Núi Cú Hòn Bà (nay là Lagi- Hàm Tân), nơi mà từ thuở đôi mươi ông đã mang những lý tưởng độc lập tự do về gieo mầm ánh sáng, ông đã không bao giờ quên, mà những người thân yêu ở nơi chốn heo hút đó cũng đã không bao giờ quên ông.


Có một bài thơ khác của ông mà nhiều người cùng quê không mấy ai không nhớ:


Nhè nhẹ sương bông ôm núi lịm


Êm đềm cây cỏ đắm trong mơ


Tiếng chuông đâu bỗng run lòng đá


Ngó xuống trần ai, thấy: mịt mờ


(Từ chùa Núi Cú nhìn xuống Hòn Bà, 1964)


Thơ của ông có thể người ta thích, có thể người ta không thích, nhưng đọc thơ ông bao giờ cũng có một cảm giác rờn rợn. Ông làm thơ rất nhanh, thơ như tự túa ra, ứa ra, nhiều bài sần sùi đọc cứ nghe ấm ách nhưng có những bài mượt như nhung. Đọc thơ ông mà hiểu ông thì thấy thương, thương một con người có chí, có lòng mà không sao đạt được những ước nguyện. Rồi thôi, rồi thành tro bụi như hai câu thơ viết sẵn cho đời mình:


Bao nhiêu chí trẻ rồi tro bụi


Một thoáng tình xa cũng ngậm ngùi


Ông và tôi có tình ruột rà, mẹ tôi và ông là hai chị em con cô cậu ruột. Có lần ông nói hồi tôi mới sinh, ông đã đưa võng và đọc thơ cho tôi nghe! Có lẽ vì vậy mà khi lớn lên, được sống gần gũi ông, tôi luôn được ông sẻ chia những bài thơ, bài văn ông mới viết cùng biết bao chuyện tâm tình không thể ngỏ cùng ai. Nhiều bài thơ ông chép vội trên mảnh giấy gói đồ, phong bì, bao thuốc lá… Nhiều đêm ông lên cơn, đến đập cửa nhà tôi lúc hai ba giờ sáng, đọc thơ cho tôi nghe rồi chửi “cả và thiên hạ”. Sau đó ông tắm táp, ăn uống chút gì đó rồi khệ nệ ôm một chồng sách ra đi. Trời can cũng không nổi! Hỏi đi đâu, ông nói không biết. Rồi có hôm nghe ông nằm giữa xa lộ Biên Hòa cho xe Mỹ cán, họ bắt ông chở thẳng vào Dưỡng trí viện, hôm khác lại nghe ông bắt đom đóm bọc trong khăn tay làm đèn đi giữa giờ giới nghiêm trong rừng cao su, cũng lại bị bắt đưa vào bệnh viện. Có lần tôi đến thăm ông trong Dưỡng trí viện, thấy ông ngủ say như chết, đưa mấy ngón chân giao chỉ to bè ra ngoáy xoắn vào nhau như tìm hơi ấm, tôi vẽ ngay một bữa ký họa, ông thích lắm nhưng đã làm mất tiêu. Có lần tôi đưa ông vào bệnh viện Chợ Quán, người ta sốc điện cho ông, ông giựt đùng đùng như con cá nằm trên thớt. Sau đó ông bất tỉnh, xụi lơ, tay chân quặt quẹo sùi bọt mép… Rồi khi tỉnh dậy, ông lại làm những bài thơ quái dị, nhiều bài rất hay.


Đọc thơ ông mà thương cho một kiếp người tài hoa, bất đắc chí.




Đỗ Hồng Ngọc



Ra Bắc bốc mộ ba tôi


Hồi ký


Tâm Ðoan


 


Ðó là một buổi sớm tinh sương vào giữa Tháng Tám năm 1980, đèn đường vẫn còn hiu hắt sáng. Mẹ tôi gầy guộc, tiễn hai chị em tôi ra tận đầu ngỏ dưới cây vàng bạc, bà quyến luyến nhìn theo bóng hai đứa bước nhanh trên đường vắng…


Chúng tôi phải ra ga xe lửa để lên chuyến tàu Thống Nhất đi Hà Nội. Lúc đó tôi đang dạy cấp ba (tức đệ nhị cấp thời Việt Nam Cộng Hòa) ở trường trung học Hùng Vương gần nhà. Tôi xin nghỉ dạy một thời gian để ra Bắc, viện cớ thăm mộ cha. Còn em gái tôi đã tốt nghiệp Ðại Học Khoa Học Sài Gòn, bỏ việc làm tại một miền quê hẻo lánh gần biên giới Cam Bốt, về lại nhà, không hộ khẩu, chỉ dạy kèm sống qua ngày.


Tôi bắt đầu đi dạy năm 1972, nhiệm sở đầu tiên là trường Trung học Phan Thanh Giản, Cần Thơ với ông hiệu trưởng Minh rồi ông Trí khi tôi rời trường. Ở đó tôi đã có những ngày vui, những kỷ niệm đáng nhớ với đám học trò dễ thương và các anh chị bạn đồng nghiệp trẻ cũng như những bậc thầy đã dạy lâu năm tại đây. Tuy nhiên thời gian ngắn ngủi, sau hơn một niên khóa tôi chuyền về Sài gòn, dạy trường Trung Thu. Lúc nầy tình hình chiến sự đã rất căng thẳng và sau 30 Tháng Tư năm 1975, trường Trung Thu bị giải thể. Tôi sang Chí Thiện, rồi chuyển qua Hồng Bàng và cuối cùng là Hùng Vương khi hai trường trước giải thể cấp ba. Thời đó, có kỷ niệm nào vui đâu khi chiến tranh khốc liệt và bao gia đình tan nát vì đất nước đổi thay.


Gia đình biết được tin ba tôi mất trong khi học tập ở trại Hà Nam Ninh nhờ một gói quà me tôi gởi cho ông bị trả lại vì không người nhận. Em gái tôi lấy xe đạp chở bà lên bưu điện hỏi, họ chìa ra một mảnh giấy ghi lý do đơn giản “chết.” Thuở đó nhà nước Cộng sản chưa cho thăm nuôi nên mọi liên lạc, bới xách chỉ qua đường bưu điện và có giới hạn. Sau nhiều nỗ lực tìm hỏi mới được biết chính thức là ông đã mất vào tháng 10 năm 1978 trong cơn bạo bệnh, được xe cấp cứu chở về nhà thương Phủ Lý và chôn ở một nơi gần đó, không phải trong trại Hà Nam Ninh.


Cháu ruột ba tôi, chị Thiên Hương (tên ở nhà là Mận) trong khi đi thăm nuôi chồng học tập tại Vĩnh Phú đã ghé ngang qua Phủ Lý để thăm mộ và cung cấp tin tức giúp chúng tôi trong chuyến ra Bắc. Tội nghiệp chị, sau đó chồng chị Ðặng Bình Minh, trung tá phi công, đã thiệt mạng khi đi lao động trong rừng. Bi đát thay, anh tử nạn ngay sau ngày chị thăm anh tại trại và lúc đó chị đang ở Hà Nội mua vé tàu về lại Sài Gòn mà không hay biết gì về cái chết của anh.


 


Chuyến tàu Thống Nhất


 


Toa tàu chúng tôi ngồi toàn là cán bộ, viên chức gốc miền Bắc trở về thăm gia đình hay công tác. Chúng tôi ngồi đối diện với một anh bộ đội trẻ và một cán bộ có vẻ là nhà văn hay thuộc ngành nghệ thuật gì đó. Họ nói năng đàng hoàng, không tệ hại, quê mùa như mấy anh cán bộ hay bộ đội mà tôi gặp nhan nhản trong phường khóm sau ngày “giải phóng.”


Ngày dài trên tàu, họ tâm sự với nhau. Qua câu chuyện tôi biết được anh cán bộ có vợ đã qua đời có lẽ trong thời kỳ chiến tranh. Cô là con của một gia đình miền Nam tập kết ra Bắc. Anh quý nhà vợ hiền lành, cha vợ thích nhậu đế với anh, còn anh thì lãng bạt. Con cái nhờ nhà vợ lo. Thỉnh thoảng anh cũng gởi quà cho con. Thời chiến tranh, hình như hai vợ chồng luôn chia cách. Anh công tác xa nhà, có lần mới về, đêm đã khuya, anh lên thăm vợ đang trực ở một nơi xa xôi hẻo lánh. Nằm chung trên chiếc ghế bố nhỏ, tay nắm tay thương mến vô vàn, nhưng đồng thời anh cũng nhận ra rằng người bạn đời của mình ngày càng tiều tụy, cô bệnh, mệt mỏi và ho nhiều.


Suốt mấy ngày trên chuyến tàu xuyên Việt, trong khi mọi người chung quanh ai cũng háo hức nói đến những gói quà miền Nam đem về Bắc cho người thân, tôi đã thấy anh với những lúc suy tư trong đêm tối, anh nhìn ra cửa tàu, buồn xa vắng, thỉnh thoảng thì thầm “Tôi đã giết vợ tôi.” Tôi nhìn anh ái ngại và cảm nhận được một ẩn khuất, hối hận trong lòng anh. Cuộc chiến phi lý tương tàn do nhà nước Cộng Sản chỉ đạo đã xô đẩy nhân dân miền Bắc vào hoàn cảnh khốn khó, vợ chồng con cái phân ly, chết chóc.


Anh luôn xa nhà, vóc người không cao nhưng trông nho nhã, trí thức, nói chuyện thì lúc nào cũng thơ văn lai láng, chắc nhiều cô phải lòng và khó tránh được vài mối tình lẻ trên đường công tác. Vợ ở nhà một mình đảm đương gánh nặng gia đình, con cái, rồi cơ quan thi đua sản xuất, làm sao không kiệt lực? Nói đúng ra, Ðảng Cộng Sản miền Bắc có tội rất lớn với phụ nữ của cả hai miền. Trong khi miền Bắc nỗ lực xâm chiếm miền Nam dưới chiêu bài “giải phóng” thì ở miền Nam, chúng tôi phải ra sức bảo vệ, chống đỡ đất nước tự do. Người đàn bà miền Nam cũng cùng chung số phận như phụ nữ miền Bắc và đau đớn hơn nữa là, sau ngày “được giải phóng”, biết bao người chồng, cha đã bị lừa bịp, từ giã gia đình đi học tật cải tạo để rồi không hẹn ngày về.


Thỉnh thoảng cũng có một chị cán bộ nằm ở toa có giường xuống nói chuyện với các anh bạn, chị lúc nào cũng tươi cười anh anh em em ngọt xớt. Chị khéo lắm, vừa đi công tác vừa đi buôn, mua hàng trạm này, bỏ mối trạm kia.


Chuyến tàu đã đưa chúng tôi đi ngang qua nhiều phần của đất nước từ Nam ra Bắc, được thấy những cảnh đẹp thiên nhiên nhất là vùng biển, và sinh hoạt ở những ga khi tàu dừng lại để hành khách mua thức ăn, hoặc nước đề tắm rửa qua loa. Buổi tối chúng tôi trải khăn xuống dưới sàn để ngủ.


Sau chuyến tàu suốt ba ngày ba đêm, chúng tôi tới Hà Nội. Khi tàu chạy qua khoảng gần bệnh viện Bạch Mai, anh lính trẻ reo mừng, “Này anh xem, nhà tôi ở đằng đó kìa, tôi chỉ muốn nhảy xuống để chạy về nhà tắm một cái cho mát.” Quả thật là một ao ước được giải phóng khỏi con tàu tù túng.


Khi xuống ga, chúng tôi gọi xích lô chở tới nhà chú me tôi. Ông theo kháng chiến chống Pháp rồi tập kết ra Bắc, vốn là một bác sĩ nhưng đã về hưu. Gia đình ông sống trong một căn phòng của biệt thự thời Pháp. Thành ra, có đến mấy gia đình cùng sống với nhau, dùng chung cầu tiêu thùng. Sau này tôi mới hay, nhờ “giải phóng miền Nam”, miền Bắc mới biết đến loại cầu tiêu giật nước, nên mới có cuộc “cách mạng cầu tiêu”, nhà nhà đua nhau làm cầu tiêu kiểu trong Sài Gòn. Ông cụ và hai cô con gái rất tử tế. Chúng tôi được ăn bữa cơm nhà thanh khie16t có canh rau ngon. Sáng hôm sau, chúng tôi rời Hà Nội mua vé đi Phủ Lý.


 


Chuyến tàu “nghẹt thở”


 


Mua vé rồi nhưng chúng tôi phải chờ ngoài cổng nhà ga thật lâu. Gần đến giờ tàu chạy, họ mới mở cửa. Số người chờ đợi đông như kiến bắt đầu chen lấn để vào cổng, lên tàu. Tôi hãi hùng khi đống người đè lên nhau mà chạy, chị em tôi không muốn nhưng cũng bị kéo xệch theo dòng người vô ý thức, tôi ngộp thở tưởng như sắp chết. Tất cả y hệt như cảnh tượng chuyến tàu trong phim “Doctor Zhivago”. Cuối cùng rồi cũng leo lên được toa tàu, người chen chúc ép nhau đứng chật cứng. Tàu xục xịch chuyển bánh mang theo một đám người đông như ruồi bu, cả trên cửa sổ, trần tàu. Chẳng biết họ có mua vé hết không? Hay nhân viên nhà nước cố tình bán nhiều vé?


Tới trạm Phủ Lý, tàu dừng lại, chúng tôi được “giải phóng”. Sau đó thuê xích lô tìm đến vùng nghĩa địa, nơi đó có một phần đất nhỏ dành chôn cất những người cải tạo chết ngoải vòng trại học tập, thường là từ bệnh viện. Chúng tôi may mắn nhận ra mộ cha nằm ở ven bìa, cạnh một lạch nước nhỏ. Tấm mộ bia có ghi khắc tên tuổi rõ ràng. Vùng mộ này coi như bỏ hoang, cỏ dại mọc nơi nơi. Nhiều mộ đất đã bị xoi mòn theo mưa nắng, bia mộ ngả nghiêng. Tôi nghĩ rồi một ngày nào đó, sẽ không ai nhận ra mộ nữa.


Ngay bên vệ đường, là một quán bán nước chè lụp xụp. Chúng tôi dừng lại đây uống nước, nhân tiện hỏi thăm và làm quen. Ông chủ quán chỉ cho chúng tôi đường đi nước bước trong vùng. Ðồng thời giới thiệu môt bà cụ mà ông gọi là người coi sóc các phần mộ ở đây. Ông đề nghị chúng tôi nên đưa tiền nhờ bà này mua lễ vật sẵn sàng để cúng ba tôi ngày mai. Thật tình tôi không tin lắm nhưng vì lạ nơi chốn và cũng muốn tạo thân thiện với những người trong vùng nên tôi đồng ý.


Thế rồi chúng tôi tìm đến nhà trọ. Ðó chỉ là một căn nhà sâu nhỏ, đơn giản. Bên trong không có gì ngoài hai dãy giường cỡ một người nằm xếp theo hai bên tường. Không có phòng riêng tư gì hết. Cầu tiêu, chỗ tắm rửa chung rất thô sơ và chỉ có ở đàng sau nhà. Có lẽ chị em tôi là hai người khách trọ hiếm hoi ở lâu nhất đến bốn năm ngày. Cán bộ đi công tác hay các chị đi thăm nuôi chồng chỉ lưu lại một hai đêm là cùng.


Ở đây tôi có gặp một chị đi thăm chồng dừng lại trong chốc lát. Chị có nhờ tôi tìm giùm mộ chồng của một chị bạn. Rất tiếc là không tìm thấy. Tôi định bụng sẽ kiểm lại để tránh sơ sót nhưng sau đó lại quên bẵng đi.


Ðêm đầu tiên, chỉ thấy một ông cán bộ dừng chân ngủ lại rồi lặng lẽ ra đi lúc trời hừng sáng. Chị em tôi mỗi người một giường nhỏ sát nhau. Mệt mỏi. Buồn da diết… Ngày mai là ngày bắt đầu cho việc tìm cách bốc mộ và hỏa táng ba tôi. Trong đêm vắng lặng, tiếng còi tàu từ xa vọng về nghe sao buồn quá. Có lẽ tôi thiếp đi lúc nào không biết và tôi đã thấy ba tôi hiện về lung linh qua chiếc mùng cũ kỹ.


 


Chuẩn bị bốc mộ ba tôi


 


Sáng hôm sau, chị em tôi trở lại nghĩa địa, chẳng thấy lễ vật cúng kiếng đâu cả. Hỏi ông quán nước, ông không biết. Hỏi bà cụ lo nghĩa địa đâu rồi, ông dẫn chúng tôi đi tìm.Tôi biết mình đã bị lừa nhưng cũng muốn gặp bà hỏi cho ra lẽ. Ông bảo tôi: “Thôi cô ơi, bà này có ba người con đi bộ đội chết hết rồi, tha cho bà đi”. Tôi không biết ông nói thật hay không nhưng khi thấy bà đứng trơ trơ trước một ngôi nhà gạch đổ nát, có một bờ tường với mái che tạm làm trần mà ông bảo là chỗ ở của bà. Tôi sững sờ, không còn gì để nói nữa. Thế rồi chị em tôi lặng lẽ ra chợ tìm mua bánh trái và hương khói trước mộ ba tôi.


Bây giờ vấn đề quan trọng là phải tìm ra người để giúp vào việc bốc mộ và hỏa táng. Trước khi chúng tôi ra Bắc, chị Mận có giới thiệu một ông phu xích lô mà chị đã gặp ở Phủ Lý. Tôi đã liên lạc thư từ với ông, tuy nhiên cách dùng củi đốt mà ông đã đề cập với chị Mận, tôi thấy không được ổn, rườm rà, lỡ cán bộ đia phương biết được là hư chuyện, nếu không thì cũng phải tốn nhiều tiền hối lộ. Ông hẹn sẽ đón tôi tại ga xe lửa nhưng tôi không thấy, nên coi như việc đó không thành.


Nhìn quanh lại thì chỉ có ông quán nước là quen thôi. Tôi la cà nói chuyện với ông về dự định bốc mộ và hỏa táng ba tôi để nhờ ông giúp tìm người. Tôi không ngờ bàn đằng trước có một anh chàng đang uống nước chè nghe lóm được, bèn kéo ghế mời tôi ngồi nói chuyện. Cũng có thể ông quán nước đã môi giới nói trước với anh này rồi. Tôi lắng nghe kế hoạch làm việc của anh và rất hài lòng. Tôi bằng lòng trả tiền công như ý anh muốn và sẽ chuẩn bị những gì anh cần cho ngày bốc mộ vả hỏa táng như đã định.


Ngày hôm sau, hai chị em tôi lo đi mua sắm bánh trái, nhang đèn và mấy vật dụng anh ta dặn như bấc đèn, một cái tiểu nhỏ vừa cho một đứa con nít nằm bằng đất sét nung. Còn 20 lít xăng thì mua từ mấy tài xế lái xe hàng, anh sẽ lo giùm. Trong lúc em tôi thu xếp đồ đạt ở nhà trọ, tôi đi mua cái tiểu một mình. Tôi đi bộ dọc theo con đường đến chỗ bán, bỗng nhiên một anh cán bộ đi xe đạp cọc cạch rờ tới. Anh hỏi tôi đi đâu. Khi biết đường còn xa, anh muốn chở giúp. Tôi cám ơn lòng tốt nhưng viện cớ này nọ đề từ chối. Có một câu làm tôi cảm kích, anh nói, “Khi tôi vào Nam công tác, đồng bào đã đối xử với tôi rất tốt. Không bao giờ tôi quên được”.


 


Dĩa thịt vịt đáng nhớ


 


Trong chuyến đi này, chúng tôi có mang theo vài thứ như bánh kẹo để cúng ba tôi, chút ít đồ ăn khô để phòng hờ. Trong mấy ngày lưu lại Phủ Lý, chúng tôi cũng đi ăn ngoài. Bữa đầu tiên, chúng tôi vào chợ. Gọi là chợ chứ thật ra nó còn thua xa loại chợ “chồm hổm” ở miền Nam. Rất thô sơ, chẳng có gì nhiều. Chúng tôi ngồi bệt xuống cạnh gánh bán bánh ướt của một bà cụ già, nhắm mắt ăn cho khỏi đói thôi. Những lần sau thì vào các quán ăn nhà nước cho có vệ sinh hơn. Ðồ ăn thì làm sao ngon được vì thiếu thốn đủ thứ.


Tôi còn nhớ buổi ăn cuối cùng ở Phủ Lý, nghĩ mình cũng còn tiền nên gọi thêm một dĩa thịt vịt nhỏ thấy trong thực đơn. Khi đem ra, gắp miếng nào cũng toàn xương không, tôi hậm hực lắm vì chả ăn được một miếng nào nhưng không dám phàn nàn vì sợ mang họa vào thân. Trả tiền đi ra mà trong lòng ấm ức không vui cứ như mình bị người ta gạt mà không nói được. Chẳng biết “tụi nó” chơi khăm, gian dối vì thấy mình là người lạ từ xa tới hay là con vịt của xã hội chủ nghĩa cũng đói như người?


 


Ngày khởi hành bốc mộ


 


Ðến ngày đã định, theo lời anh bốc mộ yêu cầu, công việc cần bắt đầu sớm. Chúng tôi khởi hành từ nhà trọ đi tới nghĩa địa khi trời còn tối, đèn đường chưa tắt. Hai chị em đi như bị ma đuổi, phần vì muốn tới sớm, phần vì sợ. Ðường lộ vắng teo, hai bên toàn cây cối, rồi ruộng đất, đầm lầy triền miền, đi hoài mà thấy chưa tới, chỉ có tiếng oan oan vang lên từ loa phóng thanh nhà nước ra rả tuyên truyền đuổi theo chúng tôi trên một phần đường. Cuối cùng rồi cũng đến nơi, gặp anh bốc mộ. Thay vì bắt đầu công việc, anh mời hai chị em tôi tới nhà anh để bàn chuyện.


Anh dẫn tụi tôi đi sâu ngoằn nghoèo vào trong xóm cây cối um tùm. Vừa đi vừa sợ trong lòng, không biết chuyện gì sẽ xảy ra đây. Hai chị em tim đập tơi bời. Tiền bạc chúng tôi mang theo hết trong người. Chỉ còn mong Phật Trời phù hộ tai qua nạn khỏi. Thế rồi tới nhà, anh mời vào và bắt đầu câu chuyện. Anh muốn chúng tôi trả thêm tiền công và neo giá. Tôi tính nhẩm trong đầu, tiền bạc mình đem theo có đủ, thôi thì ừ đại cho rồi. Tản tài hơn tản mạng! Tôi thầm nghĩ và thở phào nhẹ nhõm.


Căn nhà của anh nhỏ, chẳng thấy đồ đạt gì nhiều. Chúng tôi ngồi trên nền xi măng nói chuyện. Qua đó chúng tôi được biết anh có vai vế trong xã này, nên mọi việc sẽ êm thấm. Nhìn nhà anh rồi so sánh với mái tranh lụp xụp của cặp vợ chồng cán bộ đằng sau nhà trọ chị em tôi ở, thì anh thuộc loại khá rồi, có lẽ nhờ làm thêm nghề tay trái.


 


Bốc mộ và hỏa táng


 


Anh bốc mộ là người cẩn trọng, anh gọi tên ba tôi và khấn lời xin phép với vong hồn rồi mới bắt tay vào việc cùng với người phụ tá. Vì mộ được lấp bằng đất nên việc đào xới cũng khá dễ dàng. Khi nắp hòm được cạy ra, chúng tôi thấy bên trong đầy nước đen ngòm. Theo tục lệ, họ cắm nhang quanh mộ, tưới rượu vào trong để tẩy mùi hôi. Nhưng đặc biệt mộ ba tôi không có mùi gì hết. Trên mặt nước lềnh bềnh miếng vài nhỏ và bọc ni lông.



Họ thọc tay xuống vũng nước lấy xương lên, những khúc xương đen bóng như tẩm dầu hắc. Sọ còn dính hai ba cái răng màu vàng chứ không bị đen, còn những răng khác đã rớt ra khỏi hàm.


Nhìn sọ rồi nhớ đến nét mặt ba tôi ngày trước, một trời khác biệt. Ðôi mắt sáng, nay là hai lỗ sâu hõm. Sống mũi cao, mất hết phần sụn, là một lỗ tan hoang. Ôi, làm sao hình dung lại người xưa? Giờ đây chỉ còn là đống xương lạnh lẽo. Tất cả được rửa sơ trước khi xếp vào cái tiểu bằng đất nung. Xong họ khiêng cái tiểu đầy xương ra đằng sau cánh đồng vắng, đào một lỗ dưới đất để đặt tiểu vừa vặn trong đó và bắt đầu hỏa thiêu sau khi chị em chúng tôi khấn niệm. Bấc đèn bỏ vào, xăng tưới lên từ từ, rồi châm lửa.


Chiều hôm đó, trời lất phất mưa, hai chị em ngồi chờ… Tôi nghĩ lại cuộc đời ba tôi, ngắn ngủi nhưng sôi nổi, vui chơi, lãng tử; mà lận đận, đổi thay cũng nhiều. Từ một thanh niên đầy phong độ ở lứa tuổi ba mươi, ba tôi bị Việt Cộng bắn trọng thương trong một cuộc phục kích tại Tây Ninh, ông đã thành một phế nhân già bạc đầu, ốm yếu, đường tiểu tiện không còn bình thường như xưa nữa. Tuy nhiên ba tôi luôn giữ được tinh thần lạc quan, nhờ vậy mà ông vẫn tiếp tục đi làm, nuôi chúng tôi khôn lớn. Ông có cơ hội di tản khỏi Việt Nam nhưng ông từ chối, để rồi phải đi học tập cải tạo. Và ông, cũng như bao nhiêu người khác còn ở lại, đã quá lầm khi tin theo lời của chính quyền mới Cộng Sàn rằng đi học tập10 ngày rồi trở về với gia đình. Lúc đó ông mới 47 tuổi.


Khoảng bốn, năm giờ sau, xương ba tôi đã thành tro. Cát bụi trở về với cát bụi. Chúng tôi rải tro ba tôi lên mấy bè thân chuối để cho mau nguội. Cuối cùng mới đổ tất cả vào một bịch ni lông để tiện đem đi không ai để ý. Sau khi thanh toán tiền bạc, chúng tôi vội vàng quay lại chỗ trọ, thu xếp đồ đạt và quyết định trở về Hà Nội ngay chiều hôm đó. Từ Phủ Lý về Hà Nội khoảng 57km. Chuyến xe đò cũ kỹ cuối cùng đã quá tải, tòn teng thêm mấy người nghiêng ngả ở cửa xe. Chúng tôi đành đón xe vận tải chở vôi xin quá giang và trả tiền cho bác tài.


 


Trở về Hà Nội


 


Khi tới Hà Nội thì trời đã tối. Chúng tôi không trở lại nhà chú me tôi vì mang tro người chết vào nhà không tốt cho họ. Chúng tôi tìm đến khách sạn, có tên là Dương Thành hay Ðường Thành, tôi không nhớ rõ, ở trung tâm thành phố, nơi đó tôi đã gặp nhiều chị đi thăm nuôi chồng đang học tập cải tạo ở những vùng rừng núi xa xăm. Ðây là trạm dừng chân trước khi đi thăm chồng hoặc về lại miền Nam.


Tại khách sạn này, mọi người ngủ tập thể trong cùng một phòng như ở Phủ Lý nhưng lịch sự và tiện nghi hơn nhiều. Ai hỏi, tôi đều nói là đi thăm mộ cha, do đó tuyệt nhiên không người nào hay biết về vụ bốc mộ. Tôi nghĩ sẽ có người hoảng sợ nếu biết cốt người chết quanh đây và chưa chắc chị em tôi được nhận vào. Dù sống trong chế độ vô thần vô sản đã lâu nhưng coi bộ người miền Bắc cũng mê tín dị đoan dữ lắm.Ðó là tối ngày 26 tháng 8 năm 1980. Chúng tôi mua được vé trở về Sài Gòn hai ngày sau đó và đánh điện tín cho me tôi biết.


Hà nội năm 1980 trông còn nghèo xơ xác. Chỉ có khu vực quanh lăng ông Hồ và bưu điện chính với kiến trúc đã xây dựng từ thời Pháp và các hồ là trông đẹp thôi. Ðường phố vắng vẻ, toàn xe đạp. Chợ Ðồng Xuân buôn bán thưa thớt. Tuy nhiên quanh chợ, tôi cũng thấy có chị đứng lóng nhóng chào hỏi để bắt mối mua đồ như quần jean “mỏ đỏ” gì đó.


Tôi được biết qua báo chí và hình ảnh trên mạng, Hà Nội bây giờ đã hoàn toàn khác hẳn, với những khách sạn bốn năm sao, những biệt thự lộng lẫy, những cửa hàng thời trang sang trọng. Xe hơi, xe máy tân kỳ hiện đại của thế giới đều có mặt tại nơi đây, đôi khi trước cả Sài Gòn, để phục vụ cho giới “nhà giàu mới” ở Hà Nội, ăn chơi và xài sang nhất nước.


 


Ba tôi về lại quê nhà miền Nam


 


Tính đến ngày bốc mộ, ba tôi chết chưa tới hai năm mà xương cốt đã rã hết như thế, theo anh bốc mộ, có thể vì những lý do sau đây:


-Mộ ba tôi ở gần lạch nước, nước làm xác mau tan.


-Khi chết ba tôi quá ốm, chỉ còn xương bọc da.


-Có người nói rằng, ngoài Bắc, những người chết ở bệnh viện có thể bị mổ để lấy hết các bộ phận cho sinh viên học.


Có lẽ ba lý do trên làm xác ba tôi mau rửa, sạch sẽ và tinh khiết, không hôi hám. Còn màu đen tuyền của xương, tôi nghĩ có thể vì ngâm trong nước quá lâu nên bị thâm.


Ba tôi đã qua đời vào tháng 10, ở miền Bắc lúc đó trời đã vào Ðông. Tội nghiệp ba tôi, ra đi trong đói lạnh, bệnh tật, đau đớn, cô đơn. Tâm thức ông lúc lìa đời chắc vẫn còn nhiều vương vấn, khắc khoải về gia đình, vận nước, làm sao có đủ an lạc để nương theo ánh sáng của Phật. Ngày 1 tháng 9 chúng tôi về tới Sài Gòn. Bình đựng cốt me tôi đã lo sẵn sàng chứa tro ba tôi và đem ngay vào chùa để được hương khói, kinh kệ giúp vong linh ông sớm siêu thoát.


Giờ đây hẳn ba tôi đã tái sinh trong một kiếp sống khác, tôi hy vọng với nhân duyên thuận lợi, ông được sống trong một cảnh đời vui vẻ, an lạc, bởi vì với kiếp người vừa qua, ông đã làm nhiều điều tốt và cũng đã trả bớt nghiệp đời cho tiền kiếp. Bài viết này xin dược coi như một nén hương thắp lên để nhớ đến ba tôi và những người tù đồng cảnh ngộ, chết trong trại học tập cải tạo sau ngày mất nước 30 tháng 4 năm 1975 và xin ghi nhớ câu nói của cựu Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu:


“Ðừng nghe những gì Cộng Sản nói,


mà hãy nhìn những gì Cộng Sản làm.”


(Minnesota, 12 tháng 12, 2012)

Năm Tỵ tản mạn về con rắn

 


Lý Loan


 


Mỗi năm hoa đào nở


Lại thấy ông đồ già


Bày mực tàu giấy giỏ


Bên phố đông người qua…


(Vũ đình Liên)


 


Ðó là một trong những hình ảnh báo hiệu ngày Tết trên đất nước ta.


Giờ đây nơi xứ lạ quê người không có hoa mai, hoa đào nở, chỉ thấy hoa tuyết đầy trời và gió lạnh buốt thấu xương, nhưng tôi cảm thấy rạo rực trong lòng khi mọi người chung quanh sửa soạn đón Tết.


Năm hết Tết đến mỗi người được thêm một tuổi.


Người Tây phương dùng các con số để tính năm, mỗi năm mới chỉ cần dùng con số lớn hơn năm cũ một lần là xong, thí dụ năm cũ là năm 2012, năm mới lớn hơn 1 lần sẽ là năm 2013… Theo Âm lịch hay lịch Tàu thì cách tính năm có vẻ phức tạp hơn nhiều. nhà làm lịch dùng thập nhị chi [12 chi] và thập can [10 can] để tính năm bằng cách ghép một can vào một chi để thành năm. thí dụ năm Nhâm Thìn [2012] can là nhâm, chi là Thìn, năm Quý Tỵ [2013] can là quý và chi là Tỵ… Có 10 can sẽ ghép với 12 chi. Mười Can là Giáp, Ất, Bính, Ðinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý. Thập nhị chi mang tên 12 con vật hay 12 con giáp: Tý [chuột], Sửu [trâu], Dần [cọp], Mão [mèo], Thìn [rồng], Tỵ [rắn], Ngọ [ngựa], Mùi [dê], Thân [khỉ], Dậu [gà], Tuất [chó], Hợi [heo].


Mười can ghép với 10 chi còn dư 2 chi, nên 2 can đầu trong 10 can đó sẽ trở lại ghép với 2 chi còn dư kia, và khi hết 12 chi người ta gọi là một giáp. Trường hợp có sự lập lại, cả can và chi chỉ xảy ra 60 năm một lần, nhà tướng số gọi là “lục thập hoa giáp.” Năm nay là năm Quý Tỵ [2013], cách 60 năm trước là năm Quý Tỵ 1953 và Quý Tỵ 60 năm sau là năm 2073.


Năm nay Quý Tỵ cầm tinh con rắn, chúng tôi xin đề cập đến những gì có liên quan đến rắn:


 


I- Hình dạng


 


Rắn thuộc loài bò sát [Reptiles], mình có vảy [squamata] thuộc họ Elapidae. Rắn mình tròn, có loại hơi dẹp ở đầu và cổ như rắn hổ Phi Châu [kinh Cobra]. Kích thước lớn nhỏ, dài ngắn khác nhau tùy theo loại rắn. trung bình bề dài của rắn như Cobra là 130 inches, nặng khoảng 12lbs [5-7 kg].


Rắn không có chân, hai mắt ở hai bên đầu, rắn không có mí mắt [eyelid] nên không nhắm mắt lại được. Mắt rắn có vòng tròn trong suốt bao quanh để lộ tròng đen nhỏ ở giữa con mắt. Thị giác của rắn tốt.


Rắn chỉ có một lá phổi, riêng họ Trăn [Boa family] thì có hai lá. Rắn không có tai, không nghe được các sóng âm thanh trong không gian, nhưng có thể cảm nhận được âm thanh có tần số rung thấp [100-700Hz] truyền từ mặt đất đến xương sọ của rắn [they do not hear airborne sound waves, but can perceive the low frequency vibrations (100-700Hz) transmitted from the ground to the bones of skull.].


Rắn có màu sắc khác nhau, màu sắc thường hòa hợp với môi trường chúng sinh sống, mục đích ngụy trang che giấu các đối thủ đe dọa sinh mạng củarắn…


Rắn lục có màu xanh lá cây vì chúng thường quấn mình ở trên các cành cây, những loại khác thường có màu nâu, màu xám, sọc rằn, đen trắng, thích hợp với ngoại cảnh của đất cát, cỏ lá v.v… Rắn ở rải rác trên các châu lục, trên đất, dưới nước.


Có khoảng năm chục loại rắn sống ở dưới biển, loại này không cắn ai, trừ khi chúng bị tấn công. Loại này có nhiều ở biển gần Australia. Ở Việt Nam có loại rắn nước không độc, thường ở trong sông rạch, hồ ao… loại này nhỏ con hơn các loại rắn ở Châu Phi, Châu Mỹ. Rắn nước dưới bụng có màu vàng, phần trên lưng màu nâu hoạc xám, dài chừng 1 mét đến 1.50 m… Có trên hai trăm loại thuộc họ rắn [family colubridae] trên thế giới, ngoại trừ Antarctica [Nam Cực]


Rắn ở North Africa có màu giống cát và chúng thường ẩn mình trong cát ở sa mạc. Ở miền Tây Hoa kỳ có loại rắn đập đuôi và há mồm rộng khi bị đe dọa, sau đuôi có cục bướu nên khi đập kêu thình thịch làm cho địch thủ sợ bỏ đi xa… Rắn ở miền núi California ăn các loại rắn khác. Ở Việt Nam có các loại như rắn hổ, mai gầm, rắn roi, rắn lục, rắn cạp nia, rắn đẻn, rắn trun, hổ lửa… Rắn có nọc độc thường ăn động vật có máu lạnh [cold blooded animals] như cóc, ếch, nhái,… Sau khi con vật bị thấm độc thì rắn nuốt trọn con vật vào bụng không cần cắn xé hay nhai nghiến gì cả. Rắn bắt mồi bằng miệng, hai răng nanh dài nhọn ở hàm trên cắm phập vào con mồi đồng thời chất độc ở túi nọc độc sau hai mắt theo răng nanh chạy vào con mồi làm cho con mồi tê liệt toàn thân nên dễ nuốt dầu con mồi lớn hơn miệng rắn, rắn vẫn nuốt trôi vì mồm và da thịt ở cổ rắn, ở bụng rắn co giãn đặc biệt. Cũng có loại rắn ăn động vật có máu nóng [warm blooded animals] như gà, chuột… Bao giờ rắn cũng nuốt đầu con mồi vào trước.


Con trăn [python] ở Ấn Ðộ và Mã Lai lớn hơn trăn ở xứ ta cũng thuộc họ rắn, trước khi ăn con mồi thì trăn quấn quanh và siết chặt con mồi cho đến chết rồi quay đầu nuốt con mồi vào miệng. Các loại rắn không độc [non poisonous snakes] chỉ ăn trứng các loại chim, gà, vịt, v.v… Rắn há mồm nuốt cái trứng nguyên vỏ mặc dầu cái trứng to hơn miệng, nhưng cơ ở cổ rắn đẩy trứng vào miệng và xương nhọn ở cổ họng nghiền nát vỏ trứng tống ra ngoài chỉ đưa phần lòng trứng vào bụng.


Rắn không nhảy được như các động vật có chân, nhưng chúng bò rất mau, các đốt xương sống có mặt trước lõm, mặt sau lồi, giữa hai đốt xương sống có một cái xương tròn như viên bi nối liền hai đốt với nhau [freeball and socket joints]. Rắn có gần ba trăm đốt xương sống, sự cấu tạo đặc biệt của các đốt xương sống như vậy làm cho rắn dễ uốn cong mình, thậm chí có thể uốn mình quanh thân cây…


Rắn bò đi được dễ dàng là nhờ sự co rút của các bắp thịt toàn thân làm cho cột sống uốn khúc phối hợp với đuôi và đầu tạo nên hợp lực làm cho rắn tiến nhanh về phía trước. Khi bò trên cát ở sa mạc thì rắn bò ngang [sidewinding] và lướt tới theo một đường xiên góc chứ không đi tới theo đường thẳng nhưtrên đất cứng. hoặc nhám…


Vỏ rắn lâu ngày bị mòn nên rắn thường lột vỏ, mỗi năm thay vỏ từ một đến hai lần. Sau khi lột vỏ rắn lớn thêm một ít. Lúc bò đi lưỡi rắn thường le ra thụt vô để đánh hơi mọi vật rồi truyền qua Jocobson’s organ nằm ở hàm trên của miệng nơi đây sẽ phân tích và nhận ra mùi vị gì ? Ngoài ra rắn độc đánh hơi các con vật máu nóng nhờ hai lỗ nhỏ nằm hai bên mặt của rắn. Ðầu lưỡi rắn hình chữ v là cơ quan cảm giác quan trọng [important sensory organ]. Có người cho rằng rắn nghe được bằng lưỡi của chúng.


 


II. Sự sinh sản của rắn


 


Rắn Hổ [king cobra] ở các đại lục đều có. Vào khoảng Tháng Giêng mỗi năm thì rắn đực đi tìm bạn gái. Nó vừa bò đi vừa dùng cái lưỡi đưa qua đưa lại nhiều lần trong không khí để đánh hơi. Khi đã nhận ra dấu tích của con cái thì nó bò đến gần và dùng cái cầm cẩn thận cọ xát lên mình “bạn gái.” Sự cọ xát nầy gây kích thích rắn cái trong việc làm tình… Khoảng một tháng sau khi làm tình, con cái tìm một chỗ riêng biệt và kín đáo như trong các bụi tre, lùm cây dày đặc rồi đào một hố sâu, đường kính chừng 3 feet. Rắn cái đẻ vào hố khoảng 50 trứng rồi nằm bên ổ trứng cho đến 70-77 ngày sau thì trứng nở ra rắn con. Rắn đực cũng ở gần trứng để bảo vệ. Rắn con nở ra dài 10-20 inches và tự lập không cần rắn mẹ săn sóc. Rắn mẹ rời khỏi đàn con khi trứng đã nở xong hết. Rắn sinh đẻ mỗi năm một lần. Tuổi thọ của rắn trun bình 20 năm.


 


III. Rắn trong văn chương Việt Nam


 


1) Văn chương bình dân:


Con công ăn lẫn với gà,


Rồng kia rắn nọ coi đà sao nên.


Câu ca dao trên nói lên sự phân biệt cái nào ra cái ấy, không nên vàng thau lẫn lộn.


Vẽ rắn thêm chân


Câu tục ngữ trên đây nói lên tánh hay thêm bớt, bia đặt ra nhiều chuyện không hay ho, có ý xấu. Câu nói trong dân gian mà ta thường nghe trong thời loạn lạc để chỉ những kẻ phản dân hại nước, nối giáo cho giặc là:


Cõng rắn cắn gà nhà…


Người dân quê ViệtNam trải qua nhiều đời đã dày kinh nghiệm về thú rừng, về rắn rít đã cho biết:


Rắn mai tại chỗ,


Rắn hổ về nhà.


Ý của hai câu trên nói rắn mai cắn chết tại chỗ, còn rắn hổ cắn lâu chết hơn, về nhà mới vong mạn.


2) Văn chương bác học:


Văn chương có tác phẩm mang tên tác giả sáng tác, vài tác giả tiêu biểu như sau:


Bà Ðoàn Thị Ðiểm là một nhà thơ nổi tiếng trong văn học nước ta, bà có tài ứng đối mẫn tiệp, xuất sắc. Lúc còn trẻ tuổi, một hôm bà đang đọc sách Bắc Sử, anh bà là Ðoàn Doãn Luân ra một câu đối: “Bạch xà đương đạo, Quý bạt kiếm nhi trảm chi” [rắn trắng cản đường, ông Quý tuốt gươm ra chém].


Bà Ðiểm không nghĩ ngợi đối liền:


“Hoàng long phụ chu, Vũ ngưỡng thiên nhi thán viết” [rồng vàng đội thuyền, Vũ nhìn trời mà than]


Quý tức Lưu Quý, tên thật của vua Hán Cao Tổ. Khi Quý qua một cái đầm thấy con rắn trắng liền tuốt gươm ra chém. Vũ tức vua Vũ qua sông có rồng vàng nổi lên [Tích này ở trong Bắc Sử].


Lê Quí Ðôn, qua bài thơ sau đây đã tự trách mình, trách đời dữ ác như các loài rắn độc:


“Chẳng phải liu điu, vẫn giống nhà


Rắn mà biếng học chẳng ai tha


Thẹn đèn hổ lửa đau lòng mẹ


Nay thét mai gầm, rát cổ cha


Ráo mép chỉ quen tuồng nói dối


Lằn lưng cam chị dấu roi tra


Từ nay trâu lỡ chăm nghề học


Kẻo hổ mang danh tiếng thế gia”


 


Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm: [1491-1585] Cụ sinh vào thời nhà Lê, Lê Thánh Tôn [Hồng Ðức], làm quan thời nhà Mạc, được phong Thái phó Trình Quốc Công, người đời thường gọi là Trạng Trình. Cụ mất thời Mạc Mậu Hợp, thọ 95 tuổi. Cu có làm nhiều bài thơ, bài sấm… Cụ có bài Sấm nổi tiếng sau đây mà nhiều người đã biết:


“Long vĩ xà đầu khởi chiến tranh


Can qua xứ xứ khổ đao binh


Mã đề dương cước anh hùng tận


Thân dậu niên lai cảnh thái bình.”


Ý nghĩa của bốn câu trên được luận đoán như sau:


Hai câu đầu ứng với cuộc đại chiến thế giới II vào cuối năm rồng [canh thìn -1940] và đầu năm rắn [xà đầu] Tân Tỵ-1941. Câu thứ 3: cuối năm Nhâm Ngọ-1942 qua năm Quý Mùi [dương] 1943, anh hùng tận tức là phe trục Ðức-Ý-Nhật thất trận phải đầu hàng phe đồng Minh. Như vậy thế giới được thái bình trong năm Giáp Thân 1944 và năm Ất Dậu 1945.


 


IV. Chuyện cổ tích, thần thoại về rắn


 


1) Vàng hay rắn:


Khi đức Phật còn tại thế, ngài cùng đệ tử là Anan Ðà đi xuống kinh thành khất thực, khi đi ngang qua một bờ ruộng Ngài thấy một ghè vàng. Ngài bảo Anan Ðà rằng “này Anan ngươi có thấy đây là một loại rắn độc không?”


Anan Ðà cung kính bạch rằng, “Bạch Thế Tôn đây là một loài rắn độc rất đáng ghê sợ.”


Anh tiều phu đi ngang qua nghe vậy tưởng rắn độc thiệt nên đến xem. Anh đến nơi thì thấy đó là một ghè đầy vàng chói lọi. Anh mừng quá đem về và còn cho rằng Phật và đệ tử không biết dùng vàng và còn cho rằng đó là rắn độc. Anh ta sung sướng hét lên “tôi xin nguyện con rắn độc này luôn cắn tôi và cả gia đình tôi, tôi không cảm thấy đau đớn gì cả.”Anh ta trở nên giàu có kiêu sa, làng xóm nghi kỵ đồn đại. Tiếng đồn đến tai vua. Vua cho người đến hỏi có phải đã nhặt được hũ vàng của vua bị mất không? Anh tiều phu trả lời không. Vua cho là có gian ý nên tịch thu tài sản và bắt cả nhà đem hành hình. Anh than khóc và la lớn “Anan Ðà ơi, thật là một thứ rắn độc, nó đang hại tôi và thân nhân tôi đây.” Khi nghe gọi tên Anan Ðà vua cho tra hỏi lại, anh tiều phu khai tất cả sự thật. Vua là một Phật tử nên động lòng từ bi tha cho tất cả khỏi tội chết và bảo anh thành tâm tu theo thiện nghiệp và hết lòng cung kính Tam Bảo [theo truyện cổ Phật giáo của Minh Chiếu]


2) Chuyện thanh xà, bạch xà:


Chuyện nói về haicon rắn Thanh xà và Bạch xà.


Hai con rắn này tu luyện lâu năm nên đã có phép hóa thành người. Hai nàng rắn đã thành hai người đẹp áo trắng và áo xanh nơi trần thế. Vì nghiệp chướng chưa dứt, hai nàng còn yêu đương, còn ân oán, thù hận, gieo đau thương cho nhiều người…


3) Chuyện tiếu lâm [rắn lột vỏ]


Thuở mới khai thiên lập địa, Ngọc Hoàng Thượng Ðế sai sứ xuống trần gian rao truyền rằng: “Người già người lột vỏ, Rắn già rắn bỏ vô săn”


Nhưng khi đi chưa tới nơi thì sứ trời gặp vua Diêm Vương và các vị thần coi sổ sinh tử đang ăn nhậu nên sứ ta ghé vào nhập bọn. Sau khi “xỉn” thì đầu óc của sứ có vấn đề nên quên mất nghĩa lý, sứ bèn rao ngược lại:


“Rắn già rắn lột vỏ, Người già người bỏ vô săn”


Thật tội nghiệp cho loài người chỉ vì một phán quyết lầm lẫn của kẻ bề trên có quyền thế mà phải chịu nhiều oan trái khổ đau…


4) Rắn báo oán [Vụ án Lệ Chi Viên]


Năm 1442, vua Lê Thái Tông đi tuần du miền Ðông, duyệt quân ở thành Chí Linh [Hải Hưng]. Vua được Nguyễn Trãi, một công thần mời về nhà nghỉ chân. Vua say mê Nguyễn Thị Lộ [vợ Nguyễn Trãi] một người sắc nước hương trời, lại giỏi về văn chương, thi phú. Ðêm ấy vua quá vui cùng Thị Lộ rồi chết đột ngột tai Lệ Chi Viên [Vườn vải]


Các quan qui tội cho Thị Lộ đã giết vua và Nguyễn Trãi là kẻ chủ mưu nên triều đình quyết án “tru di tam tộc.”


Truyền thuyết cho rằng lúc Nguyễn Trãi phá cây cối để lấy đất làm nhà đã giết trọn ổ trứng rắn cho nên rắn mẹ tìm cách báo oán Kết quả là Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc.


 


V. Những chuyện linh tinh liên quan đến rắn:


 


1) Snake Indians:


Người da trắng trước đây đã gọi vài bộ lạc người Da đỏ là Snake Indians vì các sắc tộc này vẽ hình rắn trên thân thể của họ. Các bộ lạc này thường ở South Idaho, N. Nevada, N. Utah…


2) Snake bite [rắn cắn].


Khi rắn cắn thì hai răng nanh của nó cắm sâu vào da thịt của nạn nhân làm cho nạn nhân tê liệt một phần hoặc nhiều nơi trên thân thể do chất độc của rắn truyền từ hạch độc sau hai mắt theo răng nanh vào chỗ bị cắn. Rắn độc ở Nam Mỹ Châu như Coral Snake, Cobra nọc độc của chúng có thể làm hủy hoại tế bào máu, làm thủng màng mỏng của các huyết quản nhiều khi gây xuất huyết rất nguy hiểm cho tính mạng nạn nhân.


3) Cấp cứu [firstaid]


Khi bị rắn cắn, trước tiên để ngăn ngừa chất độc khỏi lan ra khắp cơ thể, người ta dùng dây thun cột chặt quanh vết thương về phía trên [nếu bị cắn ở chân] để chất độc không lên được mình và đầu. Không nên cột quá chặt làm máu khó lưu thông. Người ta có thể lấy nước đá buộc quanh vết thương hoặc xịt Ethyl chloride trên vết thương. Có thể dùng miệng hút máu độc ở chỗ bị cắn rồi nhổ bỏ. Sau khi cấp cứu cần đưa nạn nhân đi bác sĩ để chữa trị.


4) Bắt rắn:


Người ta bắt rắn đằng đầu, nếu bắt ở lưng hay đuôi thì rắn sẽ quay đầu lại cắn ta. Trường hợp bắt ở đuôi thì cầm đuôi chặt quay vụt thật mạnh đầu rắn xuống đất, khi quay vụt mạnh thì sức li tâm làm đầu rắn không thể quay lại được. Nếu dùng gậy thì quất mạnh vào đầu, vào lưng, khi xương sống bị thương thì rắn khó có thể hoạt động dễ dàng. Người ta còn dùng bẫy để bắt rắn.


5) Ích lợi của rắn:


Rắn có độc nhưng it khi cắn người nếu không bị tấn công hay bị đe dọa. Rắn giúp ích nhiều cho người làm nông, những người trồng trọt bằng cách bắt những loài phá hoại mùa màng như chuột bọ, chim chóc v. v…thịt rắn ăn rất ngon như thịt gà, xương rắn ngâm rượu uống trừ bịnh nhức xương, bệnh đau lưng nhức mỏi… Da rắn thì làm ví, xách tay đàn bà, làm dây nịt…


6) Rắn nghe kèn:


Trước đây các nhà bùa chú ở Ai Cập [Egypt] và vài nơi ở Á Châu như Ấn Ðộ dùng rắn làm trò biểu diễn cho người ta xem, họ dùng kèn để thổi trước mặt con rắn. Sự thực thì rắn không có tai để nghe, nhưng mắt rắn thấy được vật di chuyển phía trước, hòa với sự rung động của tiếng kèn dội vào thân nó nhịp nhàng lôi cuốn khiến rắn bò theo bước đi chầm chậm của người thổi kèn [charmer].


7) Múa Rắn [snake dance]


Các buổi lễ của bộ lạc Hopi, người da đỏ ở Ðông Bắc Arizona thường có múa rắn, người múa đeo rắn quanh mình rồi nhảy múa hòa nhịp với tiếng kèn, tiếng trống. Cứ hai năm mới tổ chức múa rắn một lần vào trước ngày 20 tháng 8.


8) Sông rắn [Snake river]


Vì sông chảy uốn nhiều khúc như hình con rắn bò nên người đia phương gọi là Sông rắn. Tên cũ là Lewis River, một nhánh sông lớn [largest tributary ] của sông Columbia. Snake River chảy từ Wyoming qua Idaho rồi chạy dọc theo ranh giới Idaho và Oregon, ngược lên phía Bắc hợp lưu với sông columbia thuộc địa phận Washington state, rồi chảy theo hướng Ðông-Tây ra biển Thái Bình Dương [Pacific Ocean].


-Snake River ở Minnesota:


Khi lái xe chạy trên Highway 35 north, chúng ta sẽ chạy qua một cây cầu bắt qua một con sông nhỏ đầu cầu có tấm bản màu xanh ghi hàng chữ trắng “Snake River.” Nhìn sông này như một con rắn bạc uốn khúc đẹp mắt lúc nắng chiều… Sông này nằm trong địa phận Pine City cách thành phố St. Paul, MN khoảng 60 miles về phía Bắc.


9) Sự sùng bái rắn [Snake worship]


Theo các truyện thần thoại của nhiều nước, mỗi nơi sùng bái rắn mỗi khác: có nơi thì cho rắn là thần Ác [God of Evil ] nơi thì cho rắn là God of Good, nơi thì cho la thần mặt trời [Solar Deity], có nơi cho la thần chết [God of Death]. Rắn còn tượng trưng cho quỷ Satan, thần Apollo, thần Egyptian God of Ra [Son of God].


Trong nền văn minh tiền sử của người Mễ, rắn được tôn thờ bởi hai phái: Toltec và Aztec. Phái Aztec cho rằng rắn là con vật nửa người nửa thần xuống trần gian làm thầy vĩ đại cho con người. Aztec gọi đó là con rắn có lông [feathered serpent] hóa thân của Nhật Xà [serpent sun]. Ở Egypt, tùy theo địa phương mỗi đền thờ có dành một chỗ để thờ rắn. Trong tôn giáo Hy lạp [Greek religion] rắn được coi là thần thánh. Greek God có liên hệ tới sự thờ thần rắn Apollo. Tên gốc của đền Apollo ở Delphi là Pytho do từ Python mà ra…


Trong thời đế quốc La Mã [period of the Empire], rắn thần được cất giữ trong thành phố và được săn sóc bởi một trinh nữ. Khi rắn thần từ chối không nhận thức ăn từ tay nữ nhân nào đó tức là nữ nhân nầy không còn trinh nguyên và phải đem đi giết ngay.


Dân ở vùng Lưỡng Hà [Mesopotamia] vùng đất nằm giữa hai con sông Tigris va Euphrates thuộc Iraq ngày nay] và dân Semites tin rắn là thần bất tử vì rắn được thay vỏ.


Người Ấn Ðộ, Burmese và Siamese coi rắn là ma quỉ. Ấn Ðộ thời nguyên thủy thờ rắn [Snake Cults] là kết hợp sự thờ thần Krishma và thần Vishnu [vị thần thứ hai trong 3 ngôi: Brashma, Vishnu, Siva ] [theo Encyclopedia-columbia univ. press, NY, v21]


 


VI. Những năm Tỵ đã qua…


 


Những năm Tỵ hay năm con rắn đã đi qua trong quá khứ có nhiều biến cố quan trọng, tuy nhiên bần bút chỉ xin được nêu ra những điểm nào đã biết, còn nhớ mà thôi.


1) Năm Tân Tỵ – 1941


Trên 70 năm trước đây quân đội Mỹ trong lực lượng Ðồng minh [Allies forces] vào ngày 8 tháng 12, 1941 để chống lại phe trục Ðức-Ý-Nhật trong Thế Chiến II. Trước đó một ngày [7 tháng 12, 1941] quân Nhật tấn công Trân Châu Cảng [Pearl Harbor ], Hawaii. Kết quả là hơn ba năm sau, vào ngày 6 tháng 8, 1945 quân Nhật phải đầu hàng vô điều kiện vì hai quả bom nguyên tử của Mỹ thả xuống Hiroshima và Nagasaki…


2) Quí Tỵ – 1953


Ðại Tướng Dwight D. Eisenhower đắc cử tổng thống nước Mỹ. Chiến tranh Korea chấm dứt. Vĩ tuyến 38 là ranh giới giữa hai bên Quốc-Côỳng. Tại Việt Nam, chiến tranh Pháp-Việt đến hồi quyết liệt, Pháp thua trận Ðiện Biên Phủ dẫn đến việc chia đôi đất nước theo vĩ tuyến 17… vào tháng 7 năm 1954.


3) Ất Tỵ – 1965


Tổng Thống Mỹ L. B. Johnson [1963-1969 ] gởi quân đội Mỹ qua chiến đấu chống Cộng ở Việt Nam. Ông ra lệnh oanh tạc Bắc việt để trả đũa.


4) Ðinh Tỵ – 1977


Hàng ngàn viên chức, sĩ quan của Việt Nam Cộng Hòa ở Miền Nam bị cưỡng bách đi lao động khổ sai trong các trại tù tập trung từ Nam chí Bắc Việt Nam. Xã hội Việt Nam bi đát vì kinh tế tập trung, nạn đỗi bạc làm cho nền kinh tế suy thoái trầm trọng, người dân điêu đứng khốn cùng, nhiều người phải bỏ nước ra đi tìm sự sống trong cái chết…


5) Kỷ Tỵ – 1989


Bức tường ô nhục Bá Linh bị phá đổ. Dân ở Ðông Ðức chạy qua Tây Ðức tìm tự do. Chiến tranh lạnh giữa tư bản và Cộng sản tạm thời chấm dứt.


6) Tân Tỵ – 2001:


Ngày 11 tháng 9 là ngày đại tang của nước Mỹ. Bọn khủng bố vô nhân lợi dụng sự nhân đạo, dễ dãi của Mỹ đã dung dưỡng bọn chúng để nhận kết quả là “nuôi ong tay áo.” Bọn chúng đã cướp máy bay dân sự đâm vào hai tòa nhà trên 100 tầng cao nhất thế giới ở New York làm trên ba ngàn người thiệt mạng. Tội ác của bọn khủng bố không thể tha thứ, nên kẻ chủ mưu Bin Laden đã bị đền tội…


7) Quí Tỵ -2013:


Năm này Tổng Thống Barack Obama mới đắc cử nhiệm kỳ II, và sẽ tuyên thệ nhậm chức vào ngày 20 tháng 1, 2013…


Năm nay năm con rắn, những người mang tuổi Tỵ nói chung đều tốt, việc làm ăn thịnh đạt, tiền tài mười phần đặng bảy, gia đạo yên vui… Nên đề phòng bệnh tật và tai nạn.


Riêng năm Quý Tỵ [2013] có bài thơ như sau:


“Ðoán xem số mạng như là,


Quý Tỵ mạng thủy số ta như vầy


tuổi hỏa mạng thủy số nầy


tuổi cùng với mạng hai đây khắc rày


cửa nhà dời đổi nhiều thay


gần đặng huynh đệ hôm nay phước phần


hào con không trọn khó phân


sanh đa dưỡng thiểu vắng phần về sau…


Khá nên dưỡng tánh tu tâm


Hưởng nhờ hậu vận ấm thân thọ trường…”


Tản mạn về rắn đã dài. Trước khi chấm dứt, xin kính chúc quí vị đồng hương độc giả và gia đình một năm mới nhiều sức khỏe, vạn sự cát tường như ý…


Mùa Ðông xứ Vạn Hồ


 


Sách tham khảo:


-The universal standard Encyclopedia- V21, NY.


-Truyện cổ Phật giáo.


-Diễn cầm tam thế [Dương Công Hầu ]

Giới thiệu sách: Những Cánh Hoa Thơ, Tập II

 


Trăng Vàng phụ trách


 


Những Cánh Hoa Thơ, Tập II


Giác Lượng Tuệ Ðàm Tử


 


Một tập thơ dày 382 trang, được nhà xuất bản Nguồn Sống trình bày trang nhã, ấn tống và phát hành quy mô. Có nhiều bài thơ tặng đến các nhân vật trong các môi trường sinh hoạt Phật pháp, cộng đồng. Một tác phẩm cần có cho mỗi gia đình.


Hình bìa do Họa sĩ Mai Lân. Thay lời tựa: Tác giả Giác Lượng Tuệ Ðàm Tử. Ðánh máy và trình bày: Kim Nga. Nguồn Sống xuất bản lần thứ nhất 2,000 cuốn.


Tác giả tên thật là Ðinh Ngọc Thanh, sinh năm 1955. Bút hiệu Tuệ Ðàm Tử. Pháp danh Thích Giác Lượng, sinh quán Ðập Ðá, An Nhơn, Bình Ðịnh, Việt Nam. Là người được đảm trách nhiều chức vụ quan trọng trong Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam trong nước trước 1975 và tại Hoa Kỳ sau 1975.


Chúng tôi xin được giới thiệu tác phẩm Những Cánh Hoa Thơ tập II đến quý độc giả Người Việt Minnesota.


Xin liên lạc: Nhà xuất bản Nguồn Sống, 766 S. 2nd St., San Jose, CA 95112. ÐT: 408-295-2436.

Tản mạn thơ văn


Xuân về nhớ quê


 


Thơ: Hồ Nguyên


 


Tặng: Chân-Trời-Chân-Mây


 


Xuân vừa đến mà sao nghe buồn quá!


Ơn Mẹ Cha con chưa trả đã xa


Ðể bây giờ thêm một Tết trôi qua


Nơi xứ người đành chan hoà nước mắt!


 


Nhớ năm xưa chạnh lòng ôi quặn thắt!


Cận ba mươi Cha bắt bếp ngoài sân


Mẹ gói xong bánh tét với bánh chưng


Con thích thú đêm canh chừng củi lửa…


 


Thêm một năm con lớn khôn hơn nữa


Nhưng vẫn thèm ôm Mẹ, tựa đầu Cha


Ðón giao thừa con hát múa hoan ca


Mồng một đến chúc Ông Bà mạnh khỏe!


 


Thời gian đã trôi qua sao thật lẹ


Con rời xa như chim sẻ sổ lồng


Lên Sài Gòn cho thỏa những ước mong


Xa quê hương con lấy chồng thành phố


 


Việc kinh doanh không thuận nên thua lỗ


Mong năm nay sẽ bớt khổ hơn xưa


Ngoài chợ đã bày bán kiệu, hành, dưa


Mai đã nở, Ðường Hoa vừa tô điểm


 


Năm Quý Tỵ mong trời ban màu nhiệm


Việc làm ăn và tâm nguyện được tròn


Cầu Cha Mẹ vui khỏe vững như non


Ở nơi này con đong đầy thương nhớ.


_________


 


Sao và Mai


 


Phạm Sao Mai


 


Ðôi khi em muốn em không phải là Sao,


Chỉ là Mai để đậu lên vai anh được.


Khi đó em sẽ cùng anh đi khắp chốn,


Biết anh vui buồn, lo lắng được cho anh.


 


Ðôi khi em muốn em không phải là Sao,


Chỉ là Mai, một Bạch Mai cánh mỏng.


Anh nâng nhẹ trên tay, khẽ hôn rồi nựng nịu:


“Ở lại với anh nghe, đừng trở lại thành Sao!”


 


Bài họa của Chân-Trời-Chân-Mây


 


Hoa mai trắng


 


Thơ: Chân-Trời-Chân-Mây


 


Em là Mai, đậu hiền vai áo,


Không là Sao ảo não xa vời.


Gần bên hôn miệng anh cười,


Lo anh vui khổ giữa đời dối gian!


 


Bạch mai cánh mỏng mơ màng,


Tay anh vuốt trắng dịu dàng, nâng niu.


“Ðừng làm Sao nhé, em yêu,


Làm hoa mai trắng mỹ miều, anh thương!”


(Thái Văn, Jan 20-2013)


_________________


 


Hôm Qua… Hôm Nay


 


Thơ: Sao Mai Phạm


 


Em không phiền lòng bởi hai chữ: Hôm Qua,


Khi Hôm Qua của anh không có em ở đó,


Em chỉ muốn học đôi điều từ Hôm Qua ấy


Ðể hiểu hơn về anh, yêu anh cũng nhiều hơn.


 


Em không biết Ngày Mai liệu có đến


Nhưng em vẫn mơ màng dệt mộng cho Ngày Mai


Và em biết chắc một điều này nữa,


Trong Ngày Mai của anh, có bóng dáng em rồi!


 


Em đang sống trong Hôm Nay tuyệt đẹp,


Hôm Nay em có anh với hết thẩy nồng nàn.


Tình yêu của anh và Hôm Nay cùng hiện hữu,


Hạnh phúc của Hôm Nay và mơ ứớc Ngày Mai!


––-


 


Hạnh phúc


(Họa bài Hôm Qua… Hôm Nay)


 


Thơ: Chân-Trời-Chân-Mây


 


Ác mộng mây cuồng như cướp tới,


Tối thui vạn vật nẻo tìm nhau.


Chỉ còn trắng trắng con đường lạ,


Và ánh đèn ai cơn ngủ đau!


 


Hôm Qua các anh khờ, bị gạt,


Không em, hai phía dậy nghi ngờ.


Không em, anh bất cần sinh mạng,


Ðối đầu ruột thịt rất ngu ngơ!


 


Ngày Mai chắc chắn là vinh hạnh,


Có em, con cháu rạng tài danh.


Không mang chủ nghĩa, nhiều thêm bệnh,


Gieo hạt Tình Yêu xuống đất lành!


 


Hôm Nay ta sống trong kỳ diệu,


Có em yểu điệu dựng Ngày Mai.


Hôm Qua, thôi nhé đừng quay lại,


Giữ gìn hạnh phúc của Hôm Nay!


Thái Văn


Vạn Hồ, Maple Grove, Jan 22-2013


_______________


 


Không Tết


 


Thơ: Mỹ Trinh


 


Mấy chục năm Tết đi đâu mất


Ở nơi này còn lại mình tôi


Những ngày này gió Ðông lất phất


Tuyết chờ rơi xám phủ bầu trời


 


Mấy chục năm tìm không thấy Tết


Không hoa mai không cả hoa đào


Ngày mồng một mồng hai đâu khác


Mặc cho ngày tết cũng qua mau


 


Mấy chục năm ai hay ai biết


Tết thờ ơ qua cửa về trời


Mẹ còn đợi đứa con xa xứ


Con không về ăn tết mẹ ơi!


 


Mẹ đã quen bao năm không Tết


Cũng thôi chờ xuân nở mai


Chiều cuối năm thắp đèn kỷ niệm


Thấy bóng con và tiếng thở dài


_________________


 


Xuân đến


 


Thơ: Dương Mạnh Tuấn


 


xuân lại đến như một lời hẹn ước


lá hoa thơm đã đua nở trong vườn


cuộc chiến cũ đã đi vào tiễn biệt


nhưng mồ hôi vẫn chảy nợ áo cơm


 


xuân lại đến như một lời hẹn ước


như một lời nhớ gởi quê nhà


êm đẹp quá những mùa xuân bên mẹ


những mùa xuân thương quí thiết tha


 


xuân lại đến như một lời hẹn ước


bạn bè xa dòng họ cũng thật xa


kỷ niệm cũ cũng xa gần muốn hết


gom nỗi buồn đầy tiếng hát hôm qua


 


xuân lại đến như một lời hẹn ước


như chúng ta đã hẹn ước một mùa


rồi chia biệt rồi đớn đau mắt lệ


bước chân chiều không ai được ai thua


 


xuân lại đến như một lời hẹn ước



 

Lá thư chủ nhiệm: Nhịp sống



 


Trong chiều hướng “Ăn theo thở, ở theo thì”, chúng ta cần lương định tình trạng, hoàn cảnh địa dư khi đối phó với ngoại cảnh. Chúng ta đang sống trong các chế độ tự do dân chủ hải ngoại thì mọi người có toàn quyền phát biểu ý kiến.


  Nhưng nhiều người Việt còn kẹt ở quê nhà thì họ không có quyền phát biểu như ta. Chúng tôi mong rằng mọi người trong chúng ta cần triển khai vị thế để thay mặt họ khi đưa ra những ý kiến xây dựng chung cho người Việt Nam trong hay ngoài nước.


Chúng ta có được quyền tự do ăn nói, nhưng chúng ta cần thận trọng lời nói khi phát biểu, ngõ hầu tiếng nói được hiêu quả. Có như thế chúng ta mới thu hút được nhiều người nghe đem lại lợi ích chung cho toàn thể. Tuy cộng đồng hải ngoại với số lượng ít hơn người trong nước, nhưng chúng ta có đặc quyền tự do ngôn luận do vậy sức lượng phát biểu ý kiến sẽ đông đảo hơn nhiều.


Chúng tôi ước mong rằng chúng ta có cơ hội để phát huy nhịp sống bằng cách dựa vào sự tự do ngôn luận để nói lên những kềm kẹp ở Việt Nam.


Trân trọng


Huỳnh Sĩ Nghị


Chủ nhiệm

Hội Cựu Chiến Sĩ QLVNCH Minnesota với Nhạc Hội Mừng Xuân Trên Chiến Hào

 


*Ngự Dương


 


Hôm Chủ Nhật, ngày 02 tháng 02 năm 2013, Hội Cựu Chiến Sĩ Quân Lực VNCH tại Minnesota tổ chức Nhạc Hội Mừng Xuân Trên Chiến Hào năm Quý Tỵ tại nhà hàng Hoa Biển, 1105 University Ave Saint Paul, MN55104. Nhạc hội được khai mạc vào lúc 18 giờ 30.










Quan khách trong đêm nhạc hội.


Chương trình Nhạc Hội thật phong phú và gồm có:


Nghi lễ chào quốc kỳ, quốc ca, 1 phút mặc niệm với đội hầu kỳ gồm 8 chiến hữu mặc quân phục VNCH.


Có 3 vị trưởng bối phụng kính tổ tiên trước bàn thờ tổ quốc.


Ông Ngô Trọng Phục, chủ tịch Hội CCS/QLVNCH đã thay mặt Ban Tổ Chức chúc Tết và cảm tạ quan khách đã không quản ngại gió lạnh, tuyết rơi mà dành chút thì giờ đến dự đông đảo, ngoài dự trù của Ban Tổ Chức và kêu gọi quý vị quan khách niệm tình tha thứ nếu có gì sơ sót trong nhạc hội này.


Rồi đến tiết mục múa lân do Ðội lân Hội Hùng Vương biểu diễn, có phụ diễn võ thuật. Tiết mục này được Hội Ái Hữu Cảnh Sát Quốc Gia VNCH/MN bảo trợ.


Phần ca nhạc giúp vui do Ban nhạc Adventure Minnesota phụ trách, có sự trợ lực của Ca Ðoàn Cảnh Sát Quốc Gia VNCH. Các ca sĩ đã tuần tự trình bày những nhạc khúc mừng xuân chiến sĩ giúp vui trong lúc nhà hàng bắt đầu dọn ăn.


Ban Tổ Chức đã đến từng bàn có em bé để tặng lì xì, tổng cộng tới hơn $150.


Ngoài ra, quan khách hiện diện còn được mời tham dự cuộc bốc thăm trúng thưởng với nhiều quà tặng khích lệ.


Cuộc vui diễn tiến đến 21 giờ và tiếp nối qua phần dạ vũ cho đến nửa đêm.


Ðêm Nhạc Hội Mừng Xuân Trên Chiến Hào có được cái hân hạnh đón tiếp các quan khách tới tham dự, trong đó phải kể đến:


Ông Dương Qua chủ tịch, Ông Quách Ngọc và thân hữu Hội Ái Hữu Cảnh Sát Quốc Gia VNCH.


Ông Vĩnh Ðại, chủ tịch và các thân hữu Hội Ái Hữu Huế Thừa Thiên MN.


Ông Phan Quang Phúc và các thân hữu Hội Hải Quân VNCH, ngồi đầy 2 bàn.


Ông Chủ tịch và Ông Giám đốc Cơ Quan Xã Hội Việt Nam tại Minnesota.


Ông Tom Nguyễn và thân hữu thuộc lực lượng United States Veterans Support Command Minnesota.


Ông Tiên Hà và thân hữu từ Vietnam Center.


Ông Nguyễn Kiệm Hoa và các thân hữu đến từ Cộng Ðồng Việt Nam Saint Cloud.


Các nhà báo, nhà văn như Ông Phan Thanh Tâm, Ông Huỳnh Sĩ Nghị, Ông Sĩ Nguyễn.


Cũng có mặt các chiến hữu trong Hội Cựu Sĩ Quan Ðà Lạt và Hội Cựu Sĩ Quan Thủ Ðức.


Cùng rất đông thân hào nhân sĩ, các cựu quân nhân VNCH và gia đình.










Màn đơn ca trong nhạc hội.


Tất cả có khoảng 350 quan khách, ngồi đầy 22 bàn đã đặt trước. Vì số quan khách bất ngờ đến tham dự quá đông đảo, Ban Tổ Chức Nhạc Hội phải cho đặt thêm 5 bàn nữa mới đủ chỗ.


Nhìn chung, quang cảnh buổi lễ rất là thân thiện và vui nhộn, với nhiều bạn bè và chiến hữu ngày xưa qua lại, gặp nhau cùng hàn huyên tâm sự.


Ngự Dương ghi nhận

Giới thiệu thương mại: BIRRAA Tax Services


Mai Hoàng


 



 


BIRRAA Tax Services là một cơ sơ chuyên nghiệp từ trên 14 năm trong khu thương mại Cedar Riverside bên thành phố Minneapolis, Minnesota.



Năm nay cơ sở này được mở thêm một văn phòng trong tòa nhà 417 University Avenue, St. Paul, MN 55103 nhằm phục vụ khách hàng phía St. Paul. Chúng tôi xin được giới thiệu một cơ sở cung cấp dịch vụ thuế má đến đồng hương Việt Nam.


Ông Marcos Bekuto và ông Gutema Berisso là 2 chuyên viên đặc biệt có mặt thường ngày để giúp quí vị thương gia và cá nhân cho mọi loại thuế, nhất là thuế cá nhân cho năm 2012. Giờ mở cửa từ 9am đến 9pm mỗi ngày. Tuy không phải trực thuộc làm chủ bởi người Việt Nam, nhưng họ rất hết lòng hỗ trợ cho nhu cầu khai thuế và có cả thông dịch tiếng Việt.


Chúng tôi xin được giới thiệu cùng quý độc giả và đồng hương cơ quan khai thuế đặc biệt này ngõ hầu giúp quý vị hoàn tất đúng hẹn các vấn đề thuế má.


Ðịa điểm: BIRRAA Tax Services


417 University Ave W. Suite 100


St. Paul, MN 55103


Phone: (651) 202-3965


Fax: (651) 493-9432

45 năm sau Mậu Thân – máu vẫn chưa khô trên thành phố Huế


*Phạm Trần


 


Lời tác giả: Ðây là bài tôi viết để trả lời cho bộ phim “Mậu Thân 1968” đang chiếu bên Việt Nam do nữ đạo Diễn Lê Phong Lan thực hiện nhằm mục đích chính là “hoàn toàn phủ nhận không có vụ Cộng quân thảm sát đồng bào ở Huế trong vụ Mậu Thân.” Tôi cũng đã cố vấn cho đài SBTN thực hiện một loạt show để phản bác luận điệu tuyên truyền chạy tội của Cộng Sản Việt Nam.


 


“Không ai ảo tưởng sử học đứng ngoài chính trị nhưng lẽ ra phải biết nhìn thẳng, nhận thức quá khứ một cách sâu sắc mới có thể đạt tới một tương lai tốt đẹp thì dường như chúng ta lựa chọn một cái nguyên lý hời hợt hơn là ‘khép lại quá khứ’ gần như đồng nghĩa với quên lãng quá khứ chỉ vì một nhận thức nông cạn nhằm đáp ứng một nhu cầu tế nhị đương đại. Một lịch sử thiếu công bằng như thế khó có thể tạo nên một niềm tin vào lịch sử, nhất là của giới trẻ.”










Nữ đạo diễn CSVN Lê Phong Lan.


Ðó là lời của nhà sử học, đại biểu Quốc Hội Dương Trung Quốc đã viết trên báo Lao Ðộng và được báo Dân Trí đăng lại ngày 7 tháng 8, 2011.


Nếu đem quan điểm của ông ứng dụng vào lịch sử đảng Cộng sản Việt Nam và Lịch sử cuộc chiến tranh được gọi là hào hùng của dân tộc trong sự nghiệp “chống Mỹ cứu nước” hay “giải phóng miền Nam” thì quả thực bộ máy tuyên truyền, xuyên tạc sự thật của đảng đã “vo tròn bóp méo” lịch sử để nhồi nhét vào đầu thanh thiếu niên Việt Nam trong nhiều thế hệ những giả dối để đạt mục tiêu giết đi sự thật.


Nhưng sự thật thì muôn đời vẫn là sự thật và chỉ khi nào biết nhìn nhận sự thật thì mới làm tốt cho tương lai.


Ðó cũng là ý tưởng của nhà sử học Dương Trung Quốc khi ông bảo: “Ai đã vào thăm Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh ở thành phố Hồ Chí Minh sẽ thấy có một số rất đông khách tham quan lại là người Mỹ, trong đó không chỉ có những cựu chiến binh mà cả giới trẻ thế hệ ‘sau Việt Nam.” Những người phát hiện và mong muốn giữ gìn chứng tích nạn đói năm Ất Dậu (1945) ở Việt Nam, trong đó có tội ác của chủ nghĩa phát xít Nhật lại chính là những bạn Nhật, trong đó có các nhà sử học Nhật Bản. Lẽ đơn giản vì họ coi sai lầm của những thế hệ trước, những người gây ra chiến tranh và tội ác là những bài học sâu sắc, sự hổ thẹn cần được tiếp thu để dân tộc Nhật Bản không lặp lại những sai lầm của quá khứ và vươn xa hơn trong sự tôn trọng của nhân loại.” (nguồn: Báo Lao Ðộng-Dân Trí đăng lại)


Rất tiếc đảng và nhà nước CSVN chỉ muốn xóa đi những quá khứ xấu xa của mình để giữ lại những cái tốt đã được thổi phồng khiến cho lịch sử cận đại không còn là môn học hấp dẫn cho thanh thiếu niên Việt Nam.


 


Sử học bị khôi hài?


 


Bằng chứng này đã xẩy ra trong các kỳ thi môn sử cấp trung và đại học của Việt Nam trong những năm gần đây khiến cả nước bấn loạn, riêng giới lãnh đạo ngành giáo dục thì không!


Rất nhiều thí sinh không những chỉ bị điểm 0 mà vô số em khác đã “tự biên tự diễn sai lạc và khôi hài” như sau:


Theo một bài viết trên báo Giáo Dục Việt Nam được báo Zing News đăng lại vào ngày 21 tháng 7, 2012 thì thảm kịch biết về lịch sử của các em bây giờ như thế này:


“Câu 2 (2.0 điểm): Từ năm 1919 đến năm 2000, lịch sử Việt Nam đã trải qua những thời kỳ nào? Khái quát nội dung chính của thời kỳ lịch sử diễn ra sự kiện quân và dân ta đập tan toàn bộ tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Ðông Dương của thực dân Pháp.


Ðây là câu mà nhiều thí sinh mắc nhiều lỗi nhất. Nhiều thí sinh không chia được thời gian theo từng thời kỳ như trong sách giáo khoa và đáp án. Các giám khảo cho rằng, thí sinh ôn để thi đại học nhưng không đọc và nắm kỹ nội dung cơ bản của bài “Tổng kết lịch sử Việt Nam từ 1919 đến năm 2000” trong SGK Lịch Sử 12.


Ở vế thứ 2 của câu này, rất nhiều thí sinh đã xác định sai kiến thức nội dung cơ bản của giai đoạn lịch sử từ 1945 đến 1954. Hầu hết, các thí sinh sa vào trình bày nội dung chi tiết của chiến thắng Ðiện Biên phủ 1954 (ý này chỉ có 0.25 điểm) nhưng lại không nhớ chính xác nên cứ “ngây thơ” mà viết: “Từ năm 1945 nhân dân ta vật lộn với Pháp vì Pháp nổ súng chiếm nước ta làm thuộc địa”; “Năm 1945 chúng ta đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”; “Ðảng cộng sản Việt Nam ra đời năm 1975 đã cùng Hồ Chí Minh lãnh đạo nhân dân chiến thắng Ðiện Biên Phủ”…


Giáo Sục Việt Nam viết tiếp: “Câu 3 (3.0 điểm): “Cuối tháng 3, 1975, Bộ Chính Trị Trung ương Ðảng đã có quyết định gì để hoàn thành sớm quyết tâm giải phóng miền Nam? Quyết định đó được đề ra dựa trên những cơ sở nào? Tóm tắt diễn biến của chiến dịch Hồ Chí Minh.”


Một trong những sự nhầm lẫn gây “choáng” nhất của thí sinh đối với nhiều giám khảo là khi viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nói về sự kiện chiến dịch Hồ Chí Minh, nhiều thí sinh đã nhầm lẫn vô cùng tai hại về thời gian, không gian và bản chất của sự kiện: “Hồ Chí Minh về nước năm 1975 trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam”; “Năm 1975 nhân dân ta bầu Nguyễn Ái Quốc lên là Chủ tịch nước”; “Hồ Chí Minh đã chọn cách đánh Mỹ và lấy tên mình đặt tên cho chiến dịch Hồ Chí Minh”;


 


Hay là: “Nhờ sự lãnh đạo sáng suốt và nhận thấy thời cơ đánh Pháp nên Hồ Chí Minh ra lệnh mở chiến dịch mang tên mình để kết thúc chiến tranh với Pháp năm 1975”; “Năm 1975 nhờ sự kêu gọi trực tiếp của Hồ Chí Minh nên bà già, em bé, phụ nữ đã xông lên đánh Pháp giải phóng miền Nam, hóa ra Việt Nam vi phạm công ước chiến tranh của Liên Hiệp Quốc”…


 


Chuyện phim Mậu Thân


 


Như thế thì rõ ràng là học sinh Việt Nam ngày nay không muốn học sử đảng hay vì các em biết nhà nước đã nói dối nên đồng tình bịa những huyền thoại để nhạo báng, hay các em ngây thơ thật sự?


Khó ai biết được trong đầu các em nghĩ gì mà có thể “sáng tác” ra những “tuyệt phẩm lịch sử đảng” và “vai trò lãnh đạo của ông Hồ Chí Minh, một người đã chết từ năm 1969,” bỗng dưng được lôi sống lại cho cầm quyền đến tận năm 1975?


Nếu đem những mẩu chuyện “lịch sử” này lồng vào câu chuyện Cuốn phim tài liệu dài 12 tập “Mậu Thân 1968” của nhà đạo diễn (bà) Lê Phong Lan, chủ hãng phim Bản Sắc Việt, bắt đầu chiếu trên đài truyền hình Việt Nam từ ngày 25 tháng 1 năm 2013 thì không hiểu sự thật của lịch sử có được tôn trọng như nhà sử học Dương Trung Quốc trông đợi không?


Bởi lẽ khi viết sử đã khó mà dựng phim dựa theo lịch sử lại càng khó hơn gấp bội phần, dù là phim tài liệu như câu chuyện Tết Mậu Thân 1968 cách nay 45 năm.


Nếu người biên tập và nhà đạo diễn chỉ làm phim “theo cảm tính” nhằm thỏa mãn cho nhu cầu một phía trong trận chiến Tết Mậu Thân, nhất là khi phải nói đến những chuyện mà bà gọi là “nhạy cảm” đã xẩy ra ở mặt trận cố đô Huế trong 26 ngày thì những giả dối, thiên vị chỉ đồng nghĩa với xuyên tạc và bôi nhọ lịch sử.


Theo loan báo của bà Lê Phong Lan thì bộ phim đang gây chú ý trong vào ngoài nước gồm 12 tập đã mất 10 năm để thực hiện bằng tiền túi của bà, nhưng sau khi làm xong thì đài truyền hình Việt Nam đã mua ngay để chiếu ngay trong dịp Tết Quý Tỵ (2013).


Bà chia bộ phim này ra như sau:


Tập 1: Cuộc đối đầu lịch sử


Tập 2: Bí mật kế hoạch X


Tập 3: Trước giờ G


Tập 4: Nghi binh Khe Sanh


Tập 5: Tết Mậu Thân 1968


Tập 6: Mục tiêu chiến lược


Tập 7: Huế – 26 ngày đêm


Tập 8: Khúc ca bi tráng


Tập 9: Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh,


Tập 10: Không có gì quý hơn độc lập tự do


Tập 11: Mậu Thân trong lòng nước Mỹ


Tập 12: Tượng đồng bia đá.


Tuy nhiên đây không phải là phim tài liệu đầu tiên thuộc về chiến tranh do bà sản xuất mà tất cả các phim tài liệu của bà đều được truyền hình Việt Nam đặt hàng và chiếu trên màn ảnh gồm: “Huyền thoại về tướng tình báo Phạm Xuân Ẩn,” “Người thanh niên đến từ nước Mỹ,” “Ði giữa kẻ thù,” “Con đường bí ẩn” nói về tướng tình báo Cộng sản Ðặng Trần Ðức (bí danh Ba Quốc).


Ngòai ra cuốn phim “Hiệp Ðịnh Paris 1973” của bà cũng đã lên truyền hình Việt Nam vào dịp kỷ niệm 40 năm ngày ký kết hiệp định (27-1-1973 – 27/01/2013).


Các nhận vật tình báo Cộng sản từng “ăn cơm quốc gia” của Việt Nam Cộng Hòa như nhà báo (thiếu tướng) Phạm Xuân Ẩn (bí danh Hai Trung), Thiếu Tướng Vũ Ngọc Nhạ (bí danh Hai Nhạ), một thời từng cố vấn trong Dinh Ðộc Lập và Ðại tá Quân đội Việt Nam Cộng hòa (chuyên viên đảo chính) Phạm Ngọc Thảo cũng đã được đạo diễn Lê Phong Lan đề cao trong các phim do bà thực hiện theo đơn đặt hàng của đài truyền hình Việt Nam (VTV) từ sau năm 1975.


Ông Nguyễn Hà Nam, trưởng Ban Thư Ký biên tập của VTV cho biết: “Hướng ưu tiên tới đây của VTV là sẽ đầu tư cho những bộ phim tài liệu truyền hình dài tập, với dạng phim này, chúng tôi không đặt nặng doanh thu trong khi đầu tư là rất tốn kém. Nguồn kinh phí sẽ lấy từ doanh thu quảng cáo trong các chương trình giải trí để đưa sang, vì vậy rất mong khán giả thông cảm cho việc có những chương trình ăn khách thì sao phải xem quảng cáo nhiều thế. Tôi xin phép được bí mật về con số đầu tư cho mỗi tập phim “Mậu Thân 1968, ” mặc dù rất cao, cao hơn một tập phim truyện nhưng cũng chưa đủ bù đắp chi phí cho nhà sản xuất. Cá nhân tôi thấy, đây là bộ phim tài liệu mà khi đã xem, tôi bị cuốn hút tới mức không thể dứt ra được.” (Truyền hình Việt Nam)


Tất nhiên là phải “cuốn hút” vì nó đáp đúng nhu cầu của đảng và nhà nước trong mặt trận tuyên truyền để xoá đi mặc cảm mà suốt 45 năm qua nhà nước Việt Nam vẫn bị ám ảnh.


Vì vậy nhà đạo diễn đã tiết lộ lý do tại sao đã thực hiện phim “Mậu Thân 1968”: “Khi tôi làm phim về tướng tình báo Phạm Xuân Ẩn, ông đã bảo tôi: ‘Cháu phải làm phim về Mậu Thân 1968 vì đó là sự hy sinh vô cùng lớn lao để giành thắng lợi năm 1975, không hiểu tại sao mọi người có nói đó là vấn đề nhạy cảm của lịch sử, nhưng thực ra không có một chút gì nhạy cảm hết.’”


Nhưng tại sao lại cho là “nhạy cảm, ” Lê Phong Lan nói: “Vì sao mọi người phía ta tránh nhắc đến Mậu Thân, đó là vì sự tổn thất của quân đội nhân dân Việt Nam ở sự kiện này quá nhiều. Tâm sự với tôi khi trả lời phỏng vấn, nhiều chỉ huy các sư đoàn dạn dày chiến trận còn khóc nức lên vì thương lính. Ðó là lý do duy nhất.”


Quả nhiên về phương diện quân sự thì cả quân miền Bắc và du kích trong Nam đã thiệt hại rất nặng. Theo các ước tính quân sự thì trong cuộc tấn công Mậu Thân, CSVN đã vận động từ 323,000 đến 595,000 quân chính quy và địa phương trong Nam để thực hiện kế họach chống lại khỏang 1 triệu 200 quân VNCH và Hoa Kỳ với dự kiến chiếm đóng nhiều vùng lãnh thổ của VNCH.


Tuy nhiên kế họach hồ hởi của Hà Nội đã bị quân và dân VNCH được sự yểm trợ của quân đội Hoa Kỳ đánh bại. Khỏang từ 85,000 đến 100, 000 quân Cộng sản bị loai khỏi vòng chiến, so với thiệt hại của đồng minh có trên 6,000 tử thương, ngót 30,000 bị thương và trên 1,000 quân bị mất tích.


Thương vong thường dân, tính riêng tại Huế cũng đã có từ 5,000 đến 6,000 người chết và mất tích, đa số bị quân Cộng sản thảm sát bằng nhiều hình thức, kể cả chôn sống hay đập đầu cho chết vì muốn tiết kiệm đạn để chiến đấu.


Nhưng phía Cộng sàn đã liên tiếp phủ nhận trách nhiệm và đổ lỗi cho bom đạn của Mỹ và quân đội Việt Nam Cộng Hòa gây ra.


Vì vậy, theo tường thuật của báo chí Việt Nam thì bà Lê Phong Lan cho rằng: “Thấy trên mạng có quá nhiều thông tin sai lệch về sự kiện lịch sử này, tới nỗi các thế hệ sinh sau 1975 không còn biết đâu là thông tin sai, đâu là thông tin đúng vì vậy lại càng quyết tâm để làm phim.”


Báo Công An TP HCM ngày 25 tháng 1, 2013 cho biết: “Ðể hoàn tất bộ phim có đề tài khó này, đạo diễn đã gặp, phỏng vấn tại VN và Mỹ đến 200 nhân chứng cả ba phía quân đội nhân dân VN, quân đội Mỹ và những người trong bộ máy chính quyền Việt Nam Cộng Hòa để tìm ra sự thật. Ra mắt đúng vào dịp kỷ niệm 45 năm cuộc tổng tấn công Mậu Thân.”


Rồi bà Lê Phong Lan còn lý giải thêm rằng: “12 tập phim, tôi chỉ muốn tập trung đi tìm câu trả lời cho câu hỏi tại sao Mỹ – một cường quốc, lại can dự vào công việc của một nước nhỏ bé bằng cách phân tích bối cảnh, tình hình, lật lại hồ sơ tư liệu, tìm hiểu ý nghĩa thật sự của Mậu Thân 1968.” (Ðài Truyền hình Việt Nam)


“Tôi đã gặp những nhà báo Mỹ, những người lính bên kia chiến tuyến, họ đã nói, tất cả những thông tin về vụ thảm sát năm 1968 tại Huế chỉ là sự vu cáo của Mỹ và chính quyền Việt Nam cộng hòa đổ lên đầu Quân Giải Phóng miền Nam Việt Nam.


Ðể khỏa lấp cho sự thất bại nặng nề, phía Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa đã phát động những tin đồn nhảm gây nhiễu loạn như một cuộc chiến tranh tâm lý, và nó đã kéo dài trong một thời gian. Nhưng sự thật là sự thật. Chiến dịch Mậu Thân trải qua thời gian càng khẳng định là bản anh hùng ca vĩ đại của quân dân Việt Nam.”


Vẫn theo người đạo diễn này thì: “Nhiều câu chuyện lịch sử ít người biết được lật lại. Một trong số đó là sự kiện 26 ngày đêm tại Huế từng bị cho là ‘cuộc thảm sát đẫm máu’ được mô tả trong cuốn sách Giải Khăn Sô Cho Huế của nhà văn chế độ cũ – Nhã Ca.”


Báo Dân Việt (23-01-2013) trích lời bà này viết rằng: “Chị nói, nhiều người đã dựa vào cuốn sách “Vành khăn xô cho Huế” của tác giả Nhã Ca để dựng nên những chuyện vô cùng sai lệch về Mậu Thân 1968, làm oan uổng cho rất nhiều người. (Chú thích: Tên đúng là “Giải Khăn Sô Cho Huế”- Phạm Trần)


Trong cuốn sách đó, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường bị vu oan là dẫn đầu một cánh quân đi thảm sát các nhân viên công quyền và người dân Huế, thực tế, trong thời điểm ấy, ông Tường vẫn ở trên chiến khu. Nhà nghiên cứu Nguyễn Ðắc Xuân cũng chịu một nỗi oan tương tự, ông chỉ dẫn đầu một toán học sinh, sinh viên nhưng Nhã Ca cũng viết ông dẫn quân đi thảm sát. Tất cả các nhân chứng mà đạo diễn Phong Lan gặp, trong đó có nguyên Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu đã khẳng định không có một vụ thảm sát nào. Các nhà báo quốc tế yêu cầu được tiếp cận với những hố chôn người tập thể như cáo buộc của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa nhưng họ cũng bị từ chối. Một nhân chứng đạo diễn Phong Lan đã gặp và phỏng vấn là nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cho biết, quân đội Bắc Việt Nam vô cùng nghiêm túc, kỷ luật, không hề có chuyện thảm sát.”


Tuy nhiên cũng chính Hoàng Phủ Ngọc Tường lại nói với nhà văn Thụy Khuê trong cuộc phỏng vấn cho chương trình tiếng Việt đài Phát thanh Quốc tế Pháp (Radio France International, RFI) ngày 12 tháng 7, 1977 rằng: “Trong cuốn Giải Khăn Sô Cho Huế, của Nhã Ca in sau biến cố Mậu Thân, tác giả cũng nói rằng: Phủ (tức là tôi), không về Huế, và nếu có về thì chắc cũng không giết người. Tôi thành thật cảm ơn chị Nhã Ca đã dành cho tôi điều nhìn nhận khách quan rất quan trọng này, dù trong cảnh tượng máu lửa hỗn quan hỗn quân của Huế Mậu Thân. Ðã không có mặt ở Huế thì làm sao tôi – Hoàng Phủ Ngọc Tường – lại có thể làm cái việc ghê gớm gọi là ‘đồ tể’ Mậu Thân ở Huế được?”


Như vậy thì bà đạo diễn Lê Phong Lan có nói và làm phim đúng không?


Cũng trong cuộc phỏng vấn này, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, thành viên của Liên Minh Các Lực Lượng Dân Tộc Dân Chủ Và Hòa Bình Thành Phố Huế đi theo Cộng sản trong vụ Mậu Thân, còn đối đáp như sau:


-Thụy Khuê: Nhìn từ phía những dữ kiện lịch sử mà anh nắm bắt được, diễn biến Mậu Thân đã xẩy ra trong một trình tự như thế nào?


-HPNT: Huế Mậu Thân đã xẩy ra cách đây gần 30 năm. Sách vở, tài liệu đã được công bố từ nhiều phía của cuộc chiến, khá đầy đủ, có thể làm cơ sở cho những phân tích khoa học để giải phẫu một cuộc chiến mà thật ra, không thể đơn giản tách riêng ra trong biến cố Mậu Thân. Ðiều quan trọng còn lại tôi xin ngỏ bầy ở đây, với tư cách là một đứa con của Huế, đã ra đi và trở về, ấy là nỗi thống thiết tận đáy lòng mỗi khi tôi nghĩ về những tang tóc thê thảm mà nhiều gia đình người Huế đã phải gánh chịu, do hành động giết oan của quân nổi dậy trên mặt trận Huế năm Mậu Thân. Ðó là một sai lầm không thể nào biện bác được, nhìn từ lương tâm dân tộc, và nhìn trên quan điểm chiến tranh cách mạng. Nhưng tôi tin rằng đây là một sai lầm có tính cục bộ, từ phía những người lãnh đạo cuộc tấn công Mậu Thân ở Huế, chứ không phải một chính sách toàn cục của cách mạng. Bởi vì tình trạng giết chóc bừa bãi như vậy, đã không xẩy ra ở những địa phương khác trong Mậu Thân, ngay cả trên một địa bàn rộng lớn với tình trạng xen kẽ giữa những lực lượng đối địch rất phức tạp như ở Sài Gòn thời ấy.


-Thụy Khuê: Vậy, theo anh, ai trách nhiệm những thảm sát ở Huế?


-HPNT: Tôi không đủ thẩm quyền để phán xét bất cứ cá nhân nào. Xin trích dẫn theo trí nhớ một ý tưởng trong hồi ký của chính ông Lê Minh, tư lệnh chiến dịch Huế Mậu Thân: “Dù bởi lý do nào đi nữa, thì trách nhiệm vẫn thuộc về những người lãnh đạo mặt trận Mậu Thân, trước hết là trách nhiệm của tôi. Qua bài hồi ký tâm huyết này, đã được công bố trên tạp chí Sông Hương, Huế, và sau đó, nếu tôi không nhớ lầm, đã được dịch và in toàn bộ trên báo Mỹ Newsweek, tác giả, Lê Minh (lúc đó đã nghỉ hưu), còn nhắc nhở rằng, điều quan trọng có thể làm, và phải làm bây giờ, là những người lãnh đạo kế nhiệm ở Huế, phải thi hành chính sách minh oan cho những gia đình nạn nhân Mậu Thân, trả lại công bằng trong sáng và những quyền công dân chính đáng cho thân nhân của họ.”


 


Những tiếng nói khác


 


Ông Ðinh Lâm Thanh, trong bài thuyết trình trong dịp tưởng niệm 40 năm biến cố Mậu Thân tổ chức tại Paris ngày 2 tháng 3, 2008, nói: “Tại Huế, CS lùng bắt thành phần quân-cán-chính, tập trung dân để tổ chức đấu tố, bắn giết, chôn sống tại chỗ một số và dẫn những người còn lại theo làm tù dân – tôi nói tù dân, vì tù là những người dân vô tội – trước rút lui tháo chạy trước sức tấn công mãnh liệt của QLVNCH và Ðồng Minh.


“Nếu tính nạn nhân tại Huế, ngoài số quân nhân, cảnh sát, nhân viên cán bộ hành chánh về nghỉ Tết cũng như những người sống tại địa phương làm việc cho chính quyền Sài Gòn bị Cộng sản bắn ngay tại chỗ là 1. 892 người. Ngoài ra người ta còn tìm được 2326 tử thi thường dân trong 22 hố chôn tập thể tại những địa điểm như Trường Gia Hội, Chùa Theravada, Bãi Dâu, Cồn Hến, Tiểu Chủng viện, Quận tả ngạn, Phía đông Huế, Lăng Tự Ðức, Lăng Ðồng Khánh, Cầu An Ninh, Cửa Ðông Ba, Trường An, Ninh Hạ, Trường Vân Chí, Chợ Thông, Chùa Từ Quang, Chùa Từ Ðàm, Lăng Gia Long, Ðồng Di, Vịnh Thái, Phú Lương, Phú Xuân, Thượng Hòa, Thủy Thanh, Vĩnh Hưng và Khe Ðá Mài.


“Mỗi hố chôn tập thể từ 5, 7 người đến trên 400 nạn nhân như ở Khe Ðá Mài. Những nạn nhân nầy bị thảm sát một cách dã man như: Cột chùm nạn nhân lại với nhau và đốt cháy bằng xăng, bắt ngồi trên mìn rồi cho nổ tan xác, chặt đầu, bắn vào ót, đập chết bằng bá súng, đóng cọc từ dưới bàn tọa lên đến cổ, trói tay chân thành từng chùm rồi xô xuống hố chôn sống. Nạn nhân là thường dân vô tội tuổi từ 15 trở lên, gồm có sinh viên học sinh, 6 linh mục là các cha Bửu Ðồng, Hoàng Ngọc Bang, Lê Văn Hộ, cha Guy và cha Urbain (dòng Thiên An), và cha Cressonnier (Hội Thừa sai Paris), 5 thầy dòng gồm 3 sư huynh dòng Thánh Tâm là thầy Hec-Man, thầy Mai Thịnh và thầy Bá Long, 2 sư huynh dòng Lasan là thầy Agribert và thầy Sylvestre. Hai thầy dòng Lasan bị bắt và bị chôn sống chung một hố với linh mục Bửu Ðồng tại Sư Lỗ, quận Phú Thứ. Ngoài ra Cộng sản còn giết các giáo sư đại học người nước ngoài trong lúc họ đang dạy ở đại học Y khoa Huế và thân nhân họ hàng của những người phục vụ dưới chế độ VNCH. Người ta ước lượng tại thành phố Huế có gần 5. 000 người bị Cộng sản giết trong vòng mấy tuần lễ.



“Những người lớn tuổi còn sống tại Huế là những nhân chứng sống. Trong đó có hai thanh niên nguyên là học sinh trung học, nay đã 56 tuổi, trả lời phỏng vấn của các nhà báo ngoại quốc. Người thứ nhất tên Tuấn cùng với những học sinh khác đã bị CSBV bắt đào lỗ chôn sống 5 người tại Gia Hội ngay trong ngày đầu tiên khi CS vừa chiếm Huế. Học sinh thứ hai, xin giấu tên, ở Phủ Cam bị bắt đi theo đoàn tù dân đưa chôn sống ở Khe Ðá Mài. Cả hai học sinh nầy nhờ một phép nhiệm mầu nào đó họ đã thoát được và sống sót đến ngày hôm nay.” (Khối 8406 Tự do Dân chủ cho Việt Nam, 01-2009)


Hai Linh Mục Phan Văn Lợi và Nguyễn Hữu Giải hiện còn sống ở Việt Nam kể lại như sau:


“…tại núi Ba Tầng (núi Bân), phía Nam thành phố Huế. Ngôi mộ này lưu giữ hơn 400 bộ hài cốt chủ yếu bốc từ Khe Ðá Mài nhưng đã bị chính quyền cộng sản phá đổ trụ bia và để cho hoang phế suốt 32 năm trời…


“Trong toàn bộ biến cố Tết Mậu Thân, có lẽ những gì xảy ra tại Huế là đau thương và đánh động hơn cả, có lẽ cuộc thảm sát tại Khe Ðá Mài là rùng rợn, dã man và thê thảm nhất. Tiếc thay, theo sự am hiểu của chúng tôi, hình như người ta chỉ biết đến kết cục của nó là hàng trăm bộ hài cốt dồn lại một đống dưới khe sau khi thịt thối rữa bị nước cuốn đi lâu ngày, từ đó suy diễn ra sự việc hơn là biết rõ diễn tiến của toàn bộ sự việc kể từ lúc nạn nhân bắt đầu bị dẫn đi đến chỗ hành quyết.” (Ðối Thọai online, 17-01-2008)


Hai linh mục Lợi và Giải cho biết họ họ gặp một nhân chứng sống lúc bấy giờ ông ta mới 17 tuổi cũng bị bắt theo đoàn người bị đưa đi giết ở Khe Ðá Mài nhưng may mắn lợi dụng lúc đêm tối nên ông đã trốn thoát và hiện còn sống ở trong nước đã kể lại:


“Hồi ấy, tôi mới 17 tuổi, đang là học sinh trung học đệ nhị cấp. Vì tình hình bất an, gia đình tôi đã từ quê chạy về thành phố, cư ngụ tại giáo xứ Phủ Cam, thôn Phước Quả, xã Thủy Phước, tỉnh Thừa Thiên (nay gọi là phường Phước Vĩnh, thành phố Huế) từ mấy năm trước… Khuya mùng Một rạng mùng Hai Tết, tôi nghe tiếng súng nổ khắp nơi và được tin Việt Cộng đã chiếm nhiều nơi trong thành phố Huế… Cả gia đình tôi cũng như nhiều giáo dân ở Phủ Cam đều chạy đến ẩn núp trong nhà thờ để tránh bom đạn. Lính Nghĩa Quân của xã và một số quân nhân về phép chiến đấu bên ngoài để bảo vệ đồng bào. Sau mấy ngày, không có tiếp viện nên chiều mùng 5 Tết (3 tháng 2, 1968) phải rút chạy… Khuya mùng 5 Tết, Việt Cộng tràn vào nhà thờ bắt những người từ 15 tuổi đến ngoài 50 tuổi bất kể là học sinh hay thường dân… và tuyên bố ‘cho đi học tập trong vòng 3 ngày sẽ trở về’ trong đó có tôi… Sáng hôm sau, chúng tôi bị dẫn đi theo đường xe lửa từ Phủ Cam ra Bến Ngự và đến chùa Từ Ðàm… Tại đây tôi thấy Việt Cộng rất đông vừa du kích địa phương vừa bộ đội miền Bắc… Ngôi nhà 5 gian thì 4 gian đã đầy người bị bắt từ mấy ngày trước, còn một gian để giam giữ những người mới bị bắt… Tôi gặp những người quen như ông Tín (thợ chụp ảnh), ông Hồ (thợ hớt tóc), anh Trị (con ông Ngọc người đánh đàn trong nhà thờ), ông Hoàng (đông y sĩ ở Chợ Xép), hai người con trai ông Thắng (làm nghề nấu rượu nuôi heo), hai người con trai ông Vang (nhạc sĩ thổi kèn đồng), anh Thịnh (con ông Năm), hai anh em Bình và Minh (con ông Thục), anh Minh (16 tuổi, con ông Danh nhân viên công ty thủy điện Huế) đều là học sinh… Chúng tôi ngồi tại chùa Từ Ðàm suốt cả một ngày từ sáng tới tối không được ăn uống gì cả… Họ đưa cho chúng tôi mỗi người một tờ giấy để viết bản ‘khai lý lịch’ tên, nghề nghiệp, tên cha mẹ, sinh quán ở đâu… Ai khai gian sẽ bị đem ra bắn… Tôi thấy một số người bị trói vào gốc cây bồ đề và bị đem ra bắn chôn ngay trong sân chùa, trong đó có anh Hoàng Sự (Cảnh Sát) mà tôi biết tên. Họ cho một vài người về nhắn với gia đình tiếp tế lương thực và quần áo, thuốc men cho những người đang bị giam giữ… Khi trời sẩm tối, họ bắt chúng tôi ra ngồi xếp hàng giữa sân chùa. Một anh cán bộ tuyên bố:


– Anh em yên tâm, Cách Mạng sẽ đưa anh em đi học tập trong 3 ngày rồi sẽ cho về với gia đình! Bây giờ chúng ta lên đường!


“Rồi họ dùng dây điện thoại trói tay chúng tôi ra phía sau lưng từng người một, rồi dùng dây kẽm gai nối 20 người làm một toán. Tôi đếm được trên 25 toán như thế (tất cả 500 người). Một người địa phương đi nhìn mặt anh em chúng tôi và nói với nhau:


– Không thấy Trọng Hê và Phú Rỗ trong số giáo dân Phủ Cam ở đây.


(Anh Trọng con ông Hê và anh Phú là hai thanh niên ở Phủ Cam có võ nghệ mà giới du đãng ở Huế biết tiếng. Hai anh đã chạy theo lính Nghĩa Quân xã rút lui khi Việt Cộng vào nhà thờ! Những người bị bắt đến đây đều là dân lành vô tội).


“Họ dẫn chúng tôi đi vào đường bên trái Ðàn Nam Giao, vòng qua Dòng Thiên An, đến lăng Khải Ðịnh, vòng phía sau trụ sở Quận Nam Hòa, ra đến bờ sông Tả Trạch (Thượng nguồn sông Hương)… Ðến bờ sông, Việt Cộng cho chặt cây lồ ô (nứa) làm bè để tất cả đoàn người vượt qua sông (khu vực lăng Gia Long), thuộc vùng núi Ðình Môn, Kim Ngọc (vùng núi tranh). Từ đó, chúng tôi bắt đầu đi sâu vào rừng, ban đêm, trời lạnh lắm, khi lên đồi, lúc xuống lũng, lúc lội qua khe… Khoảng 30 bộ đội miền Bắc dẫn chúng tôi đi, họ dùng đèn pin hay đuốc để soi đường, chúng tôi đi trong rừng tre nứa và cây cổ thụ dày đặc… Khoảng nửa đêm, chúng tôi được dừng lại để nghỉ và mỗi người nhận được một vắt cơm. Chúng tôi đoán đã đi được trên 10 cây số rồi! Chúng tôi ngồi gục đầu dưới cơn mưa, cố gắng ngủ một chút để lấy sức còn phải đi tiếp… Bỗng như có linh tính báo trước, người tôi run lên bần bật… Tôi nghe hai tên bộ đội nói nhỏ với nhau:


– Trong vòng 15-20 phút nữa sẽ thủ tiêu hết bọn nầy!


Tôi liền ghé miệng vào tai thằng bạn bị trói ngay trước mặt:


– Tụi mình ráng mở dây trốn đi! Mười lăm phút nữa là bị bắn chết hết đó!


“Trời mưa, dây điện trơn trợt, lát sau, chúng tôi mở được dây nhưng vẫn ngồi yên sợ chúng biết. Tôi nói nhỏ:


– Hễ tao vỗ nhẹ sau lưng là tụi mình chạy nghe!


Bọn Việt Cộng đánh thức chúng tôi dậy, một tên nói lớn cho mọi người nghe:


– Chúng ta sắp đến trại học tập rồi. Ai có vàng, tiền, đồng hồ, bật lửa… thì đem nộp, không được giữ trong người… Học tập xong sẽ được trả lại…


“Thế là bọn chúng lột sạch và cho tất cả vào mấy cái ba lô vải. Tên bộ đội đứng gần chúng tôi còn mang trên vai cả chục cái radio mà chúng đã cướp được của dân ở thành phố… Một tay mang súng, một tay mang các thứ vừa cướp được, hắn đi chậm lại cách xa mấy tên kia một quãng… Chúng tôi bắt đầu xuống dốc, nghe tiếng nước chảy róc rách… Tôi vỗ nhẹ vai thằng bạn và cả hai chúng tôi vung tay và nhanh nhẹn phóng ra khỏi hàng. Tôi đá mạnh và tên bộ đội mang nhiều radio… Hắn ngã nhào! Hai chúng tôi lao vào rừng…


Trời tối, rừng già chúng không giám đuổi theo… Khi nghe tiếng đoàn người đi khá xa, chúng tôi mới bò ra khỏi chỗ ẩn núp và đi ngược trở lại… Chừng 15-20 phút sau, chúng tôi bỗng nghe từ phía dưới vọng lên tiếng súng AK, rồi lựu đạn nổ vang rền…Một góc rừng rực sáng! Chen vào đó tiếng khóc la khủng khiếp… không hiểu sao lúc đó, tai tôi nghe rất rõ ràng… Lúc đó khoảng 12-12 giờ 30 khuya… đầu ngày 8 Tết(6/2/1968). Về sau tôi mới biết chỗ đó là Khe Ðá Mài…” (Bài thuyết trình của cựu Dân Biểu VNCH Nguyễn Lý Tưởng tại cuộc hội thảo về chiến tranh Việt Nam tổ chức tại Việt Nam Center (Lubbock, Texas) từ ngày 13 đến 15/3/2008)


 


Ðối diện sự thật


 


Ông Võ Văn Bằng, trưởng ban Cải Táng Nạn Nhân Cộng Sản Tết Mậu Thân nói với đài Á Châu Tự Do (RFA) năm 2008: “Các hố cách khoảng nhau. Một hố vào khoảng 10 đến 20 người. Trong các hố, người thì đứng, nào là nằm, nào là ngồi, lộn xộn. Các thi hài khi đào lên, thịt xương đã rã ra. Trên thi hài còn thấy những dây lạc trói lại, cả dây điện thoại nữa, trói thành chùm với nhau. Có lẽ, họ bị xô vào hố thành từng chùm. Một số người đầu bị vỡ hoặc bị lủng. Lủng là do bắn, vỡ là do cuốc xẻng…”


Vẫn theo RFA thì nhà báo Vũ Ánh, nguyên phóng viên mặt trận hệ thống truyền thanh quốc gia VNCH, đã có mặt tại Huế từ ngày 5 đến 29 Mậu Thân và đi theo nhiều nhóm tìm hầm chôn tập thể kể lại cảm giác của ông: “Vùng nhiều nhất là quận Phú Thứ và Dạ Lê Thượng có nhiều hầm chôn xác tập thể. Cảm giác của tôi lúc ấy rất lạ, như là bị tê liệt khi nhìn các hình ảnh đó…


“Ngay ở hầm Phú Thứ, chắc khoảng gần 1,000 người. Khui lên, đầu của họ phía sau sọ bị bể hết. Những thi hài bị nối nhau bằng dây điện thoại. Có những người không có vết thương, chứng tỏ bị chôn sống.” (RFA online ngày 1-2-2008)


Trong bài nói chuyện tại buổi 40 năm Tưởng Niệm Tết Mậu Thân, Việt Báo Gallery, Thứ Bảy, 29 tháng 3, 2008, Nhà văn Nhã Ca tác giả “Giải Khăn Sô Cho Huế” nói:


“Bốn mươi năm trước đây, đúng vào giờ trưa mùng Hai Tết, tại Cửa Ðông Ba Huế, chỉ mấy tiếng đồng hồ sau khi đột nhập, cộng sản khai diễn cuộc tàn sát. Toán nạn nhân đầu tiên gồm 5 thường dân – không hề có người lính Cộng Hòa nào. Tất cả bị trói, bắt đứng quay lưng vào tường thành. Dân chúng đứng coi. Súng AK nổ. Từng người gục chết. Sau cuộc hành hình, thân nhân những người bị bắn nhào ra muốn ôm xác. Họ bị đánh, bị đá, bị đuổi. Xác người bị phơi ngày phơi đêm. Nắng. Máu. Dòi bọ…


“Và cuộc tàn sát tiếp tục. Không bằng súng đạn mà bằng cách chôn sống. Những nạn nhân bị cột trói bằng dây điện dính chùm xếp hàng bên hố. Một vài người bị đập đầu. Cả dây người đang sống bị đạp xuống hố đè lên nhau. Cái đầu nào ngóc lên bị đập bằng cuốc. Cứ thế mà chôn hàng ngàn người. Bạn tôi, chị Tâm Túy cũng đã bị chôn sống. Khi xác đào lên, thấy hai tay chị vói lên như đang cố cào bới đất. Móng tay, móng chân mọc dài hơn. Tóc mọc dài hơn… Bạn tôi bị chôn sống khi còn đầy sức sống.”


“Huế Tết Mậu Thân. Hàng ngàn người đã bị chôn sống như thế.” (Việt Báo ngày 31-3-2008)


Cư sĩ Trí Lực, người đã chôn cất những xác chết nằm lại sau biến cố Mậu Thân kể lại với RFA về nỗi kinh hoàng của ông:


“Hai mươi sáu ngày sau, sau khi Cố đô Huế bình định trở lại thì tôi tận mắt chứng kiến những hầm chôn tập thể được khai quật lên từ vùng Bãi Dâu Gia Hội, những người xấu số đã bị trói quật lại sau lưng và có những mảnh xương sọ bị vỡ nát. Cảnh kinh hoàng là cộng sản đã chon sống bao nhiêu người dân vô tội.


Nhà văn Ðinh Lâm Thanh, hiện sống ở Pháp, cũng là chứng nhân của biến cố Mậu Thân kể:


“Gia đình của tôi vùng Phủ Cam là một, vùng An Vân Thượng là hai, Gia Hội là ba. Bà con xa bà con gần của bên họ ngoại của tôi gồm cả thảy 12 người. Trong 12 người đó, có người bị chôn sống, có người bị bắn tại chỗ, có người bị chặt đầu, có người bị mổ bụng.” (RFA online ngày 7-2-2012)


Ông Nguyễn Lý Tưởng, cựu dân biểu khu vực Thừa Thiên Huế kể lại trong“cuộc hội thảo về chiến tranh Việt Nam tổ chức tại Việt Nam Center (Lubbock, Texas) từ ngày 13 đến 15 tháng 3, 2008”: “Mồ chôn tập thể: Các nạn nhân bị thảm sát tại Huế và Thừa Thiên được tìm thấy tại trường tiểu học Gia Hội, chùa Therevada, Bãi dâu, Cồn Hến, Tiểu Chủng Viện, khu vực phía Tây Huế gần lăng Tự Ðức và lăng Ðồng Khánh, cầu An Ninh Thượng, cửa Ðông Ba, trường An Ninh Hạ, trường Văn Chí, Chợ Thông, Lang Xá Cồn, gần lăng Gia Long, gần chùa Tường Vân, Ðông Gi (Di), Vinh Thái, Thủy Thanh, Lương Viện, Phù Lương, Phú Xuân (Phú Thứ), Thượng Hòa, Vinh Hưng, Khe Ðá Mài…tất cả 23 địa điểm tại tổng cộng 2326 xác chết (sọ người). Còn khoảng trên 3, 000 nạn nhân thuộc tỉnh Thừa Thiên và Huế đã được thân nhân xác nhận là chết hoặc bị bắt đi thủ tiêu, mất tích… không biết họ đã bị giết chết và chôn xác ở đâu?!”


Dã man nhất là tại Khe Ðá Mài (thuộc vùng núi Ðình Môn, Kim Ngọc, quận Nam Hòa, tỉnh Thừa Thiên) Việt Cộng đã dùng súng trung liên, đại liên, lựu đạn và mìn giết tập thể các nạn nhân, vất xác xuống dưới khe, lâu ngày thịt thối rữa bị nước cuốn đi, chỉ còn 428 sọ người, xương người dồn lại một đống. Người ta đã dựa vào các dấu vết còn lại của nạn nhân như áo len, tượng ảnh, giấy căn cước bọc nhựa (ID)… để biết được thân nhân của mình đã chết ở trong đống sọ và xương lẫn lộn đó. Ða số những nạn nhân nầy là giáo dân bị bắt ở nhà thờ Phủ Cam vào đêm mùng 5 Tết (3 tháng 2, 1968). Người ta cũng tìm thấy vết tích của hai ông Lê Hữu Bôi (chủ tịch sinh viên Phật tử năm 1963) và Lê Hữu Bá (sĩ quan Quân Cảnh) tại Khe Ðá Mài. Các em học sinh như Bùi Kha (16 tuổi), Phan Minh (16 tuổi), Nguyễn Duyệt (17 tuổi) và nhiều bạn trẻ khác thuộc giáo xứ Phủ Cam cũng bị VC giết hại tại đây…”


 


Lê Phong Lan có nói thật?


 


Trái với những lời kể này, bà Lê Phong Lan cho biết bà đã phỏng vấn ông Lê Khả Phiêu – người chỉ huy một trung đội trong sự kiện Mậu Thân 1968 tại Huế; lãnh đạo Thanh Niên Phật Tử tranh đấu ở Huế theo Cộng sản nhà nghiên cứu Nguyễn Ðắc Xuân; nhà báo Mỹ Stanley Karnow, cựu phóng viên tờ Washington Post Don Lux; GS sử học Larry Berman, và cả những người lính từ hai phía.


Bà nói: “Những dẫn chứng lịch sử cho thấy thông tin bị làm méo mó. Vào thời điểm đó, một số hãng thông tấn nước ngoài và các nhà báo độc lập đã tìm hiểu và xác định không tìm thấy hố chôn người tập thể như phía Việt Nam Cộng Hòa đưa ra. Câu chuyện của những nhân chứng có thẩm quyền đã làm sáng rõ: cái gọi là ‘cuộc thảm sát đẫm máu’ chỉ là đòn tâm lý chiến mà Mỹ dựng lên, thực tế Huế đã bị bom Mỹ phá hủy làm nhiều thường dân chết cùng với quân giải phóng và lính Mỹ.”


Nhưng, “ông Trương Như Tảng (cựu bộ trưởng Tư Pháp Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam, về sau ly khai chính phủ và vượt biên sang sống lưu vong ở Pháp), thì trong cuộc chiếm đóng Huế, một số lớn người đã bị xử tử vì thuộc thành phần phục vụ cho chính quyền Việt Nam Cộng Hòa (viên chức, cảnh sát, sĩ quan, chính trị gia, địa phương quân…) nhưng cũng có người bị giết mặc dù không tham gia chiến trận. Ông dẫn lời một người bạn rằng do kỷ luật kém ở một số đơn vị, một số thường dân cũng nhân dịp hỗn loạn để trả thù nhau nên đã có những vụ giết hại vô cớ. [8] Một bản báo cáo của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng bắt được ngày 25 tháng 4 năm 1968 ghi nhận, họ đã “diệt 1,892 nhân viên hành chánh, 38 cảnh sát, 790 tên ác ôn, sáu đại uý, 1 trung úy, 20 thiếu úy và nhiều sĩ quan trừ bị…” trong cuộc chiếm đóng Huế.” (Tài liệu trích theo Hồi ký của ông Trương Như Tảng trên Internet)


Ngoài ra, báo cáo chính thức sau Mậu Thân ở Huế còn cho biết: “Một vụ thảm sát gây phẫn nộ dư luận quốc tế là vụ giết 4 bác sĩ người Ðức sang giảng dạy và làm việc tại trường Ðại Học Y Khoa Huế. Trong bài viết ‘The Vietcong Massacre at Hue,’ xuất bản năm 1976, một bác sĩ có tên Elje Vannema, kể rằng ông bà bác sĩ Horst Gunther Krainick và hai bác sĩ Raymund Discher cùng Alterkoster đã bị giết trong tháng Hai năm 1968 tại chùa Tường Vân hoặc một vùng đất nhiều cây cối cách chùa chừng nửa dặm, nơi người ta tìm thấy thi hài của các nạn nhân. Bác sĩ người Pháp, có tên Le Hir khám nghiệm tử thi các nạn nhân cho biết có dấu vết đạn xuyên qua đầu và ót.”


Như vậy thì người ta nên tin ai?


Chẳng nhẽ những người sống sót và nhân chứng đã bịa đặt ra chuyện thảm sát để vu oan cho quân Cộng sản hay bà Lê Phong Lan đã cố tình làm phim để chạy tội cho quân Cộng sản?


Dù cho thế nào thì cũng sẽ có ngày vụ giết thường dân vô tội ở Huế trong vụ Mậu Thân 1968 sẽ được bạch hoá vì lịch sử và những nạn nhân, hay con cháu của những người bị lính Cộng sản tàn sát ở Huế vẫn còn đó. Ngay cả những oan hồn do họng súng, dao găm, búa rìu hay dây nhợ cột vào thân nối nhau bị đẩy xuống hố vẫn còn vất vưởng ở khắp thành phố Huế và vùng phụ cận.


Từ bao nhiêu năm qua, người dân ở Huế đã cố quên đi nỗi đau buồn khi mỗi dịp Xuân về, nhưng năm nay thì bà Lê Phong Lan thay vì đem đến cho họ mòn quà Tết thì bà lại cố tình lấy dao cắt vào thớ thịt của mỗi người bằng bộ phim “Mậu Thân 1968” để nhắc cho dân cố đô biết rằng máu vẫn chưa khô trên thành phố Huế.


(Tháng 1, 2013)

Phe đồng tính luyến ái đã đánh sập thành trì cộng sản như thế nào?


Nồng Tình Hý Bút


 


(Nhân vụ việc Hội Ðồng Liên Tôn không cho liên minh GLBT tham dự diễn hành Tết)


 


Hai chữ “đồng chí” lâu nay được xem như là ngôn từ đặc trưng, thậm chí mang tính độc quyền trong quan hệ ràng buộc ý chí vào nhau dưới chế độ xã hội chủ nghĩa cộng sản ở Trung Quốc do Mao Trạch Ðông sáng lập.









Mặc dù trước đó, trong cuộc cách mạng tư sản Tân Hợi, Tôn Dật Tiên cũng có dùng qua mấy lần nhưng chỉ dừng ở dạng đang nằm trong câu văn chứ chưa hiện rõ như một cao trào xưng hô long trời lở đất như kiểu các đồng chí cộng sản với nhau.


Ở nước ta, từ đồng chí tồn tại trong văn hóa văn chương không khác gì Trung Quốc là mấy. Các đảng phái ngoài cộng sản cũng có dùng để xưng hô với nhau. Cụ Phan Bội Châu cũng có dùng mấy lần trong các sáng tác văn chương. Thế rồi, cũng như Trung Quốc, cao trào cách mạng cộng sản đã biến thể từ đồng chí thành thương hiệu độc quyền y chang như bên Trung Quốc.


Mao Trạch Ðông là người có tâm huyết lớn về mặt cải biên ngôn ngữ Trung Quốc trở thành một thứ văn hóa đặc thù của chế độ cộng sản. Dưới thời Mao, ngoài việc Trung Quốc cải biên chữ Hán từ lối truyền thống ngàn năm (phồn thể) sang hệ thống đơn giản (giản thể) rút nét, Mao ta còn hiếu kỳ tìm kiếm các khái niệm, các loại từ trong văn học cổ điển Trung Quốc (và có khi còn cả Tây Âu) để nâng cấp chúng, biến chúng thành đặc sản ngữ văn của Mao văn hóa tạo nên hai luồng văn tự Trung Quốc đang tồn tại. Gần đây, tuy quan hệ giữa Ðài Loan và Trung Quốc có phần nồng ấm hơn, nhưng tổng thống của Ðài Loan ra quyết định cấm tuyệt đối loại chữ Hán giản thể kiểu Trung Quốc đại lục in ấn ở Ðài Loan và coi là một nguy cơ xâm lăng văn hóa.


Lấy ví dụ chữ Ái trong Ái Tình mà chiết tự thì thấy nó mang máng chữ Thụ đang viết nửa chừng, rồi một quả tim (chữ Tâm) như bị áp lực trên trên dưới dưới khiến nó bị dồn ép tràn trào, làm người ta liên tưởng ngay đến khái niệm chân lý của tình yêu do tâm phát xuất. Chỉ một chữ Ái của người xưa là một sơ đồ về mặt cảm xúc – cảm khái dạt dào ghi hoài không hết. Trong lúc đó chữ Ái thời Mao Trạch Ðông, thay vì có hình con tim đang bị áp lực mấy lần thì chỉ nháy vào đó chữ Hữu, có nghĩa là bạn bè, nhìn thô, không còn tim tiếc gì sất. Khách quan mà nói chữ Ái kiểu này về mặt “thuyết văn giải tự” có sự vô duyên nếu không nói là có âm mưu phủ nhận ái tình theo bản năng và tâm thức lãng mạn.


 


Văn hóa đồng chí


 


Thế rồi chuyện lại liên quan đến từ đồng chí: Theo sách vở xưa, từ đồng chí xuất hiện từ thời đại Xuân Thu Chiến Quốc và liên tục cho đến các sách Hậu Hán Thư, Tấn Ngữ đều có ghi lại đàng hoàng, “đồng đức tắc đồng tâm, đồng tâm tắc đồng chí” để chỉ về mối quan hệ minh hữu có cùng chí hướng trong các quan hệ mang tính trưởng giả đời xưa. Cũng có khi trong cổ thi Trung Quốc, khát vọng dâng cao quá! không biết làm sao diễn tả như cảnh hô hoán giữa trời của người vợ mới cưới được một tháng đang chờ chồng, có lẽ đang quá độ (qua đò) ở bến sông.


Chu nhân vọng tưởng năng đồng chí


Nhất nguyệt không tương tân phụ hô


Thế rồi, cách mạng cộng sản trỗi dậy, từ đồng chí được chú ý để phiên dịch khái niệm “Dawarish” từ tiếng Nga Xô Viết. Cách mạng cộng sản thành công ở Trung Quốc rồi, đồng chí trở thành một thứ xưng hô cào bằng tất cả các trật tự cho khỏi giai cấp và khách sáo phiền phức. Ðồng chí trở thành độc quyền sử dụng, là đặc sản ngữ văn và trở thành văn hóa bản sắc đóng vai trò xóa bỏ giai cấp cho đến bây giờ.


 


Ðồng chí là đồng tính luyến ái


 


Nhưng hiện nay, từ đồng chí đang gặp trở ngại trong cách sử dụng thông thường. Số là vào khoảng thập niên 80-90, khi văn hóa Hồng Kông còn mạnh, không biết làm thế nào mà sau một đêm ra mắt tiết mục có tên “Hương Cảng Ðồng Chí Ðiện Ảnh Tiết” dành cho loại phim đồng tính tạo cảm động nhất thời. Sau đó, hai chữ đồng chí trở thành định nghĩa dành cho quan hệ đồng tính nam. Không bao lâu, các vùng sử dụng Hoa Ngữ ngoài Trung Quốc như Ðài Loan, Hồng Kông, Singapore, Malaysia… đều nhất loạt dùng từ đồng chí để xưng hô cho đồng tính nam, dần dần đồng tính nữ, dần dần cả khối GLBT (gay, lesbian, bisexual, transgender). Cộng đồng đồng chí mới phát triển nhanh chóng, thách thức danh nghĩa và chủ quyền sử dụng mà bấy lâu nay đảng cộng sản Trung Quốc đã dày công thiết lập.


Không thể nói được bằng lời về sự quan trọng cuộc cách mạng giới tính thứ ba này đã phá vỡ quan hệ đồng chí, là nền tảng cho sự kết nối đảng viên trong thể chế cộng sản. Ngày nay, khái niệm này đã khiến các đảng viên trẻ tuổi mới gia nhập bị ngờ ngợ khi xưng hô với nhau mà không thể nào mà không liên tưởng đến cảnh trong phim Ðoạn Bối Sơn (Brokeback Mountain). Cho dù, báo chí chính thức của Trung Quốc như Tân Hoa Xã vẫn còn chưa chịu thừa nhận định nghĩa mới này nhưng không thể nào phủ nhận sức ảnh hưởng của nó đang xói mòn trật tự do Mao Trạch Ðông thai nghén. Cùng với thái độ kỳ thị đồng tính luyến ái (không nói ra) của xã hội Trung Quốc, đồng chí trở thành mũi dao dí vào như châm chích khiến các “đồng chí chân tình” trong đảng cộng sản nhìn nhau cũng thấy sường sượng. Khối GLBT như cướp được diễn đàn cộng sản một cách quá ngoạn mục.


Cộng với sự phát triển kinh tế văn hóa hiện nay, đồng chí của đảng cộng sản trở thành thứ lạc hậu dở hơi. Các đồng chí có thích thì xưng với nhau trong phòng khi họp kín riêng tư chứ bên ngoài xã hội không ai còn muốn dùng nữa! Trên mạng Baidu của Trung Quốc, khi định nghĩa về từ đồng chí thì lại dành một phần quan trọng để giải thích văn hóa Cầu Vòng của dân đồng tính coi như đã thừa nhận trào lưu văn hóa mới. Văn hóa đồng chí của chế độ cộng sản Trung Quốc đã hoàn toàn mất đất.


 


Ðồng chí ở Việt Nam


 


Có thể nói văn hóa đồng chí ở Việt Nam cũng tương tự như Trung Quốc. Vào thời điểm cao trào cách mạng, miền Bắc cũng sử dụng lối xưng hô để cào bằng tất cả. Trong sách vở vào thập niên 60, Việt Nam cũng dùng cụm từ đồng chí vợ, đồng chí chồng gọi nhau một cách trào lưu nhưng không kém phần trào phúng. Nói như thế để biết rằng văn hóa thời Mao Trạch Ðông thâm nhập vào Việt Nam cũng tinh vi từ trên xuống dưới. “Nhân dân chỉ có nhân dân…”, “Vì Nhân Dân Phục Vụ” là những loại khẩu hiệu rập khuôn từ Trung Quốc Mao Trạch Ðông đưa sang Bắc Việt. Tuy nhiên, vào giai đoạn đồng chí ở Trung Quốc biến dạng để thành đồng tính thì văn hóa phổ thông ở Việt Nam không bắt kịp và chưa tiếp nhận được sự kiện trọng đại này.


Ngày nay lãnh tụ hai nước Việt Trung thỉnh thoảng gọi nhau là đồng chí để gợi lại quan hệ nồng ấm thời Hồ Chí Minh và Mao Trạch Ðông. Phía Việt Nam làm ra vẻ thân mật vô tư lắm, còn phía Trung Quốc có vẻ ngường ngượng bất đắc dĩ bởi vì khi lên mặt báo với hai chữ đồng chí thế nào cũng bị độc giả Trung Quốc gièm pha vài câu. May mà sau này lãnh tụ hai phía Trung Việt đã thống nhất bỏ màn ôm hôn thắm thiết không thì báo chí Hoa Ngữ ở Hồng Kông, Ðài Loan nó đem ra bêu riếu chọc quê cho thì còn nước… mếu.


Tuy nhiên, Việt Nam không thể nào vô tư hoàn toàn trước sự biến chuyển mang tính thời đại của tình đồng chí thành tình đồng tính được. Trong một bài thơ có tên “Ðồng Chí” của Chính Hữu được phổ nhạc đã diễn tả đầy đủ tâm trạng và hình ảnh của hai chiến sĩ Cụ Hồ “đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ,” rồi lại hô hoán lên giữa trời hai chữ Ðồng Chí như kiểu chu nhân ngóng đò thời xưa. Các học giả Trung Quốc ngày nay cũng hay sử dụng các biện pháp phân tích tìm tòi về mặt tâm lý để nhận ra rằng các mối quan hệ của Bá Nha-Tử Kỳ, Triệu Vân-Lưu Bị từ thời cổ đại đều có chất đồng tính.


Xét cho cùng, bài Ðồng Chí của Việt Nam có đủ các yếu tố tình cờ tao ngộ, hồn nhiên lưu luyến, nóng lạnh cảm hàn, đầu súng trăng treo để rồi ca tụng tâm sự trữ tình của hai đảng viên lúc cơn nguy biến mà vẫn lãng mạn vô bờ như kiểu đang yêu nhau. Do đó, khả năng bài Ðồng Chí của Việt Nam cũng chính là một dạng tâm lý lãng mạn kiểu Ðồng Tính Luyến Ái là rất cao. Nghi lắm!


Ðảng cộng sản Trung Quốc có thế lực bao trùm mấy chục năm nay nay bị buộc phải nhường hai chữ đồng chí lại cho phe đồng tính. Ðây chính là một trào lưu cách mạng, một diễn biến hòa bình không tiếng súng mà phía Trung Cộng trung ương không thể công khai tuyên truyền đính chính để rồi đàn áp hay dập tắt.


Trần Ðông Ðức

Không khí năm mới khắp nơi


Bà Susan M. Foster chào mừng quý khách bên trong Harrah’s Philadelphia với màn múa lân.



Chương trình ca nhạc “Chúc Mừng Năm Mới” vào hôm 2 tháng 2, 2013 là một trong những chương trình mở đầu trong dịp Tết Nguyên Ðán Quý Tỵ 2013 ở Philadelphia.

Hoa Nở Muộn (Kỳ 17)

 


– Ông cứ hay đa nghi tào tháo. Ông ấy tính về đây ở luôn thì mua nhà là đúng rồi. Nghe nói bên kia, gia đình ông ấy cũng không còn êm ấm.


– Mua thì mua nhưng mà cho người khác đứng tên thì người ta có thể bán nhà mình đi bất cứ lúc nào.


– Làm sao mà bán được khi đang sống chung với nhau?


– Nào ông ấy đã về luôn đâu? Ông ấy tính là sẽ về, mà không biết khi nào mới là sẽ? Trong khi đó, ai mà biết được ngày mai sẽ ra sao? Ờ mà mấy tháng trước, tôi cũng nghe ông Cảnh nói chuyện hồi hương hưởng tuổi già nhưng không hề nghe ông ấy nhắc tới chuyện mua nhà.


– Tôi nghĩ ông ấy giấu là vì sợ bà Vân biết.


Rồi nhà thơ gật gù nói thêm:


– Cứ như ông là hay nhất. Mua nhà dưới quê, vừa rẻ lại người nhà mình đứng tên. Vừa có tiếng, vừa có miếng. Vừa có tình vừa không sợ mất nhà.


Ông Thưởng hãnh diện nói:


– Phải biết tính chứ. Mình mua nhà nhưng cho thằng em đứng tên, con vợ mình bên Mỹ không biết được. Mỗi lần về đây, thích thì ở dưới quê với vợ trẻ, hôm nào muốn đổi món thì bay lên Sài Gòn hưởng phước. Cũng đâu có xa gì mấy. Sáng đi tối về được. Vừa an toàn, vừa tiết kiệm.


– Mà nhà đó hiện giờ ai đang ở?


– Thì Ngọc Thúy của tôi.


– Ở một mình thôi hả?


– Hiện nay thì nàng ở với tôi.


Ông Thưởng pha trò


– Khi nào tôi bay thì nàng mới ở một mình.


– Ông mua nhà ở Vũng Tàu phải không?


– Không, tôi mua ở vũng ao.


Nhà thơ trợn mắt ngạc nhiên:


– Vũng ao là ở đâu?


Ông Thưởng phì cười nói:


– Nói chơi chứ tôi mua nhà ở Vĩnh Long.


Nhà thơ đứng dậy vươn vai nói:


– Chắc bây giờ ông Cảnh đang hưởng phước đây.


– Tôi thì tôi nghĩ ông ấy đang thở hồng hộc thì có.


Ông Thường nheo mắt cười hềnh hệch nói rồi đứng dậy nói tiếp


– Thôi mình xuống dưới kiếm cái gì ăn đi. Tôi nghĩ đến tối nay ông Cảnh mới phone cho mình.


– Ðợi tôi tắm cái đã. Sài Gòn bây giờ nóng quá lúc nào cũng chỉ muốn đi tắm.


– Ông này hay nhỉ, bên kia hai tuần tắm một lần, bây giờ về đây ngày tắm hai lần hả. Mau mau nghe, tôi đói quá rồi.


Nói đoạn ông Thưởng bước tới lấy cái remote control ngồi xuống giường bấm mở TV.


Hai mươi phút sau, ông Thưởng và nhà thơ vừa âu yếm dắt tay nhau ra khỏi thang máy thì giật mình nhìn thấy ông Cảnh mặt mày xanh như tàu lá chuối. Tay sách vali, tay kia vẫn cầm bó hoa thất thểu bước thấp bước cao lê chân vào khách sạn. Bó hoa hồng trên tay với điệu bộ thẫn thờ và bộ mặt ủ rũ buồn hơn đưa đám của ông chợt giống như một bó hoa tang héo úa.


Cả hai nhìn ông Cảnh ngạc nhiên không nói lên lời, ông Cảnh mếu máo:


– Bị lừa rồi, bị lừa rồi. Tôi bị nó lừa rồi.


Ông Thưởng tái mặt đưa tay sách vali cho bạn hỏi:


– Sao? Sao? Ai lừa ông?


– Nó lừa tôi rồi, nó lừa tôi rồi. Mất sạch rồi.


Ông Cảnh thều thào.


– Nhưng mà ai lừa ông? Mà lừa cái gì?


Nhà thơ nóng ruột hỏi.


– Thôi lên phòng đã, có gì từ từ nói.


Ông Thưởng vừa nói vừa kéo bạn về phía thang máy.


Trên phòng, nước mắt rơi lã chã như những cơn mưa mùa hạ, ông Cảnh vừa mếu máo khóc vừa kể lại cho hai ông bạn già nghe đầu đuôi câu chuyện: Trong thời gian qua, vì phải chu cấp cho Thu Tuyết thường xuyên nên ông Cảnh thường hay giấu diếm đi một ít tiền mỗi ngày. Cũng không phải là nhiều mỗi ngày năm ba chục thôi. Vợ ông ban đầu không để ý nhưng có lẽ vì ông bất cẩn nên bà sanh nghi. Một buổi tối mùa hè oi bức kia, không hiểu có phải vì trời quá nóng hay không mà hôm đó, vợ ông bỗng bốc hỏa nổi cơn tam bành chẳng khác chi Hoạn Thư lên cơn ghen đòi thiến Mã Giám Sinh. Bà hầm hầm cầm nguyên một xấp hơn mười tờ giấy biên lai mà ông Cảnh hàng tháng gửi tiền về Việt Nam dứ dứ vào mặt ông. Bà gào lên:


– Con nào? Con Tuyết là con nào! Ông là đồ khốn nạn. Ông moi tiền mồ hôi nước mắt của mẹ con tôi cho mấy con đĩ ở Việt Nam hả?


Ðã từ lâu, bà cũng biết là ông thích về Việt Nam hưởng của lạ. Bà bên này cũng đã có Quang. Ông ăn phở thì bà cũng tìm bún riêu cua. Cũng chẳng ai thiệt thòi gì. Tương lai bà đang hướng tới là Quang, người tình trẻ của bà đang mong ngóng một ngày nào đó, ông Cảnh bị rớt máy bay hoặc bị xe đụng chết để nhảy vào thế chỗ của ông. Ông ăn chả thì bà ăn nem. Ông có bồ nhí thì bà cũng có người tình trẻ. Cái đó thì được. Nhưng moi tiền nhà đi cho gái hàng tháng cái kiểu này thì bà chịu không nổi. Bà tru tréo lên:


– Bao nhiêu lâu rồi! Ông nuôi nó bao lâu rồi hở đồ khốn nạn! Tiền của mẹ con tôi, Tôi làm cực khổ đổ mồ hôi trên mồ hôi dưới để ông mang tiền về cho gái phải không. Khốn nạn tôi chưa, giời ơi là giời.


Ngừng lại một chút để lấy hơi, bà gào lên tiếp trong nước mắt:


– Ông lừa tôi, ông nói với tôi là ông về mua đất xây khách sạn. Bao nhiêu tiền ông đổ đốn, ông đổ vào lỗ của mấy con đĩ hết rồi phải không!


Bà tiến tới ném sấp biên lai vào mặt ông hét lên:


– Khách sạn đây phải không đồ khốn nạn! Giời ơi là giời, sao ông không chết đi, chết đi cho tôi khuất mắt tôi. Cái đồ… cái đồ già mất nết!


Cứ thế ông Cảnh ngồi im nghe vợ chửi mắng không biết bao lâu. Lựa lúc bà nằm vật ra giường khóc, ông lẳng lặng chuồn ra cửa, lấy xe chạy vòng vòng mãi đến hơn hai giờ sáng mới dám mò về. Ông rón rén chui xuống basement ngủ. Sáng hôm sau, vừa mới mắt nhắm mắt mở mò lên bếp, ông thấy vợ ông ngồi lù lù một đống như hòn Vọng Phu đợi ông tự bao giờ. Ông hoảng hốt định mở cửa bếp dông thẳng ra ngoài nhưng vợ ông lên tiếng giọng rất ôn tồn bình tĩnh:


– Ông ngồi xuống đây, tôi có chuyện này muốn nói với ông!


Mỗi lời nói của vợ bây giờ có khác nào chiếu chỉ của thiên triều, ông Cảnh rón rén ngồi xuống mép ghế đối diện với vợ. Bằng những lời lẽ bình tĩnh không ngờ, bà hỏi ông là đã không còn muốn sống chung với bà nữa phải không? Ông Cảnh ú ớ chối cãi, nhưng bà khuyên nhủ, bà thuyết phục ông rằng là: Nếu ông đã cạn tình cạn nghĩa để sống với bà thì ông cứ việc tìm vui nơi khác. Vợ chồng có gì thì đóng cửa… chia gia tài với nhau, không nên vạch áo vạch quần cho người ta xem. Sẵn đây bà có người em ở bang khách dọn qua muốn làm ăn, bây giờ cái nhà hàng của ông bà mấy đứa con đều muốn bỏ đi hết, thiếu người phụ giúp. Nếu sang lại cho người ta có thể bán được với giá năm trăm ngàn. Sẽ chia ra làm ba phần, ông một phần, bà một phần, phần còn lại là cho con cái. Lúc đầu ông Cảnh không, chịu ông đòi chia đôi. Nhưng khi bà vợ ông chỉ ra cho ông thấy là trong thời gian qua, ông đã tiêu hết bao nhiêu là tiền ở Việt Nam rồi, chỉ nội số tiền của mười bốn cái hóa đơn gửi tiền ngày hôm qua. Tổng cộng cũng gần hai chục ngàn rồi. Ðến đây, ông Cảnh tự rủa thầm rằng tại mình ngu dại. Tự nhiên lại muốn giữ lại hóa đơn gửi tiền làm kỷ niệm để mai mốt về Việt Nam khoe với người yêu. Cuối cùng, sau một buổi sáng hội thảo, vợ chồng ông quyết định là không nên vạch bất cứ cái gì cho người ta xem. Người em vợ của ông mấy ngày sau mang tiền tới mua lại phần ông. Ông sẽ có trọn số tiền mặt một trăm sáu mươi ngàn trong tay. Hàng ngày ông vẫn có thể ra tiệm làm để lãnh lương nhưng không được phép đứng thu tiền nữa. Căn nhà này ông vẫn có thể ở nhưng phải ngủ dưới basement. Vợ ông hứa với ông là nếu bán nhà đi, bà cũng sẽ chia cho ông một phần giống như chia cái tiệm, hai phần còn lại của vợ con ông. Dù sao thì ông cũng không thể có ý kiến gì về căn nhà, vì ngày xưa mải ăn trợ cấp ông phải nhờ em vợ đứng tên. Do đó, ông bắt buộc phải chấp nhận theo ý của bà vợ ông.


Chính vì vậy mà trong vòng bốn tháng qua, một mặt ông lo chuyển tiền về Việt Nam cho Thu Tuyết để mua nhà. Mặt khác hàng ngày ông vẫn lang thang ra nhà hàng, cố gắng bòn tiền được đồng nào hay đồng ấy để gom góp mang về Việt Nam cúng cho bồ nhí. Ông cũng phải hết ra sức giấu diếm với thiên hạ về hoàn cảnh rạn nứt trong gia đình ông. Chẳng gì tên tuổi ông, mặt mũi ông, cái mặt đang nổi nhiều mụn vì mất ngủ cũng được nhiều đồng hương biết tới. Cho dù biết tới ông chỉ là để ghét ông. Người ta không ưa ông vì nhiều lý do, có người ghét ông là vì ông nói chuyện chảnh chọe, hay khoe khoang, có người không thích ông là vì ông giàu hơn họ, có điều kiện đi Việt Nam nhiều hơn. Nhưng một điểm chung mà mọi người đều thống nhất ghét ông là cái tính bần tiện. Ðã vậy còn mắc thêm tật khoe của nữa. Vì vậy, thiên hạ ai ai cũng trông đợi một ngày kia, ông bị vợ đá ra khỏi nhà. Chẳng phải là thiên hạ luôn luôn hạnh phúc và vui vẻ khi nhìn thấy sự thất bại của những người xung quanh hay sao.


Bốn tháng qua ông đã nếm mật nằm gai, ông sống như một bóng mờ trong nhà, chịu đựng sự lạnh lùng của vợ và sự xa lánh của mấy đứa con. Bốn tháng qua, vì người em trả tiền cho ông làm bốn lần cho nên ông mới phải cố đấm ăn xôi, chịu đựng sự khinh bạc của mọi người chứ nếu không, ông đã khăn gói về nước từ lâu.


Ông dự tính sẽ về quê hương xây tổ ấm. Bằng nhiều cách, ông gửi về tất cả là một trăm năm mươi ngàn cho nàng. Ông gửi dư cho nàng hơn mười ngàn vì theo như lời Thu Tuyết nói thì nàng phải sắm thêm đồ cho căn nhà tươm tất để đón chủ nhân của nó hồi hương từ bên Mỹ trở về nhập gia. Ông với nàng sẽ bái thiên lạy địa, kết duyên vợ chồng. Nàng sẽ sinh cho ông con đàn cháu đống. Thực tế thì khi nghe đến con đàn cháu đống, ông Cảnh vãi mồ hôi nhớ đến lũ con và đứa cháu nội tương lai mang nửa dòng máu da đen của mình. Tuy vậy, ông vẫn cười dễ dãi trong khi Thu Tuyết tiếp tục vẽ tương lai cho ông nghe.


Khi ông tới căn hộ trên đường Nguyễn Ðình Chiểu. Lên đúng phòng 208 tra chìa khóa vào ổ nhưng không vừa lỗ khóa, ông loay hoay một lúc thì cửa bật mở. Một người đàn ông to con, trắng trẻo khoảng trên bốn mươi tuổi bước ra hỏi ông muốn gì? Vì tưởng mình đi lộn nhà nên ông lúng túng nói:


– Xin lỗi cho tôi hỏi đây có phải là nhà của Thu Tuyết không?


Người đàn ông ngạc nhiên trả lời:


– Nhà này là của tôi, và ở đây không có ai là Thu Tuyết cả, có thể là ông đã lộn nhà chăng?


– Không thể nhầm nhà được. Tôi có chìa khóa đây này. Cả năm qua tôi đã mướn ở đây mà!


Người đàn ông khó chịu trả lời:


– Tôi mua căn nhà này, dọn vào đây đã ba tháng nay rồi. Chắc là ngày xưa ông mướn của người chủ cũ. Nghe nói, người đó ở ngoài Hà Nội lận.


Nói rồi người đàn ông có ý muốn đóng cửa.

Ca sĩ từ thành phố Philadelphia


LTS:
Nhân dịp đón năm mới Quý Tỵ, ca sĩ Andy Quách sẽ tham gia show diễn đêm giao thừa tại Sài Gòn Maxim, ngày 9 tháng 2, 2013. Tuy không đóng vai trò chủ diễn nhưng sự xuất hiện này của Andy Quách đã tạo yếu tố bất ngờ cho bạn bè và người thân ở thành phố Philadelphia. Người Việt Ðông Bắc trò chuyện với Andy Quách trước ngày trình diễn coi như là câu chuyện đặc biệt của số báo giao thừa.


 


Một ca sĩ thành danh đã thôi thúc bao giấc mơ nghệ thuật khác. Andy Quách chính là gương mặt nam ca sĩ thành công nhất của thành phố Philadelphia hiện nay tạo niềm cảm hứng cho nhiều tuổi trẻ với mong ước sẽ trở thành ca sĩ chuyên nghiệp.










Ca sĩ từ thành phố Philadelphia


Tên tuổi ca sĩ Andy Quách bây giờ còn gắn liền công ty AQ Entertainemnt, tạo sân chơi cho những tài năng trẻ nhập cuộc. Gần đây, sinh hoạt ca hát tại Philadelphia đang trên đà rộng mở tạo nhiều cơ hội cho những tài năng phát triển dễ dàng hơn. Nhưng khi danh tiếng đã vang xa, thành công luôn luôn là bí quyết…


Hình ảnh Andy Quách không xa lạ với khán thính giả nhạc trẻ. Tại Philadelphia, nhiều bạn bè thân quen vẫn còn nhiều kỷ niệm khi theo dõi bước chân Andy Quách bắt đầu bước chân vào làng giải trí. Với ưu thế ngoại hình nổi bật, Andy Quách cũng là một gương mặt ca sĩ đẹp trai hiếm hoi trong làng giải trí hải ngoại hiện nay.


Sự hiếu kỳ về Andy Quách đối với khán giả Philadelphia lần này khi anh sẽ xuất hiện trong đêm Giao Thừa Nguyên Ðán sắp tới. Theo lời ban tổ chức, Andy Quách chịu nhận lời ca hát ở vị trí trám chỗ cho một ca sĩ khác trong tinh thần văn nghệ thân hữu, coi như là một dịp về nhà ăn Tết cùng với gia đình. Ðó cũng là một biểu hiện gần gũi trong tinh thần cộng đồng tạo nên phong cách ngoài đời của Andy Quách.


Trả lời Người Việt Ðông Bắc trong chuyến “về nhà” này, Andy Quách cho biết anh từng là một ca sĩ “local” trong ban nhạc Blue Ocean, được Trung Tâm Vân Sơn phát hiện và nay đã được xác định danh tiếng, “Andy luôn cảm thấy may mắn khi làm ca sĩ.”


Khi nói về thành tựu của người nghệ sĩ, ngoài việc mang tiếng hát và phong cách biểu diễn đến với cuộc đời, nghệ thuật Việt Nam ở hải ngoại cũng cần một diễn đàn và sự khai phá mới. Andy Quách nói về công ty AQ Entertainment với niềm ước mơ sẽ là một cách cửa cho thế hệ thứ hai, thứ ba.


Không phủ nhận tính cách pha trộn trong lối trình diễn của nhạc Mỹ, nhạc Hoa, nhạc Hàn, ca sĩ Andy Quách tin rằng sự dung hợp này sẽ tạo nên những ưu thế đặc biệt để nhạc trẻ Việt Nam luôn có sự chuyển biến thích hợp với trào lưu thế giới.


Tín Dương, một người nghe nhạc trẻ cho rằng hát nhạc trẻ để nổi tiếng rất khó vì đây là một thử thách và đòi hỏi sự rèn luyện liên tục. Trong lúc đó các thể loại nhạc tình, nhạc “mùi,” khi ca sĩ vừa cất giọng thì đã đã được tán thưởng vì sự gợi nhớ và thân thuộc đã có sẵn. Những trường hợp ca sĩ trẻ thành công như Ðan Nguyên và Trường Vũ chỉ cần thay đổi phong cách biểu diễn là có thể tạo sức thu hút. Tuy nhiên, cũng theo Tín Dương nổi tiếng về nhạc trẻ ở hải ngoại mới là điều khó khăn và đầy thử thách nhất vì số lượng khán giả không nhiều hoặc là thị trường tiêu thụ giới hạn.


Bị thôi thúc bởi khát vọng lúc tuổi trẻ của người bố, ông Trần Quang Thái có giọng hát rất hay nhưng giấc mộng làm ca sĩ chuyên nghiệp không thành. Có thể nói Andy Quách là người tiếp nối giấc mơ của thân phụ. Ông Trần Quang Thái hiện nay vẫn ở Philadelphia và thường hát trong các sinh hoạt các hội đoàn. Ðây cũng là điều hy hữu của gia đình để niềm đam mê ca hát truyền sang đời con.


Vốn gia đình vốn có gốc Hoa nhưng văn hóa Miền Nam đã mọc rễ tạo nên đam mê về nghệ thuật Việt Nam. Yếu tố biết tiếng Hoa, Quảng Ðông cũng trở thành lợi thế khi tiếp xúc với dòng nhạc trẻ Hồng Kông. Những bài hát tiếng Hoa của Andy Quách trên mạng Youtube cũng thu hút sự hiếu kỳ của một số khán giả trong thế giới Hoa ngữ.


Nhưng trên tất cả, sự thành công của Andy Quách chính là do ở niềm đam mê và khổ luyện mà thành.


Andy Quách cũng thừa nhận, ưu thế ngoại hình của nam ca sĩ sẽ làm cho bước đường vào thế giới âm nhạc dễ dàng hơn vì có một số lượng fan nữ nhất định. Tuy nhiên, về lâu về dài ca hát còn yếu tố tài năng và luyện tập mới tồn tại được. Hãy xem Usher, Justin Timberlake, Jay Chou (Châu Kiệt Luân) để thấy rõ sự đam mê cháy bỏng và khổ luyện của dòng nhạc trẻ. Ðể thành công trong các tác phẩm, họ phải đi trên những bước đường vất vả như thế nào.










Andy Quach


Dự định tương lai của Andy Quách gắn liền với AQ Entertainment, sẽ tung ra thị trường những sản phẩm MTV kỳ công và có nội dung đặc sắc.


Hiện nay, Andy Quách cũng đã thực hiện một số băng dĩa và được Trung Tâm Thúy Nga làm tổng đại diện phát hành.


Người Việt Ðông Bắc

Tin mới cập nhật