Thơ lục-bát-ba-câu



Nguyễn Tôn Nhan


 


một là vượt cửa tử sinh


hai là trụ được một mình ở đây


ba là không vơi không đầy.










Bìathi tập di cảo của Nguyễn Tôn Nhan (1948-2011).

 


cõi này là để chơi hoang


mai kia cõi ấy dịu dàng lặng câm


rỗng rang chẳng một vọng âm.


 


lỡ vào cái cõi trung dung


nói sao miệng cũng ngập ngừng hàng hai


đâu dè đạo ở bên ngoài.


 


tay còn một đóa sen vàng


giơ lên cho chín mươi ngàn cùng coi


không ai mỉm chút môi cười.


 


lỡ rong chơi với lão trang


nên chưa rời nổi cái làng rỗng không


lòng như trời trống mênh mông.


 


gầm gào sóng vỗ chân mây


con thuyền chao đảo như quay trở về


bờ này là giác hay mê.


 


vin vào tâm hay vào thân


vẫn còn lơ lửng hai chân ở ngoài


chi bằng không vin vào ai.


 


thực tình anh chẳng có đâu


chỉ là ảo ảnh ngàn thâu tụ thành


rồi ra sương móc tan nhanh.


 


tạm coi rốt ráo là không


tạm nhìn cái cõi đại đồng nực gan


vướng vào từ chết đến tàn.


 


thoạt đầu chỉ một hào sinh


thêm vào hai gãy là thành âm dương


ba là thu nhiếp mười phương.


(Nguồn: Gia đình tác giả gửi qua sangtao@org)

Thơ Thy Lệ Trang


Thơ Thy Lệ Trang


 


Ðông ngâm


 


“Trời mùa Ðông se lạnh


Co ro dáng em buồn”


Bài thơ ngày xưa đó


Người có còn nhớ chăng?


 


Chiều lái xe qua phố


Miền Ðông Bắc lạnh lùng


Nhìn hàng cây trơ lá


Nghe chạnh lòng bâng khuâng


 


Biên Hòa đang nắng ấm


Hay chập chùng sương giăng


Ðường về qua núi Bửu


Áng mây nào vây quanh?


 


Người chắt chiu nỗi nhớ


Bên tách cà phê đen


Hay chìm trong men rượu


Tình rã rời… lãng quên?


 


“Trên đường về lặng lẽ


Ôm nỗi buồn trong tay”


Ðông ngâm bài thơ cũ


Mắt lệ nhòa không hay


(Massachussets)


 


(Nguồn: Tác giả gửi qua sangtao@org)

Thơ Âu Thị Phục An


Thơ Âu Thị Phục An


 


Như không


 


như không, gõ cửa nhà em


giật mình, sương rụng bên thềm ban mai


 


như không, tay lại cầm tay


lũ chim, ríu rít hiên ngoài vắng tanh


 


như không, đôi mắt nhìn anh


thiên hà, chớp tắt xoay quanh địa đàng


 


như không, con bướm bàng hoàng


nhịp cuồng, luân vũ chạm nguồn hư vô


 


ví như, không thể vẩn vơ


thì thôi, chim mộng bay về, ngủ say


 


đêm nầy, còn chút rủi may


như không, em chợt hoài thai nỗi buồn.

Thơ Bùi Chí Vinh


Thơ Bùi Chí Vinh


 


Ở trên lầu cao


khó nhìn thấy Chúa


 


Ở trên lầu cao khó nhìn thấy Chúa


Tôi lại tuột xuống rồi










Crown of Rejoicing – Spencer Williams


Và thưa em giữa nhóm người diêm dúa


Có phải nhiều lần tôi đánh mất tôi


Cái bóng tôi đi qua chát chúa tiếng cười


Âm thanh pha lê nhói lòng sắc cạnh


Cái bóng tôi lạc giữa vùng áo xiêm đỏng đảnh


Người nhìn người cốt ý để khoe nhau


Không thể có nhan sắc ngây thơ khi đôi môi thoa bốn lớp son màu


Tôi sợ hãi bưng mặt hoài trốn tránh


Ðêm thánh vô cùng, tôi hát mà trái tim hiu quạnh


Bao nhiêu năm chịu đựng buốt vô chừng


 


Mà sao đêm nay cũng đêm thánh vô cùng


Ai đang hát và ai đang nghe ngóng


Tôi chơi vơi trời hạnh phúc bao dung


Em đang hát và tôi đang cảm động


Có cái gì như thể bâng quơ


Như thể em nhìn tôi lóng lánh


Ðàn Organ quá đỗi thật thà


Kìa ngôi sao dẫn đường khỏe mạnh


Tôi chợt hiểu khi chính mình trốn tránh


Là chính mình tôi hoảng hốt thôi


Ðừng tưởng rúc đầu vào ly bia lành lạnh


Biết nhảy Tango là kiêu hãnh lắm rồi


 


Ở trên lầu cao là khó thấy Chúa Trời


Này em nhỏ quả tình như thế


Không có đôi tay những người nghèo, đừng mong cuộc đời êm như mặt bể


Bởi mồ hôi là chất muối rất đơn sơ


Cho nên cuộc cách mạng tình yêu của các nhà thơ


Ðơn sơ lắm mà chính là chân lý


Khi Paulo Neruda phát biểu về thiên đường


Em phải hiểu Chúa bỗng thành nghệ sĩ


Trong máng cỏ Chúa ngẩn ngơ quá vậy


Sao Ba Vua lại cung kính tuyệt vời


Có phải điềm báo trước cáo chung thời phong kiến


Chỗ thiên đường dành con trẻ rong chơi ?


Khi Whitman tung ra tập thơ Lá Cỏ với loài người


Các tu sĩ Thanh giáo đều lên cơn phẫn nộ


Nhà thơ cô đơn gọi “Chúa ơi”


Bởi nhân bản đang bị vùi xuống lỗ


Họ đâu biết tình yêu từ máng cỏ


Có cần chi mặt nạ trưởng giả đâu


Chúa chẳng thích là một nhà quý tộc


Ngài nai lưng chân thợ mộc, đúng không nào?


Khó nhìn thấy Chúa ở trên lầu cao


Quả như thế, quả tình như thế


Hãy lẫn lộn với người thợ hồ


Em sẽ thấy màu vôi diễm lệ


Hãy lẫn lộn với người thợ lò


Em sẽ thấy phép nhiệm màu quá thể


Chớ hòa mình cùng bọn sữa bơ


Em sẽ buốt một thời như tôi nhé!


 


Nào organ dìu dặt nữa đi


Ðêm thánh vô cùng xui tôi rạo rực


Những thiên thần đôi cánh uy nghi


Ðiềm lành của thời kỳ sung sức


Ai nghe ngóng và ai đang hát


Tôi chơi vơi tìm lại được mình


Em ngoan ngoãn và tôi ngơ ngác


Giữa đất trời xanh quá là xanh!


(Nguồn: Tác giả gửi qua sangtao@org)

Thơ Biểu-Ý

 


Chào em


 


(hỡi người con gái VN ơi: Liêng, Tần, Lài, Thủy, Uyên, Vy, Tiến, Nhân, Hằng)


 


Chào em tỏ rạng phương Ðông


Bên trời Âu Mỹ chờ mong khải hoàn


Nhớ xưa trên chuyến hải hành


Nam Phương hoàng hậu chép trang sử tình


 


Chào em ủ dột miếu đình


Dâng hương khói quyện bóng hình cố nhân


Nhớ xưa công chúa Ngọc Hân


Lời Ai Tư Vãng hàng hàng lệ thơ


 


Chào em độ tuổi mộng mơ


Nước non son sắt phong ba cũng đành


Nhớ xưa công chúa Huyền Trân


Di hài rộng mở nước Nam cõi bờ


 


Chào em tiết liệt anh thư


Cháu con Trưng, Triệu, Âu Cơ giống nòi


(Irvine, tháng 9, 2012)

Sách Mới: Mưa Xuân

 


Mưa Xuân


(Tập truyện và kịch)


Tác giả: Nhật Tiến


240 trang, giá 5 USD


NXB Huyền Trân: 9228 Reading Ave.


Garden Grove, CA 92844


Email: [email protected]


 


Trong năm 2012 vừa qua, nhà xuất bản Huyền Trân đã ấn hành 4 tác phẩm mới của nhà văn Nhật Tiến: “Hành Trình Chữ Nghĩa”, “Những Sự Thật Không Thể Bị Chôn Vùi”, “Một Thời Như Thế” và “Nhà Giáo Một Thời Nhếch Nhác” ghi chép về những kinh nghiệm mà ông ghi nhớ được trong 4 năm giảng dạy dưới mái nhà trường XHCH sau 1975.










Bìa Mưa Xuân


Nhân đang trên đà khả năng sức khỏe còn có thể cặm cụi bên dàn máy computer để bươn chải với lãnh vực chữ nghĩa, nhà xuất Huyền Trân có đề nghị nhà văn thu thập những truyện ngắn sáng tác, tuy đã đăng báo nhưng chưa in thành sách để gom thành một tập khiến độc giả nếu yêu thích có thể dễ dàng tìm đọc và lưu giữ. Ðồng thời, những tác phẩm như thế cũng không dễ dàng bị thất lạc.


Cuốn “Mưa Xuân” (tập truyện và kịch) là một tác phẩm đã được hình thành trong ý nghĩa đó. Bạn đọc sẽ thấy những sáng tác của Nhật Tiến trong tác phẩm này đã mang rất nhiều dấu ấn của xã hội Việt Nam thời hiện tại; qua đó, những thực trạng trần trụi cả bi lẫn hài đều đã được phơi bầy qua văn phong của một tác giả đã có bề dầy tới 60 năm cầm bút.


Như thế, nhà văn Nhật Tiến quả đã hoàn tất được chức năng do chính ông từng diễn tả: “Chỗ đứng thích hợp nhất của một nhà văn là ở phía đám đông bị đàn áp hay bị đối xử bất công; và những gì do một nhà văn viết ra phải góp được phần vào việc nâng cao giá trị nhân phẩm của con người và làm gia tăng sự cảm thông giữa con người với con người.” (Một Thời Như Thế-Hành Trình Chữ Nghĩa Cuốn I – trang 142)


Tác phẩm “Mưa Xuân” gồm 9 truyện ngắn và hai vở kịch với nội dung hết sức gần gũi với tình trạng xã hội ở quê nhà, cho thấy tâm tình của tác giả thiết tha và gắn bó đến thế nào đối với những hoàn cảnh đau thương mà người dân trong nước đã phải chịu đựng trong suốt mấy chục năm qua.


Và trong bất cứ thời điểm cũng như sáng tác nào, nhà văn Nhật Tiến cũng đều bộc lộ một niềm khắc khoải không nguôi: Ðó là lòng mong ước quê hương mau chóng chấm dứt được ách cai trị độc tài, tham nhũng, tàn phá đất nước do đám thủ lĩnh CSVN lãnh đạo kể từ khi cuộc chiến chấm dứt từ tháng 4, 1975.


Nhà xuất bản Huyền Trân


Giám Ðốc Michael Bùi

Lần theo mộng ảo mà về…

 


 


* Nguyễn Thị Khánh Minh


 


Về, là về lại một nơi mình đã chia xa, một chốn cũ, nơi mình được ngồi yên lặng để bầu thân thuộc chuyền lại cho mình những dưỡng chất đã tiêu hao theo những dặm dài, để được nhìn thấy mình cùng không khí ấy mới mẻ thế nào, cũ kỹ ra sao. Hẳn sẽ là bước về nôn nao hối hả.



Về, là về cõi thời gian, một dòng chảy mơ không bờ bến, nếu không dành tâm tới lui với nó, khuấy lên hiện tiền một tiếng gọi, vén chút mù sương của ký ức, dợm một bước những phút giây sẽ tới, thì dòng chảy ấy sẽ hư vô.


Nên tôi sẽ về, chập chùng trên đó những bước chân của xác phàm lẫn bước chân của cảm xúc.


Nơi chốn ấy là Sài Gòn, thời gian ấy là Sài Gòn. Vâng, Sài Gòn.


Dạo tôi còn học lớp ESL tại Santa Ana College, thầy Lewis cho viết một bài luận văn tự do, tôi đã viết về Sài Gòn, với những quán ăn khuya và mưa đêm, nhân lúc nói chuyện ngoài giờ học, thầy nói một ngày nào ông sẽ đi Sài Gòn để thưởng thức trời mưa trong không khí ăn đêm. Tôi đã phải nói rõ thêm với ông rằng, Sài Gòn đã là tên xưa, và tại sao nó trở thành tên xưa. Ðiều này làm tôi xót như động phải vết thương, vì cái tên ấy nó đã là một phần của thân thể ký ức tôi, là một dòng chảy cảm xúc trong huyết quản tôi.


Những nốt nhạc ký ức tôi gảy lên hôm nay, ước sao là một tiếng đàn hòa trong bản giao hưởng hồi ức của những tâm hồn đồng điệu, một thời, như tôi, lớn lên từ lòng con phố mang một tên đã thành xưa này. Ðó là âm những con chữ cho tôi lần về, và bạn thân ơi, dường như tôi chỉ đang quyến luyến nơi này qua đường tơ kỷ niệm.


… Tôi bước lên những bậc thềm mịn rêu, bước chậm, sợ mình sẽ bị trượt ra sau, cái ngã ngửa chẳng khác nào cái rớt xuống trần gian đầy ngỡ ngàng của hai chàng Lưu Nguyễn. Tôi chưa muốn thế, tôi đang muốn sống cõi phi thực kia với từng rung động e dè chậm chậm, để nghe chạm vào cánh cổng đã hoen rỉ tháng năm, và dù nhẹ nhàng đến thế nào cũng sẽ ghê răng bởi tiếng rít của một cánh cửa lâu ngày không mở. Hồi hộp, nên tim tôi đập khác thường.


Ngôi nhà ba mẹ tôi ngày trước, có hàng tràm bông vàng bên vệ đường, tới mùa hoa gieo phấn thì bụi vàng xác hoa li ti đầy trước ngõ, nếu tôi bắt chước thiền sư Cảnh Sầm theo cánh hoa rụng mà về (Hựu trục lạc hoa hồi) thì hẳn không thể nào tới được nhà, vì hàng cây giờ đã không còn. Ðây là nơi tôi đã mong mỏi bao năm để trở về. Thật ra, tôi đã biết ngôi nhà đã khác hẳn ngày xưa lúc còn là biệt thự nhỏ, tường sần sùi màu tím hồng ẩn hiện sau rặng trúc, tàng mận và hoa hồng tầm xuân lòa xòa trước cổng, nhưng sao lòng vẫn nhói lên khi nhìn nó bây giờ, lồ lộ phô những cửa kiếng ra mặt đường, và cũng chỉ còn non một nửa căn. Tôi đứng yên trước cổng, nếu có bấm chuông thì cũng sẽ không còn ai mở cửa, tần ngần cầm chiếc chìa khóa, tôi mở, tiếng lách cách nghe lạ như lâu lắm chưa từng. Từ ngày ba tôi mất, từ ngày mẹ tôi rời khỏi đây, nhà không ai ở, tôi nhìn những đốm sáng chập chờn trên chiếc ghế dài, lòng bỗng như một vạt nắng xa vắng, cũng may là Hương, cô em dâu, đã qua lau chùi trước chứ nếu bây giờ tôi nhìn thấy lớp bụi đóng trên bàn ghế nữa thì chắc tâm hồn tôi sẽ bị niêm phong luôn với nỗi cô quạnh. Tôi đi thẳng lên lầu hai nơi có bàn thờ ba tôi, mùi gỗ của cầu thang như có mùi mưa, tôi nhìn ba tôi, một chút sờ sợ, không biết vì sao, có lẽ tại âm dương nghìn trùng trong căn phòng thờ im lặng, tôi đặt tay lên hình ba tôi, ba ơi, con về với ba đây. Anh Khải dặn tôi phải thắp nhang, nhưng chắc gì đường đi của khói lay động được ba tôi hơn hơi ấm của bàn tay?


Phất phơ màu áo lụa mỡ gà bộ bà ba xô dạt tôi, A, tôi biết rồi, tôi đã theo màu áo này mà về.


Màu áo tôi không quên ba tôi mặc tối hôm ấy. Buổi tối, như vậy thôi, đừng nhớ thêm gì nữa về thời gian, một toán lính xông vào nhà tôi như một trận bão, túa lên những phòng và dồn 8 người gia đình tôi xuống phòng khách. Một tờ giấy được giơ lên, một lời được đọc, đêm đóng lại theo từng bước chân của mỗi người được gọi lên phòng của mình. Tôi không biết ba mẹ và các em của tôi ra sao, riêng tôi khi lên phòng mình, có hai người lính, tôi thấy sách vở, đồ đạc, những lá thư của người yêu tôi trộn nháo nhào trên sàn. Tội tôi bị buộc nơi phòng mình những là Tagore, Mozart, Khánh Ly, Lệ Thu… tất cả bị tóm lại trong một cái bao lớn, tôi phản xạ giựt lại băng nhạc Mozart, vì tôi chợt nghĩ sao Mozart lại là điều có thể bị tịch thu, người lính hất tôi ra, mất thăng bằng tôi ngã đập vào thành giường, cú đau điếng khiến tôi biết rằng phải im lặng. Tất cả phòng đều bị niêm phong, tôi đã vội lấy được một lá thư của người yêu nhét vào ngực áo như muốn tìm một sức mạnh, nhưng nó lại làm tôi ứa lệ. Có ai nghe tiếng một chùm chìa khóa quăng mạnh xuống mặt bàn gỗ như thế nào không, có thể không là gì nhưng đêm đó âm thanh ấy đã làm cả nhà tôi giật nẩy người. Ðó là chùm khóa nhà. Và sau đó là tiếng cách cách của những chiếc còng tay. Ba tôi đi, hai em trai tôi đi, bước lên một cái xe bít bùng. Họ đang bước vào bóng tối. Cùng đi là tất cả sách vở trong nhà. Còn lại mẹ và chị em tôi, 5 người, co cụm nơi phòng khách, nơi có để hai cái chiếu và một cái màn. Ở ngoài cổng có hai người lính gác. Mẹ và tôi nắm tay nhau, tôi còn nhớ rất đậm cái run lẩy bẩy, bần bật của hai bàn tay nắm lại với nhau, vai mẹ rung nhưng mắt mẹ khô lạnh, cô em nhỏ thút thít khóc, cậu em kế thì đanh mặt lại ngồi cúi đầu, cậu bé út thì giương hai con mắt trẻ thơ rất buồn, ngơ ngác, nó không khóc, chỉ nhìn mẹ và chị rồi nằm xuống cong cả người lại. Mẹ tôi nói thầm, Khánh ạ, mẹ con mình phải chết thôi. Nhà mình còn hai bình gaz. Tôi giật thót mình, nhưng má ơi, hai bình có đủ chết không hay là chỉ làm mình ngắc ngoải thì có nước chết với họ – Mình sẽ vào bếp đóng kín cửa lại. Mẹ bỗng quay sang em gái tôi, 17 tuổi, giọng bà nhỏ, quyết liệt, Chết không con, Khanh – Chết! con bé gật phăng cái đầu dập dềnh mái tóc mây. Mẹ lại hỏi cậu em 16 tuổi, giọng có vẻ như bà đã quyết định, Chết nhé Khiết – Dạ, Chết! Thằng bé nói với vẻ lì cố hữu của nó. Rồi tới cậu em út, 11 tuổi, giọng mẹ nhẹ nhàng, Chết không con, Khiêm? – Chết! Tôi rúng động cả hồn phách, nó nói chết nhanh như thể mẹ hỏi ăn không con – Ăn! Mẹ không hỏi tôi, vì bà biết tôi sẽ là đứa nói không. Tôi kéo mẹ nằm xuống chiếu, thì thầm, má không nghĩ là sẽ làm vậy, đúng không. Mình phải sống má ạ, anh Khải còn mất tích, 3 người vừa bị bắt đi, mình còn những 5 người, mình dư sức sống mà, má. Chúng tôi đã dư sức sống để lội qua những tháng ngày nước ngược ấy, có cả những tiễn đưa âm thầm trong tâm trạng một đi là có thể vĩnh viễn không gặp lại. Ba tôi trở về sau đó 7 năm, gầy guộc, ốm đau, ngày qua ngày, lặng lẽ làm tiếp cuốn tự điển đang làm dở. Lần sau ba tôi lại rời nhà ra đi một lần nữa, lần này thì không có ngày trở lại để làm tiếp cuốn sách vẫn chưa xong. Tôi quên chưa hỏi mẹ lúc mất ba có đang mặc bộ bà ba lụa màu mỡ gà không. Tôi nhìn những cây viết và sách để trên bàn thờ mà thấy cô liêu quá, cuộc sống, tôi nhớ ba tôi còn lở dở một vở kịch có tên là Cây Cô Ðộc, ông đúng là một cây cô độc trên con đường ông đi. Hình ba tôi mờ như có hơi nước, dường như vừa sóng sánh trên vô chung thời gian, tôi tin thêm một lần này, dòng chảy buồn ấy sẽ không gợn sóng nữa, nó sẽ yên, chảy tận lòng sâu.


Tắp vào bến nhà ba mẹ tôi chuyến này còn có vợ chồng cậu em út ở Úc về, cậu em năm nào gật đầu đồng ý chết một cách vô tư bây giờ đã là một người đàn ông đang mon men tới gần cái tuổi tri thiên mệnh. Về cùng là một anh bạn thân của em, Quỳnh, người đã nấu những bữa com rất ngon cho 6 người, và mỗi sáng vẫn làm cho tôi một ly cà phê thật đậm tình bè bạn. Còn có vợ chồng con trai lớn của tôi cùng bé gái 8 tháng tuổi nữa. Khánh Chi. A, tôi biết rồi, tiếng gọi tôi về chính là âm thanh ban sơ của tiếng khóc con người những năm tháng đầu đời, là mùi sữa thơm từ khóe miệng cô cháu, và khanh khách tiếng cười đang rù quến mọi cảm xúc tôi. Nếu tôi không về để mà hít hà cái mùi da thịt thơm non này thì hẳn là tôi cứ ngồi đó mà nói về mùi lavender…


Buổi sáng, tôi đón ly cà phê từ tay Quỳnh, lòng thấy ấm áp, ra cổng lại thấy một gói na treo toòng teng, chắc chị Liên đã đến đây từ sớm, cắn một miếng na như thấy tan trong miệng chút lòng chắt chiu. Tôi đứng trước hiên phòng nhỏ bé của mẹ, nắng sáng mà nóng ướt da, đang tưới cây, bỗng nghe vọng lên từ cổng dưới nhà, “có thư đây, ” trái tim tôi như nhảy ra ngoài, cây sứ như có con gió nào tới khua dậy tàng lá và hương hoa tan ra,… tôi nhẹ như mây, hóa thành cô gái nhỏ lướt qua những bậc thang gỗ mầu nhiệm,… lung linh cổng nhà cũ, người đưa thư năm xưa, con gái có thư con đây, tôi thì vội vàng, không mở cửa, thò tay qua cổng, rối rít, đưa con mau lên, và khi những lá thư với những sọc xanh đỏ trắng viền quanh phong bì nằm gọn trong tay thì tôi lại thưởng cho bác ít tiền, bác đi chiếc xe Honda Dame màu xanh lá chuối, hằng tuần đem đến cho tôi những lá thư thơm mùi biển xa, nỗi nhớ nhung theo nửa vòng trái đất buộc thành lời hò hẹn dài, sẽ một đời người, hay hơn, hỡi người yêu dấu?


A, tôi biết rồi, chính sợi tơ hẹn ước lênh đênh trên đường mộng ảo này dẫn tôi về, thành phố mang tên Sài Gòn, nơi tôi đã lớn lên, chỉ nơi này tôi mới lọt được vào nếp gấp xô lệch của thời gian, trở lại mọi thứ, như cũ, thời hai mươi vàng mười, lời tình tự mưa đêm thơm mùi hoa sứ, mùa hạ nồng những cơn mưa mà cho dù bao nhiêu lần được làm người nữa, nếu còn là mình, tôi còn nghe tiếng rất trong của nó rơi trước hiên nhà che chắn cho tôi một giấc mơ. Một nhịp chẩy diễm ảo đang đồng hóa tôi, tôi có đang trôi đi hay mãi mộng mơ đứng bên cổng cổ tích nhìn cánh bồ câu ngậm thư đưa tin yêu về?


Một buổi sáng, tôi gọi một chiếc taxi lên phố. Cô đi đâu? – Cho tôi tới trường Luật, đường Duy Tân. -Dạ đâu cô? Tôi mỉm cười thích thú, vậy là mình đã nói ra được câu như lúc nào đó trong quá khứ. À quên, cho tôi tới trường Kinh Tế đường Phạm Ngọc Thạch. Ðấy vật đổi sao dời như thế đấy. Tới đây thì tôi tự thắc mắc, Duy Tân là tên một vì vua yêu nước, tại sao phải bị thay tên, mà hẳn ông Bác Sĩ Phạm Ngọc Thạch nơi cõi trên chắc cũng chẳng lấy làm vui khi tên mình thay tên vua Duy Tân. Cái tên quen thuộc đến nỗi chỉ cần nói Duy Tân là mặc nhiên động đậy đến kỷ niệm thời sinh viên Luật (và Kiến Trúc của ai nữa chăng, dù trường này có cổng ở đường khác nhưng sát hông trường Luật nên kỷ niệm chắc cũng có chút bà con). Một thời sinh viên chúi đầu vào sách vở, cho đến một ngày đến trường bỗng ngỡ ngàng, bọn con gái chúng tôi hỏi nhau với giọng thảng thốt, sao lớp vắng thế này, bọn con trai đâu cả? ra năm đó nếu tôi nhớ đúng, 1972, vừa có một luật động viên đôn quân (tôi có thể kiểm chứng xem mình có nhớ đúng không, nhưng không cần thiết), tôi lúc đó như bị va đầu vào tường, cú đập choáng người. Ðã từ bao lâu? Sinh viên Sài Gòn như tôi lúc đó đi bên lề cuộc chiến, đã bao lâu rồi? Dân Sài Gòn có một niềm tin chắc rằng Sài Gòn là một ốc đảo mà con sóng của chiến tranh không thể đổ vào bờ, đã bao nhiêu người trong lớp sinh viên như tôi tin rằng Sài Gòn là biên giới dừng lại của đường đi súng đạn? Tôi mắc cỡ và cảm thấy có tội, cũng như không hiểu nổi hệ thống dân vận lúc ấy đã mở toang cửa cho ngập những phong trào phản chiến, đến nỗi không ý thức cái cuộc chiến đang xảy ra, là của mình, ở cạnh mình, đe dọa sự sống còn của mảnh đất có Hòn Ngọc Viễn Ðông lấp lánh. Chúng tôi như những viên gạch lát ngô nghê. Nghêu ngao những bài hát phản chiến trên những ra đi vĩnh viễn của cha, anh, bạn bè mình ngoài chiến trường. Bây giờ tôi đang đứng đây, nơi ngày trước là lối cổng nhỏ khiêm cung trầm lắng màu gỗ hai cánh cửa nhỏ, trên là bảng Luật Khoa Ðại Học Ðường, tôi như nghe được hơi lạnh tiếng gió thổi vào lớp học khua buồn những hàng ghế trống buổi chiều xưa, có bao nhiêu bạn bè từ chỗ ngồi ấy ra đi không về nữa?Tôi thấy qua nắng muộn ánh mắt của những cô gái hai mươi, Châu Tỷ, Liêm, Liên, Gấm, Hoa, Xuân… và tôi, nhìn nhau, biết rằng, từ hôm ấy, tin chiến sự là vết mực đen phết trên từng trang sách học.


Tôi đi bộ bên vệ đường, đường Duy Tân, đã mất rồi lối đi đất nhỏ với hàng cây, nơi tôi lộng gió tà áo vàng trong tấm hình gửi người vạn dặm, thôi hãy dùng ký ức mà đi để lọt vào không khí Saigon thời yêu người thiết tha,… Hồ Con Rùa, cây đa cổ thụ trước Viện Ðại Học Saigon có tôi, Huệ, Thôi “Oanh Oanh” thấp thoáng những tà áo dài trong nắng… Chập chờn những cánh bướm trên con đường rộng thênh thang băng qua ngôi rừng nhỏ trước Dinh Ðộc Lập, Nhà Thờ Ðức Bà, và một con bướm vàng bay vội vã qua những bậc cấp Bưu Ðiện rồi chui vào thùng thư, ngày mai người ta sẽ lấy thư… A, tôi lần về theo dòng máu đẩy của nhịp đập, tươi mươi lại nơi nương náu của kỷ niệm, trái tim Sài Gòn ưng ức hoài nơi ngực trái…


Nơi ấy bây giờ, người đông hơn nên đường chật đi, nhà nhiều hơn, cao hơn, nên đất trời trong tầm mắt bị nhỏ lại. Tôi như cái bóng câm đi giữa muôn âm thanh hình ảnh ồn ào của một thế giới khác. Có phải đã muôn trùng thời gian đi qua nơi này, và tôi thấy mình buồn tẻ, lạc lõng, cũ xưa. Tôi đã nói với Nguyễn Lương Vỵ như thế, trong một quán cà phê, dưới bóng một cây trứng cá, có một trái nhỏ rụng đúng vào ly cà phê của tôi. Tôi cũng đang rơi một cách lạc điệu, như thế chăng. Vỵ đọc cho tôi nghe… những gương mặt lặng lẽ/ treo trên hai sợi dây điện song song/ vắt ngang cành trứng cá… tôi hỏi, thơ ai mà lọt hẳn vào tàng cây trứng cá này vậy. Vỵ đưa cho tôi tập thơ nhỏ. thơ Ðoàn Minh Châu. Tôi giở ra ngẫu nhiên, những câu thơ, kỷ niệm vẹn nguyên mỗi năm…/ em vẫn là người hoài cổ/ sống bằng nhớ nhung ngày sắp tới…


Tôi đang được sống thực một nỗi nhớ không rời. Nó đang dắt tôi về.


Rồi cũng được nghe lại tiếng biển. Ngôi nhà Hoa Sứ của anh chị Khoa Geneviève, trong một xóm chài, nằm gần góc cong của bờ biển kéo ra Long Hải. Chị nói chị sẽ đổi tên nhà là Sao Biển. Buổi sáng tôi xuống bãi xem ghe đánh cá về, cá đánh bắt ven bờ chỉ toàn là cá nhỏ. Xóm chài rất nghèo. Chiều chiều trẻ con đi đầy trên bãi để cào nghêu. Bờ biển ứ rác và phế thải của người. Nước biển đục ngầu. Nhưng nhạc sóng vẫn trong. Gió biển thổi mặn môi. Cát biển bay xót mắt. Ðêm ở đó tôi ngủ trong tiếng mưa, tiếng mưa rơi tong tong trước thềm gạch tàu, tiếng sóng rì rầm xa xa gần gần, đêm nay nó không còn là tiếng u u mường tượng trong vỏ ốc, tôi choàng dậy để nhìn ra ngoài của sổ, nhìn và nghe, biển kia, mưa kia, thân thiết lắm với mùi hương ký ức. Bao giờ nữa anh em mình lại được quây quần bên một bàn ăn dài, ăn những món hải sản thơm mùi biển của chúng ta kết với rượu vang quê hương chị Geneviève? Những cánh hoa giấy đỏ buông xuống vẫy tiễn tôi, ánh mắt nâu hạt dẻ của chị nhìn theo, nụ cười hiền của anh Khoa như cánh thuyền rất nhỏ, bập bềnh trên sóng. Tôi khép mắt để nghe rưng một hạt lệ, tiếng rơi trong trên mặt hồ thời gian để hiện ra những ảnh hình tưởng đã quên dưới dòng phẳng lặng…


Lại một buổi cả nhà leo lên xe, lòng ai cũng vui vì nơi tới là Ðà Lạt. Ôi Ðà Lạt một thời là ước mơ của tôi, đi Ðà Lạt hồi đó bao giờ cũng là một phần thưởng khi học hành có kết quả tốt, không, phải xuất sắc mới được, vì thế ngày đó tôi đi Ðà Lạt không quá ba lần. Tôi không về ký ức mà đi đến một nơi giấc mơ chưa viên thành.


Ðến Ðà Lạt vào tối, trời mưa. Tôi ngồi co trong chiếc ghế cạnh chỗ người lái, nhìn mưa Ðà Lạt rơi hối hả rồi tan trên mặt kính xe, tôi thoát ra cơn mỏi mắt buồn ngủ vì nhìn mãi vào chiếc cần gạt nước, quay ra phía cửa sổ. Phố lóa xóa mặt gương, đèn xe xanh đỏ lập lòa như những ánh lân tinh ở một phố âm, cậu em ngồi hàng ghế sau vừa nói, không biết đêm Ðà Lạt còn chợ âm phủ không, tối nay tụi mình đi nhen. Giọng cậu không có vẻ chi là phấn khởi mà rù rì như nói trong lúc đang ngủ, tôi cười, nếu hết mưa Khiêm à, giọng tôi cũng nhỏ, tại không khí dào dạt mưa chăng. Tôi chợt bấm kính cửa xe xuống, mưa hắt lạnh, và tôi giật mình vì tiếng còi xe quá lớn, vội bấm kính lên. Hình như có cả âm thanh tiếng nói nữa, không phải âm của Ðà Lạt, hồi trước, khi tới đây, tôi gặp rất nhiều tiếng Huế… Nhưng mà cảm giác lúc chạm vào gió vào mưa Ðà Lạt thế nào nhỉ, giật mình vì tiếng còi xe, bỡ ngỡ vì âm một giọng nói quá lạ, chỉ vậy thôi. Khi đi ngang khách sạn Anh Ðào, tôi mơ màng thấy mình cùng các bạn đang đứng dán những tờ cổ động cho liên danh ứng cử dân biểu của ba tôi năm nào, đó là lần thứ hai tôi lên Ðà Lạt. Lần đầu, vừa xong năm thứ nhất Luật, ba thưởng cho một chuyến đi, thật đáng nhớ, lên tới nơi ba mẹ cùng mấy người bạn tập trung ngồi nhà đánh bài, để ba con nhỏ, là chị em tôi và Bích, con bác Chi, ngồi chèo queo nơi phòng khách có ngọn lửa bập bùng trong lò sưởi, tôi thì không sao, vì tôi có một nỗi nhớ đầy ắp trong người, ở đâu đi nữa thì cũng đâu có một mình. Kỳ đó Ðà Lạt chỉ là Hồ Xuân Hương và quán cơm Như Ý. Hết. A quên, còn có một con dốc nằm thơ dại đẫm ánh trăng cùng Bích và một chàng sinh viên trường Chính Trị Kinh Doanh Ðà Lạt nữa. Lần thứ hai vui hơn vì đông bạn bè, lại được đi chơi thoải mái, nhớ những hạt mưa bay trên đỉnh Lang Biang, có Hà cầm đàn ngồi hát cho một cô gái Ðà Lạt đẹp như mơ… Ðưa em về dưới mưa nói năng chi cũng thừa… (Nguyễn Tất Nhiên, Phạm Duy) trời lạnh giọng chàng run hay tại người đẹp? có Tiến với giọng Bắc trầm, vừa hát ta nghe nghìn sợi nhỏ rớt xuống đời… (TCS) vừa bấm máy chụp hình, có Khương điều động việc dán bích chương, kỳ đó liên danh ba tôi thất cử nhưng chúng tôi được no nê Ðà Lạt gần một tuần, có Thanh giọng như tiếng gió thổi qua những tua lá thông, có Tính đọc thơ giọng Bắc nũng nịu, kéo đêm Ðà Lạt chùng xuống nỗi buồn nhẹ như khúc nhạc dạo đầu, vạt áo em xưa, anh giữ trong tay, lời tình chợt ngỏ, em khóc bất ngờ, đêm run bóng lá, nho nhỏ trời mưa… thơ ai vậy Tính?


Có người ở xa nhờ tôi chuyển lời chào đến quỳ vàng, nhưng sáng hôm sau đi trên đường không thấy một mắt quỳ nào dòm ngó, quỳ ơi, rất tiếc, tôi muốn nhìn lại để xem cảm xúc mình có khác ngày xưa không, sau khi đã thấy được màu vàng lộng lẫy buồn trong văn Nguyễn Xuân Thiệp, người đã muốn có một cây quỳ vàng trên mộ cỏ mốt mai, lãng mạn quá tình yêu dã quỳ, nhà văn ơi. Và cũng chẳng có một cánh én nào dưới mái lầu Hotel du Parc như người kể để tôi có thể gửi cho người một chút xuân hồi tưởng, chỉ chênh vênh con gà trên đỉnh nhà thờ có lẽ là chứng nhân chung thủy của thời gian và gìn giữ kỷ niệm của người dân Ðà Lạt, của người yêu Ðà Lạt nay đã tản mạn những phương trời. Ðến tối, đi dạo Ðà lạt đêm, thì tôi thật sự thất vọng, không còn một Ðà Lạt trong trầm lặng rét nữa, những người trẻ đi thành nhóm đông la hét ồn ào, đứng trên bậc thềm cao ngó xuống khu chợ Hòa Bình thì chỉ thấy người và người nườm nượp bát nháo. Bên lề thì la liệt những đống quần áo cũ bán mua tấp nập. Ôi, muốn lãng mạn một chút với Ðà Lạt cũng không xong rồi. Tôi nhớ đến tiếc con đường dốc trong đêm bập bùng ánh lửa của người dân tộc bán ngo và thổ sản của họ. Ánh lửa khơi động một ấm áp tràn ngập thổi Ðà Lạt hun hút vào ký ức. Ðâu rồi, đâu rồi cái khí hiu hắt lạnh thơ mộng ấy? Ðà Lạt như cô gái thức dậy, cắt phăng mớ tóc dài mơ, mặc quần jean áo thun nhún nhẩy vào nhịp dồn dập sống còn của khúc ca hiện đại. Thúy Anh nói, chắc dưới kia là chợ Âm Phủ. Khiêm cười, lúc nhúc ồn như kia chỉ có chợ dương phủ thôi em, quả thật là tôi cũng không đủ can đảm để bước xuống những bậc thang đi tìm chợ âm phủ trong biển người dương thế kia, cho dù rất nhớ ly sữa đậu phộng bên hông chợ. Quỳnh thì sau đó nhất định phải đến “quán chè khép một bên cửa,” không biết nghe ở đâu, cửa quán chỉ mở già nửa, không phải để ngăn ngừa cái huyên náo bên ngoài mà là nhét vào những lộn xộn nhất có thể của một quán chè đêm… Tôi cùng các em vội vã ăn và vội vã quay về. Thế là không sữa đậu nành nóng, không hạt dẻ ấm trong túi áo, và tiếc thay tôi cũng không có kỷ niệm nhiều với Ðà Lạt để mang mình đi đến với Ðà Lạt sang trọng trầm lặng ngày cũ. Cứ thế mà phơi mình đi giữa một không khí Ðà Lạt bị cày xới thô bạo bởi những mỹ quan kiểu mới. Muốn nhắn nhủ với những ai yêu Ðà Lạt, có về hãy trang bị cho đủ đầy nỗi nhớ và chiếc áo giáp của kỷ niệm để chống đỡ với những bất ngờ của Ðà Lạt. Hôm rời Ðà Lạt khi đi qua đèo Bảo Lộc, tự nhiên nhớ lời dặn dò cột tóc của nhạc sĩ họ Trịnh với hồng nhan tri kỷ… Trong tôi không có một lời hẹn nào để trở lại Ðà Lạt. Và coi như vẫn còn đó, một giấc mơ chưa thành.


Một đêm, tôi nói, mai mẹ về lại Mỹ rồi (nhớ hôm ở Mỹ, cũng nói, mai mẹ về Sài Gòn rồi, hai nơi đều là về cả, là sao), con trai Khánh Chương ôm vai, ngập ngừng, bây giờ cho mẹ bịnh đi, cũng được để mẹ ở lại thêm nữa nhen mẹ… Hạnh nói, con trai nhớ mẹ rồi đấy mẹ ơi. Hình như đêm đang ngừng trôi, phải không, những giọt đêm khẽ khàng ru tôi từng nhịp ấm của hạt lệ. A, tôi biết rồi tôi đã lần theo nhịp đập trái tim hai đứa con yêu dấu này để về. Về đây, và đang nằm ngủ trên chiếc giường ba tôi đã ngủ năm nào. Nghe dòng sông thế hệ nhịp nhàng từ ba mẹ tôi đến tôi, rồi các con tôi, và kia bùng reo, cô cháu nhỏ. Hôm rời Sài Gòn, đang kéo hành lý ra cổng, chị Liên nhắc, thắp nhang ba chưa? Tôi vội chạy lên lầu, là để cho chị vui thôi, chứ ngày nào tôi chẳng lên nhìn và nói với ba đôi lời. Nhưng ba tôi đâu riêng ở đây, nơi nào mà trái tim các con ông còn đập, thì ông ở đó.


Và Sài Gòn, mãi mãi là một hơi thở, của tôi. Những kỷ niệm thuộc về Sài Gòn như một tấm khiên che chắn cho tôi bớt hụt hẫng về những đổi thay, hóa ra tôi chẳng phút giây nào nhìn thành phố này bằng con mắt xác phàm, chẳng thấy gì cả ngoài một Sài Gòn đầm đìa kỷ niệm. A, tôi lần theo hoa rụng tuổi thanh xuân mộng ảo mà về đấy thôi.


Chỉ một nơi ở Sài Gòn bây giờ tôi bước đi không bằng ký ức. Con đường bờ kè kênh Nhiêu Lộc. Tôi bước dọc theo con đường mới mẻ, cái nhìn mở ra vui như nắng đang xiên qua những hàng liễu rủ, gió thổi thốc từ phía ngôi chùa xa cạnh Viện Ðại Học Vạn Hạnh xưa làm tóc tôi bay, tôi không thể tưởng là mình đang đứng bên dòng kênh khẳm đen nhếch nhác khi xưa, có lẽ lần sau Khánh về thì nước kênh sẽ trong. Giọng anh tôi nhỏ nhưng có vẻ như anh đang nói về một công trình của mình. Ðiều ấy làm tôi vui. Tôi nói, nếu nước kênh trong, nhớ nói để Khánh về. Tôi đang nghĩ đến chuyện cổ tích, soi xuống dòng trong để tỏ mặt mày… tất cả sẽ đổi thay như kênh Nhiêu Lộc này, những vẩn đục sẽ lắng xuống để dòng trong.


Nhớ nói cho em biết khi nước kênh Nhiêu Lộc trong nhé, anh Khải.


Vậy là tôi có một lời hẹn với Sài Gòn rồi. Và, nếu có, thì tôi cũng sẽ về vào mùa mưa để tiếng mưa trả lại cho tôi những lời tình tự.


(Santa Ana, 16 tháng 9, 2012)


(Nguồn: www. gio-o.com/NguyenThiKhanhMinh)

Tôi muốn được đặt chân tới Mỹ!


Nguyên Giang


 


Tôi muốn được đặt chân tới Mỹ! Ðó là điều mơ ước cháy bỏng của tôi từ khi biết nhận thức sau khi rời trung học để bước vào đời. Vì sao ư? Ðể tôi tìm hiểu về nền văn hóa, chính trị, giáo dục, kinh tế của nước này. Ðể tôi tự trả lời cho nhiều câu hỏi cứ thôi thúc trong đầu mình bao nhiêu năm qua, từ khi tôi biết nhận thức về đời sống.



Tôi muốn đến Mỹ, để tôi hỏi vì sao đồng bào tôi có mặt ở đây; và sự ra đi này kéo dài hơn một thế hệ rồi mà đến bây giờ hằng ngày đi ngang Tòa Ðại Sứ Mỹ ở Sài Gòn vẫn còn lũ lượt người chờ đợi một tấm vé đặt chân vào Mỹ, dù đất nước Việt tôi đã im tiếng súng đã lâu, từ khi tôi chưa chào đời.


Tôi muốn đến Mỹ xem coi có phải đó là Thiên Ðường không mà đồng bào tôi, bạn bè tôi sau khi định cư vài năm có trở về thăm quê họ như một con người khác, lịch sự nhã nhặn, có kiến thức giỏi giang hơn rất nhiều. Tôi tự hỏi điều gì đã làm nên đôi hia bảy dăm đó?


Tôi muốn đi để hỏi các cô gái lấy chồng “Việt kiều Mỹ” niềm vui rạng ngời hơn các cô gái phải bán thân đi Ðài Loan, Hàn Quốc, Campuchia?


Tôi muốn đi để thấy, để biết tổng thống Mỹ có phải ông Trời không mà sao cả thế giới phải nghe ngóng, chờ đợi mỗi mùa bầu cử tổng thống Mỹ?


Và tôi muốn đi để hỏi các chú bác, những chiến hữu của Ba tôi ngày xưa được chìa khóa H.O. để đến thiên đường nước Mỹ, có còn nhớ đến bạn bè chiến hữu, quê hương hay không. Mà sao ai cũng chen chân bỏ lại “chùm khế ngọt” mà hân hoan làm kẻ lưu vong?


Tôi muốn gặp những người cùng lứa tuổi tôi, là Người Mỹ Gốc Việt để thử xem cách xa hai nửa bán cầu, tuổi trẻ có gì giống và khác nhau.


Cuối cùng tôi muốn đi để xem vì sao, hấp lực gì mà hàng triệu người miền Nam đổ xô ra biển không định hướng, vào những năm sau 1975 đến những năm 1990, và tiếp tục đến bây giờ bằng nhiều cách.


Nhưng đường đến nước Mỹ với mình chắc xa diệu vợi.


Thôi thì các chú, bác anh em đồng bào ở Mỹ có ai còn tâm tình với những người bên này vui lòng trả lời giùm tôi, một thanh niên 30 tuổi những câu hỏi vừa nêu, để tôi khỏi khắc khoải về một nước Mỹ vô cùng lạ lẫm, và thần kỳ.


Nếu được vậy thì âu cũng là một niềm vui lớn rồi, chứ chưa dám nghĩ ngày nào đó mình đặt chân đến Mỹ quốc!


Mong lắm thay!


 


***


 


Thư hồi đáp tác giả bài “Tôi muốn được đặt chân tới Mỹ!”


 


Nguyễn Công Bằng


 


Chào bạn trẻ Nguyên Giang,


Tình cờ tôi đọc được bài viết mang tựa đề “Giấc Mơ Nước Mỹ” do một người bạn gốc H.O. chuyển đến. Mấy ngày sau thì nhận được khá nhiều email trung chuyển cùng nội dung. Rõ ràng là những lời trần tình của bạn đã gây được sự chú ý và trăn trở của khá nhiều người ở ngoài nước.


Tuy nhiên, tôi chưa được dịp đọc một bài nào trả lời trực tiếp cho bạn.


Do lời kết: “Thôi thì các chú, bác anh em đồng bào ở Mỹ có ai còn tâm tình với những người bên này vui lòng trả lời giùm tôi, một thanh niên 30 tuổi những câu hỏi vừa nêu, để tôi khỏi khắc khoải về một nước Mỹ vô cùng lạ lẫm, và thần kỳ” của bạn, tôi dành thời giờ hồi đáp, tâm tình. Hy vọng đây cũng là phần nào những gì mà các “chú, bác” khác cũng muốn gửi đến bạn.


Thưa bạn,


Theo bạn chia sẻ, thì tuổi đời 30+ của bạn nhỏ hơn thời gian tôi “lưu vong” ở xứ Mỹ.Tôi muốn nhấn mạnh chữ “lưu vong“ở đây để bạn trẻ hiểu rằng: Kể từ năm 1975, khi ở quê nhà có hàng triệu người đau khổ vì không thoát được ngục tù CS, thì cùng lúc đó ở nửa vòng địa cầu bên kia cũng có hàng triệu người khác đau khổ khi không biết ngày nào được trở lại nơi chôn nhao cắt rốn. Khi cách xa đất nước rồi mới cảm nhận được cái hạnh phúc được sống từng giờ phút trên quê hương thân yêu của mình, bạn ạ!


Bây giờ,những người muốn được đặt chân tới Mỹ không phải chấp nhận đánh đổi tất cả để hy vọng đến được bến bờ tự do như hoàn cảnh nghiệt ngã ở giai đoạn trước ngày nước Mỹ bắt tay lại với chế độ cựu thù (năm 1995). Gần hai mươi năm qua, ai học giỏi và có thêm chút may mắn thì cũng có thể đến được xứ Mỹ này để học thêm, hoặc để thực nghiệm những gì muốn biết rõ. Cho đến nay, đã có hàng chục ngàn người trẻ VN đến Mỹ du học hay thăm viếng. Những người này chắc chắn đã tìm hiểu được những điều mà bạn khắc khoải. Nhưng ngược lại, điều tôi và có lẽ khá nhiều người khác muốn biết là: Những kinh nghiệm từ Mỹ đã và đang đóng vai trò gì cho công cuộc dân chủ hóa đất nước, để Việt Nam sớm xứng đáng cho người dân không phải nghĩ đến chuyện bỏ nước ra đi.


Với thời đại thông tin ngày nay, xứ Mỹ không còn là một bí mật gì to lớn. Người ở Mỹ, bao gồm cả người da trắng và các sắc dân da màu, đã chia sẻ với thế giới rất nhiều về xứ sở này. Ðây là một đất nước có một lịch sử và nhiều ưu điểm đáng để nhân loại khâm phục, học hỏi. Tuy nhiên, nó không hoàn hảo mang tính “thiên đường” như một số người viễn tưởng. Ðiều đáng trân trọng nhất là ở xứ này, những người có nhân cách, ý chí và tài năng đều có thể tìm được cho mình một cuộc sống tương đối hạnh phúc. Như nhiều nước tự do khác, Mỹ là một xứ sở cho phép người ta vươn lên bằng khả năng và ý chí. Ðại khái là vậy, không có gì lạ lắm đâu!


Ðiều tôi muốn nói rõ với người bạn trẻ là thế này: Không phải Mỹ là đất nước duy nhất có thể cho con người môi trường để sống một cách lịch sự, nhã nhặn, văn minh và nhân bản. Hầu hết các nước tự do có nền dân chủ vững chắc đều có một ưu tính tương tự như vậy.Ở các nước này, xã hội cho phép những người có óc cầu tiến được học hỏi kiến thức bởi nhiều môi trường khác nhau, nên việc hấp thụ văn minh không phải là điều lạ.


Nhưng đó không phải là biệt đãi cho các nước phương Tây. Trước 1975, Miền Nam Việt Nam cũng đã từng được thế giới khen là Hòn Ngọc Viễn Ðông. Thời đó, dù đang bị chiến tranh gây ra bởi chế độ Cộng sản từ miền Bắc, song tính cách lịch sự, nhã nhặn, văn minh và nhân bản đã là phong thái thường nhật của những người trí thức bình thường trong xã hội miền Nam. Ngay cả những người không thuộc thành phần có ăn học cao hay giàu sang, cũng ít nhiều có được nếp sống tốt đẹp đó.


Do vậy, hy vọng bạn hiểu được rằng: lịch sự, nhã nhặn, văn minh và nhân bản… là bản sắc tự nhiên của các xã hội tiến bộ đúng nghĩa. Nếu những nét sống này bây giờ thiếu vắng ở nước mình, thì rõ ràng đó là hậu quả của một xã hội đang có quá nhiều điều bất thường.


Ðối với những người phụ nữ “lấy chồng Ðài Loan,Hàn Quốc,Campuchia” và bị ngược đãi, tôi cảm thông nỗi đau khổ của họ. Nhưng có lẽ vấn đề là câu hỏi: Tại sao đến giờ này mà vẫn còn có nhiều người phụ nữ phải liều mình lấy chồng ngoại chủng xa lạ, không cần tìm hiểu tính tình, gia cảnh và ngay cả tông tích? Tại sao những người phụ nữ chân chất này phải đánh đổi bản thân, và có người với cả nhân phẩm, để mong có được một lối thoát mơ hồ nào đó cho gia đình? Câu hỏi đó đáng để cho nhiều người suy gẫm lắm, bạn ạ!


Còn việc “cả thế giới phải nghe ngóng, chờ đợi mỗi mùa bầu cử tổng thống Mỹ” thì đó là chuyện chờ đợi tất nhiên đối với người lãnh đạo một siêu cường có ảnh hưởng lớn trên thế giới và đối với nhân loại. Nhưng khi sống ở Mỹ, chúng tôi biết được khả năng và giới hạn của các ông tổng thống. Họ không phải là siêu nhân, và tất nhiên cũng không phải là những “ông Trời.” Nước Mỹ lớn nên tổng thống Mỹ có nhiều quyền lực cao nhưng các ông vẫn thường xuyên bị dân Mỹ chỉ trích vì những khuyết điểm cá nhân và sai lầm trong chính sách. Nước Việt ta cũng đã có thời đau khổ vì sự thay đổi và bất tín của những người lãnh đạo cao nhất của Mỹ. Cũng may là dân Mỹ rất nhân hậu nên xứ Cờ Hoa vẫn là quê hương thứ hai của hàng triệu người Việt tỵ nạn Cộng sản, và hàng trăm ngàn thân nhân di dân sau này.


Còn câu hỏi của bạn là “các chú bác những chiến hữu của Ba tôi ngày xưa được chìa khóa HO để đến thiên đường nước Mỹ, có còn nhớ đến bạn bè chiến hữu, quê hương hay không. Mà sao ai cũng chen chân bỏ lại ‘chùm khế ngọt’ mà hân hoan làm kẻ lưu vong?” thì nếu nhìn kỹ, bạn đã thấy là có nhiều người vẫn không “hân hoan làm kẻ lưu vong” đâu, mà vẫn NHỚ đến đất nước và mấy chục triệu người còn ở quê nhà. Vì nỗi NHỚ đó, hàng ngàn người đã sớm từ chối cuộc sống đầy đủ, bình an ở “thiên đường Mỹ” này để tìm đường trở lại quê hương để giải cứu đồng đội và đồng bào đang sống trong ngục tù Cộng sản. Hàng trăm người đã âm thầm nằm xuống trên đường quay lại quê hương. Sau thời kỳ Chiến Tranh Lạnh, cũng đã có rất nhiều người tiếp tục dấn thân về nước đấu tranh,bất chấp hiểm nguy, tù tội. Gần đây cũng đã có một số người bỏ sự nghiệp to lớn ở xứ Mỹ để tìm đường hồi hương cùng anh chị em chí hữu ở quê nhà góp sức tranh đấu. Ở đâu cũng có kẻ quên người nhớ, nhưng không ai lại trâng tráo với phận lưu vong đâu bạn ạ!


Còn so với những “Người Mỹ Gốc Việt” cùng lứa tuổi với bạn đang sống “cách xa hai nửa bán cầu,” thì tất nhiên phải có nhiều điểm khác nhau. Môi trường xã hội, giáo dục và sinh sống khác nhau tất sẽ tạo nên những kiến thức, phong thái và mong đợi khác nhau. Những bạn trẻ ở Mỹ có những yếu tố và điều kiện mà bạn ở VN sẽ không thể nào có được, và ngược lại.


Nhưng điều đáng để chúng ta nói với nhau nhiều hơn là “vì sao, hấp lực gì mà hàng triệu người miền Nam đổ xô ra biển không định hướng những năm sau 1975 đến những năm 1990 và tiếp tục đến bây giờ bằng nhiều cách.”


Bạn trẻ thân mến,


Ở đời, đại đa số con người đều ham sống và ích kỷ. Thông thường, không ai muốn phiêu lưu trong cảnh “thập sinh nhất tử,” và không ai sẵn sàng bỏ hết những tài sản đã dầy công xây dựng suốt đời để tham dự một hành trình biệt xứ mà tỷ lệ sống sót rất nhỏ bé. Nhưng sau khi Cộng sản cưỡng chiếm miền Nam, hàng triệu người đã đồng loạt có hành động bỏ nước ra đi, bất chấp hiểm nguy và những đe dọa sinh mạng trên đường tìm tự do. Ðiều đáng nói không phải là chỉ có người miền Nam từ khước chế độ mới, mà hàng trăm ngàn người dân ở miền Bắc Việt Nam cũng đã không muốn ở lại với đất nước khi mà chế độ miền Bắc đã chiến thắng được miền Nam. Trong hơn một thập niên vùng vẫy vượt thoát đó, ít nhất là hơn cả 100 ngàn người đã chết thảm trên đường tìm tự do. Vậy có phải chăng hai chữ Tự Do quan trọng và giá trị hơn cả tài sản và sinh mạng của con người?


Và cho đến ngày hôm nay, vẫn còn có vô số người đang âm thầm tranh đấu để giành lại những gì mà người Việt ta đã mất: Ðộc lập, Tự do và Hạnh phúc. Ngay thời điểm này, có hơn chục người trẻ chẳng nợ nần gì với chế độ VNCH, đã bị tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An tuyên phạt tổng cộng 83 năm tù. Tất cả cũng chỉ vì hai chữ TỰ DO.


Bạn trẻ Nguyên Giang thân mến,


Tôi dành thời giờ viết những dòng hồi đáp này đến bạn vì cũng vào khoảng năm 30 tuổi, tôi đã bỏ cả gia đình ở Mỹ để tìm đường về nước chiến đấu. Lý do đơn giản là tôi không quên, và đến giờ này vẫn chưa quên, là ở Việt Nam vẫn còn có những chiến hữu của tôi đang sống trong khốn khổ, nhục nhằn. Và ở nơi chốn đó, hàng chục triệu đồng bào Việt Nam vẫn chưa có điều kiện để sống trọn vẹn như là những con người đúng nghĩa – ở cả mặt vật chất lẫn tinh thần. Ngày nay,sau hơn 30 năm sống trên đất Mỹ, Việt Nam vẫn là quê hương của tôi chứ không bị biến thành “cố hương” chỉ vì thời gian quá lâu và khoảng cách quá xa. Tôi đã dành một phần lớn cuộc đời của mình để góp phần giành lại Tự Do cho các đồng bào kém may mắn ở bên nhà và tôi sẽ tiếp tục sống với niềm vui phụng sự đó cho đến khi ở quê hương mình: Dân lao động nghèo không phải bán rẻ sức lao động để chỉ đổi lấy miếng cơm, và những người phụ nữ Việt Nam khốn cùng sẽ không phải đem nhân phẩm hay cuộc đời để tìm một cơ may thoát khổ.


Và hơn cả, tôi muốn được góp sức cùng với những người Việt Nam có tâm huyết để hóa giải tình trạng độc tài, tham ô và bất công ở nước mình, để một ngày không xa, Việt Nam sẽ là một đất nước mà toàn thể người Việt, dù ở đâu và làm gì, cũng đều có thể ngẩng cao đầu hãnh diện về quê hương. Mơ ước của tôi là ở đất nước mình sau này: Cơm No Áo Ấm sẽ được bảo đảm, Công Bằng Xã Hội sẽ được nêu cao, và Nhân Phẩm Con Người sẽ được tôn trọng.


Khi đó, thực tế sẽ tự nó được giải đáp rất nhiều thắc mắc của các bạn trẻ về nước Mỹ.


Ðầu Xuân Tết đến, tôi xin chúc bạn Nguyên Giang và các bạn trẻ một năm mới nhiều sức khỏe và thành công trong việc học, việc làm. Hy vọng rằng những lời tâm tình đầu năm này sẽ đem đến cho bạn được một số niềm vui nho nhỏ để vững lòng chờ đợi những niềm vui lớn hơn sẽ đến trong một tương lai thật gần.


Thân mến,


Texas ngày 9 tháng 1 năm 2013


(Nguồn: [email protected]qua:[email protected])

Khu Rừng Lau (Kỳ 42)


Kỳ 42


 


Ðộc Hành


 


I


 


Tiếng súng lác đác vào những ngày tiền cách mạng. Tiếng súng dồn dập dần kể từ ngày quân Pháp tái chiếm Nam Bộ. Và dân chúng cũng quen với tiếng súng.


Rồi chiến tranh toàn quốc… và từ những cứ điểm cũ chiến tranh ngày một lan rộng, ngày một thảm khốc. Ðàn ông bị giết bằng súng hoặc bằng lưỡi lê, đàn bà bị hãm hiếp, nhà cửa bị đốt cháy.


Ngót một năm sau, bộ đội của Tài và Hiển từ mặt trậạn Sông Cầu, miền Nam Trung bộ, chuyển ra Bắc. Tài và Miên được dịp tái ngộ, lần đầu ở quê hương, nhưng trong cảnh tang thương đỏ lửa ấy, hoa cỏ còn chẳng mọi được nữa là nụ cười với lời hứa đi Bỉnh Di lên núi Sáng thăm khu rừng lau!


Sau hai ngày ở lại quê, Tài đi Tuyên Quang, chàng dự trận Sông Lô ở đấy rồi hoạt động khắp miền Ðông Bắc, Hiển đi lên mặt trận Tây Bắc, sau này dự chiến dịch Nà Sản. Còn Miên, nàng giúp việc cho quân y viện, thiết lập ở ấp họ Ðỗ tận sau trong rừng thẳm, tuy vẫn thuộc huyện Lập Thạch nhưng rất xa Bỉnh Di nơi có núi Sáng và khu rừng lau!


Khu rừng lau! Khu rừng lau!


Miên cũng không hiểu sau khu rừng lau đó ám ảnh nàng hoài. Nàng hầu như thường xuyên mang hai mối hận: thứ nhất hận làm sao khu rừng để đó không phải là rừng mía mà là rừng lau; thứ hai, hận làm sao mình không xa khu rừng đó là bao mà vẫn chưa có dịp lên tận nơi để được đi vào khỏa màu xanh cẩm thạch đó.


Giữa cao trào đoàn kết cứu quốc, giữa không khí tưng bừng tranh đấu nhuộm màu hy sinh quả cảm, Miên vinh dự và kiêu hãnh có một người anh ngoài tiền tuyến, tuy thâm tâm không khỏi nhiều khi thấy lo âu. Và nhất là nàng thấy nhớ vô cùng giọng kể chuyện cổ tích đầy thương mến của anh. Nàng luôn nghĩ rằng nàng còn là trẻ thơ.


Có phong trào thi đua ba tháng, rồi phong trào thi đua sáu tháng, thi đua toàn diện. Lần nào cũng vậy, thoạt những khẩu hiệu thi đua nêu lên Miên thấy dửng dưng, không phải Miên lãnh đạm với công tác, trái lại nàng vẫn nổi tiếng là cần mẫn nhất cơ quan, nàng chỉ thấy những khẩu hiệu nêu ra chẳng có gì đặc sắc làm to chuyện. Nhưng rồi đi đâu cũng đọc thấy, rồi những buổi học tập liên tiếp. Miên dần dần thấy những khẩu hiệu đó quả có quan trọng tuy đều là những khẩu hiệu mà hàng ngày nàng đã thực hiên. Rồi với phong trào thi đua nàng thấy như mọi phần tử của đất nước đều bị hút vào một hấp dẫn lực duy nhất để có một nề nếp hoạt động đều đặn và nhiều hiệu quả.


Hội Liên Hiệp Quốc Dân Việt Nam – gọi tắt là Liên Việt – được thành lập đã từ lâu, vị hội trưởng đó là một nhân sĩ quen thuộc cả vùng: cụ Cử Hứa. Ðó là một ông già trên năm chục tuổi phì nộn. Cụ Cử Hứa là một trong số địa chủ giàu nhất huyện Lập Thạch. Cụ đỗ Cử nhân khoa cuối cùng, năm đó cụ mới hai mươi tuổi. Người trong huyện vẫn thường xì xào bàn tán về cái vô giá trị của thứ cử nhân ân khoa đó. Theo con mắt quan sát của Miên thì quả thực ở cụ Cử Hứa, không hề có phong độ một nhà nho chân truyền. Cụ có nhiều cử chỉ lố lăng nhiều khi sàm sỡ. Cụ thật đã đứng tuổi, nhưng lại có lắm ra vẻ ta đây trẻ trung bằng cách đưa đẩy những chuyện trai gái. Ðôi khi cụ đọc thơ, thứ thơ Ðường luật đã cạn dòng, lời sáo ý rỗng do cụ sáng tác. Cụ đi đâu cũng có một tên cắp điếu và tráp theo hầu. Cái điếu ống cần trúc thật là dài, mỗi lần cụ ngồi vắt vẻo giơ tay vít xuống là anh người nhà khúm núm mang tới bằng hai tay miếng trầu cau tươi hoặc thứ cau khô thật mềm gọi là cau đậu. Ấp cụ Cử Hứa cách ấp họ Ðỗ – trụ sở quân y viện – chưa đầy một cây số, vì vậy mỗi lần đi họp ban chấp hành hàng huyện – mà họp luôn – cụ thường rẽ vào quân y viện, coi đó như trạm nghỉ chân. Miên được nhiều dịp quan sát cụ là thế.


Con trai cụ mới hai mươi bốn tuổi mà đã năm con vì lấy vợ từ năm mười sáu; anh có theo học tại trường Bảo Hộ, đã một lần thi trượt thành chung thì tác chiến, hiện anh là chủ tịch hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác-xít huyện.


Ấp họ Ðỗ đã rộn, ấp của cụ Cử Hứa còn rộng gấp bốn (là theo sự ước lượng của các tá điền), và có chăn nuôi đủ các thứ trâu bò, dê, lợn, gà vịt, bồ câu… lại có ao rộng, thả cá mè, cá trôi, cá chép. Trước đây thời Pháp thuộc, cụ Cử đã có lần mời được “quan công sứ” về ấp dự tiệc; bộ đồ ăn tây (đồ sứ Limoges, dao, nĩa, muỗng bằng bạc) mà dạo đó cụ mua để thù tiếp “quan công sứ” nay vẫn còn. Ngày nay Tân là kẻ thù của dân tộc thì khách quý ngang với “quan công sứ” ngày xưa là chủ tịch liên khu. Mâm cơm thết vị chủ tịch liên khu vực là chọn lọc “vịt hầm, gà rán, chim quay.” Khi họp các cán bộ đội du kích hoặc chính quy tạm đóng ở ấp có thể cụ cho vật một con bò.

Khai Thuế David Dương

Cảnh sát Santa Ana họp báo vụ bắn chết ông Bình

“Cả hai cảnh sát đều đã nổ súng”


 


Linh Nguyễn & Thiên An/Người Việt


 


SANTA ANA (NV) Sở Cảnh Sát và Hội Ðồng Thành Phố Santa Ana mở cuộc họp báo tối Thứ Hai về vụ ông Nguyễn Văn Bình bị cảnh sát tại đây bắn chết. Bên cạnh lời chia buồn đến với gia đình, cảnh sát cung cấp thêm nhiều thông tin quan trọng xoay quanh vụ án.







Từ trái: Nghị Viên Michelle Martinez, quyền Cảnh Sát Trưởng Carlos Rojas và Thị Trưởng Miguel Pulido của thành phố Santa Ana. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)


Ông Bình, 39 tuổi, bị cảnh sát Santa Ana bắn chết khi đang ngồi trong xe lúc 0 giờ 45 phút sáng Thứ Sáu, 11 Tháng Giêng. Gia đình của nạn nhân khẳng định với báo chí: “Bình là người tốt, bị chết oan.”


Cảnh Sát Trưởng Carlos Rojas nói trong buổi họp báo, có hai cảnh sát mặc đồng phục, đi xe cảnh sát tuần tra. Danh tánh hai cảnh sát viên không được tiết lộ, giới báo chí chỉ được cho biết, một người là cảnh sát thâm niên, người kia là cảnh sát đang được huấn luyện vì mới chuyển đến thành phố Santa Ana.


Ông Bình khi đó đang ngồi nơi băng ghế sau. Cảnh sát yêu cầu ông bước ra khỏi xe nhưng ông không tuân theo. Ngược lại, ông nhảy lên ghế tài xế, nổ máy xe. Trong khi liên tục ra lệnh nhưng không được ông Bình tuân theo, cả hai cảnh sát đã nổ súng vào ông Bình. Nạn nhân chết tại chỗ.


Hai cảnh sát viên hiện thời bị ngưng việc, nhưng sẽ sớm trở lại công việc.


Theo quy định điều tra, áp dụng cho bất cứ vụ cảnh sát bắn người nào, sẽ luôn có ba cơ quan khác nhau làm việc song song, nhưng độc lập, với nhau. Ðó là văn phòng biện lý (thu thập dữ kiện); nhân viên cảnh sát điều tra hiện trường (căn cứ vào tang chứng và địa điểm xảy ra); và nội bộ Sở Cảnh Sát Santa Ana (điều tra xem hai nhân viên cảnh sát có làm đúng phận sự và đúng đường lối của sở cảnh sát hay không).









Cảnh sát viên gốc Việt, Francois Nguyễn. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)


Một số thông tin khác do phát ngôn viên sở cảnh sát, ông Anthony Bertagna, cung cấp khi trả lời phóng viên nhật báo Người Việt: Cảnh sát chỉ thấy có nhân vật khả nghi và quyết định xét hỏi, chứ không vì đã kiểm tra bảng số xe hay lý lịch của nạn nhân. Thêm vào thông tin trên, xe của ông Bình đã chạy đi được một đoạn nhỏ trước khi tông vào xe đậu phía trước, trong xe có dấu hiệu ma túy.


Vì sự việc vẫn còn trong những ngày đầu của quá trình điều tra, nhiều thông tin đang phổ biến trong dư luận vẫn chưa được chứng minh hay bác bỏ.


Khi một nhà báo hỏi về tiền sử sở hữu vũ khí, sử dụng drug, của ông Bình, cảnh sát trưởng nói các vấn đề ấy của ông Bình là “đáng kể”. Tuy vậy, ông Bertagna thừa nhận hai cảnh sát viên lúc đó chưa có thông tin gì về ông Bình, chỉ thấy khả nghi nên tiếp cận đối tượng, và sự việc đi đến vụ bắn chết nạn nhân.


Cảnh sát David Lê, người có hơn 15 năm làm việc ở Santa Ana, cho biết: “Cảnh sát có quyền tiếp cận đối tượng bằng hai cách: để hỏi chuyện hoặc để phạt khi người đó vi phạm luật. Không rõ ông Bình là trong trường hợp nào.” Ông David cũng không được biết danh tánh hai cảnh sát viên đã nổ súng vào ông Bình, vì theo luật, chỉ có cảnh sát trưởng và một số người có thẩm quyền được biết thông tin này.


Một cảnh sát gốc Việt khác, ông Francois Nguyễn, nói: “Cảnh sát được huấn luyện kỹ các bước quy định để tiếp cận đối tượng. Nếu không hiểu được tiếng Anh, người dân không nên có các hành vi khả nghi, nên ngồi yên thay vì bỏ tay vào túi hoặc cố chạy đi.”


Phòng họp có sự hiện diện của Thị Trưởng Miguel Pulido; ba nghị viên gồm Michelle Martinez, Vincent Samiento và Roman Reyna; quyền Cảnh Sát Trưởng Carlos Rojas; và Tổng Quản Trị Thành Phố Paul Walter trên bàn chủ tọa.


Từng thành viên của hội đồng thành phố Santa Ana có lời chia buồn đến với gia đình nạn nhân, và hứa sẽ làm sáng tỏ mọi chi tiết xoay quanh nội vụ, cũng như trả lời mọi thắc mắc của người dân.


Qua lời của người thân và gia đình, ông Bình làm nghề giặt ủi, lập gia đình 16 năm trước, có vợ, bà Lê Quyên Ngô, làm việc về ngành nha và hai người con trai, Joseph Thiện Nguyễn, 13 tuổi, và Patrick Hữu Nguyễn, 7 tuổi.


“Anh là người tốt, không đáng để bị bắn chết,” bà Lê Quyên nói với nhật báo Người Việt.


___


Liên lạc tác giả: [email protected]; [email protected]

Tin Luot

 


Việt Nam


Một bị cáo ở Hải Phòng sau khi nghe tòa tuyên án 15 năm tù đã ‘rung đùi hát trước vành móng ngựa’.


 


Công an Hà Nội bắt giữ hơn 1.5 tấn lòng heo đã hôi thối đang trên đường chở về Quảng Ngãi tiêu thụ.


 


Ông Trương Tấn Sang, chủ tịch nước CSVN thừa nhận ‘Từ sau 1975 đến nay công chức vẫn chưa sống được bằng lương’.


 


Cộng Ðồng/Ðịa Phương


Cảnh sát Orange cho biết một tài xế 29 tuổi lạc tay lái lúc 3:30 chiều Thứ Bảy, leo lề đường Tustin và lao vào trạm xe bus, gây tử thương cho bé gái 3 tuổi.


 


Cựu viên chức Bell City, Los Angeles, liên can đến vụ tai tiếng tham nhũng công quỹ trên $5 triệu, sẽ bị đưa ra trước tòa án xét xử từ ngày Thứ Ba.


 


Ông Gary Allen Reeder, 50 tuổi ở Santa Fe Springs, dùng súng và một quả bom giả để cướp một ngân hàng ở Orange năm 2011 có thể lãnh án 25 năm tù khi ra tòa ngày 25 Tháng Tư.


 


Ông Jorge Serafin, huấn luyện viên đội bóng tròn thiếu niên Oakview, 30 tuổi, bị cảnh sát bắt giữ hôm Thứ Sáu vì tình nghi quan hệ tình dục với hai bé trai tuổi 16 trong thời gian hai tháng qua.


 


Hoa Kỳ


Honda dự tính tung ra kiểu SUV mới nhỏ hơn kiểu ăn khách CR-V, với giá khởi đầu từ $22,700.


 


Lạnh bất thường bước sang ngày thứ năm ở miền Tây Hoa Kỳ, gây hư hại cho hoa màu và nghề nông ở California.


 


Trong cuộc phỏng vấn ở chương trình của Oprah Winfrey sẽ được phát hình vào Thứ Năm tới, Lance Armstrong thú nhận có dùng thuốc tăng lực để thắng cuộc đua Tours de France.


 


Ngoại Trưởng Hillary Clinton sẽ cung khai trước Ủy Ban Ðối Ngoại Hạ Viện vào ngày 23 Tháng Giêng, về vụ tấn công ở Benghazi, Libya hôm 11 Tháng Chín năm ngoái.


 


Thế Giới


Hoàng gia Anh loan báo, con đầu lòng của Hoàng Tử William và Công Nương Kate sẽ chào đời vào Tháng Bảy tới.


 


Ðài truyền hình NHK ở Tokyo ngày 14 Tháng Giêng cho biết, chính phủ Nhật Bản sẽ triển khai thêm hai tàu tuần tra ở vùng quần đảo Senkaku/Ðiếu Ngư.


 


Trung Quốc vừa phê duyệt đề án xây dựng một phi trường quốc tế mới với kinh phí $11.2 tỷ để giảm bớt tình trạng quá tải tại hiện nay của phi cảng Bắc Kinh.


 


Bọn cướp đào một đường hầm dài 30 mét vào hầm chứa tiền của một ngân hàng ở Berlin và đốt cháy để phi tang trước khi rút đi. Cảnh sát Ðức nói rằng chưa kiểm tra được đã mất những gì.


 


Việc tòa án Ai Cập ra lệnh xử lại án tù chung thân của cựu Tổng Thống Hosni Mubarak, và xét xử những bị cáo khác trong chế độ cũ, có khả năng gây ra nhiều phản ứng dữ dội từ dư luận.


 

Giao tranh leo thang tại Mali

 







BAMAKO, Mali – Chiến sự giữa phiến quân Hồi Giáo và chính quyền Mali leo thang, cho dầu quân đội chính phủ có sự trợ lực của quân đội Pháp. Bộ Quốc Phòng Pháp xác nhận một thành phố ở Trung bộ Mali vừa bị phiến quân Hồi Giáo chiếm đóng, và điều này có thể tạo ra “những hậu quả nguy hại khôn lường”. Trong hình, cảnh sát Mali tuần tiễu trên đường phố Bamako, ngày 13 Tháng Giêng, 2013. Xem chi tiết trong số báo này. (Hình: ISSOUF SANOGO/AFP/Getty Images)

Tranh cãi quanh $27,000 cứu trợ nạn nhân Sandy

Bên nói “nhầm lẫn,” bên đòi giải ngân


 


Hà Giang/Người Việt


 


WESTMINSTER (NV) Hai ngân phiếu, tổng giá trị $27,000, được chùa Bảo Quang và chùa Liên Hoa hiến tặng cho nạn nhân bão Sandy tại New York thông qua Ủy Ban Cứu Trợ Nạn Nhân Bão Sandy do Hội Ðồng Liên Tôn cùng một số hội đoàn tại Little Saigon tổ chức, đã không – hoặc chưa – đến tay văn phòng thị trưởng New York, nhưng đã được “cashed” ngay tại Little Saigon.







Hòa Thượng Quảng Thanh và tấm ngân phiếu mẫu trong ngày kêu gọi đóng góp giúp nạn nhân bão Sandy. (Hình: Hà Giang/Người Việt)


Evelyn Erskine, tùy viên báo chí đại diện quỹ “Mayor’s Fund to Advance New York City” tại New York, nói với báo Người Việt rằng họ “không hề nhận được tiền nào từ chùa hay từ quận Cam”.


Giám Mục Trần Thanh Vân, trưởng ban cứu trợ, nói với Người Việt, số tiền $27,000 được cashed ra là “do nhầm lẫn”.


Người Việt gọi điện thoại nhiều lần, kể cả đến văn phòng của Luật Sư Nguyễn Xuân Nghĩa, phó trưởng ban điều hành Ủy Ban Cứu Trợ; các yêu cầu phỏng vấn đều không thành.


Ðiện thoại phỏng vấn gọi đến ông Phan Kỳ Nhơn, phó trưởng ban liên lạc truyền thông Ủy Ban Cứu Trợ, chủ tịch Ủy Ban Phối Hợp Chống Cộng Sản, cũng không được trả lời cho đến lúc tờ báo đưa đi in.


Mọi chuyện bắt đầu khi Hòa Thượng Thích Quảng Thanh, viện chủ chùa Bảo Quang, nhận được 2 tấm “cancelled check” từ ngân hàng gởi về cho ông. Hai văn bản này cho thấy 2 tấm ngân phiếu mà hòa thượng ký từ trương mục dành cho mục đích từ thiện của Trung Tâm Phật Giáo Việt-Mỹ tại chùa Bảo Quang, đã được ký thác tại Wells Fargo ngày 18 tháng 12, 2012; mà theo hòa thượng, “$27,000 được lấy ra khỏi trương mục của chùa một ngày sau đó.”


Số tiền này, mặc dầu có nguồn gốc từ một trương mục, nhưng theo Hòa Thượng Quảng Thanh, là do chùa Bảo Quang hiến tặng $20,000 và Hòa Thượng Chơn Thành, chùa Liên Hoa, hiến tặng $7,000.


Việc hai ngân phiếu được lấy tiền ra khiến hòa thượng ngạc nhiên. “Hội Ðồng Liên Tôn đã cam kết với tôi là sẽ không lấy tiền ra, cho đến khi tất cả cùng đi New York để trao tận tay số tiền gây quỹ được.”







Hai tấm “cancel check” được gởi về chùa Bảo Quang. (Hình: Hà Giang/Người Việt)


“Tôi không biết ai đã cash cái check này; ai là người ký đằng sau cái check này?” Hòa Thượng Quảng Thanh đặt câu hỏi.


Thực tế, không ai ký đằng sau 2 cái check này. Bản sao của 2 tấm “cancelled check” cho thấy không ai ký nhận cả, nhưng có hàng chữ đóng dấu của ngân hàng Wells Fargo: “CREDITED TO THE ACCOUNT OF/WITHIN NAMED PAYEE/LACK OF ENDORSEMENT GUARANTEED,” nghĩa là “tiền được chuyển vào trương mục người/cơ quan có tên trên chi phiếu/không có chữ ký của người/cơ quan nhận”.


Người/cơ quan nhận chính thức trên ngân phiếu, do Hòa Thượng Quảng Thanh ký, là “Mayor’s Fund to Advance New York City,” có trụ sở tại New York.


Số tiền $27,000, theo lời Giám Mục Trần Thanh Vân nói với Người Việt, đã được Ban Tài Chánh của Ủy Ban Cứu Trợ ký thác “do nhầm lẫn”.


“Ðúng ra, Wells Fargo phải trả 2 ngân phiếu đó về, nhưng họ đã không làm như vậy, và đó là lỗi của họ.” Giám Mục Trần Thanh Vân giải thích.


Trả lời Người Việt, Giám Mục Trần Thanh Vân nói rằng đây chỉ là sự nhầm lẫn, “ngân hàng Wells Fargo nói đang giữ số tiền này lại” và “tổng số tiền quyên được lên đến $193,000 nhưng chưa tổng kết xong”.


Mục Sư Trần Thanh Vân cũng cho biết, việc nhầm lẫn chỉ được mọi người biết đến sau khi Hòa Thượng Quảng Thanh lên tiếng.


Hòa Thượng Quảng Thanh nói với Người Việt, rằng Luật Sư Nguyễn Xuân Nghĩa và Giám Mục Trần Thanh Vân có đến gặp ông, để nói chuyện về số tiền tặng dữ. “Họ nói phải sau Tết Nguyên Ðán mới đi New York, nhưng nay thì tôi muốn tháo khoán số tiền này liền.” Lý do: “Ðể lâu rất mang tiếng, mang tiếng cộng đồng, rồi nó thành chuyện khác, mang tiếng chúng tôi.”


Cũng trong buổi gặp ấy, vẫn theo lời Hòa Thượng Quảng Thanh, hai ông Nguyễn Xuân Nghĩa và Trần Thanh Vân “có đề nghị trả lại số tiền ấy”.


“Nhưng chuyện đâu đơn giản như vậy; số tiền này hai chùa đậu lại chung, đây là tiếng gọi chung.” Hòa Thượng Quảng Thanh trình bày.


Trong lần trả lời phóng viên Ðoàn Trọng trên chương trình ngày 10 Tháng Giêng của Little Saigon TV, Luật Sư Nguyễn Xuân Nghĩa, chủ tịch Cộng Ðồng Người Việt Quốc Gia Nam California, nói rằng đã nhận “được những chi phiếu như của chùa Bảo Quang, chùa Liên Hoa, để tên Mayor’s Fund to Advance NY City, những chi phiếu đó sẽ để riêng, chúng ta sẽ gom tất cả những phiếu đó để cùng các vị đó [đi New York].”


Số tiền $27,000 đã được “cashed” trước khi Luật Sư Nghĩa trả lời phóng viên Ðoàn Trọng.


Giám Mục Trần Thanh Vân nói với Người Việt, về vụ này, ủy ban “sẽ có buổi họp báo tối Thứ Tư này, lúc 6pm, tại văn phòng Luật Sư Nguyễn Xuân Nghĩa, để trình bày rõ ràng mọi việc”.


____


Liên lạc tác giả: [email protected]

TS Nguyễn Quốc Quân sẽ ra tòa tuần tới

QUẬN CAM (NV) Tiến Sĩ Nguyễn Quốc Quân, một thành viên cao cấp của Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Ðảng thường được biết với tên gọi tắt là Việt Tân sẽ bị đưa ra tòa án ở Sài Gòn vào tuần tới, sau khoảng 9 tháng bị bắt giữ.









Tiến Sĩ Nguyễn Quốc Quân. (Hình: AFP)


“Anh Quân sẽ bị đưa ra tòa án ở Sài Gòn ngày 22 Tháng Giêng 2013 và bị truy tố theo điều 79 của Luật Hình Sự CSVN mà bản án có thể từ 12 năm tới tử hình”. Bà Ngô Mai Hương, vợ Tiến Sĩ Nguyễn Quốc Quân cho báo Người Việt hay như vậy qua điện thoại hôm Thứ Hai 14 Tháng Giêng 2013.


Bà cho hay bà đang nỗ lực xin chiếu khán nhập cảnh Việt Nam để tham dự phiên tòa nhưng “biết rằng hết sức khó khăn” vì lần ông Quân bị bắt trước đây, năm 2007, bà đã từng xin nhập cảnh Việt Nam và đã bị từ chối.


Tiến sĩ toán học Nguyễn Quốc Quân, 58 tuổi, bị nhà cầm quyền CSVN bắt ở phi trường Tân Sơn Nhất, Sài Gòn, ngày 17 Tháng Tư 2012 mà bản thông cáo báo chí của đảng Việt Tân nói rằng ông “về Việt Nam để quảng bá phương thức đấu tranh bất bạo động”.


Lần bị bắt trước vào cuối năm 2007, ông Nguyễn Quốc Quân bị giam đến Tháng Năm 2008 thì được thả về Mỹ trước sự áp lực mạnh mẽ của cả Quốc Hội và chính phủ Hoa Kỳ.


Báo chí loan tin bắt ông là một thành phần của “tổ chức khủng bố Việt Tân” dù đảng này rất nhiều lần tuyên bố chỉ đấu tranh bất bạo động để đem lại dân chủ thực sự cho người dân tại Việt Nam.


“Anh Quân đã ba lần tuyệt thực trong tù trong những tháng bị giam giữ vừa qua.” Bà Ngô Mai Hương nói với báo Người Việt. “Một lần 4 ngày, một lần 12 ngày và lần sau cùng 8 ngày diễn ra nhân dịp sinh nhật của anh ngày 20 Tháng Mười Một 2012. Anh đòi phải được tiếp xúc với luật sư và với áp lực của Tòa Tổng Lãnh Sự Mỹ, nữ Luật Sư Nguyễn Thị Ánh Hương mới được vào gặp anh sau dịp lễ Giáng Sinh”.


Bà cho hay viên chức Tòa Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ tại Sài Gòn đã đến thăm ông được 7 lần và “anh rất vững tinh thần tuy có hơi gầy ốm”.


Bà cho hay ông Nguyễn Quốc Quân nhắn lại với vợ là “hãy cố gắng cùng với anh vượt qua thử thách, khó khăn này”.


Trong bản thông cáo báo chí, đảng Việt Tân nói rằng “Việc bắt giữ và xuyên tạc việc làm của Tiến Sĩ Nguyễn Quốc Quân chỉ là một phần trong chiến dịch đàn áp, bịt miệng hiện nay của nhà cầm quyền CSVN đối với những người yêu nước trên toàn quốc để họ mặc tình dâng nhượng đất nước, đào khoét tài nguyên quốc gia, và kéo dài chế độ cai trị độc tài. Nhà cầm quyền CSVN sẽ phải trả lời trước dân tộc về những hành vi phạm pháp, phạm đạo lý này. Tiến Sĩ Nguyễn Quốc Quân và các nhà dân chủ Việt Nam phải được trả tự do vô điều kiện.”


Ngày 11 Tháng Giêng 2013, bốn dân biểu liên bang Hoa Kỳ gồm bà Zoe Lofgren, bà Loretta Sanchez, ông Hank Johnson và ông Gerry Connolly đã gửi cho đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, David Shear, bức thư kêu gọi ông “có những biện pháp tức thời nhằm thúc đẩy việc giải cứu Tiến Sĩ Nguyễn Quốc Quân. Chúng tôi lo ngại khi được biết truyền thông nhà nước Việt Nam đã dán nhãn “khủng bố” gán tội vào việc Tiến Sĩ Quân huấn luyện những nhà hoạt động quần chúng về đấu tranh bất bạo động, và chúng tôi vô cùng quan tâm khi được biết Ts. Quân đã bị buộc tội “lật đổ chính quyền”, một tội danh với mức án phạt từ 12 năm tù đến tử hình.”


Trước đó, 12 dân biểu liên bang Hoa Kỳ cũng đã gửi thư cho bà Ngọai Trưởng Hillary R. Clinton kêu gọi can thiệp trả tự do cho ông Quân trước khi bà đi dự diễn đàn khu vực ASEAN.


Mới ngày 9 Tháng Giêng 2013, nhiều người trong số 14 tín đồ Thiên Chúa Giáo bị lôi ra tòa ở thành phố Vinh đã bị quy chụp các bản án rất nặng nề từ 3 năm đến 13 năm tù chưa kể quản chế vì bị coi là liên quan đến đảng Việt Tân. (T.N.)

DVD Asia 71 bị cấm phổ biến tại Sài Gòn

 


Ngọc Lan/Người Việt


 


WESTMINSTER (NV) Ngày 11 Tháng Giêng, Trung Tâm Asia phát hành DVD Asia 71 với chủ đề “32 năm thành lập”. Trước đó 2 ngày, ngày 10 Tháng Giêng (giờ Việt Nam), chính quyền Sài Gòn đã ra văn bản “chỉ đạo các sở-ngành chức năng và UBND các quận-huyện đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nhân dân không tiếp tay phổ biến bộ đĩa ASIA 71 ‘32 năm kỷ niệm’ có xuất xứ từ hải ngoại.”







DVD Asia 71 với chủ đề “32 năm thành lập” bị cấm phát hành tại Sài Gòn. (Hình: TheAsiaChannel)


DVD Asia 71 là chương trình thu hình đại nhạc hội kỷ niệm 32 năm thành lập Asia được tổ chức hồi cuối Tháng Mười Một 2012 tại nhà hát Long Beach Performing Art Center, thành phố Long Beach thuộc miền Nam California.


Toàn bộ văn bản cấm DVD Asia được đăng trên trang mạng của Ủy Ban Nhân Dân thành phố Sài Gòn như sau: 


“Tăng cường kiểm tra các cơ sở kinh doanh băng đĩa trên địa bàn TP (10/01/2013)


(Website Văn Phòng) – UBND TP vừa chỉ đạo các sở-ngành chức năng và UBND các quận-huyện đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nhân dân không tiếp tay phổ biến bộ đĩa ASIA 71 ‘32 năm kỷ niệm’ có xuất xứ từ hải ngoại.


UBND các quận-huyện cần phối hợp với các đơn vị liên quan tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm các trường hợp in sang, tàng trữ và phát tán lưu hành bộ đĩa ca nhạc này.”


Mặc dù văn bản “không tiếp tay phổ biến bộ đĩa ASIA 71 ‘32 năm kỷ niệm’ có xuất xứ từ hải ngoại” do UBND TP. Sài Gòn ban hành, khi nghe phóng viên Người Việt hỏi qua điện thoại, về lý do cấm, ông Võ Văn Luận, chánh văn phòng UBND TP trả lời ngay lập tức: “Việc này phải gọi Sở Ngoại Vụ thành phố HCM để họ trả lời,” và cúp máy.


Mặc dầu có lệnh cấm, một blogger tại Sài Gòn cho phóng viên Người Việt biết là cô “đang nhờ tiệm quen mua giùm,” vì “bên này hỏi tới là hổng có, nhưng khách quen thì… gật”.


Nhạc sĩ Nam Lộc, một trong những MC của chương trình “Asia, 32 năm thành lập,” đưa ra giả thiết về lệnh cấm của nhà cầm quyền Sài Gòn: “Theo tôi, có một số nội dung trong cuốn DVD này nói lên được những sự thật trong nước mà nhà cầm quyền không muốn cho người dân biết. Nay qua phương tiện truyền thông đại chúng, cũng như qua chương trình ca nhạc của Trung Tâm Asia nói riêng cũng như một số các trung tâm khác nói chung, thì họ cảm thấy người dân sẽ biết được những sự thật đó.”


Nhạc sĩ Nam Lộc cũng cho rằng “không chỉ có DVD này bị cấm, mà trong quá khứ họ đã chống đối nhiều DVD khác, và cũng không hẳn là chỉ Trung Tâm ASIA bị chống mà cả Trung Tâm Thúy Nga cũng bị. Tôi còn nhớ khi Trung Tâm Thúy Nga tổ chức chương trình ‘35 năm nhìn lại’ thì phải, trong đó họ có hát bài ‘Xin Nở Một Nụ Cười’ thì trong nước đã lên án chống đối một cách mạnh mẽ và cấm phát hành.”


Tuy nhiên, người MC nhiều năm gắn bó với các chương trình đại nhạc hội của Trung Tâm Asia này cũng tỏ ra “ngạc nhiên” khi văn bản nghiêm cấm việc phổ biến DVD này trong nước lại ban hành trước khi DVD ra mắt tại Hoa Kỳ.


“Ðiều làm cho tôi ngạc nhiên là trước đây họ đợi khi nào DVD phát hành thì trong nước mới ra lệnh cấm, còn lần này chưa phát hành thì lệnh cấm đã ra trước.” Ông nói.


Cư dân tại Little Saigon, những người yêu thích Asia, cũng tỏ ra ngạc nhiên về lệnh cấm.


Bà Dung Phạm, 56 tuổi, cư dân Long Beach, bày tỏ: “Tôi đi coi chương trình này diễn ra ở rạp, có thấy gì đâu, không thấy gì nghiêm trọng hết! Chỉ thấy là Trung Tâm Asia thiếu chủ đề nên mới đặt tên chương trình là ‘32 năm nhìn lại’ chứ ai đâu mà lại chọn những năm lẻ như vậy làm chủ đề cho chương trình. Ðiều hơi khác là trong chương trình này họ có mời một số người từng làm MC trước đây cùng tham gia như Trịnh Hội, Orchid Lâm Quỳnh. Vậy thôi, không thấy có gì đặc biệt hết.”


Trong khi đó, cô Thúy Nguyễn, 30 tuổi, đang sống tại thành phố Westminster, người cũng xem chương trình đại nhạc hội này trên sân khấu và qua DVD, nêu ý kiến: “Tôi nghĩ họ cấm có lẽ vì trong đó có bài hát ‘Triệu trái tim’ do nhạc sĩ Trúc Hồ sáng tác và bài ‘Bạn thân’ của Việt Khang.”


Cũng theo cô Thúy Nguyễn, bài hát “Triệu Con Tim” trong chương trình do nhạc sĩ Trúc Hồ, Nguyên Khang, Quốc Khanh, Mai Thanh Sơn, Ðan Nguyên, Lâm Nhật Tiến, Nguyễn Hồng Nhung, Lâm Thúy Vân, Y Phương cùng ca đoàn Ngàn Khơi trình diễn “thực sự làm người ta xúc động” và “cả rạp đứng dậy hết để vỗ tay theo bài hát”.


 

Bí thư huyện ủy Tiên Lãng bị thay thế

HẢI PHÒNG (NV) Ông Bùi Thế Nghĩa, bí thư huyện ủy huyện Tiên Lãng vừa bị cất chức và đưa về thành phố hải Phòng làm phó giám đốc Sở Khoa Học và Công Nghệ.









Gia đình ông Vươn nhận kết luận điều tra tại UBND
xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng. (Hình: Dân Việt)


Bản tin TTXVN hôm Thứ Hai 14 Tháng Giêng 2013 loan báo tin này theo một quyết định của “Ban thường vụ thành ủy”.


Ông Bùi Thế Nghĩa chỉ bị “kiểm điểm” mà không hề bị truy tố tội gì dù Liên Chi Hội Nuôi Trồng Thủy Sản Nước Lợ địa phương và gia đình hai ông Ðoàn Văn Vươn, Ðoàn Văn Quý tố cáo đích danh là một người phải chịu trách nhiệm chính yếu cùng với chủ tịch UBND huyện Lê Văn Hiền về các biến cố dẫn đến mấy tiếng súng hoa cải chống cưỡng chế ngày 5 Tháng Giêng 2012.


Thay ông Bùi Thế Nghĩa ở Tiên Lãng từ ngày 15 Tháng Giêng 2013, thành phố Hải Phòng đưa ông Cao Xuân Liên hiện đang làm trưởng ban kinh tế-ngân sách và cũng là thành ủy viên.


Ngày 4 Tháng Giêng 2013, Viện Kiểm Sát thành phố Hải Phòng đã truy tố tội danh “giết người” đối với các ông Ðoàn Văn Vươn (50 tuổi), Ðoàn Văn Quý (47 tuổi) cùng trú tại xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, Ðoàn Văn Sịnh (56 tuổi), trú tại xã Ðông Hưng, huyện Tiên Lãng và Ðoàn Văn Vệ (39 tuổi) trú tại xã Bạch Ðằng, huyện Tiên Lãng theo điểm D, khoản 1, Ðiều 93 Bộ Luật Hình Sự.


Tuy họ là các nạn nhân của một vụ mưu toan cướp công của, mồ hôi nước mắt, họ lại đối diện với các bản án từ 12 năm đến tử hình.


Bà Nguyễn Thị Thương (vợ ông Ðoàn Văn Vươn), Phạm Thị Báu (vợ ông Ðoàn Văn Quý) thì bị truy tố tội “chống người thi hành công vụ” theo điểm D, khoản 2 của điều 257 Bộ Luật Hình Sự đối diện với các bản án từ 2 năm đến 7 năm tù dù họ không có mặt ở vụ cưỡng chế.


Trước đó, ông Lê Văn Hiền, nguyên chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng bị truy tố tội danh “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” theo điều 285 Luật Hình Sự bị án tù co giãn từ 6 tháng tới 12 năm, nhưng lại không bị giam giữ.


Phạm Xuân Hoa, nguyên trưởng phòng tài nguyên và môi trường huyện; Phạm Ðăng Hoan, nguyên bí thư xã Vinh Quang và Lê Thanh Liêm, nguyên chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân xã Vinh Quang cùng bị truy tố về tội “hủy hoại tài sản” nhưng cũng không bị giam giữ.


Trong số các quan chức từ xã đến huyện, chỉ có ông Nguyễn Văn Khanh, nguyên phó chủ tịch huyện là bị giam giữ và truy tố với tội danh “hủy hoại tài sản” có thể bị án tù từ 7 đến 15 năm.


Những người mang máy xúc tới phá hai căn nhà của Ðoàn Văn Vươn và Ðoàn Văn Quý lại không bị coi là đồng phạm.


Chỉ huy đám công an, huyện đội cưỡng chế là ông Ðỗ Hữu Ca, giám đốc công an Hải Phòng, từng khoe “trận đánh hiệp đồng” các lực lượng rất đẹp có thể viết thành “giáo án” để dạy đàn áp nhân dân, không hề thấy bị nêu tên cùng với rất nhiều người khác lên cả trăm.


Ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, cũng là “đại biểu nhân dân” của huyện Tiên Lãng trong Quốc Hội không hề lên tiếng, thăm viếng hay bảo vệ nhân dân trước các hành động ức hiếp và trái luật của nhà cầm quyền địa phương.


Bản “Kết luận điều tra về vụ cưỡng chế khu đầm nuôi thủy sản của gia đình anh em ông Ðoàn Văn Vươn cù cưa suốt một năm trời chỉ dẫn tới việc truy tố 4 quan chức huyện và xã bị Liên Chi Hội Nuôi Trồng Thủy Sản Nước Lợ và gia đình các nạn nhân gửi văn thư phản đối”.


Ngày 21 Tháng Mười Hai 2012, liên chi hội vừa kể gửi văn thư tới lãnh đạo đảng và nhà nước CSVN tố cáo bản kết luận điều tra của Viện Kiểm Sát Hải Phòng theo tinh thần phủ bênh phủ huyện bênh huyện. Thủ phạm chính của quyết định cưỡng chế trái luật từng bị khiếu nại suốt mấy năm liền dẫn đến chống đối là ông bí thư huyện ủy Bùi Thế Nghĩa và chủ tịch UBND huyện Lê Văn Liêm.


Bà Phạm Thị Báu (tức Hiền) từng nói trên báo Dân Việt là “người chịu trách nhiệm chính phải là ông Bùi Thế Nghĩa và ông Lê Văn Hiền”.


Theo báo Dân Việt, chính ông Lê Văn Hiền đã ký các văn bản “cơ bản giao nhiệm vụ cưỡng chế cho từng thành viên trong ban chỉ đạo cưỡng chế đấm gia đình ông Ðoàn Văn Vươn” qua văn bản kế hoạch số 104/KH-UBND ngày 24 Tháng Mười Một 2011. Ðến ngày 30 Tháng Mười Hai 2011 ông Hiền lại ký quyết định số 4322/QÐ-UBND “trưng dụng thêm 102 cán bộ tham gia cưỡng chế”.


Ông Nguyễn Văn Khanh, người bị nhóm quan chức dồn hết tội cho ông viết trong một bức thư kêu oan, tố cáo gửi cho nhiều lãnh đạo thành phố Hải Phòng 2 ngày trước khi bị bắt giam cuối Tháng Mười 2012 cho hay ông đã nhiều lần phản đối vụ cưỡng chế “cũng như đề xuất đối thoại với dân” và không nhận làm trưởng ban cưỡng chế.


Tuy nhiên “…Ban thường vụ huyện ủy và UBND huyện Tiên Lãng, nhất là bí thư và chủ tịch vẫn kiên quyết thu hồi đất và tổ chức cưỡng chế, do đó đã ép tôi làm trưởng ban chỉ đạo cưỡng chế. Khi giao tôi làm trưởng ban, tôi đã có ý kiến không nhận nhiệm vụ này, nhưng bí thư và chủ tịch dùng quyền lực và sức mạnh tập thể kiên quyết ép tôi và không chấp thuận đề nghị của tôi.


Với nhiệm vụ của đảng viên và cấp phó, tôi đã miễn cưỡng nhận nhiệm vụ thi hành nghị quyết, quyết định và kế hoạch của huyện ủy, UBND huyện và chủ tịch UBND huyện”, theo bản tin báo Dân Việt ngày 29 Tháng Mười 2012.


Các cuộc họp chuẩn bị tổ chức cưỡng chế, theo ông Khanh, “hầu hết do chủ tịch huyện chủ trì và kết luận”.


Ngay trong ngày cưỡng chế 5 Tháng Giêng 2012 ông Khanh cho hay “Khoảng 8 giờ 30 phút cùng ngày, chủ tịch UBND huyện và bí thư huyện ủy đến hiện trường trực tiếp chỉ đạo lực lượng cưỡng chế… nhiệm vụ của trưởng ban cưỡng chế bị triệt tiêu”.


Về việc phá dỡ nhà ông Vươn và ông Quý, ông Khanh khẳng định: “Tôi không ra lệnh, không chỉ đạo phá nhà ông Ðoàn Văn Vươn và không chỉ đạo nội dung nào khác, tôi đã công bố kết thúc nhiệm vụ của đoàn cưỡng chế lúc 17 giờ ngày 5 Tháng Giêng 2012”.


Nay thì ông có vẻ là người bị dồn hết tội để cứu đám quan chức có bè có cánh ở thành phố Hải Phòng.


Vụ cưỡng chế trái luật khu đầm nuôi thủy sản của gia đình Ðoàn Văn Vươn đã gây rúng động dư luận trong ngoài nước hồi đầu năm ngoái, đến nay vẫn thấy những dấu hiệu bao che, thiên lệch. Bà Phạm Thị Hiền qua một lần phỏng vấn của báo chí từng than rằng sẽ không hy vọng nhìn thấy công lý. (T.N.)

Ông Ngô Bảo Đông

Truyền hình nhà nước bị chê ‘đoán thời tiết trật lất’

VIỆT NAM (NV) Ðài truyền hình của nhà nước Việt Nam (VTV) bị chỉ trích đưa tin tiên đoán thời tiết sai bét. Giới phụ huynh học sinh miền Bắc phản ứng mạnh, cho rằng sự kém cỏi này đã làm cuộc sống của họ bị xáo trộn.







Người dân theo dõi tin khí tượng để mặc nhiều áo ấm cho trẻ đi học, thế mà… (Hình: VTC News)


Theo báo Tiền Phong, tin thời tiết rất quan trọng và cần thiết đối với cư dân Hà Nội và các tỉnh phía Bắc. Thời gian qua, phần lớn phụ huynh chịu khó theo dõi tin thời tiết trên VTV vào mỗi buổi sáng để quyết định việc đưa con đến trường hay không.


Báo Tiền Phong nói rằng, bản tin thời tiết của đài truyền hình số một của Việt Nam VTV tiên đoán nhiệt độ miền Bắc xuống dưới 10 độ C vào ngày 12 tháng 1. Tin này khiến nhiều phụ huynh học sinh phải để con em mình ở nhà và tin rằng chính quyền cũng sẽ ra thông báo đóng cửa trường vì nhiệt độ xuống thấp. Tuy nhiên, mọi người chưng hửng vì nhiệt độ thực tế không phải vậy.


Mũi dùi của sự thông tin sai lạc này chĩa về phía Trung Tâm Dự Báo Khí Tượng Thủy Văn Trung Ương. Tuy nhiên, sáng ngày 11 tháng 1, phó giám đốc trung tâm, ông Lê Thanh Hải lại nói rằng đài truyền hình VTV phát bản tin khí tượng trật bét không phải của trung tâm, mà “khai thác từ nguồn nào không biết”.


Báo công an Hà Nội dẫn lời của ông Lê Thanh Hải khuyên mỗi gia đình nên “tự trang bị một cái nhiệt kế treo sẵn trong nhà để tiện theo dõi nhiệt độ để bảo đảm chính xác nhất”.


Trong khi đó theo báo mạng VTC News, VTV lại khẳng định rằng thông tin về thời tiết là của… Trung Tâm Dự Báo Khí Tượng Thủy Văn Trung Ương của ông Lê Thanh Hải.


Trưởng phòng Dự Báo Thời Tiết của VTV né tránh trách nhiệm khi cho rằng dư luận không nên đổ lỗi cho VTV. Bà này cũng nói rằng tin khí tượng loan trên VTV chỉ… để tham khảo mà thôi.


Người ta chưa quên, đài khí tượng của nhà nước Việt Nam tiên đoán thời tiết sai trầm trọng, khoảng 5 năm về trước, dẫn đến hậu quả chết người và gây thiệt hại nặng nề cho ngư dân vùng biển miền Trung. Trận bão đổ bộ các tỉnh miền Trung giữa tháng 11 năm 2008 sớm nhiều tiếng đồng hồ và “không đúng chỗ” so với tin tức tiên đoán khí tượng của cơ quan nhà nước khiến người dân không biết bão đến để đối phó. Có ít nhất 5 cư dân tỉnh Phú Yên và một ở tỉnh Khánh Hòa bị thiệt mạng, cùng với 90 thuyền cá bị đánh chìm.


Báo chí Sài Gòn thời đó chỉ trích nặng nề sự thông tin sai lạc của Trung Tâm Dự Báo Khí Tượng Thủy Văn Trung Ương. Chỉ trong hai tuần lễ cuối của tháng 11 năm 2008, trung tâm này tiên đoán sai đến… 5 lần. Theo báo Tiền Phong, sự sai lạc này đã gây nhiều thiệt hại nặng nề về tài sản và nhân mạng của người dân.


Người đứng đầu Trung Tâm Dự Báo Khí Tượng Thủy Văn Trung Ương cũng thú nhận mức độ chính xác của trung tâm về thời tiết chỉ đúng tới… 60% là cùng.


Trong khi đó theo báo Lao Ðộng, trung tâm nói trên bị người dân chê “tiên đoán một đường, thời tiết đi một nẻo”.


Ông Nguyễn Tuấn, cư dân quận Hoàn Kiếm, Hà Nội than thở: “Tiên đoán của ngành khí tượng Việt Nam quá cách xa với thực tế.” Cũng theo ông, người ta không còn lạ vì sao người dân Việt Nam không còn tin vào khả năng tiên đoán thời tiết của nhà nước Việt Nam. (P.L.)

Cà phê Việt lo đối phó với Starbucks

VIỆT NAM (NV) Tin thương hiệu được ưa chuộng nhất-nhì thế giới, Starbucks Coffee sắp đến Việt Nam thu hút sự chú ý của giới ghiền cà phê.









Các quán cà phê vỉa hè lâu đời ở Việt Nam. (Hình: Báo Tiền Phong)


Ðược coi là thương hiệu đặt chân đến Việt Nam – quốc gia có số lượng tiêu thụ cà phê tăng 65% trong vòng 5 năm qua, khá trễ, dư luận chưa thể xác định được rằng liệu Starbucks Coffee sẽ đứng được ở thị trường Việt Nam hay không.


Báo Tiền Phong trích phúc trình của Tổ Chức Cà Phê Quốc Tế cho rằng Starbucks Coffee không dễ thâm nhập thị trường Việt Nam. Theo tổ chức này, các “đối thủ” đáng gờm của Starbucks Coffee hiện nay là hàng vạn quán cà phê vỉa hè mọc đầy khắp đường phố, ngõ ngách Việt Nam. Ðó là chưa kể các thương hiệu nổi tiếng khác như Coffee Bean & Tea Leaf (Hoa Kỳ), Coffees International của Gloria Jean (Australia), Trung Nguyên Coffee và Highlands Coffee…


Báo Tiền Phong còn nói rằng 1/5 dân số Việt Nam, ước chừng 18 triệu người thuộc giới trẻ, từ 35 tuổi trở xuống. Phần lớn người nghiện cà phê thuộc lứa tuổi này chuộng loại cà phê “mạnh”. Mỗi ngày mỗi người cần có ít nhất một ly cà phê, “giải khát” vào buổi sáng và “nhâm nhi” vào những buổi trưa “tán gẫu”.


Theo Tổ Chức Cà Phê Quốc Tế, nhiều cư dân Hà Nội chuộng loại cà phê đậm, đen nên có thể chê Starbucks Coffee “nhạt nhẽo”. Chính vì thị hiếu này mà nhiều quán cà phê “dởm” ở Việt Nam bỏ thêm bắp, hạt cau rang khét để pha chế các loại cà phê “mạnh, có vị chát, đắng”. Có nơi còn pha thêm thuốc ký ninh trị bệnh sốt rét để cho vị đắng “lạ”. Nơi khác bị tố pha trộn nước của bã thuốc phiện để làm khách hàng nghiện, “không đến quán không chịu nổi”.


Tuy nhiên, theo ông John Culver, chủ tịch bộ phận chuyên trách thị trường Trung Quốc và Châu Á-Thái Bình Dương, Starbucks Coffee sẽ mở một “chuỗi” cửa hàng sang trọng ở Việt Nam. Starbucks Coffee còn hứa hẹn “trình làng” các hương vị phù hợp khẩu vị của người Việt Nam, bên cạnh các thức uống truyền thống.


Giám đốc điều hành và nghiên cứu thị trường, Ralf Matthaes, thì tin rằng người Việt Nam sẽ bị Starbucks Coffee thu hút. Theo ông, người trẻ thích sự hiện đại và sành điệu, đặc biệt là người trẻ Việt Nam, mà Starbucks Coffee nổi tiếng với hai tính chất này.


Báo Tiền Phong dẫn lời của một cán bộ Việt Nam, ông Trần Doãn Kim, giảng viên môn Quản Trị Kinh Doanh trường Ðại Học Quốc Gia nói rằng Starbucks Coffee chắc chắn sẽ thu hút giới trẻ thích thời trang, phong cách Tây và thương hiệu tên tuổi.


Báo Tiền Phong còn cho rằng giá cả, một lợi thế cạnh tranh mà Starbucks Coffee phải tính tới. Hiện nay, một ly cappuccino Starbucks Coffee ở Ấn Ðộ giá 1.74 đô, còn ở Trung Quốc là 4 đôla. Trong khi đó, giá một ly cà phê quán vỉa hè ở Hà Nội khoảng 48 cent, và một ly cappuccino của hãng Trung Nguyên, Việt Nam là 65,000 đồng, tương đương 3 đôla.


Theo dư luận, khách hàng thích đến các quán cà phê nổi tiếng ở trung tâm Sài Gòn để nghe nhạc và nối mạng Internet miễn phí. Về Wifi, Starbucks Coffee nổi tiếng khắp thế giới. Người ta có thể vào mạng miễn phí, ngồi thoải mái từ chiều cho đến nửa đêm ở các quán Starbucks Coffee tại Hoa Kỳ, Kuala Lumpur, Malaysia. Người dân các thành phố lớn ở Việt Nam đang trông chờ Starbucks Coffee tiếp tục duy trì thế mạnh này, đặc biệt tại các thành phố lớn như Sài Gòn, Hà Nội, Nha Trang…


Tuy nhiên, cho đến nay, John Culver, chủ tịch bộ phận chuyên trách thị trường Trung Quốc và Châu Á-Thái Bình Dương vẫn chưa xác định rõ ràng rằng Starbucks Coffee hiện diện ở những thành phố nào ở Việt Nam. Chỉ biết rằng Starbucks Coffee hứa hẹn sẽ có mặt tại Việt Nam sớm nhất vào Tháng Hai tới. (P.L.)

Tin mới cập nhật