Tết Mậu Thân 1968: Hỏa ngục Huế (phần 2)

 


LTS – Tiến Sĩ Uwe Siemon-Netto sinh năm 1936 và có 57 năm trong vai trò phóng viên quốc tế. Sinh trưởng tại miền Ðông nước Ðức, ông trốn khỏi chế độ cộng sản, và là một trong những phóng viên tường thuật việc xây dựng bức tường Bá Linh chia đôi nước Ðức năm 1961, trong vai trò phóng viên của hãng AP. Các đề tài lớn trong cuộc đời làm báo của Uwe Siemon-Netto có thể kể đến cuộc khủng hoảng hỏa tiễn Cuba (1962), vụ ám sát Tổng Thống Kennedy (1963), các phong trào dân quyền tại Mỹ, khủng hoảng Trung Ðông, và chiến tranh Việt Nam từ 1965 đến 1969, rồi 1972. Ông có mặt, và tận mắt chứng kiến chiến sự, tại cả Sài Gòn và Huế trong biến cố Mậu Thân 1968. Hiện ông đang viết hồi ký, và dành hẳn ba chương (13, 14, 15) kể lại những gì đã chứng kiến trong biến cố Mậu Thân. Hồi ký có tựa đề “Ðức: A Reporter’s Love for a Wounded People.” Ông có bằng Cao Học về Thần Học tại Chicago và bằng tiến sĩ Thần Học, Xã Hội Học về Tôn Giáo từ Boston University. Ông hiện sinh sống tại Nam California. Người Việt đăng tải nhiều kỳ nội dung các chương 14 và 15, với sự đồng ý của tác giả và dịch giả, Lý Văn Quý và Nguyễn Hiền.



Tác giả: Uwe Siemon-Netto


Dịch giả: Lý Văn Quý & Nguyễn Hiền


 


Phú Bài và Huế chỉ cách nhau khoảng 10 dặm nhưng chúng tôi mất gần một ngày trời để vào đến khu trại MAVC gần bờ Ðông Nam của dòng sông Hương có lẽ đã được đặt tên sai.


 Các cuộc đụng độ lẻ tẻ thiếu không trợ vì thời tiết bay xấu và nhu cầu phải dọn dẹp các xác chết trên đường đã khiến chúng tôi bị chậm trễ. Doanh trại nằm trong khu vực mới của thành phố, xây dựng theo lối Âu Châu với những đại lộ rộng rãi và những căn biệt thự kiểu Pháp đầy tiện nghi, một cơ sở Cercle Sportif, tức Câu lạc bộ Thể thao xinh xắn và một cư xá đại học với những tòa nhà chung cư theo phong cách thập niên 1950 cho nhân viên giảng huấn được xây dựng theo kiểu mẫu xấu xí đặc thù trong thời kỳ đó của các dự án gia cư rẻ tiền đầy rẫy ở vùng ngoại ô phía Bắc Paris.


Vào thời điểm chúng tôi đến, quân đội Hoa Kỳ và VNCH đã tạm ổn định phần nào khu vực này của thành phố, ít nhất là vào ban ngày. Trong khi đó thì Cổ Thành với vòng thành nội vi hoàng gia, còn gọi là “Purple City” bắt chước theo kiểu mẫu Tử Cấm Thành Bắc Kinh vẫn còn nằm chặt chẽ trong tay Cộng quân.


Doanh trại MAVC gồm một khách sạn khi xưa với khu vực ăn uống ở tầng trệt, phòng ngủ của sĩ quan ở hai tầng trên và một ngôi nhà phụ với 20 căn phòng. Bên cạnh tòa nhà phụ là những cái gọi là “hootches” tức những lều tạm bợ, khu vực mở rộng cho lính tráng. Khu vực này chật cứng với tạp nham đủ loại người khác nhau: quân nhân, ký giả, tình báo viên, nhân viên cứu trợ, nhân viên Việt Nam làm việc cho Mỹ và các viên chức chính quyền cùng gia đình tìm nơi trú ẩn tránh vùng giao tranh và tránh những toán ám sát của Cộng sản vẫn còn đang lùng sục để giết tại chỗ những người mà họ quy là phản động trong thành phố.


“Xin lỗi quý vị, chúng tôi hết giường tạm rồi, không còn chăn nệm nữa. Quý vị phải tự tìm lấy chỗ nằm thoải mái trên nền xi-măng này vậy,” viên trung sĩ quân nhu đón tiếp chúng tôi tại khu vực trước kia là nhà ăn nói. “Có khẩu phần C ở góc đàng kia và rất nhiều túi giấy đựng xác để quý vị giữ ấm. Lấy bao nhiêu cũng được. Tối nay sẽ lạnh lắm đấy.”


Khu trại đóng cửa ban đêm. Nội bất xuất ngoại bất nhập. Chúng tôi nghe tiếng giao tranh mãnh liệt phía Bắc dòng sông nhưng thỉnh thoảng cũng có tiếng súng đụng độ ngay bên ngoài chu vi doanh trại. Tôi thu người vào khoảng trống chật hẹp giữa mấy gia đình người Việt, trải ba cái túi đựng xác xuống đất dùng thay nệm, phủ lên mình ba cái túi đựng xác khác đúng ra dùng để chuyển những binh sĩ tử trận, có những lỗ đánh dấu phía nào là đầu phía nào là chân. Tôi gối đầu lên cái ba lô. Những người bên cạnh tôi nói được tiếng Pháp. Họ thì thầm với tôi là trong cái ngày trước Tết các toán sát thủ Cộng sản đã đến từng căn nhà với danh sách những người sẽ bị xét xử trước cái gọi là tòa án nhân dân và sau đó thì hạ sát họ tại chỗ, không cần xét xử.


“Anh có nghĩ là những ông giáo sư người Ðức có tên trong các danh sách đó không?” Tôi hỏi người đàn ông bên phải tôi.


“Chắc chắn là có, giống như các linh mục người Pháp và những người ngoại quốc khác. Họ đều bị dẫn đi,” anh trả lời tôi.


Giữa đêm, hàng loạt tiếng súng liên thanh ngay trong khu vực gần nhất chúng tôi nổi lên tạch tạch tạch, tạch tạch tạch, tạch tạch tạch, tạch tạch tạch, tạch tạch tạch (5 lần)…


“Xử tử,” người đàn ông Việt Nam bên tay phải tôi nói. “Súng AK-47 Kalashnikov.”


“Sao anh biết?” Tôi hỏi.


“Bây giờ nghe tiếng súng này quen quá rồi. Vừa rồi không phải là đánh nhau. Ðó là năm loạt súng từ một khẩu liên thanh – có chủ đích rõ ràng.”


“Có gần đây không?” Tôi hỏi tiếp.


“Không xa hơn trăm thước đâu.”


40 năm sau, tôi kết bạn với anh Tôn Thất Di tại miền Nam California, anh có họ hàng xa với hoàng tộc. Chúng tôi thảo luận về biến cố Tết Mậu Thân 1968 tại Huế và khám phá ra là cha anh, hai người chú và hai người anh em họ khác có thể là nạn nhân của vụ thảm sát đêm hôm đó. Cha của anh Di tên là Tôn Thất Nguyên đã từng là thị trưởng thành phố Ðà Lạt và sau đó làm công chức Bộ Xã Hội tại Sài Gòn mà trụ sở tôi rất quen thuộc vì nằm sát cạnh tiệm cà phê La Pagode trên đường Tự Do.


Tháng Giêng 1968, Tôn Thất Nguyên bay đến Huế để ăn Tết với các anh em và các cháu tại biệt thự của họ. Di và tôi đã nghiên cứu tấm bản đồ Huế. “Ðây là vị trí căn nhà họ,” anh nói, chỉ vào một điểm không xa hơn 100 thước cách khu nhà ăn của trại MACV. “Chúng tôi chỉ tìm thấy lại xác của một ông chú. Do đó chúng tôi không thể làm đám tang cho ông cụ được.”


Tôi không bao giờ biết được rằng tôi thực sự là nhân chứng nói của cái chết của họ hay đó là một vụ thảm sát khác, tuy nhiên khoảnh khắc đó nằm mãi trong trí nhớ của tôi, chủ yếu bởi vì nó được tiếp nối bằng một một kinh nghiệm siêu thực khác đã từng xảy ra quá nhiều với tôi tại Việt Nam: một con gì đó thật to, nóng ấm, kêu quàng quạc chui vào dưới ba chiếc túi đựng xác của tôi. Hóa ra đó là một con ngỗng trắng với cái mỏ màu vàng và lông xám hai bên cánh. Tôi lúc nào cũng thích ngỗng, nhất là khi chúng được quay và dọn với bắp cải đỏ vào dịp Giáng Sinh. Nhưng tôi chưa hề có được một con ngỗng nào chui rúc vào mình như vậy cả, mà con này có vẻ hoảng hốt cùng cực. Cùng với hàng đoàn người tỵ nạn Việt Nam con chim khiếp sợ này đã trốn vào khu trại Mỹ từ lúc đầu cuộc Tổng công kích Tết và chạy lạch bạch chung quanh khu đất từ đó, thỉnh thoảng kiểm tra những chỗ ngủ. Lính Mỹ đặt tên nó là Garfield. Như một con ngỗng canh gác, Garfield hằng đêm ra một điểm quan sát luôn luôn tại một chỗ cố định để dòm chừng ra ngoài đường. Nhưng khi nó nghe thấy tiếng súng nổ ngay ngoài cổng, nó đã hoảng hốt tìm chỗ núp ngay bên cạnh tôi. Tôi đuổi nó ra khỏi khu vực ngủ, cho nó về chỗ canh gác lại.


Lúc bình minh, nhóm phóng viên chúng tôi được phép rời khỏi doanh trại với điều kiện phải mang theo súng M.16 để tự vệ. Peter Neuhauser, Hilmar Pable và tôi nhận mỗi người một khẩu, nhưng theo đề nghị của tôi, chúng tôi đã cãi lệnh và giao lại súng cho lính canh ngoài cổng. Trên đường đến khu chung cư của các giáo sư người Ðức đã bị bắt cóc, tôi lý luận: “Thử hỏi nếu chúng ta chạm trán với một toán tuần tiễu Việt Cộng thì sao? Chúng ta sẽ bị chết ngay. Nếu không mang súng, ít nhất chúng ta còn vin cớ không phải là chiến binh, mặc dù chẳng biết có nghĩa lý gì với họ hay không.”


(Còn tiếp)

Tết Mậu Thân 1968: Hỏa ngục Huế (phần 1)


LTS –
Tiến Sĩ Uwe Siemon-Netto sinh năm 1936 và có 57 năm trong vai trò phóng viên quốc tế. Sinh trưởng tại miền Ðông nước Ðức, ông trốn khỏi chế độ cộng sản, và là một trong những phóng viên tường thuật việc xây dựng bức tường Bá Linh chia đôi nước Ðức năm 1961, trong vai trò phóng viên của hãng AP. Các đề tài lớn trong cuộc đời làm báo của Uwe Siemon-Netto có thể kể đến cuộc khủng hoảng hỏa tiễn Cuba (1962), vụ ám sát Tổng Thống Kennedy (1963), các phong trào dân quyền tại Mỹ, khủng hoảng Trung Ðông, và chiến tranh Việt Nam từ 1965 đến 1969, rồi 1972. Ông có mặt, và tận mắt chứng kiến chiến sự, tại cả Sài Gòn và Huế trong biến cố Mậu Thân 1968. Hiện ông đang viết hồi ký, và dành hẳn ba chương (13, 14, 15) kể lại những gì đã chứng kiến trong biến cố Mậu Thân. Hồi ký có tựa đề “Ðức: A Reporter’s Love for a Wounded People.” Ông có bằng Cao Học về Thần Học tại Chicago và bằng tiến sĩ Thần Học, Xã Hội Học về Tôn Giáo từ Boston University. Ông hiện sinh sống tại Nam California. Người Việt đăng tải nhiều kỳ nội dung các chương 14 và 15, với sự đồng ý của tác giả và dịch giả, Lý Văn Quý và Nguyễn Hiền.


 


 


Tác giả: Uwe Siemon-Netto


Dịch giả: Lý Văn Quý & Nguyễn Hiền


 


Ðà Nẵng là một thành phố khốn cùng vào đầu tháng 2 năm 1968. Lạnh lẽo và mưa phùn chẳng khác nào như tôi vừa bay đến một vùng Bắc Âu. Các đường phố vắng tanh, ngoại trừ xe quân đội.









Hình bìa tác phẩm “Ðức: A Reporter’s Love for a Wounded People” của Giáo Sư Uwe Siemon-Netto. (Hình: Tác giả cung cấp)


Tôi đã ôm ấp hy vọng được qua đêm trên chiếc Helgoland tại Ðà Nẵng để biết tình trạng chiếc tầu này ra sao trong vụ Tổng công kích Mậu Thân và được ăn thức ăn Ðức bổ dưỡng mà tôi đang thèm. Từ lúc rời khỏi Viên Chăn tôi chưa hề có được một bữa ăn ra hồn nào. Tuy nhiên, viên thuyền trưởng đã khôn ngoan mang chiếc tầu ra vùng an toàn của hải phận quốc tế rồi.


Vì vậy tôi đến trại báo chí MACV, tuy thiếu hấp dẫn nhưng có một nhà ăn tạm được và một quầy rượu rất đầy đủ. Tôi gọi một ly Dry Martini, ăn một miếng steak kèm một chai rượu vang, đi tắm nước nóng và cảm thấy sẵn sàng cho một cuộc phiêu lưu mà sau này hóa ra không thể có những thứ xa xỉ này trong một thời gian nữa. Trời vẫn còn tối khi tôi gia nhập một đoàn xe TQLC Hoa Kỳ sáng sớm hôm sau. Tôi bận hai bộ đồ trận chồng lên nhau, chẳng bao lâu sau còn tròng thêm một cái thứ ba nữa và tôi hài lòng là chiếc áo giáp còn giúp tôi ấm thêm chút ít.


Một số nhà báo từ trại báo chí đã can đảm dùng đường bộ đầy nguy hiểm đến vùng phụ cận của cố đô Huế vẫn còn nằm trong tay của Cộng quân. Vì đây là cơ hội tốt nhất để chúng tôi có thể sớm đến nơi đó. Màn mây rất thấp và tình hình an ninh chung quanh phi trường Phú Bài bất ổn đến nỗi chúng tôi có thể sẽ phải chờ đợi nhiều ngày để có được một cái vé đi máy bay quân sự.


Trước khi được phép leo lên xe vận tải, mỗi người trong chúng tôi được phát một khẩu M.16. “Chúng tôi biết là điều này trái với thông lệ,” viên thượng sĩ giải thích, ý nói là Hiệp định Geneva quy định là phóng viên chiến trường không được mang súng. “Nhưng,” ông ta nói thêm, “Chúng ta sẽ phải đi qua những vùng hết sức nguy hiểm và có thể bị phục kích. Trong trường hợp đó quý vị phải tự bảo vệ lấy. Vậy quý vị có hai sự lựa chọn: mang theo súng hay ở lại phía sau.”


Chúng tôi đến Phú Bài phía Nam Huế không hề hấn gì, ngoại trừ một cảnh tượng đã làm nổi dậy tính hài hước của tôi. Ngồi cạnh tôi đàng sau chiếc xe vận tải có một cặp phóng viên tạp chí Stern gồm một nhiếp ảnh gia và một ký giả. Người chụp hình là Hilmar Pabel, một trong những người nổi tiếng nhất trong nghề chụp ảnh của giới báo chí Ðức, và là một cựu chiến binh lão luyện phi thường. Bức hình chụp tôi trên bìa của cuốn sách này chính là tác phẩm của anh. Hilmar đã chụp nó trong một lúc tạm lắng giao tranh trong khu phố cổ Huế.


Tay đồng nghiệp của anh là một chuyện khác. Hắn là một ký giả trẻ tuổi người Áo đặc trưng cho cái khuôn mẫu tả khuynh thổ tả đã từng nhiễm độc đời sống trí thức Tây Âu vào thời gian đó để đạt đến cực độ với cuộc nổi dậy của giới sinh viên trong đại nạn tháng 5 năm 1968 tại Paris, và nó đã lần lượt nhiễm độc toàn bộ lục địa và một phần lớn những gì còn lại của thế giới Tây phương.


Tên hắn là Peter Neuhauser. Bỏ qua cái ý thức hệ Mác-xít thì hắn lại là một gã vạm vỡ dễ mến không khác gì những người lính TQLC mà chúng tôi đang tháp tùng đi chung. Vì vậy họ rất thích hắn mà không hề biết gì về quan niệm thân Cộng của hắn cả. “Anh trông giống như bọn tôi lắm,” đám lính nói. “Chỉ cần cắt cái mái tóc thôi,” họ tiếp. Do đó khi chúng tôi đến tiền trạm của Sư Ðoàn 5 TQLC Hoa Kỳ đàng sau phi trường Phú Bài, họ lôi Peter vào một cái lều, cạo cái đầu hắn, dí một cây M.16 vào tay hắn và reo lên khoái chí: “Chào mừng trung sĩ mới của chúng ta!” Từ đó thì họ gọi hắn là “Gunny,” và Peter dưới mắt bao nhiêu người, gã Peter thân Cộng này lại có vẻ thích thú với “cấp bậc” mới của mình vô cùng, mà ta có thể thấy rõ qua các bức hình Hilmar Pabel đã chụp cho hắn. Ðiều này đã chẳng giúp được gì cho sự nghiệp của hắn. Những tấm hình chụp Neuhauser trong tư thế tác chiến cùng với những tấm khác cụ thể hơn trong bộ sưu tập phim của Pabel rốt cuộc đã đến văn phòng chính của tạp chí Stern tại Hamburg vài ngày sau đó và đã gây phẫn nộ trong các đồng nghiệp của hắn. Không một ai thấy có gì buồn cười cả. Hắn không bao giờ được phái đi công tác ở ngoại quốc nữa.


Sáng hôm sau, khi Peter và tôi tháp tùng một tiểu đoàn TQLC vật vã tác chiến từng tấc đất vào Huế, hắn có vẻ được giác ngộ, dù chỉ là trong khoảng khắc. Trên con lộ dẫn vào cố đô của Việt Nam chúng tôi thấy cơ man các xác chết của dân thường, riêng rẽ hay từng nhóm, toàn là phụ nữ, cụ già và trẻ em. Họ đều ăn mặc tươm tất nhân dịp đầu năm mới. Qua vị thế của các tử thi chúng tôi thấy có nhiều phụ nữ đã cố gắng dùng thân mình để che chở cho con, chống lại bọn sát nhân.


“Bọn Cộng sản bạn mày đã làm điều này, Peter!” Tôi mắng Peter một cách tàn nhẫn.


Mặt hắn biến sắc trắng bệch. “Chắc chắn không phải đâu,” Nó trả lời, “Những người này bị máy bay Mỹ giết.”


“Không đâu, Peter, thương vong vì không tập chẳng như thế này,” tôi vặn lại, “Trông những vết thương trên đầu và trên mình mẩy họ kìa. Nhìn cách một số người phụ nữ đang giơ tay che mặt đi. Họ bị bắn ở cự ly rất gần. Tin tôi đi, tôi đã thấy chuyện này rồi: Ðây là thành tích của những toán chuyên giết người. Những gì chúng ta đang thấy đây là bằng chứng tội ác chiến tranh. Những người này đã bị thanh toán vì bất cứ lý do điên rồ nào đó mà bọn Cộng sản phải thủ tiêu cả đàn bà, trẻ em và người già.”


Peter Neuhauser giữ im lặng, nhưng tôi biết đã không thuyết phục được hắn. Chính hắn đã xác nhận với tôi khi chúng tôi gặp lại nhau vài tháng sau tại Hamburg. Neuhauser qua đời vài năm sau đó vì nguyên nhân tự nhiên, nhưng vẫn trong tâm trạng tả khuynh không sao cứu vãn được. Suốt vài chục năm sau, thỉnh thoảng tôi cảm thấy một nỗi buồn đau đớn là mặc dù đã chứng kiến hàng loạt người vô tội bị thảm sát trên con lộ đến Huế, vậy mà điều này vẫn không lay chuyển nổi tâm trí của một gã mà đáng lẽ ra là một con người dễ mến này. Những ngày bên cạnh hắn đã dạy tôi một trong những bài học đáng sợ trong sự kiện Tết Mậu Thân là: chẳng có gì, ngay cả những bằng chứng không thể chối cãi nhất, có thể mong làm thay đổi tốt được những ý tưởng cố chấp về ý thức hệ.


(Còn tiếp)

Tết Mậu Thân 1968 tại Sài Gòn (phần 4)


LTS –
Tiến Sĩ Uwe Siemon-Netto sinh năm 1936 và có 57 năm trong vai trò phóng viên quốc tế. Sinh trưởng tại miền Ðông nước Ðức, ông trốn khỏi chế độ cộng sản, và là một trong những phóng viên tường thuật việc xây dựng bức tường Bá Linh chia đôi nước Ðức năm 1961, trong vai trò phóng viên của hãng AP. Các đề tài lớn trong cuộc đời làm báo của Uwe Siemon-Netto có thể kể đến cuộc khủng hoảng hỏa tiễn Cuba (1962), vụ ám sát Tổng Thống Kennedy (1963), các phong trào dân quyền tại Mỹ, khủng hoảng Trung Ðông, và chiến tranh Việt Nam từ 1965 đến 1969, rồi 1972. Ông có mặt, và tận mắt chứng kiến chiến sự, tại cả Sài Gòn và Huế trong biến cố Mậu Thân 1968. Hiện ông đang viết hồi ký, và dành hẳn ba chương (13, 14, 15) kể lại những gì đã chứng kiến trong biến cố Mậu Thân. Hồi ký có tựa đề “Ðức: A Reporter’s Love for a Wounded People.” Ông có bằng Cao Học về Thần Học tại Chicago và bằng tiến sĩ Thần Học, Xã Hội Học về Tôn Giáo từ Boston University. Ông hiện sinh sống tại Nam California. Người Việt đăng tải nhiều kỳ nội dung các chương 14 và 15, với sự đồng ý của tác giả và dịch giả, Lý Văn Quý và Nguyễn Hiền.


 


Tác giả: Uwe Siemon-Netto


Dịch giả: Lý Văn Quý & Nguyễn Hiền


         


Anh ta dẫn tôi vào sân trong, lấy chiếc Honda ra, nổ máy xe, chỉ tôi cách sang số và sau đó nhìn tôi lái đi chập chờn về phía trước như một con cào cào mỗi lần tôi nhả dây số ra.









Hình bìa tác phẩm “Ðức: A Reporter’s Love for a Wounded People” của Giáo Sư Uwe Siemon-Netto. (Hình: Tác giả cung cấp)


Anh không bao giờ hỏi tôi tiền thuê hay đòi tôi phải đặt cọc cho chiếc xe quý giá của anh. Vài tháng sau, tôi hỏi anh, “Bộ anh không sợ là tôi không mang về lại chiếc Honda nguyên vẹn cho anh hay sao?”


“Tôi nghĩ là có 50-50 phần trăm xác suất,” anh trả lời, “Nhưng lúc đó anh cần phương tiện di chuyển và tôi không biết có cần cái xe gắn máy đó nữa hay không trong hoàn cảnh những chuyện đang xảy ra ngày Tết. Vì vậy tôi cho là vụ để anh mượn cái xe Honda là chuyện đáng làm.”


Thật là điều lạ lùng các nhân chứng thường nhớ lại những biến cố lớn của thế giới một cách khác nhau, hay nói đúng hơn, những mặt nào của các biến cố đó đã lưu lại trong tâm trí họ một cách mạnh mẽ nhất. Về phần tôi, tôi bị xúc động sâu xa đối với những hành động nhân ái căn bản nhất, lòng độ lượng và sự dũng cảm tôi đã chứng kiến được trong cái ngày đầu đó của Tết Mậu Thân 1968. Hasso Ruedt von Collenberg và anh quản gia là hai ví dụ đầu tiên đáng ghi nhớ nhưng còn nhiều hơn nữa. Ngày hôm nay tôi tin tưởng là tôi đã mang ơn cứu mạng từ những người dân thường Việt Nam đã không quản gian nguy để bảo vệ tôi.


Con đường đến nhà Josephine rất quen thuộc nhưng lần này nó trở thành một đoạn đường ngoằn ngoèo vô định chung quanh những thây ma Việt Cộng và các khoảng giao tranh trong từng căn nhà một. Trong lúc tôi đang lái chậm chạp, núp theo vách tường qua một con đường im vắng một cách rùng rợn thì một người đàn ông đứng tuổi nhảy chồm ra từ một cánh cửa nhà, đẩy tôi bật ra khỏi chiếc Honda và giữ tôi nằm im dưới đất. Ông ra lệnh một cách nhẹ nhàng nhưng cương quyết bằng tiếng Pháp, “Nằm im đừng nhúc nhích!”


Ông ta bò tới chiếc xe gắn máy mà bánh xe còn đang quay tít trên không, tắt máy xe, bò lại phía tôi thì thầm, “Việt Cộng,” tay chỉ về các cánh cửa sổ của các căn nhà nằm sâu hơn trong xóm. Sau đó ông kéo tôi vào trong nhà, bỏ mặc cái Honda ngoài đó. 20 phút sau, ông ta ra ngoài lần nữa, trở lại báo, “Việt Cộng đi rồi. Ông đi được rồi. Nhưng tìm đường khác mà đi. Con đường này nguy hiểm lắm.”


Lạ lùng thay là chiếc Honda gần như không hề hấn gì. Trong lúc lái lòng vòng, tôi được báo động ba lần nữa, hai lần bởi những người phụ nữ Việt Nam và một lần bởi con nít hét lên, “Việt Cộng, Việt Cộng,” rõ ràng là thách thức mục tiêu Việt Cộng xác nhận Tổng công kích Tết Mậu Thân là phát động một cuộc nổi dậy quần chúng chống lại “Mỹ Ngụy,” từ mà bọn Cộng sản đã sử dụng. Qua những gì mà tôi đã chứng kiến, cuộc tấn công đã mang lại kết quả ngược lại. Như sau đó cả thế giới đều biết không một ai trên toàn cõi miền Nam Việt Nam đã nghe theo lệnh của Cộng sản.


Josephine đứng ngoài cổng căn nhà nhỏ của mẹ nàng, bồng một đứa bé trên tay, còn hai đứa con trai từ người chồng trước thì bám vào quần ngủ.


“Em biết là anh sẽ đến,” nàng nói.


“Sao em biết?”


“Em tự nhiên biết, không giải thích được.”


“Em có sao không?”


“Vâng, bây giờ thì em yên tâm rồi. Em thấy bọn Việt Cộng ngoài cửa nhưng họ không vào nhà. Cảm ơn Chúa điện thoại vẫn xài được. Chồng em đã gọi báo sáng sớm nay. Anh ấy sẽ đến ngay để đón mẹ con em di tản đến chỗ an toàn.”


“Chồng em sẽ mang em ra ngoại quốc phải không Josephine?”


“Vâng em nghĩ vậy, có lẽ đi Singapore. Chồng em người Hoa và quen biết nhiều ở Singapore.”


Nàng quay vào nhà một lát trao đứa bé cho mẹ trông và trở ra để chào tạm biệt tôi.


“Như biển cả, như bầu trời… (Comme la mer, comme le ciel…) nàng nói bằng tiếng Pháp một cách nhẹ nhàng, giống như nàng đã nói ba năm trước đây khi chúng tôi tắm biển chung tại Bãi Trước Vũng Tàu.


Sau đó thì nàng trở vào nhà. Từ đó tôi không bao giờ gặp lại nàng nữa.


Lái lòng vòng về lại Continental, tôi ghé qua Trung Tâm Báo Chí để ghi tên vào danh sách hành khách cho một chuyến bay Không Lực Hoa Kỳ vào sáng hôm sau.


“Làm sao tôi đến phi trường Tân Sơn Nhất được?” Tôi hỏi viên trung sĩ tiếp vận.


“Chúng tôi sẽ đón ông tại khách sạn vào lúc 3 giờ sáng mai,” anh ta trả lời.


Trong phòng khách sạn Continental tôi viết vội một câu chuyện ngắn trước khi đi ra ngoài ăn tối với Freddy. Chúng tôi lang thang qua những con đường vắng lặng đến tiệm Royal và không ngạc nhiên chút nào khi thấy nó vẫn còn mở cửa; không có điều gì có thể ngăn ông già Ottavi dọn một bữa ăn ra bàn được.


“Tất cả những gì tôi có thể cung cấp cho quý vị là a-ti-sô tươi từ Ðà Lạt, bánh mì cũ và món bánh Soufflé au Grand Marnier đặc biệt của tôi,” ông ta tuyên bố.


“A-ti-sô tươi từ Ðà Lạt! Ông kiếm a-ti-sô ở đâu ra vậy?” Freddy hỏi, “Ðà Lạt rơi vào tay Việt Cộng rồi phải không?”


Ottavi mỉm cười một cách bí hiểm và nói, “Vâng, chúng tôi có cách của chúng tôi.”


A-ti-sô là món rau ưa thích của tôi trong những ngày ở Việt Nam, thích nhiều đến nỗi bạn bè người Anh gọi tôi là “A-ti-sô Charlie từ Hamburg.”


Ngấu nghiến mỗi đứa sáu cái a-ti-sô, Freddy và tôi thỏa thuận là hắn sẽ thủ trại tại Sài Gòn trong khi tôi sẽ bay lên mạn trên tới Ðà Nẵng và Huế. Sau này chúng tôi sẽ đổi ngược lại vai trò để cho hắn đi xuống đồng bằng sông Cửu Long.


Trên thực tế thì tôi phải chờ đợi mấy ngày trời trước khi bắt đầu một cuộc phiêu du mà sau này đã trở thành cuộc hành trình đau thương nhất trong cuộc đời nghề nghiệp của tôi.


(Còn tiếp)

Bộ trưởng Quốc Phòng cảnh cáo nguy cơ cắt giảm ngân sách tự động


WASHINGTON (USA Today)
 
Bằng lời lẽ gay gắt ít thấy, Bộ Trưởng Quốc Phòng Leon E. Panetta hôm Thứ Tư cảnh cáo rằng những cắt giảm quan trọng trong ngân sách quốc phòng sắp sửa đến lúc được tự động áp dụng sẽ đưa đến khủng hoảng trầm trọng cho quốc gia trong thập kỷ tới.









Bộ Trưởng Quốc Phòng Leon Panetta phát biểu tại Gaston Hall ở trường Ðại Học Georgetown, Washington D.C., hôm Thứ Tư 6 Tháng Hai, cảnh báo về tác động của việc cắt giảm tự động ngân sách đối với quốc phòng và kinh tế. (Hình: Alex Wong/Getty Images)


Ông nhận xét như vậy trong bài nói chuyện trước các sinh viên tại đại học Georgetown University, Washington D.C. Theo đạo luật Kiểm soát Ngân sách Tháng Tám năm 2011, sẽ có những cắt giảm chi tiêu quan trọng – bao gồm cả quốc phòng – nếu như Quốc Hội và tòa Bạch Ốc không đạt thỏa thuận về những giải pháp giảm thiếu hụt trước cuối năm 2012, sau đó được kéo dài thêm 3 tháng bằng thỏa hiệp vào ngày cuối năm vừa qua.


Theo lời ông Panetta: “Tổng Thống Obama và nhiều nhà lãnh đạo ở Quốc Hội chia sẻ mối quan tâm này. Không ai mà tôi đã nói chuyện không nhận ra đây là một vấn đề nguy hiểm cho quốc gia.” Ông giải thích rằng cắt giảm tự động không chỉ gây tổn hại cho quốc phòng mà còn cho mọi ngành khác và cho rằng không thể nào để tình hình này xảy tới.


Cũng trong ngày Thứ Tư, Hạ Viện do đảng Cộng Hòa nắm đa số đã biểu quyết 253-167 đòi hỏi Tổng Thống Obama phải xác định thời gian đi tới quân bình ngân sách. 26 dân biểu Dân Chủ bỏ phiếu ủng hộ dự luật H.R. 444 và chỉ có một dân biểu Cộng Hòa bỏ phiếu chống.


Ðây là chiến thuật của đảng Cộng Hòa nhằm ép buộc tổng thống và đảng Dân Chủ phải đưa ra một dự án ngân sách với những cắt giảm chi tiêu sao cho đạt đến quân bình ngân sách.


Hôm Thứ Ba, Tổng Thống Obama đã đề nghị Quốc Hội chấp thuận một ngân sách tạm thời ngắn hạn để tránh khỏi phải thi hành những cắt giảm tự động (gọi là sequestrian) theo quy định của đạo luật năm 2011 và sẽ đương nhiên có hiệu lực vào Tháng Ba.


Các quan sát viên tin rằng tranh chấp về ngân sách sẽ chỉ được thỏa hiệp để đi đến những biện pháp giải quyết nhất thời trong tình trạng đảng Cộng Hòa muốn tạo khó khăn liên tục cho Tổng Thống Obama để đạt mục tiêu chính trị của họ. (HC)

Cựu Trung Tướng Nguyễn Bảo Trị thăm Người Việt


Khách Trong Ngày


 


WESTMINSTER (NV) – Ngày 6 Tháng Hai, 2013, Tòa Soạn Người Việt tiếp một vị khách đặc biệt: Cựu Trung Tướng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Bảo Trị. Tại tòa soạn Người Việt, Tướng Nguyễn Bảo Trị chúc Tết anh chị em trong tòa soạn, và chúc “mọi chuyện hanh thông, thành công tốt đẹp.”



Tướng Nguyễn Bảo Trị sinh năm 1929 tại Hà Nội. Ông tốt nghiệp Khóa 1, Võ Bị Nam Ðịnh và cũng đã trải qua chương trình Chỉ Huy và Tham Mưu Cao Cấp, Fort Leavenworth, Hoa Kỳ.


Ngoài các cấp bậc trong quân đội VNCH, Tướng Nguyễn Bảo Trị cũng từng tham gia nội các, với chức vụ Bộ Trưởng, trong Nội các của Tướng Nguyễn Cao Kỳ (1966-1967).


Trong hình: Cựu Trung Tướng Nguyễn Bảo Trị (thứ hai từ trái), Phạm Phú Thiện Giao (Chủ Bút Nhật Báo Người Việt, bìa trái), Ðinh Quang Anh Thái (Phụ Tá Chủ Nhiệm, thứ ba từ trái) và Luật Sư Ðoàn Thanh Liêm. (Ð.B.)

Miền Tây xôn xao đón các cô dâu Việt từ Ðài Loan về ăn Tết


CẦN THƠ (NV) –
Chỉ trong vòng một tuần lễ trước ngày mùng 1 Tết Âm lịch, ít nhất 6 chuyến bay nối liền Ðài Loan-Cần Thơ, đưa khoảng 1,100 người đến miền Tây ăn Tết. Phần lớn họ là cô dâu Việt nay đưa chồng hoặc con nhỏ về thăm quê.










Ðón cô dâu Việt về quê ăn Tết. (Hình: báo Tiền Phong)


Báo Tiền Phong cho biết, có một chiếc máy bay của hãng hàng không Việt Nam hạ cánh xuống phi trường Cần Thơ khoảng 2 giờ chiều ngày 5 tháng 2. Hầu hết 188 hành khách trên chuyến bay này là các cô dâu Việt và chàng rể Ðài Loan.


Theo chính quyền địa phương, các chuyến bay trực tiếp từ Ðài Loan đến Cần Thơ đã giúp phi trường Tân Sơn Nhất “giảm tải.” Hàng ngàn người không phải dậy sớm đáp xe từ lục tỉnh lên Sài Gòn để đón người nhà từ Ðài Loan về thăm quê, đặc biệt trong những ngày Tết đông đảo người, xe.


Cũng theo báo Tiền Phong, phi trường Cần Thơ những ngày này tấp nập người chờ đón dâu Việt, rể Ðài. Trong lúc mỗi cô dâu Việt còn ngồi trên máy bay thì có ít nhất năm, bảy người đón đợi.


Báo Tiền Phong cho biết, để đón khoảng 188 dâu rể Ðài Loan đi trên chuyến bay của hãng Việt Nam Airlines đáp xuống Cần Thơ chiều ngày nói trên, người ta ước tính có ít nhất 500 người la liệt ngồi đợi. Họ từ Vĩnh Long, Bạc Liêu, An Giang,… và nhiều nhất là cư dân thành phố Cần Thơ cách đó không xa.


Chỉ riêng “đoàn” đón cô dâu Việt tên Trần Thị Nga về huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ thăm nhà, có đến 15 người, gồm 6 anh, chị em và 9 đứa cháu. Gia đình bà Nga cho biết, bà này theo chồng sang Ðài Bắc hơn 11 năm nay mới trở về quê lần đầu.










Ít nhất 7 người đi đón một người từ Ðài Loan về thăm quê. (Hình: báo Tuổi Trẻ)


Họ phải thuê một chiếc xe 16 chỗ để có thể chở hết đại gia đình, chưa kể “nhân vật chính” và hành lý cồng kềnh. Người nhà bà Nga còn nói: “Cũng may từ Thới Lai đến sân bay Cần Thơ chỉ mất một đoạn ngắn nên đỡ tốn tiền cước vận chuyển.”


Còn theo dư luận, những hình ảnh “đông vui” tưng bừng đón cô dâu Việt về quê ăn Tết khác hẳn những câu chuyện thương tâm kể về cô dâu bị gia đình chồng hà khắc, đuổi xua. Những hình ảnh “khác thường” này có thể sẽ làm “bành trướng” phong trào lấy chồng ngoại của các cô thôn nữ miền Tây trong thời gian tới. (PL)

Ông La Phước Xừng

Bà Maria Trần Thị Chi

Bão tuyết đến Ðông Bắc Hoa Kỳ cuối tuần này


NEW YORK (AP) –
Một trận bão mùa Ðông lớn từ phương Bắc tràn tới miền New England vào cuối tuần này sẽ đổ xuống khoảng 1 foot tuyết.









Ðường phố New York trong mưa hôm Thứ Tư đang chờ đợi cơn bão mùa Ðông sẽ đổ xuống khoảng 6 inches tuyết ngày Thứ Sáu. (Hình: John Moore/Getty Images)


Các chuyên gia dự báo khí tượng nói rằng thành phố New York sẽ chỉ có khoảng 6 inches tuyết nhưng vùng phía Bắc tiểu bang, qua tới thành phố Boston, MS, có thể có tới 2 feet tuyết.


Mặt giáp khí lạnh từ phía Bắc đi xuống gặp mặt giáp khí ẩm từ phía Nam đi lên vào đêm Thứ Năm tạo điều kiện cho mưa tuyết. Rob Carolan, khí tượng gia của Hometown Forecast Services ở Nashau, New Hampshire, nói rằng sẽ là một cơn bão tuyết rất lớn. Theo ông lượng tuyết rơi sẽ tùy thuộc vào sự pha trộn giữa hai khối không khí.


Bông tuyết sẽ bắt đầu rơi xuống New York chiều tối Thứ Năm và vùng Bắc thành phố sẽ phủ dưới một lớp tuyết trắng sáng hôm sau.


Những dự đoán khác lại nói rằng không khí ẩm hầu hết sẽ ở trên biển và như thế trận bão sẽ không có nhiều tuyết.


Tim Morrin, một chuyên gia thời tiết ở Upton, N.Y., giải thích rằng sự không đồng ý giữa những dự báo là do căn cứ vào những mẫu khác nhau của từng hệ thống và do đó sự tiên liệu chính xác là rất phức tạp và khó khăn. Theo ông thời gian dự đoán về sự di chuyển của các khối không khí có thể đúng, nhưng giải đáp do các computers đưa ra thường rất tổng quát.


Năm nay vùng Ðông Bắc ít tuyết. Kể từ ngày 1 Tháng Mười mới chỉ có 7.5 inches tuyết rơi xuống Central Park, New York City, dưới mức trung bình tới 6.4 inches. (HC)

Ông Phạm Văn Ngọc

Bưu Ðiện Hoa Kỳ sẽ ngưng phát thư vào Thứ Bảy


WASHINGTON (Reuters) –
Bưu Ðiện Hoa Kỳ (USPS) sẽ ngưng phát thư ngày Thứ Bảy, bắt đầu từ Tháng Tám tới đây, trong nỗ lực cắt giảm chi phí sau khi bị lỗ gần $16 tỉ trong tài khóa năm trước.









Khách hàng chờ gởi thư tại Bưu Ðiện Hoa Kỳ, chi nhánh San Francisco. Hình chụp ngày 17 Tháng Mười Hai, 2012. (Hình: Justin Sullivan/Getty Images)


Biện pháp này sẽ giúp tiết kiệm khoảng $2 tỉ mỗi năm, theo Bưu Ðiện Hoa Kỳ. Cơ quan này vẫn tiếp tục giao các bưu kiện sáu ngày một tuần và sẽ không thay đổi giờ làm việc tại các trạm bưu điện.


USPS lỗ hàng tỉ dollars mỗi năm trong khi phải tiếp tục đóng những số tiền lớn lao vào quỹ bảo hiểm y tế của nhân viên và mức sử dụng của khách hàng ngày càng xuống thấp vì sự phát triển của Internet.


Cơ chế được thành lập tại Mỹ từ 237 năm này đã đến giới hạn tối đa có thể vay tiền để điều hành hồi năm ngoái và hai lần không trả được tiền nợ cho chính phủ liên bang.


Giới chức Bưu Ðiện Mỹ từ mấy năm qua đã nói rằng họ cần phải cắt giảm số ngày giao thư, cũng như đóng cửa một số trạm bưu điện cùng giảm bớt nhân viên. (V.Giang)

TT Myanmar bổ nhiệm đối lập vào nội các


NAYPYIDAW (AFP News) –
Tổng thống Myanmar vừa bổ nhiệm một nghị sĩ đối lập vào nội các của ông, theo tin từ giới truyền thông nhà nước hôm Thứ Tư, cho phía đối lập có một chỗ đứng đầu tiên trong chính phủ cải cách này.









Tổng thống Myanmar, Thein Sein, đọc diễn văn tại Thượng Ðỉnh ASEAN-Ấn Ðộ, New Delhi, ngày 20 Tháng Mười Hai, 2012. (Hình: Findlay Kember/AFP/Getty Images)


Ông Tin Shwe, một nghị sĩ thuộc đảng đối lập Lực Lượng Dân Chủ Quốc Gia (National Democratic Force NDF), được Tổng Thống Thein Sein mời giữ chức thứ trưởng đặc trách Khách Sạn và Du Lịch, theo tờ nhật báo Ánh Sáng Mới Myanmar.


Quyết định này cũng khiến đảng NDF, vốn ly khai khỏi đảng Liên Ðoàn Quốc Gia Dân Chủ (NLD) do bà Aung San Suu Kyi lãnh đạo, phải lên tiếng khẳng định là họ tiếp tục ở phía đối lập dù có thành viên trong chính phủ.


“Chúng tôi không hề thương thảo gì với chính phủ và cũng không biết trước,” theo lời Khin Maung Swe, chủ tịch đảng NDF, cho báo chí hay.


Ông Tin Shwe, một bác sĩ 67 tuổi, nay sẽ từ chức nghị sĩ để tham gia chính phủ Myanmar, khiến đảng NDF chỉ còn lại năm ghế trong Quốc Hội. (V.Giang)

Làm gián điệp cho Trung Quốc, sĩ quan Ðài Loan lãnh 12 án chung thân

ÐÀI BẮC, Ðài Loan (AFP News) –Một cựu sĩ quan Không Quân Ðài Loan bị 12 án tù chung thân vì làm gián điệp cho Trung Quốc, theo nguồn tin tòa án hôm Thứ Tư, vụ mới nhất trong hàng loạt các vụ án gián điệp làm rung chuyển đảo quốc Ðài Loan thời gian gần đây.


Trung Tá Yuan Hsiao-feng bị kết tội chuyển giao tài liệu mật cho Trung Quốc từ năm 2001 đến 2007, theo một viên chức tòa án.


Tài liệu mật được chuyển cho Trung Quốc qua trung gian của một cựu sĩ quan đồng ngũ với ông Yuan là Chen Wen-jen. Cả hai người cùng bị tuyên án hôm Thứ Ba, và ông Chen lãnh bản án 20 năm tù.


Ông Yuan bị kết án cả 12 tội, với mỗi tội có hình phạt tối đa là tù chung thân.


Cả hai người bị bắt hồi năm ngoái sau khi tìm cách lôi kéo hai sĩ quan cấp dưới vào tổ gián điệp này. Hai sĩ quan nói trên không nghe theo và đi tố cáo với giới chức an ninh.


Tờ báo China Times ở Ðài Loan cho hay ông Yuan được Trung Quốc trả khoảng $269,000 cho các tài liệu cung cấp.


Mới gần đây, một đô đốc Hải Quân Ðài Loan bị thẩm vấn vì tình nghi có liên hệ trong vụ án gián điệp khiến ba sĩ quan cao cấp bị bắt giữ hồi Tháng Chín, theo giới hữu trách hôm Thứ Hai. (V.Giang)

Lãnh tụ đối lập Tunisia bị bắn chết


CAIRO (NYT) –
Một lãnh tụ đối lập hàng đầu ở Tunisia, người mạnh mẽ cáo buộc chính quyền thân Hồi Giáo ở quốc gia này là làm ngơ trước tình trạng bạo động chính trị, vừa bị bắn chết trước cửa nhà hôm Thứ Tư, theo giới hữu trách.









Người biểu tình cầm bảng với nội dung “Tunisia thương tiếc Chokri Belaid.” Ông Belaid bị bắn chết hôm Thứ Tư. (Hình: Mehdi Fedouach/AFP/Getty Images)


Ông Chokri Belaid, nhân vật lãnh đạo cao cấp trong liên minh đối lập thành hình hồi Tháng Mười năm ngoái, bị bắn ngay sau khi bước ra khỏi nhà ở thủ đô Tunis, theo cơ quan thông tấn TAP của nhà nước Tunisia. Một nguồn tin thân cận cho hay ông Belaid bị bắn bốn phát vào ngực và đầu.


Tổng thống Tunisia, ông Moncef Marzouki, cắt ngắn chuyến công du ngoại quốc và trở về nước sau khi có tin về vụ nổ súng. Thủ Tướng Hamadi Jebali gọi đây là “một vụ ám sát chính trị và cũng là vụ ám sát cách mạng Tunisia.”


Ông Belaid và nhiều người khác đã cáo buộc đảng Hồi Giáo cầm quyền Ennahda là có quá nhiều nhượng bộ đối với thành phần Hồi Giáo quá khích Salafis, khi không chịu truy tố họ hay có biện pháp ngăn chặn hành động tấn công của thành phần này đối với những người biểu tình chống chính phủ. (V.Giang)

Trung Quốc quan ngại đe dọa của Bắc Hàn


BEIJING (Reuters) –
Chính quyền Trung Quốc hôm Thứ Tư bày tỏ quan tâm về việc Bắc Hàn gia tăng hung hăng trong các lời tuyên bố, đe dọa sẽ không chỉ cho nổ nguyên tử lần thứ ba để đáp trả những gì mà Bình Nhưỡng gọi là các hành động trừng phạt có tính cách “thù nghịch” tiếp theo sau vụ phóng hỏa tiễn hồi Tháng Mười Hai vừa qua.









Người Nam Hàn biểu tình với biểu ngữ ghi “Bắc Hàn Thử Nghiệm Nguyên Tử là Cuộc Khủng Hoảng Chống Lại Nhân Loại.” Hình chụp tại Seoul, 6 Tháng Hai, 2013. (Hình: Jung Yeon-je/AFP/Getty Images)


“Trung Quốc vô cùng quan tâm về những gì đang xảy ra hiện nay. Chúng tôi chống lại mọi thái độ có thể làm trầm trọng hơn tình hình hiện nay cũng như những hành động không có lợi đối với việc giải trừ nguyên tử trên bán đảo Triều Tiên,” theo lời nữ phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Trung Quốc Hua Chungying.


“Chúng tôi kêu gọi mọi phía liên hệ hãy giữ bình tĩnh, tự chế và có hành động duy trì hòa bình và ổn định trong vùng bản đảo Triều Tiên,” bà Hua Chungying cho hay trong cuộc họp báo hàng tuần.


Một trong những nhật báo phát hành nhiều nhất ở Trung Quốc, tờ Global Times của Ðảng Cộng Sản Trung Quốc, cho rằng chính quyền Bắc Kinh phải có thái độ cứng rắn hơn và cho giới lãnh đạo Bắc Hàn biết về các hậu quả sẽ có do hành động của họ. Tờ báo nói rằng Trung Quốc nên cắt giảm viện trợ nếu Bắc Hàn thử võ khí nguyên tử. (V.Giang)

Bộ trưởng Giáo Dục Ðức mất bằng tiến sĩ vì gian lận luận án


BERLIN (AP) –
Bộ trưởng Giáo Dục Ðức hôm Thứ Ba đã bị thu hồi bằng tiến sĩ sau khi một hội đồng giáo sư đưa ra kết luận là bà đã quay cóp nhiều phần trong luận án tiến sĩ thực hiện năm 1980.









Nữ bộ trưởng Giáo Dục Ðức, Annette Schavan (trái), trong một cuộc họp nội các ngày 30 Tháng Giêng, 2013. (Hình: Adam Berry/AFP/Getty Images)


Bà Annette Schavan, 57 tuổi, là bộ trưởng thứ nhì trong chính phủ của nữ Thủ Tướng Angela Merkel bị mất bằng tiến sĩ sau khi bị cáo buộc quay cóp. Cựu Bộ Trưởng Quốc Phòng Karl-Theodor zu Guttenberg phải từ chức năm 2011 sau khi có bằng chứng cho thấy ông sao chép công trình của người khác để dùng trong luận án của mình.


Bà Schavan bác bỏ các cáo buộc hiện nay và cho hay sẽ kháng án lên viện đại học Heinrich Heine University ở Duesseldorf.


Hội đồng giáo sư bỏ phiếu 12 thuận và 2 chống với một phiếu trắng để thu hồi bằng tiến sĩ của bà Schavan hôm Thứ Ba. (V.Giang)

Tết Mậu Thân 1968 tại Sài Gòn (phần 3)


LTS –
Tiến Sĩ Uwe Siemon-Netto sinh năm 1936 và có 57 năm trong vai trò phóng viên quốc tế. Sinh trưởng tại miền Ðông nước Ðức, ông trốn khỏi chế độ cộng sản, và là một trong những phóng viên tường thuật việc xây dựng bức tường Bá Linh chia đôi nước Ðức năm 1961, trong vai trò phóng viên của hãng AP. Các đề tài lớn trong cuộc đời làm báo của Uwe Siemon-Netto có thể kể đến cuộc khủng hoảng hỏa tiễn Cuba (1962), vụ ám sát Tổng Thống Kennedy (1963), các phong trào dân quyền tại Mỹ, khủng hoảng Trung Ðông, và chiến tranh Việt Nam từ 1965 đến 1969, rồi 1972. Ông có mặt, và tận mắt chứng kiến chiến sự, tại cả Sài Gòn và Huế trong biến cố Mậu Thân 1968. Hiện ông đang viết hồi ký, và dành hẳn ba chương (13, 14, 15) kể lại những gì đã chứng kiến trong biến cố Mậu Thân. Hồi ký có tựa đề “Ðức: A Reporter’s Love for a Wounded People.” Ông có bằng Cao Học về Thần Học tại Chicago và bằng tiến sĩ Thần Học, Xã Hội Học về Tôn Giáo từ Boston University. Ông hiện sinh sống tại Nam California. Người Việt đăng tải nhiều kỳ nội dung các chương 14 và 15, với sự đồng ý của tác giả và dịch giả, Lý Văn Quý và Nguyễn Hiền.



Tác giả: Uwe Siemon-Netto


Dịch giả: Lý Văn Quý & Nguyễn Hiền


 


Ngay lúc này thì anh đang lo chỗ ở tạm thời cho Arno Knochel, cô vợ người Việt Nam của ông và cả 10 đứa con của họ. Knochel, cựu trung sĩ trong đoàn Lê Dương là người quản gia của tòa Ðại Sứ Tây Ðức và gia đình ông ở ngay trong sân của tòa Ðại Sứ, một nơi không an toàn chút nào vì vị trí của nơi này ngay ngoài rìa của Chợ Lớn, khu phố Tàu trong vùng giao tranh tại Sài Gòn. Ruedt Von Collenberg đã phải thực hiện ba chuyến, vừa núp VC bắn sẻ mới chuyển hết 12 người gia đình Knochel vào trong trung tâm thành phố.









Hình bìa tác phẩm “Ðức: A Reporter’s Love for a Wounded People” của Giáo Sư Uwe Siemon-Netto. (Hình: Tác giả cung cấp)


“Bọn Việt Cộng đã bắt cóc các bác sĩ của ta ở Huế rồi,” Ruedt von Collenberg nói lúc anh ta đi ra khỏi phòng sảnh đông đúc của khách sạn Continental, “Chúng tôi không biết gì hơn nữa. Anh có định ra đó không?”


“Ngay khi nào tôi có thể bắt được một chuyến bay quân sự ra Ðà Nẵng, có thể là ngày mai đấy,” Tôi đáp, “Từ đó tôi sẽ tháp tùng một đoàn xe quân sự ra Huế.”


“Chúc bạn may mắn! Tôi nghe là Huế đã rơi vào tay Cộng quân rồi,” von Collenberg bảo tôi.


“Tôi sẽ cố gắng bám theo một đơn vị Hoa Kỳ hay VNCH mở đường tái chiếm thành phố Huế.”


“Cẩn thận nhé – và nhớ báo cho tôi biết tin tức,” anh khẩn khoản.


“Tôi sẽ cố gắng hết sức. Tôi biết họ là bạn của anh mà,” tôi hứa.


“Ðúng vậy, tôi vẫn thường xuyên ở với họ mỗi khi thăm xứ Huế. Họ là những người rất đàng hoàng và có học thức. Họ đã từ bỏ quá nhiều ở Ðức để đến giúp người Việt Nam. Trên thực tế, đáng lẽ họ đã phải hồi hương nhưng đã gia hạn thời gian phục vụ tại đây. Họ bảo tôi là đã trót thương đất nước và dân tộc Việt Nam nên không muốn bỏ rơi người ta. Bây giờ thì mình không biết họ ở đâu và còn sống hay không nữa.”


“Tôi hứa sẽ liên lạc với anh ngay sau khi có thể được khi nào đến Huế. Kiếm bạn ở đâu đây?”


“Tại tòa Ðại Sứ, ban đêm cũng được trong thời gian khủng hoảng này. Tôi đã đặt một cái giường tạm trong văn phòng tôi.”


Tôi chạy lên phòng đi tắm và băng bó lại cái chân bị thương trước khi viết lại câu chuyện. Ngay lúc đó, tay bạn cùng toán Friedhelm “Freddy” Kemna bước vào phòng từ Trung Tâm Báo Chí kể lại cho tôi toàn bộ tình hình chung: khoảng 80,000 Việt Cộng và bộ đội Bắc Việt đã tấn công 100 tỉnh thành tại miền Nam Việt Nam. Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã tuyên bố thiết quân luật.


Freddy trải một tấm bản đồ Sài Gòn lên trên giường tôi, lấy cây bút đánh dấu màu xanh khoanh vòng những địa điểm nóng xấu nhất và nói: “Có giao tranh nặng vùng trường đua ngựa và Tân Sơn Nhất; nhưng tôi nghĩ giờ này phi trường chắc được giải tỏa rồi. Việt Cộng tấn công Bộ Tư Lệnh Lục quân và Hải quân gần Tân Sơn Nhất, và Dinh Tổng Thống nhưng vẫn chưa chọc thủng phòng tuyến. Tin mừng là quân miền Nam đã thiết lập sự phòng ngự hữu hiệu và chiến đấu giỏi. Ðài phát thanh quốc gia vẫn còn trong tay Việt Cộng nhưng quân đội VNCH đã khôn ngoan cắt đứt các đường dây đến trạm phát thanh nên bọn Việt Cộng không thể dùng đài phát thanh để tuyên truyền được. Quận 5-Chợ Lớn, là mặt trận tồi tệ nhất. Nơi đó là một mớ hỗn độn…”


“Trời đất ơi!” Tôi thốt lên.


“Sao vậy?”


“Quận 5! Ðó là chỗ Josephine đang ở!”


“Cô ta vẫn còn trong tâm trí của bạn à, đúng không?” Freddy nói, “Tôi tưởng cô đã lấy một ông thương gia bán ngũ cốc người Hoa có cái biệt thự thật lớn rồi?”


“Ðúng vậy, nhưng tôi không nghĩ là cô ta đang ở trong cái biệt thự đó. Có lẽ cô đang ở với mẹ tại căn nhà nhỏ trong Quận 5 vào dịp Tết, và điều này làm tôi lo lắng.”


“Thôi ăn cái gì đi và bắt đầu viết là vừa,” Freddy đề nghị. “Bạn có đồ ăn gì trong phòng không?”


“Tôi có mang vài hộp bánh mì pumpernickel Ðức từ Hồng Kông về và luôn luôn chứa một ít khẩu phần C. Trong đó có phô-mai đóng hộp đấy. Bọn mình ăn bánh mì phô-mai đi.”


Chúng tôi ăn tạm. Sau đó tôi ngồi đánh máy còn Freddy thì đứng bên trái bổ túc những chi tiết anh ta mới hay từ Trung Tâm Báo Chí. Ðồng tác giả với nhau, chúng tôi đã viết bài phóng sự về Tết Mậu Thân trên trang bìa và các mẩu tin phụ khác cho tờ Die Welt. Sau đó tôi đã viết thêm cho những tờ báo khác mà tôi phụ trách.


Cứ mỗi lần tôi xong hai hay ba trang đánh máy thì Freddy chộp lấy và chạy vội qua bên kia đường đến Trung Tâm Báo Chí mới được lắp đặt hai đường dây telex đến Manila – Hai đường cho 600 phóng viên chính thức! Tại đó có ba cô nhân viên telex đều xinh đẹp, vui vẻ, và cả ba đều trở thành bạn của tôi sau khi tôi biếu các cô vài xấp lụa Hồng Kông để may áo dài mới.


“Bạn thật là tài với mấy cô ấy,” Freddy nói, miệng cười rạng rỡ lúc quay về. “Có cả hai hàng dài ký giả chờ đợi để đưa tin nhưng các cô đã lén nhận bản thảo của tụi mình mà không để ai biết cả. Thật là hay khi có được những người bạn trong những vị trí khiêm nhường.”


“Freddy, bạn chịu khó ở lại giữa chùa nha, thỉnh thoảng chạy qua bên Trung Tâm Báo Chí để cập nhật chuyện tụi mình nhé, được không? Tôi phải chạy ra ngoài xem một chút.”


“Bằng cách nào đây?” Friedhelm Kemna kêu lên, “Bạn không còn xe hơi nữa. Ngoài đường không có tắc-xi, xích-lô, chẳng có gì hết!”


“Có cách mà,” tôi trả lời. “Ðể tôi nói chuyện với anh quản gia, anh ta cũng là bạn tôi đấy.”


Tôi khá mắc cỡ khi thú nhận là tôi không còn nhớ tên cái anh quản gia đó nữa nếu quả tình có biết tên anh ta. Giống như rất nhiều những người như vậy làm việc trong những khách sạn khéo điều hành, anh ta là một người chững chạc với một cá tính phi thường.


“Anh có cách nào kiếm cho tôi một cái xe không?” Tôi hỏi anh ta.


“Có và không,” anh đáp lời.


“Ý anh là thế nào?”


“Tôi nói không vì không có xe dân sự nào ngoài đường hôm nay cả. Nhưng tôi nói có vì anh có thể lấy chiếc Honda của tôi.”


“Nhưng tôi chưa bao giờ lái xe gắn máy bao giờ cả!”


“Anh biết lái xe đạp, đúng không? Tôi sẽ chỉ anh cách rồ ga và đạp thắng. Anh chỉ cần biết những điều đó.”


(còn tiếp)

Tết Mậu Thân 1968 tại Sài Gòn (phần 2)


LTS –
Tiến Sĩ Uwe Siemon-Netto sinh năm 1936 và có 57 năm trong vai trò phóng viên quốc tế. Sinh trưởng tại miền Ðông nước Ðức, ông trốn khỏi chế độ cộng sản, và là một trong những phóng viên tường thuật việc xây dựng bức tường Bá Linh chia đôi nước Ðức năm 1961, trong vai trò phóng viên của hãng AP. Các đề tài lớn trong cuộc đời làm báo của Uwe Siemon-Netto có thể kể đến cuộc khủng hoảng hỏa tiễn Cuba (1962), vụ ám sát Tổng Thống Kennedy (1963), các phong trào dân quyền tại Mỹ, khủng hoảng Trung Ðông, và chiến tranh Việt Nam từ 1965 đến 1969, rồi 1972. Ông có mặt, và tận mắt chứng kiến chiến sự, tại cả Sài Gòn và Huế trong biến cố Mậu Thân 1968. Hiện ông đang viết hồi ký, và dành hẳn ba chương (13, 14, 15) kể lại những gì đã chứng kiến trong biến cố Mậu Thân. Hồi ký có tựa đề “Ðức: A Reporter’s Love for a Wounded People.” Ông có bằng Cao Học về Thần Học tại Chicago và bằng tiến sĩ Thần Học, Xã Hội Học về Tôn Giáo từ Boston University. Ông hiện sinh sống tại Nam California. Người Việt đăng tải nhiều kỳ nội dung các chương 14 và 15, với sự đồng ý của tác giả và dịch giả, Lý Văn Quý và Nguyễn Hiền.



Tác giả: Uwe Siemon-Netto


Dịch giả: Lý Văn Quý & Nguyễn Hiền


 


Tôi phát hiện bên cạnh tôi có một đôi chân mang vớ len xỏ trong dép và nghĩ, “Ðây chỉ có thể là một gã người Ðức!” Trong tiếng giao tranh bên kia đường bên tai, mắt tôi tập trung vào một người không quen biết từ đôi dép lên.









Hình bìa tác phẩm “Ðức: A Reporter’s Love for a Wounded People” của Giáo Sư Uwe Siemon-Netto. (Hình: Tác giả cung cấp)


Tôi tự nhéo vào người. “Hay là mình đang có một giấc mơ kỳ lạ?” Tôi tự nhủ. Tôi thấy một chiếc quần quân phục Ðức, trên nữa là một cái áo khoác sĩ quan Ðức với huy hiệu xác định người mặc là một phi công trực thăng, trên cầu vai có một đốm bạc bao quanh bởi hai cái lá sồi cũng màu bạc. Một cái mũ lưỡi trai của sĩ quan đội trên đầu bổ túc toàn bộ bức hình: trong bối cảnh chiến đấu giữa trung tâm Sài Gòn tôi đang đứng cạnh một thiếu tá Ðức đi dép và mang vớ len. Sau này tôi mới biết đó là phụ tá tùy viên quốc phòng Tây Ðức.


“Neue Kleiderordnung, Herr Major?” Tôi hỏi anh ta: “Trang phục mới, thưa thiếu tá?”


“Wie meinen Sie das?” Anh đáp lại: “Anh nói cái gì vậy?”


Tôi chỉ vào chân anh ta nói: “Uniform, Wollsocken, Sandalen.” “Quân phục, vớ len và dép!”


“Gucken Sie sich gefaelligst Ihre eigen Fubesse an ” anh vặn lại: “Nhìn vào chân bạn đi!”


Tôi làm theo và thấy một cảnh tượng đáng thương: tuốt phía dưới, sau cái nón sắt, bộ áo giáp và quần jeans là đôi chân dính đầy máu đã đông đặc dính cứng trong đôi dép cao su đi tắm màu xanh. Ngay tôi cũng không biết là tôi đã bị thương, có thể vì mảnh thủy tinh vỡ bắn vào.


“Nur Tarnung, Herr Major,” tôi trả lời: “Chỉ ngụy trang thôi!” Cả hai chúng tôi cười phá lên.


Niềm vui nhộn của chúng tôi lập tức thu hút sự chú ý của những người qua đường khác và họ gia nhập vào chúng tôi, không biết rằng chủ đề vui nhộn chỉ là về giày dép. Họ cũng cười lên, tưởng rằng chúng tôi đang phản ứng với sự phi lý bi thảm đang diễn ra phía bên kia đường.


“Tôi tưởng anh đang ở Lào mà,” một tay phóng viên người Anh hỏi tôi, “Ðiều gì khiến bạn về đây?”


Tôi kể là tôi đã theo lời khuyên của Maurice, Mee và viên thiếu tá người Pháp ở Paksong để trở về Sài Gòn trong dịp Tết.


“Họ đúng đấy,” tay người Anh lắc đầu bình phẩm. “Thật là không thể tưởng tượng nổi là một chủ quán, một tay buôn thuốc phiện đã giải nghệ và một viên sĩ quan Pháp tuốt bên Lào lại biết trước chuyện gì sẽ xảy ra. Quân đội VNCH cũng đã biết trước luôn. Tướng Cao Văn Viên, tổng tham mưu trưởng QLVNCH đã được thông báo. Ba ngày trước ông đã ra lệnh cho các tư lệnh quân đoàn phải đặt quân đội trong tình trạng báo động. Tuy nhiên, dường như phát ngôn viên quân đội Mỹ chẳng biết gì về các ý định của Việt Cộng cả.”


“Anh nói đúng về trường hợp Tướng Cao,” viên sĩ quan Ðức nói, “Ông ta đã ra lệnh này sau khi QLVNCH bắt được 11 tên Việt Cộng tại Qui Nhơn mang theo băng nhựa thâu sẵn thông điệp để phát thanh cho dân chúng nghe trong những thành phố được ‘giải phóng’ như Sài Gòn, Ðà Nẵng và Huế, dự tính là ngày hôm nay đấy.”


“Hai hôm trước đây, tôi tham dự một buổi họp mặt tất niên bên cạnh hồ bơi cùng với 200 chuyên viên tình báo MACV,” tay phóng viên người Anh tiếp lời, dùng chữ viết tắt của Bộ Chỉ Huy Hỗ Trợ Quân Sự Hoa Kỳ tại Việt Nam (U.S. Military Assistance Command Vietnam). “Chẳng ai ở đó tỏ vẻ có ý niệm gì là Cộng sản sắp tấn công cả.”


Bây giờ trời đã rạng đông. Từng chút một, chúng tôi nghe các chi tiết đáng kinh ngạc được tiết lộ ra từ trận giao tranh trong tòa nhà, đặc biệt tại căn biệt thự của George Jacobson, phụ tá đặc biệt của Ðại Sứ Ellsworth Bunker. Thấy một tay súng Cộng sản chui được vào nhà, ông chạy vội ra cửa sổ phòng ngủ hét một lính Mỹ bên dưới, “Ném cho tôi một khẩu súng.”


Có súng rồi, Jacobson đối đầu với tay Việt Cộng, chĩa súng vào hắn. Một cuộc cận chiến sống chết giữa hai người diễn ra kịch liệt kế đó. Sau cùng Jacobson lừa thế bắn được kẻ lạ mặt. Một phóng viên Mỹ đến báo với chúng tôi là Tướng William Westmoreland, tổng tư lệnh Quân Lực Hoa Kỳ tại Việt Nam, sắp xuất hiện tại tòa Ðại Sứ nhưng tôi không thể chờ được vì phải về nộp câu chuyện. Trên đường về lại Continenta , tôi thấy vẫn còn những vụ chiến đấu lẻ tẻ trong từng căn nhà hai bên vỉa đường đầy các xác chết làm tôi phải chạy thục mạng. Có tên bắn lén xuất hiện ở một chỗ nổ một vài phát súng rồi biến mất để xuất hiện qua một chỗ khác nhằm tạo cảm giác chúng có mặt mọi nơi và không lường trước được. Trong câu chuyện ngày 31 Tháng Giêng năm 1968, tôi viết, “Những vụ bắn sẻ chỉ xảy ra trong vòng vài thước cách khách sạn của tôi.”


Phòng sảnh thanh lịch của khách sạn Continental trông giống như một trại tỵ nạn. Lũ lượt, từng đoàn người ngoại quốc cư trú trong các quận huyện Sài Gòn bị Việt Cộng tấn công đang tìm nơi trú ẩn. Vài người lớn giọng đòi xin thực phẩm vì không còn gì để ăn trong cái thủ đô mà các tiệm bánh, hàng quán đều đóng cửa, nhưng ông Lợi, quản gia của Continental thông báo là khách sạn chỉ vừa đủ lương thực để cung cấp cho khách đang trú ngụ mà thôi.


Trong hoàn cảnh hỗn loạn này thì Nam tước trẻ tuổi Hasso Rudt von Collenberg nổi lên như là một khuôn mẫu cho sự điềm tĩnh. Vị đệ nhất thư ký tại tòa Ðại Sứ Ðức với khuôn mặt trắng nhợt và trẻ trung này là một người vô cùng dũng cảm. Giới ký giả thích anh ta ở cái tính khôi hài ý nhị và đầu óc phân tích sâu sắc. Khi chúng tôi chạm trán nhau trong phòng sảnh Continental thì anh ta đã thức trắng đêm lái chiếc Volkswagen trắng vòng quanh để chở các công dân Ðức đến những nơi an toàn.


(Còn tiếp)

Tết Mậu Thân 1968 tại Sài Gòn (phần 1)


LTS –
Tiến Sĩ Uwe Siemon-Netto sinh năm 1936 và có 57 năm trong vai trò phóng viên quốc tế. Sinh trưởng tại miền Ðông nước Ðức, ông trốn khỏi chế độ cộng sản, và là một trong những phóng viên tường thuật việc xây dựng bức tường Bá Linh chia đôi nước Ðức năm 1961, trong vai trò phóng viên của hãng AP. Các đề tài lớn trong cuộc đời làm báo của Uwe Siemon-Netto có thể kể đến cuộc khủng hoảng hỏa tiễn Cuba (1962), vụ ám sát Tổng Thống Kennedy (1963), các phong trào dân quyền tại Mỹ, khủng hoảng Trung Ðông, và chiến tranh Việt Nam từ 1965 đến 1969, rồi 1972. Ông có mặt, và tận mắt chứng kiến chiến sự, tại cả Sài Gòn và Huế trong biến cố Mậu Thân 1968. Hiện ông đang viết hồi ký, và dành hẳn ba chương (13, 14, 15) kể lại những gì đã chứng kiến trong biến cố Mậu Thân. Hồi ký có tựa đề “Ðức: A Reporter’s Love for a Wounded People.” Ông có bằng Cao Học về Thần Học tại Chicago và bằng tiến sĩ Thần Học, Xã Hội Học về Tôn Giáo từ Boston University. Ông hiện sinh sống tại Nam California. Người Việt đăng tải nhiều kỳ nội dung các chương 14 và 15, với sự đồng ý của tác giả và dịch giả, Lý Văn Quý và Nguyễn Hiền.


 


Tác giả: Uwe Siemon-Netto


Dịch giả: Lý Văn Quý & Nguyễn Hiền


 


Bị đánh thức dậy ngay sau ba giờ sáng, tôi gầm lên với khách vui xuân dịp Tết: “Không phải đã đến lúc về nhà hay sao?” Nhưng khi tôi đến cửa sổ nhìn xuống công trường Lam Sơn thì ngạc nhiên không còn thấy một bóng ma nào cả, ở nơi mà trước đó vài tiếng đồng hồ còn có cả chục ngàn người đón mừng năm mới Mậu Thân.









Hình bìa tác phẩm “Ðức: A Reporter’s Love for a Wounded People” của Giáo Sư Uwe Siemon-Netto. (Hình: Tác giả cung cấp)


Ngay cả “chuột trắng,” biệt danh của cảnh sát Sài Gòn cũng chẳng thấy đâu. Tôi chợt nhận ra là những gì tôi nghe thấy không phải là tiếng pháo nổ mà là tiếng liên thanh của súng trường tự động – và không phải ở đâu xa xôi bên kia sông Sài Gòn mà ngay giữa thành phố, trong tầm đi bộ từ khách sạn tôi đang ở.


Tôi mặc vội chiếc quần jeans và cái áo polo màu sậm, lôi cái nón sắt và chiếc áo giáp ra từ cái rương nhôm các nhân viên khách sạn đã mang từ tầng hầm của Continental lên phòng tôi. Khi tôi xuống dưới nhà, phòng sảnh khách sạn đầy những người mà bình thường ra không có mặt sớm như vậy: các nhân viên tiếp tân, điện thoại viên, hầu phòng, nhân viên nhà bếp, hầu bàn, và các nhà thầu người Mỹ cùng cô gái bao của họ.


“Không ra ngoài được! Việt Cộng! Thiết quân luật rồi!” người gác đêm, một ông già Ấn Ðộ vùng Madras mặt nhăn nheo nài nỉ với tôi bằng tiếng Pháp.


“Thiết quân luật không áp dụng đối với tôi vì tôi là nhà báo chính thức,” Tôi nói, “Tôi phải ra ngoài xem chuyện gì xảy ra.”


Ông ta mở khóa cửa và tôi mau chóng rẽ phải và lại rẽ phải thêm một lần nữa. Tôi đi bộ dọc lên đường Tự Do về phía Tây Bắc theo hướng tiếng súng càng lúc càng dữ dội của một cuộc đụng độ gần đó. Theo phản ứng thường tình tôi đi nép vào bờ tường. Ðèn đường đã tắt ngóm. Thoạt đầu tôi cảm thấy lạnh lẽo một mình cho đến khi linh tính báo tôi biết có thể có ai đó đang canh chừng tôi. Tôi vội cúi xuống bước đi thận trọng hơn vì nghĩ rằng di chuyển nhanh quá có thể khiến bị người khác chú ý đến. Tôi cũng lo là khuôn mặt da trắng của tôi có thể bị phác giác trong bóng đêm kinh hoàng này nên tôi quay đầu vào mặt tiền các căn nhà đường Tự Do và tiếp tục đi ngang như con cua vậy.


Ðến ngã tư đầu tiên tôi liếc nhanh nhìn qua phía đối diện bên trái. Chỗ đó là quán cà phê La Pagode, nơi mà bà “Má,” sếp của Ðức, thường ngồi xổm bên cạnh đống báo chí. Tôi tự nhủ không biết giờ này em ở đâu? Em đã đi lính VNCH chưa hay lại thành Việt Cộng rồi? Lần cuối tôi gặp em đã 18 tháng từ ngày em theo tôi đến bệnh viện Hải Quân trong Chợ Lớn.


Ðiều gì đó khiến tôi liếc nhìn lên các tầng lầu của La Pagode. Hình như có những bóng người chạy nhanh trên nóc nhà hay chỉ là trong óc tưởng tượng của tôi? Nếu đúng, có thể là bọn Việt Cộng núp bắn sẻ? Thắc mắc này lẩn quẩn trong trí tôi trong lúc tôi tiếp tục đi ngang kiểu con cua từng đoạn đường về hướng Nhà Thờ Ðức Bà, thỉnh thoảng quay đầu lại quan sát các nóc nhà và vỉa hè.


Nếu quả thật có đặc công Việt Cộng thì hoặc là họ không trông thấy tôi hay họ không muốn bắn vào một mục tiêu lẻ loi để bị lộ vị trí quá sớm. Tuy nhiên tôi không muốn liều lĩnh chút nào. Tôi lập tức rẽ bên mặt, vẫn bám sát vào tường. Ðến ngã tư tiếp theo tôi phóng hết sức lực qua đường thật nhanh và quẹo trái. Bây giờ tôi đang trên đường Hai Bà Trưng. Vẫn tiếp tục cúi mình ôm sát các tòa nhà, tôi đến gần khu giao tranh. Tôi không còn lẻ loi nữa. Một số người di chuyển về hướng tôi, họ cũng đều ở trên vỉa hè sát cạnh những tòa nhà. Tôi nhận ra những giọng nói quen thuộc của các đồng nghiệp và những tiếng thì thầm của người lạ bằng tiếng Pháp và tiếng Anh giọng chính gốc.


Khi đến đại lộ Thống Nhất tôi có cảm giác, một điều xảy ra hoài tại Sài Gòn, giống như có ai đó thả tôi lên “sân khấu của sự phi lý” trong một màn điên loạn đặc biệt. Bên mặt tôi thấy nhóm lính Royal Gurkha Rifles đang ở tư thế sẵn sàng chiến đấu đằng sau cánh cổng của tòa Ðại Sứ Anh quốc mà họ phải bảo vệ bằng mọi giá. Bên kia đại lộ tôi chứng kiến một cảnh tượng kỳ lạ: một chiếc trực thăng đang cố đáp xuống nhiều lần trên nóc tòa nhà sáu tầng của tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ và liên tiếp bị súng tự động phía trong tòa nhà bắn lên đuổi đi.


Ðặc công Việt Cộng đã phá nổ được một lỗ ngoài bức tường bao quanh địa hình bốn mẫu vuông và chiếm giữ khu đất tòa đại sứ này cho đến khi 18 người trong số họ bị giết và một người bị bắt sống trong một cuộc đụng độ kéo dài nhiều tiếng đồng hồ. Ba TQLC và hai Quân Cảnh Mỹ bị thiệt mạng bởi đặc công Cộng sản vũ trang hùng hậu hơn. Một chiếc trực thăng đã nhào xuống thả ba thùng đạn M.16 trong một cố gắng tiếp viện cho toán an ninh Mỹ trong lúc họ đang bắn nhau với Việt Cộng. Nhưng sau đó có nguồn tin tiết lộ ra là bên trong tòa nhà ngoại giao đó không hề có một khẩu M.16 nào cả.


Tôi quan sát những khán giả xếp hàng dọc theo vỉa hè đại lộ Thống Nhất bên tôi và tự dưng cái óc hí họa trỗi dậy, giống như nó vẫn thường xảy ra trong những ngày tôi còn là học sinh trung học, luôn luôn trong những lúc không ngờ nhất. Thời gian đó tôi hay say sưa vẽ biếm họa ông thầy dạy toán trong những buổi kiểm tra học kỳ mà tôi không tránh khỏi bị đánh rớt. Lần này thì niềm đam mê tranh hài hước có mục tiêu khác. Tôi phác họa trong đầu sự tương phản tức cười giữa những bộ chân dân thường và cảnh hỗn loạn của đám quân nhân bên kia đường.


(còn tiếp)

Hướng Ðạo Hoa Kỳ hoãn quyết định thu nhận LGBT


IRVING, TX. (WSJ) –
Sau ba ngày họp kín tại một khách sạn ở ở Irving Texas, nơi đặt trụ sở trung ương Hội Hướng Ðạo Hoa Kỳ, hôm Thứ Tư, Hội Ðồng Ðiều Hành với khoảng 70 thành viên loan báo hoãn quyết định về việc bãi bỏ lênh cấm thu nhận người LGBT vào Hướng Ðạo, để có đủ thời gian duyệt xét lại vấn đề.









Mục Sư Alvin Fuller (trái) thuộc Giáo Hội God’s Final Warning Ministries of Lancaster, Texas, đứng trong hàng ngũ những người thắp nến cầu nguyện chống bỏ lệnh cấm thu nhận người LGBT vào Hướng Ðạo. (Hình: AP/Richard Rodriguez)


Bản thông cáo đưa ra nói rằng: “Sau khi cứu xét và thảo luận trong gia Ðình Hướng Ðạo cũng như tiếp thu ý kiến bên ngoài, hội đồng kết luận rằng do sự phức tạp của vấn đề, cần có thêm thời gian nghiên cứu lại chính sách.” Một quyết nghị sẽ được chuẩn bị để đem ra cho 1,400 thành viên hội đồng quản trị biểu quyết trong đại hội ở Grapevine, TX vào Tháng Năm.


Hội Hướng Ðạo chịu áp lực nặng nề từ cả hai phía nhất là các cơ quan bảo trợ tài chính. 70% các đơn vị hướng đạo do những tổ chức tôn giáo bảo trợ, Giáo hội Công Giáo Hoa Kỳ và các giáo hội Tin Lành như Southern Baptist Convention, Mormon (Church of Jesus Christ of Latter-day Saints) mạnh mẽ chống thu nhận người đồng tính vào Hướng Ðạo. Trong khi đó, một số các công ty thương mại khác cho biết sẽ rút sự bảo trợ nếu duy trì biện pháp cấm LGBT.


Jennifer Tyrrell, một bà mẹ ở Ohio bị khai trừ khỏi nhóm tình nguyện viên Hướng Ðạo vì là lesbian, tuyên bố: “Hướng Ðạo được coi là những người dũng cảm nhưng hôm nay đã không thể hiện được điều ấy.”


Chủ tịch chiến dịch vận động Scouts for Equality, nói: “Chúng tôi hiểu sự thay đổi chính sách là một vấn đề lớn với một số người về mô hình Hướng Ðạo. Nhưng đây không phải chuyện tôn giáo mà đơn giản là đạo lý nhân bản, cái chung cho tất cả mọi tín ngưỡng.”


Tổng Thống Obama với tư cách là chủ tịch danh dự Hướng Ðạo Hoa Kỳ, trả lời phỏng vấn của CBS, nói: “Theo tôi người LGBT nên được dành quyền lợi và cơ hội như tất cả mọi người khác ở các tổ chức.” Trái lại Thống Ðốc Rick Perry tiểu bang Texas cho rằng: “Thay đổi tiêu chuẩn văn hóa từ 100 năm nay là không thích đáng.”


Hai nhân vật nổi bật trong Hội Ðồng Quản Trị Hội Hướng Ðạo, James Turley chủ tịch tổng giám đốc Ernst & Young và Randall Stephenson chủ tịch tổng giám đốc AT&T nói rằng họ sẽ vận động để thay đổi chính sách. (HC)

Tin mới cập nhật