Mỹ gửi thêm huấn luyện viên quân sự tới Phi Châu

WASHINGTON (AP)Một lữ đoàn bộ binh Mỹ sẽ khởi sự gửi các toán nhỏ huấn luyện viên đến khoảng 35 quốc gia Phi Châu vào đầu năm tới, trong nỗ lực của Ngũ Giác Ðài nhằm gia tăng việc huấn luyện các quốc gia khác chống lại phiến quân và cũng giúp quân đội Mỹ có một lực lượng được chuẩn bị sẵn sàng để gửi đến Phi Châu nếu tình thế đòi hỏi.







Nhân viên y tế chuẩn bị đến làm việc tại Lagos, nơi có hàng loạt di dân chạy đến lánh nạn, đặc biệt để trốn nhóm Hồi Giáo quá khích Boko Haram. (Hình: Pius Utomi Ekpei/AFP/Getty Images)


Nhiệm vụ của các toán này sẽ được giới hạn vào việc huấn luyện và trang bị, họ không được phép tham dự vào các cuộc hành quân nếu không có lệnh rõ ràng từ bộ trưởng Quốc Phòng.


Việc quân đội Mỹ chú trọng vào khu vực Phi Châu xảy ra trong lúc phiến quân gia tăng hoạt động khắp vùng Bắc Phi, cũng như việc khối Liên Phi (AU) cùng các quốc gia khác thảo luận về dự định can thiệp quân sự ở Bắc Mali.


Mối đe dọa khủng bố từ các nhóm có liên hệ với al-Qaeda ở Phi Châu cũng đều đặn gia tăng, với sự trỗi dậy của nhóm Hồi Giáo quá khích Boko Haram ở Nigeria.


Ðơn vị đầu tiên được giao nhiệm vụ này là Lữ Ðoàn 2, thuộc Sư Ðoàn 1 Bộ Binh Mỹ, trong giai đoạn đầu sẽ được gửi tới các quốc gia như Libya, Sudan, Algeria và Niger – những nơi các nhóm có liên hệ với al-Qaeda đang hoạt động mạnh. Họ cũng sẽ trợ giúp các quốc gia như Kenya và Uganda, vốn đang phải đối phó với thành phần phiến quân al-Shabab tại Somalia.


Một lữ đoàn Mỹ có khoảng 3,500 quân, tuy nhiên các toán huấn luyện này có thể từ vài người cho đến một đại đội chừng 200 người. Trong một số ít trường hợp, có thể cả một tiểu đoàn gồm chừng 800 người có thể được huy động. (V.Giang)

‘Cái nước mình nó thế!’

 


Nguyễn Hưng Quốc (Blog VOA)


 


Từ trên dưới 10 năm nay, một trong những câu nói cửa miệng của mọi người, đặc biệt giới trí thức, ở Việt Nam, chắc chắn là câu “Cái nước mình nó thế!” Nghe nói câu ấy xuất phát từ Hoàng Ngọc Hiến. Nhưng tôi không chắc. Tôi chỉ chắc một điều: mỗi lần nghe đề cập đến tình trạng bi đát, nhiễu nhương, trớ trêu và bất công ở Việt Nam, ai nấy đều buông một câu, thoạt nghe, có vẻ đầy ưu thời mẫn thế: “Cái nước mình nó thế!”







Một người bán dạo ở Hà Nội trong mùa Giáng Sinh. Hình minh họa. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)


Ðường sá càng lúc càng xuống cấp, ở đâu và lúc nào cũng kẹt xe, tai nạn giao thông thuộc loại đứng đầu thế giới ư? – Cái nước mình nó thế! Giáo dục càng lúc càng suy đồi, học trò đạo văn; thầy cô giáo cũng đạo văn; thi cử thì đầy gian lận, bằng cấp giả tràn lan ở mọi cấp ư? – Ừ, thì cái nước mình nó thế! Kinh tế càng lúc càng suy thoái, hết đại công ty này phá sản đến tập đoàn quốc doanh kia phá sản, nợ nần quốc gia cứ chồng chất ư? – Ừ, thì cái nước mình nó thế! Chính trị sa lầy trong bế tắc, đối với dân thì độc tài và tàn bạo; với nước ngoài thì hèn yếu và xu nịnh ư? – Ừ, thì cái nước mình nó thế!


Vân vân.


Câu nói ấy không phải không đúng. Nó đúng ở hai khía cạnh. Thứ nhất, trên thực tế, quả thật tình hình Việt Nam càng ngày càng bế tắc. Bế tắc một cách đặc biệt, không giống với bất cứ một nước bình thường nào khác. Bế tắc triền miên. Gỡ cái này thì vướng cái khác. Sửa cái sai này thì cái sai khác lại xuất hiện, có khi còn trầm trọng hơn. Thứ hai, về phương diện tâm lý, nó cũng phản ánh được tình trạng tuyệt vọng của mọi người. Người ta hiểu rõ tất cả bi kịch nhưng không biết cách nào thoát khỏi được bi kịch.


Tuy nhiên, ngay cả khi đúng về hai phương diện vừa kể, câu nói ấy vẫn sai.


Hơn nữa, sai một cách nguy hiểm.


Thứ nhất, nó là biểu hiện của tư tưởng định mệnh chủ nghĩa. Nó làm như mọi thứ đã được an bài, gắn liền với bản chất của người Việt Nam. Của dân tộc Việt Nam.


Nhưng chắc chắn sự thật không phải như vậy. Tất cả những cái dốt, cái ngu, cái tham, cái ác và cái vô liêm sỉ trong chế độ cũng như trong xã hội Việt Nam hiện nay không phải vì “cái nước mình nó thế.” Trong lịch sử, nước mình không thế. Ngày xưa, cả hàng ngàn năm, người Việt Nam đã từng bất khuất trước một nước Trung Hoa to lớn và hùng mạnh, hơn nữa, trước một nước Mông Cổ từng giẫm nát gần hết Châu Á và một phần Châu Âu. Ngày xưa, ngay cả dưới thời phong kiến, cha ông chúng ta cũng không phải chịu đựng nạn tham nhũng tràn lan như bây giờ. Chỉ cách đây hơn 40 năm, ở miền Nam, ngay cả trong hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt, giáo dục cũng không suy đồi như bây giờ; sinh viên và giáo sư không ăn cắp văn chương của người khác một cách phổ biến như bây giờ; học trò không khinh thường thầy cô giáo như bây giờ. Ở miền Nam lúc trước cũng như cả thời Pháp thuộc, người bị bệnh, khi vào bệnh viện, không phải đút lót hết người này đến người khác, từ y công đến y tá và bác sĩ như bây giờ. Thời nào giới làm chính trị cũng nói dối, nhưng chưa bao giờ họ nói dối một cách trơ trẽn như bây giờ.


Xem cái dốt, cái ngu, cái tham, cái ác và cái vô liêm sỉ là bản chất của dân tộc Việt Nam rõ ràng là không đúng.


Mà thật ra, trên thế giới, không có dân tộc nào có bản chất như vậy cả. Những cái xấu như thế không có tính chất bẩm sinh. Chúng chỉ là những hiện tượng có tính chất lịch sử. Ngay cả một dân tộc vĩ đại như Nga hay Trung Quốc, bình thường vĩ đại, nhưng dưới chế độ độc tài, bỗng dưng thành dốt, ngu, tham, ác và vô liêm sỉ một cách lạ lùng. Nhiều quốc gia khác ở Tây phương, bình thường đầy nhân đạo, nhưng thời tư tưởng thực dân chủ nghĩa bành trướng, cũng trở thành tham và ác, dù không phải lúc nào họ cũng dốt, ngu và vô liêm sỉ.


Bởi vậy, câu “cái nước mình nó thế,” thật ra, là một câu nói vô nghĩa.


Nói “chế độ mình nó thế” thì được.


Còn “nước mình nó thế” thì sai.


Thứ hai, gắn liền với chủ nghĩa định mệnh, câu nói ấy cũng mang tính đầu hàng chủ nghĩa. Trước mọi nghịch cảnh, chỉ cần buông câu “cái nước mình nó thế,” người ta dễ có cảm tưởng an tâm và chấp nhận những nghịch cảnh ngang trái ấy như một cái gì hiển nhiên, đương nhiên, không thể tránh thoát. Nó tiêu diệt mọi ý chí phản kháng, hơn nữa, mọi nỗ lực thay đổi. Nó tạo ra vẻ ưu thời mẫn thế giả. Nó đóng kín mọi lối ra. Thực chất, nó dễ trở thành một sự đồng lõa với những cái dốt, cái ngu, cái tham, cái ác và cái vô liêm sỉ.


Nhà cầm quyền Việt Nam không cần một thái độ nào hơn cái thái độ ấy.


Bởi vậy, tôi nghĩ, người Việt Nam hiện nay nên tập nghĩ và tập nói: CÁI NƯỚC MÌNH NÓ KHÔNG THỂ NHƯ THẾ!


Không thể.

Giáng Sinh và người bán khoai lang ngào đường

Phương Ngạn/Người Việt


 


QUẢNG NAM (NV) Nói đến Giáng Sinh, người ta nghĩ ngay đến những món ăn ngon trong cái lạnh thấm thịt da, những lời chúc an lành và những đêm đèn hoa lấp lánh, ít ai nghĩ đến món khoai ngào đường có giá 3,000 đồng một bịch bán ở góc chợ thị trấn bên một góc giáo đường.







Cô Thanh đã nuôi 2 người con học đại học và đứa út học trung cấp nhờ vào l
àm thuê và nồi khoai ngào đường thơm tho này. (Hình: Phương Ngạn/Người Việt)


Vị khoai ngọt bùi quyện với âm thanh từng hồi chuông nhà thờ cứ như lời phủ dụ êm ái của cõi nhân sinh lắm buồn ít vui!


Cô Thanh, năm nay 50 tuổi, người Ðiện Bàn, Quảng Nam, đã có 30 năm ngồi bán khoai lang ngào đường ở góc thánh đường gần và chợ Vĩnh Ðiện. Cô kể: “Thời kinh tế tập thể, bao cấp, món sắn độn cơm, chín lát sắn một hạt cơm, ba lát khoai bảy lát sắn đã trở thành ký ức buồn của không ít người.”


“Cũng thời đó, người ta nghĩ đến cách chế biến món khoai lang chà, khoai lang ngào đường. Món khoai lang chà được làm từ khoai lang đỏ luộc chín, bẻ vụn, bỏ lên chiếc sàng tre, chà xát liên tục, những hạt khoai nhỏ sẽ rơi xuống tấm lá chuối lót bên dưới và đem đi phơi.”


“Khoai lang chà khi ăn phải đổ thêm nước sôi và đợi nó nở ra hoặc ăn một ít khoai khô và uống nước lã. Thời đó, có người vì đói quá mà ăn cho no tức thì chuyển sang khát nước, uống một bụng nước, vài tiếng sau phải đi bệnh viện vì nó nở ra gây sình bụng, tức thở… Ðúng là cái thời nghèo đói!”


“Còn món khoai lang ngào đường được nấu từ khoai lang khô, nấu chung với nếp, đậu xanh và đường bát.”


“Món này ăn nhẹ bụng, nhuận trường và mát gan, không có độc, giá cũng rẻ, tôi bán khoai ngào suốt mấy chục năm ở đây cũng giống như một người tu ngồi ngắm cuộc đời vậy, nhìn thấy ông quan này đi, ông quan khác đến, dường như người nghèo vẫn luôn có mặt quanh tôi!”


“Nhiều đứa nhỏ nó nghèo lắm, buổi sáng, cha mẹ chúng cho hai ngàn đi ăn sáng, chúng nó ra mua mình nửa bịch khoai, chừa năm trăm đồng bỏ ống. Nhìn thấy thương kinh khủng, nghiệt cái mình cũng không phải khá giả nên chịu thua, không giúp gì được tụi nó!”







Noel đến, chiều chiều, cô Thanh lại mang túi, mang mẹt ra chợ. (Hình: Phương Ngạn/Người Việt)


Tìm hiểu thêm, chúng tôi được biết cô Thanh là con một vị sĩ quan chế độ Việt Nam Cộng Hòa, sau tháng 4 năm 1975, cụ ông đi tù cải tạo và qua đời ngay trong trại tù, cụ bà cũng qua đời không lâu sau đó. Cô phải tham gia lực lượng thanh niên xung phong đi đắp đập Phú Ninh.


Câu chuyện cô Thanh kể khiến cho người ta phải suy nghĩ nhiều về thanh niên thời đó với cách gọi “thanh niên xung phong.”


Những năm sau 1975, những thành phần con em đảng viên đảng cộng sản đều được đưa vào cơ quan nhà nước làm việc, không cần trình độ, kiến thức cho mấy, còn con của gia đình có dính đến chế độ Việt Nam Cộng Hòa thì bị bắt đi khai hoang, đi đào mương, đào kênh, đắp đập ngăn sông với danh nghĩa “thanh niên xung phong.”


Nói là thanh niên xung phong nhưng nếu ai không “xung phong” thì bị bắt, bị đánh, bị chấm điểm công vụ xuống âm, cả năm không có gạo mà ăn, nên chẳng ai dám từ chối “xung phong” cả. Cô Thanh cũng không nằm ngoài diện này.


Cô kể: “Hồi đó ăn toàn sắn độn, khoai độn, cực kinh khủng lắm. Nhưng có cái hay là thanh niên thời của mình đều cùng chung hoàn cảnh, rồi làm chung đội nên giúp đỡ, đùm bọc nhau lắm. Nhất là những lúc có người bệnh, đúng là một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ, thay nhau chăm sóc, lấy riêng từng hột cơm ra khỏi sắn độn mà cho người bệnhà”


“Bây giờ kinh tế có khá hơn trước, nhưng thanh niên thực dụng quá, tụi nó chỉ nghĩ cho bản thân, nhiều đứa xài tiền như vứt qua cửa sổ, nhưng mua khoai lang đường mà thấy mấy đứa nhỏ nhà nghèo mua thiếu chịu, mua nhín nhịn, không bao giờ nó cho đâu, đáng buồn thật!”


“Mọi năm, cô ngồi bán một mình, đến mùa Giáng Sinh, cô nhờ thêm một đứa bé con nhà nghèo trong xóm đạo ra bán với cô để cho nó một ít khoai và mấy đồng mua sách vở. Gần đây, cô nghĩ khác, cứ bán đủ tiền vốn và lãi thêm ba chục ngàn đồng nữa là tốt, xong, còn bao nhiêu, mình cứ bán giá rẻ cho mấy đứa trẻ nhà nghèo.”


“Mùa Giáng Sinh nào cũng bán được nhiều, vì trời lạnh, mau đói, trẻ nhà nghèo dậy sớm lắm, năm sáu giờ sáng đã lủi thủi đi tìm cái bỏ vào bụng, vì cả đêm tiêu hóa mấy thứ cơm canh nhà nghèo, ít chất nên đói lia lịa à! Năm nay, mình sẽ tặng tụi nhỏ xóm nghèo một nồi khoai ngày Giáng Sinh!”


Câu nói pha chút buồn buồn cùng với món quà giản dị của cô Thanh làm chúng tôi thấy ấm áp vô cùng. Nhất là sau khi nghe câu chuyện đời của chú Thể, chồng cô. Mấy ngày nay cứ lê đôi chân cà nhắc đi phụ vợ bán khoai và dạy kèm cho mấy đứa trẻ nghèo, chú trông mệt mỏi nhưng nét mặt lại rất vui.


Chú Thể kể về mình: “Cưới vợ chưa đầy một năm, chú đi làm đồng, thấy hai anh em trong nhà gần ruộng mình làm đánh nhau, ông anh vác cuốc rượt ông em, thấy tình thế nguy cấp, mình can ngăn, ôm giữ ông anh lại, ai dè ông em vác cuốc chặt lén ông anh, đụng cái chân của mình, đứt và liệt luôn đến giờ!”


“Bây giờ thì lấy niềm vui phụ vợ bán khoai, bán xôi làm cái cớ mà qua ngày đoạn tháng, hai vợ chồng chú đều là con nhà đạo dòng, theo Chúa đã mấy đời nay, chú luôn tin rằng Chúa sẽ mỉm cười và ban phát sự bình an cho người tốt, giàu nghèo là chuyện cũng vậy thôi, chẳng có gì đáng nghĩ lắm đâu, sống tốt mới quan trọng!”


Có lẽ chính vì quan niệm sống nhẹ nhàng, hồn hậu mà cô Thanh, chú Thể dễ dàng vượt qua khó khăn, nghèo đói để nuôi hai người con học đại học, một đứa út học cấp ba. Cô chú luôn từ chối mọi khoản ban phát của nhà nước gọi là xóa đói, giảm nghèo bằng vài ký gạo, vài gói mì tôm bỏ trong chiếc hộp có bọc giấy kim tuyến để chụp hình, quay phim…


Mùa Noel đang đến tính theo từng giờ, từng phút, Chúa Hài Ðồng sẽ mỉm cười nhìn những trẻ em nhà nghèo nhận bịch khoai ngào đường ngọt ngào, thơm mùi đậu xanh, khoai lang, nếp và đường bát của cô Thanh tặng. Mùi thơm của thức quà nghèo cộng với chút se lạnh ngày Giáng Sinh, nghe ra ý vị biết nhường nào!


Chúng tôi cầm bịch khoai ngào đường cô Thanh tặng, vị ngọt thơm của thức quê làm ấm cả bầu trời lạnh miền Trung mùa Giáng Sinh.

Dạ tiệc Radio Bolsa kỷ niệm 15 năm

 


Ðức Tuấn/Người Việt


 


WESTMINSTER (NV) Nhắc đến các đài radio, tivi tại quận Cam, hầu như không ai không biết đến đài Radio Bolsa bởi lẽ sự có mặt của đài này tại vùng Little Saigon khá lâu.



Radio Bolsa poster. (Hình: Radio Bolsa cung cấp)


Nghệ sĩ, MC Việt Dzũng là một trong những khuôn mặt gắn bó với ngành truyền thông Việt Nam hải ngoại ít nhất cũng phải 20 năm, và nhắc đến tên gọi Radio Bolsa thì không thể nào không kể đến tên anh từ ngày đầu mở đài cho đến hôm nay…


“Sau một thời gian dài sinh hoạt, đi bên cạnh cộng đồng chúng tôi rất vui mừng thông báo đến tất cả bà con đồng hương buổi dạ tiệc tất niên ‘Ðón Mừng Năm Mới’ và cũng là dịp Radio Bolsa kỷ niệm 15 năm sẽ được thực hiện ngày Thứ Sáu, 28 Tháng Mười Hai, lúc 7 giờ tối – tại nhà hàng Seafood Palace, 6731 Westminster Blvd., Westminster, CA 92683.” MC Việt Dzũng nói về đêm văn nghệ lớn của đài Radio Bolsa sẽ được diễn ra sắp tới.


15 năm, một quãng đường không ngắn cũng chẳng dài – nhưng con số 15 năm hoạt động của một cơ quan truyền thông như Radio Bolsa là một điểm mốc, đánh dấu sự lớn mạnh cũng như độc lập và chủ trương đứng đắn của những người trong ban giám đốc.


Chương trình phát thanh Radio Bolsa phát sóng từ 9 giờ sáng đến 12 trưa trên làn sóng FM 106.3 và trên làn sóng AM 1430 tại San Jose trong cùng thời gian, sau đó đài bắt đầu tiếp nối phát thanh từ 6 giờ chiều đến 10 giờ tối trên làn sóng AM 1480, từ Thứ Hai đến Thứ Sáu. Với nhiều tiết mục phong phú và đa dạng. Tin tức luôn luôn được theo sát tình hình biến chuyển của thế giới và Việt Nam, đặc biệt là phần tin địa phương.


Sau 15 năm hoạt động, Radio Bolsa đã khẳng định được vị trí của mình, một cơ quan truyền thông trung thực, luôn luôn giữ vững lập trường chống Cộng trên mọi lãnh vực từ xã hội, chính trị đến văn hóa, nghệ thuật…


Ngược dòng thời gian, thuở bắt đầu của Radio Bolsa là đầu tháng 2 năm 1997, “Lúc đó hai tiếng nói chính Việt Dzũng và Minh Phượng sau khi rời khỏi đài Little Saigon Radio, nhờ ông Lương Văn Tỷ là giám đốc của đài Văn Nghệ Truyền Thông Hải Ngoại ngỏ ý tạo cơ hội cho tụi này làm đài nên sau khi hội ý, tất cả mọi người ‘đồng tâm hiệp lực’ bắt tay vào thành lập Radio Bolsa trên làn sóng FM 106.3.” Anh Chí Thiện, giám đốc điều hành của đài nói thêm: “Sau 15 năm, nhìn lại điều đầu tiên chúng tôi tự hào là chưa bao giờ nhận bất cứ quảng cáo nào từ trong nước, cũng cần phải nói, những gì Radio Bolsa gặt hái được ở ngày hôm nay là hoàn toàn nhờ sự ủng hộ cũng như nuôi dưỡng từ đồng hương Việt Nam trong cộng đồng,” bởi vậy anh cho biết đối với những công tác chung của cộng đồng, Radio Bolsa sẵn sàng giúp một tay “miễn phí” để đền đáp lại tình nghĩa cũng như sự nuôi dưỡng của đồng hương với đài radio này.


Vẫn theo anh Chí Thiện, truyền thông Việt Nam hiện nay đang co cụm lại vì nhiều lý do, trước nhất là sự có mặt của nhiều đài TV “free air” đã tạo ra sự cạnh tranh khá lớn về giá cả quảng cáo trong khi số lượng khách hàng đặt quảng cáo chỉ có giới hạn không thay đổi nhiều lắm.


Một trong những điểm được nhấn mà vị giám đốc này nhắc lại nhiều lần đó là kinh tế chung toàn nước Mỹ thấp, trong khi giá cả chi tiêu vẫn tiếp tục tăng vọt khiến cho lợi nhuận thấp hơn so với trước đây, nên hầu như cơ sở thương mại nào cũng phải thu vén lại những chi tiêu cần thiết. Nói chung đó là con toán tỉ lệ nghịch, vì thế anh Chí Thiện nói: “Tình hình hiện nay của Radio Bolsa là giữ được những gì đang có chứ không phát triển thêm nữa.”


‘Tất cả là định mệnh,” anh Việt Dzũng cười và nói như thế.


Thật vậy định mệnh lớn dần theo thời gian và đôi bàn tay cùng sức lực trí tuệ của con người.


Ðứa bé Radio Bolsa mỗi ngày một lớn, nảy nở và có trách nhiệm với cộng đồng cũng như với chính nó, dần theo sự lớn mạnh ấy Radio Bolsa đã gây được uy tín và tuy chỉ là đài có làn sóng trung bình nhưng Radio Bolsa vẫn luôn được cộng đồng nể trọng, được đánh giá là một trong vài đài có tiếng nói mạnh, “mát tay” với sự thành công của nhiều chiến dịch, phong trào mà họ đã từng tiếp tay với cộng đồng người Việt quốc gia tại đây.


Quay trở lại với chương trình ca nhạc mừng kỷ niệm 15 năm lớn mạnh của đài Radio Bolsa, từ những hình ảnh và tên tuổi ca nghệ sĩ tham gia chương trình nằm trên flyer, người ta thấy có sự góp mặt của: Ðoàn Phi, Ðỗ Tiên Dung, Ánh Minh, Duy Trường. Ngoài ra còn một số ca sĩ tên tuổi khác như: Nguyễn Tiến Dũng, Hồng Diễm, Cát Lynh, Nhật Lâm, Dương Lâm Thanh, Nhật Linh, Anh Phương, Vương Hoàng… Cùng ban nhạc Y2K. Dàn MC hùng hậu với các xướng ngôn viên của Radio Bolsa.


“Ðây sẽ là một chương trình văn nghệ đặc sắc với nhiều tiết mục sống động, mới lạ, các ca nghệ sĩ bảo đảm sẽ mang đến cho khán giả, giới thưởng ngoạn những phần trình diễn chưa bao giờ xuất hiện trên bất cứ sân khấu nào.” MC Việt Dzũng giới thiệu sơ qua về phần nội dung của chương trình.


Riêng chủ nhân nhà hàng Seafood Palace hứa hẹn sẽ đặc biệt chiêu đãi thực khách của buổi dạ tiệc đón mừng năm mới và kỷ niệm Radio Bolsa 15 năm, một mâm cỗ thật thịnh soạn, ngon miệng với đầy đủ các món cao lương mỹ vị. Có rượu mạnh, wine và champaign.


Ngoài ra còn có chương trình xổ số với nhiều tặng vật giá trị cao do các cơ thương mại bảo trợ.


Radio Bolsa với con số gần 30 nhân lực, gồm từ ban giám đốc đài, các nhân viên và cộng tác viên như: Chí Thiện, Việt Dzũng, Minh Phượng, Nguyễn Văn Phú, Bình Luận Gia Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh (trước đây), Khúc Minh, Nam Lộc, Angie Hồ Quang , Bích Huyền, Huỳnh Lương Thiện, Nguyễn Văn Khanh, Mai Phương, Hoàng Trúc, Mai Trang, Uyên Thy, Thúy Diệp, Thúy Uyên, Hoàng Trọng, Thủy Tiên, Bích Châu, Uyển Diễm, Ðỗ Tân Khoa, Jenny… phụ trách các công việc khác nhau của đài, cùng các nhân viên tiếp thị với nhiều năm trong nghề. Tất cả đã nói lên sự lớn mạnh, cũng như tính chuyên nghiệp của một đài truyền thanh địa phương uy tín nhất nhì trong vùng.


MC Việt Dzũng cho biết anh mong đợi sự cổ vũ, tham dự của đồng hương trong cộng đồng ở buổi tiệc ấy – bởi lẽ đến để mừng sự lớn mạnh cần thiết của một cơ quan truyền thông đại diện cho cộng đồng người Việt quốc gia tại quận Cam và đến để chia sẻ với nhau những vui buồn ngày cuối năm cũng như gửi đến nhau lời chúc tốt lành khi ngày mới, năm mới sắp đến…


Giá vé: VIP $100, hạng nhất $75 và $55 đồng hạng (dạ tiệc & dạ vũ), khách hàng mua nguyên bàn sẽ có giá discount.


Vé bán tại: Tú Quỳnh: (714) 531-4284; Bích Thu Vân: (714) 897-4519; Bolsa Ticket: (714) 418-2499; Radio Bolsa: (714) 418-2120.


Liên lạc bảo trợ: Radio Bolsa (714) 418-2120.

Kim Phước Jewelry

 


 


Bài: Dan Huynh/Người Việt


Một trong những yếu tố quan trọng nhất để tôn vinh sắc đẹp, vẻ quý phái, sang trọng của người phụ nữ chính là những món nữ trang dùng trang điểm cho mình. Không ít những thương hiệu danh tiếng trên thế giới trong lĩnh vực thời trang làm đẹp sang trọng nhưng để so sánh về tính thẩm mỹ, sự khéo léo tinh tế và phẩm chất cao thì một sản phẩm nữ trang sang trọng duy nhất của người Việt Nam chính là Kim Phước Jewelry.



Những sản phẩm nữ trang cao cấp của Kim Phước Jewelry danh tiếng.


Trên 30 năm thành lập, tên tuổi và danh tiếng của Kim Phước Jewelry chinh phục không những ở trên nước Mỹ mà còn lan rộng khắp nơi trên thế giới. Ông Kim Phước, một người thợ nữ trang ở Việt Nam qua Mỹ định cư cách đây trên 30 năm, thành lập Kim Phước Jewelry tại khu Chinatown ở Los Angeles. Tự tin vào kinh nghiệm và khả năng khéo léo và sự tận tụy của mình, ông tự thiết kế và sản xuất mẫu mã độc đáo của riêng mình. Sau chỉ một thời gian ngắn, sự phát triển danh tiếng thật nhanh của Kim Phước Jewelry chinh phục không riêng người Châu Á, mà kể cả các chủng tộc khác trên khắp nước Mỹ.


Kim Phước Jewelry sản xuất trên hàng ngàn sản phẩm, mẫu mã nữ trang sang trọng. Với 3 địa điểm chính tại vùng Los Angeles và Monterey Park.


Ngoài kinh doanh và bán các loại nữ trang sang trọng, Kim Phước Jewelry còn cung cấp số lượng sỉ (wholesale) cho các tiệm vàng trên khắp các tiểu bang và đưa sản phẩm của mình đi khắp nơi trên thế giới.


Kim Phước Jewelry có cơ xưởng sản xuất nữ trang với hơn 300 nhân viên kinh nghiệm trong ngành nghề sản xuất nữ trang, và sản phẩm được giao đi khắp nơi từ thị trường chính là Hoa Kỳ.



Kim Phước Jewelry luôn là sự lựa chọn sáng suốt cho vẻ đẹp sang trọng quý phái.



Mỗi năm Kim Phước Jewelry đều có những chương trình Anniversary, hội nghị khách hàng mua sỉ (wholesale). Tiền lời trong các chương trình này đều được tặng cho các tổ chức từ thiện, giúp đỡ người nghèo, người già và trẻ mồ côi ở Việt Nam.


Anh Richard, manager của Kim Phước Jewelry tâm sự: “Chúng tôi cảm ơn sự ủng hộ của quý khách từ năm 1982 đến nay. Chúng tôi luôn luôn phục vụ hết lòng cho quý khách về mẫu mã và phẩm chất. Rất nhiều khách hàng đến thăm chúng tôi đều có lời ngợi khen. Sự hài lòng mỹ mãn của quý vị là món quà thật vô giá cho chúng tôi. Một lần nữa, chúng tôi cảm ơn sự ủng hộ quý báu của quý khách xa gần đối với Kim Phước Jewelry.”


Hiện tại trong những ngày lễ cuối năm (Holiday Sale) Kim Phước Jewelry có chương trình đặc biệt cho khách hàng như: Extra 15% Off cho nữ trang kim cương (Diamond Jewelry).



Kim Phước Jewelry mãi mãi tôn vinh vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam.


Ðặc biệt quý khách đến mua hàng trong những mùa lễ này sẽ được tặng lịch lốc Tam Tông Miếu năm 2013.


Trân trọng kính mời quý khách đến thăm và xem những sản phẩm nữ trang sang trọng ở các cửa hàng chúng tôi, để cảm nhận được sự lựa chọn tinh tế khi quý vị chọn được một món nữ trang, vừa sang trọng, vừa quý giá để tặng cho bạn bè và người thân trong dịp đón mừng năm mới!



Sản phẩm nữ trang sang trọng Kim Phước xứng đáng và là niềm hãnh diện của người Việt Nam.


 


Mọi chi tiết xin liên lạc:


 


Kim Phước Jewelry


 


801 North Broadway, Los Angeles


Tel: (213) 680-8822


 


800A North Broadway, Los Angeles


Tel: (213) 680-8888


 


500 North Altantic Blvd., Suite#141, Montery Park


Tel: (626) 537-1578


 


Website: http://www.KimPhuocJewelry.com

Muôn dặm tìm chồng

 

Huy Phương / Người Việt


 


 


Tro cốt của sĩ quan phi công VNCH tử nạn tại Hạ Lào năm 1971 được cất giữ cùng với 4 phóng viên báo chí Mỹ tại Newseum, Hoa Thịnh Ðốn.


Vào ngày thứ ba của cuộc hành quân 719 Lam Sơn (10 tháng 2, 1971,) có một trực thăng UH-1 Huey của VNCH bị bắn rơi tại Hạ Lào. Tất cả những người có mặt trên chuyến bay này đều bị tử nạn, đó là Ðại Tá Cao Khắc Nhật trưởng phòng 3, Trung Tá Phạm Vi, trưởng phòng 4 thuộc Bộ Tư Lệnh QÐ 1, hai phi công là Trung Úy Nguyễn Diếu, Trung Úy Tạ Hòa và hai nhân viên phi hành đoàn là TS Cơ Khí Nguyễn Hoàng Anh, HS Xạ Thủ Trần Công Minh thuộc Không Ðoàn 41-Phi Ðoàn 213- SÐ1KQ đóng tại Ðà Nẵng. Trên chuyến bay này còn có 4 phóng viên Mỹ là Larry Burrows của tờ Life, Henri Huet của AP, Kent Potter của UPI và phóng viên người Nhật Keisaburo Shirnamoto của tờ Newsweek.









Tấm ảnh ngày cưới – 1968. (Hình: Bà Trương Thị Sen cung cấp)


Vào năm 2008 trưởng phòng thông tấn AP tại Saigon ngày xưa là Richard Pyle đã đến Hạ Lào tìm xác các phóng viên tử nạn. Sau nhiều ngày cùng dân địa phương đào xới nơi máy bay bị bắn rơi, Richard Pyle đã tìm thấy hài cốt của tất cả những người tử nạn, nhưng qua thời gian 37 năm, tất cả di hài đã tan nát trộn lẫn với nhau, và sau đó tro cốt này đã được đem về để tại Newseum ở thủ đô Hoa Thịnh Ðốn. Vào tháng 4 năm 2008, Newseum đã cử hành một lễ tưởng niệm cho bốn phóng viên Mỹ tử nạn trong chuyến bay này, nhưng về phía Việt Nam không có một bảng tên nào được ghi dấu.


Tin tức này đã đến với bà quả phụ cố trung úy phi công Nguyễn Diếu là bà Trương Thị Sen, hiện ở An Cựu, Huế từ năm 2008, nhưng vì không có phương tiện để sang Mỹ viếng nơi để tro cốt của chồng, nên mãi đến 4 năm sau (2012) người quả phụ này mới có cơ hội đến Mỹ và đi thăm nơi để di cốt của chồng.










Bà Trương Thị Sen tại Newseum, WD. (Hình: IRCC)


Nhờ sự giúp đỡ của Bảo Tàng Viện Việt Nam ở San José, các thân hữu trong các binh chủng, bạn bè và họ hàng thân quyến, tháng 5 năm 2012, bà quả phụ Nguyễn Diếu, đã từ Huế, vào Saigon, đến San Jose, Illinois, North Carolina và cuối cùng đã được đến thăm nơi lưu giữ tro cốt của chồng tại Hoa Thịnh Ðốn. Chúng tôi đã được gặp gỡ bà Trương thị Sen trong một cuộc họp mặt của nhóm cựu nữ sinh Bồ Ðề, Huế tại Little Saigon, tại đây bà Sen đã không dấu được giọt lệ trong khóe mắt, khi đã hơn 50 năm qua, bạn bè, có người nhớ kẻ không, nhưng ai cũng đối với bà trong tình thân ái, nhất là khi được biết bà Sen là một quả phụ của VNCH, đã ở vậy nuôi con trong suốt 41 năm dài, qua bao nhiêu biến cố của đất nước.


Bà Trương Thị Sen năm nay đã trên 70 tuổi. Bà kết hôn với Thiếu Úy Nguyễn Diếu năm 1968 tại Huế và hai ông bà sinh hạ được một trai một gái, hiện nay cô con gái là công nhân hãng dệt và con trai làm nghề thợ may, sống tại An Cựu, thành phố Huế. Sau khi có tin trực thăng của chồng rơi tại Hạ Lào, và trên máy bay không còn ai sống sót, bà được Phi Ðoàn 213 bố trí cho một công việc dọn dẹp trong phi trường để có sinh kế nuôi con. Sau khi Ðà Nẵng mất vào tháng 3 năm 1975, bà Sen bắt đầu bươn chải, buôn bán ngoài chợ trời, cho mãi đến năm 1978, bà mới trở về Huế nương nhờ cha mẹ của mình.









Gặp gỡ bạn cũ trên 50 năm tại Little Saigon. (Hình: HP)


Cộng đồng người Việt hải ngoại mở rộng vòng tay đón người quả phụ VNCH.


Một người bạn của cố Trung Úy Nguyễn Diêu, hiện cư ngụ tại San José, đã đem câu chuyện này kể với cựu Ðại Tá Vũ Văn Lộc, bút hiệu Giao Chỉ, giám đốc IRCC để nhờ ông tìm cách vận động bạn bè và chiến hữu của cố Trung Úy Nguyễn Diếu giúp cho người vợ chờ chồng 40 năm có chút phương tiện để sang Mỹ thăm nơi để chút tro cốt của chồng, cũng như liên lạc với ban giám đốc Newseum xem có thể giúp đỡ gì được cho bà Sen hay không? Cuối cùng vào tháng 4 năm 2012, nhờ sự bảo trợ của anh Nguyễn Hữu Thanh Lam và các cháu ở Illinois, chị Trương Thị Sen bắt đầu lên đường đi Mỹ. Ðể được yên tâm hơn trên đoạn đường dài, khi 41 năm nay chị Sen chỉ quanh quẩn ở xóm làng và không biết tiếng Anh, chị đã đến San José trước và từ đây đi Illinois, trong khi chờ đợi ngày đi thăm Bảo Tàng Viện Truyền Thông. Tại San José, chị Sen đã được anh Trần Thạnh mở trương mục để quyên góp và ông Vũ Văn Lộc tổ chức cuộc họp cho những người quan tâm gặp gỡ chị.









Hình ảnh của 4 ký giả Mỹ và di vật tìm được Hạ Lào năm 2008. (Hình: AP)


Mãi đến tháng 11 năm nay (2012) chị Trương Thị Sen được anh Trương Ðình Thiện, nguyên là một sĩ quan nhẩy toán, đại diện cộng đồng Việt Nam tại Raleigh, North Carolina mời chị sang thăm và đưa chị viếng Newseum. Tại Hoa Thịnh Ðốn chị Sen đã được cộng đồng người Việt và các bạn trong “Bản Tin Hoa Thịnh Ðốn – SBTN” cũng như nhân viên viện bảo tàng đón tiếp. Tại nơi để tro cốt của 4 ký giả và phi hành đoàn của chuyến bay định mệnh, chị Sen đã xúc động quỳ xuống bên phiến đá cẩm thạch nói với người đã khuất: “Sau 41 năm, không hề có một tin tức về anh. Giờ đây em đã yên tâm. Xin anh hãy yên nghỉ.”


Trên đường đi thăm tro cốt của chồng, từ Nam hay Bắc Cali, Illinois, North Carolina, Washington D.C., ở đâu những chiến hữu của chồng và đồng bào cũng tiếp đón, giúp đỡ chị Trương Thị Sen tận tình. Sau Giáng Sinh năm nay, bà quả phụ cố Trung Úy Phạm Diếu sẽ trở về Huế, Việt Nam, nơi bà hiện đang sống với hai con và bốn cháu nội ngoại.


Qua chúng tôi, bà Trương Thị Sen xin chân thành gửi lời cám ơn đến các ân nhân, bằng hữu đã tạo phương tiện cho bà muôn dặm xa xôi được đi thăm nơi để tro cốt của chồng, người phi công đã gãy cánh trại Hạ Lào 41 năm xưa.


Chúng tôi xin ghi lại địa chỉ và điện thoại của bà Trương Thị Sen sau đây, để bạn đọc có quan tâm, tiện liên lạc:


Trương Thị Sen


33/209 Phan Ðình Phùng, Huế, Việt Nam


Ðiện thoại: 84-935-376-228


 

Popcorn Home Shopping: SALE đặc biệt Mùa Giáng Sinh

 


Popcorn Home Shopping
Nơi quy tụ quà tặng & sản phẩm gia dụn độc đáo!


 


Bài và hình: Alvin Nguyễn


 


Trong mùa lễ tết cuối năm ai trong chúng ta chẳng phải mua sắm quà cho cha mẹ, con cháu, bạn bè? Popcorn Home Shopping là một nơi có thể giúp chúng ta mua đủ thứ quà thích hợp cho mọi lứa tuổi, mọi trường hợp, tại cùng một chỗ. Chỉ cần không phải lái xe đi nhiều chỗ khác nhau thôi, cũng giúp chúng ta tránh được cảnh tất bật tìm chỗ đậu xe, lại tiết kiệm được tiền xăng và thời giờ. Nhưng quan trọng nhất vẫn là cầm tận tay, thấy tận mắt,và mua được món quà mình thích, vật dụng tốt dùng trong nhà, hay sản phẩm tốt cho sức khỏe với giá phải chăng, mà không phải chờ đợi như mua đồ online, phải không bạn?









Quang cảnh các sản phẩm thực dụng trưng bày tại Popcorn Home Shopping.


Popcorn Home Shopping tọa lạc tại 8939 Garden Grove Blvd., Garden Grove, CA 92844, góc với đường Magnolia, trong khu chợ H-Mart.


Mời bạn bước vào cửa hàng Popcorn Home Shopping. Chủ nhân là ông Peter, người Hàn Quốc, vui vẻ và có nhân viên người Việt để tiếp đồng hương Việt Nam.


“Tôi đến Hoa Kỳ được 10 năm. Trước đây tiệm của tôi là Home Shopping Plus nằm trên đường Brookhurst và Garden Grove. Vì cần một địa điểm rộng rãi và khang trang cho nhiều sản phẩm mới nhập cảng từ Ðại Hàn, chúng tôi khai trương Popcorn Home Shopping tại địa điểm mới này để giúp khách hàng có nhiều chọn lựa mà không phải đi xa,” ông Peter nói.











Các loại mền và gối danh tiếng Hàn Quốc.


Ông cho biết 50% khách hàng của ông là người Việt vì Popcorn Home Shopping nằm sát với cộng đồng người Việt ở Little Saigon.


“Khách hàng người Việt rất thích vẻ mỹ thuật và phẩm chất của các sản phẩm chế tạo tại Ðại Hàn, ngoài các phim ảnh tình cảm hợp với tâm tình của người Việt. Khách rất hài lòng khi đến với chúng tôi,” người chủ nhân tươi cười nói.


Trong mùa lễ năm nay, Popcorn Home Shopping có chương trình Sale đặc biệt từ nay đến hết Tháng Mười Hai, nhất là các sản phẩm đang được bán rất nhanh để làm quà Noel, như mền Hàn Quốc, gối ngủ hình các con thú dễ thương, các loại nước uống và cao Hồng Sâm chính gốc Hàn Quốc, và các sản phẩm vòng đeo tay kỳ diệu Dr-ion giúp tăng cường sức khỏe.









Các sản phẩm của Dr-ion nổi tiếng phục vụ sức khỏe con người.


Mền, gối hiệu Evezary 2012


Tiết trời mùa Giáng Sinh lạnh lẽo, bạn thử tưởng tượng người thân của bạn được ấm áp trong những chiếc mền mềm mại và nổi tiếng ấm, nhưng rất nhẹ khiến người đắp thấy thoải mái làm sao! Mền gối hiệu Evezary đủ kiểu như Natural, Modern, Inno, Elegance, Evewool, Antique, Evefeel và Teen với các design mỹ thuật có thể xem trên trang mạng www.evezary.co.kr


Cho các cháu nhỏ, các chiếc gối nhồi bông hình các con thú dễ thương, màu sắc hài hòa bắt mắt chắc sẽ là những món quà vừa thực dụng, vừa được các cháu bé ưa chuộng.


Cho người lớn, sản phẩm Hồng Sâm dưới hai hình thức là nước uống và cao (extract) là món quà tốt và thích hợp.









Ông Peter, chủ nhân niềm nở đón tiếp khách hàng.


Nước Uống và Cao Hồng Sâm Hàn Quốc


“Nước uống Hồng Sâm Hàn Quốc được làm từ 100% hồng sâm nguyên chất và nước tinh khiết. Tác dụng tăng cường sinh lực cho cơ thể” được sản xuất dưới hình thức gói. 60 gói cỡ 80ml có thể dùng trong 2 tháng, hay 30 gói có thể dùng trong một tháng.


“Cao Hồng Sâm được cô đặc từ 100% hồng sâm nguyên chất (extract). Chỉ một muỗng cao với nước ấm uống hàng ngày sẽ làm tăng khả năng miễn dịch cho cơ thể, cải thiện tình trạng kiệt sức, giúp cơ thể thêm sinh lực sống dồi dào” được sản xuất dưới hình thức lọ 240 grams.


Ðặc biệt hai loại sản phẩm hồng sâm này, ông Peter, chủ nhân, cho biết: “Popcorn Home Shopping sẽ tặng một hộp trà mật ong Korean Red Ginseng Honey Tea nếu khách mua một hộp Nước Uống Hồng Sâm hay một hộp Cao Hồng Sâm Hàn Quốc, và đem theo coupon cắt từ quảng cáo trên báo Người Việt, từ nay đến hết ngày 30 Tháng Mười Hai.”









Popcorn Home Shopping có đầy đủ các sản phẩm hồng sâm Hàn Quốc.


Vòng đeo tay kỳ diệu Dr-ion


Một món quà khác mà bạn có thể chọn nếu người thân của bạn “muốn khắc phục những chứng bệnh như ngủ ngáy to, đau nhức cổ, vai và cổ tay, hay hen suyễn, mất ngủ và tăng cường thể lực cho người chơi thể thao” là lợi ích của các vòng đeo tay kỳ diệu do Dr-ion chế tạo với kỹ thuật Negative Ion Technology.


Với các hiệu ứng tự nhiên của các phân tử âm (negative ion), Dr-ion cung cấp cho bạn thể lực và sự linh hoạt, tăng cường sức mạnh, giảm căng thẳng, giảm mệt mỏi, ngăn ngừa chứng ngáy và cho bạn có một giấc ngủ ngon.


Ngoài các sản phẩm trên, Popcorn Home Shopping còn có những sản phẩm gia dụng cho nhà bếp, phòng tắm, phòng ngủ, patio, lò BBQ, nồi, lò, ấm nước điện, mỹ phẩm, bộ ly tách uống trà, ghế mát xa, máy mát xa cổ, nữ trang.









Mặt tiền của Popcorn Home Shopping ở Garden Grove.


Popcorn Home Shopping còn có thể giúp những ai muốn trở thành đại lý của Dr-ion & Ginseng. Xin gọi Peter (213) 220-6030 và nói tiếng Việt, xin gọi Mi (408) 219-8739.


Chủ nhân và nhân viên mong được tiếp đón và giúp quý vị chọn được những món quà tốt nhất. Kính chúc quý khách một Lễ Giáng Sinh vui vẻ và một năm mới an lành.


Mọi chi tiết xin liên lạc (714) 636-6870.


 


POPCORN HOME SHOPPING
8939 Garden Grove Blvd.,
Garden Grove, CA 92844
Ðiện thoại: (714) 636-6870


 


 



 

Khu Rừng Lau (Kỳ 21)

 


Kỳ 21


 


III


 


Cũng vào dạo này ba hoa khôi làng Lại Vũ đều gặp số phận hẩm hiu rất đáng thương cảm.


Nàng thứ nhất thân hình nhỏ nhắn, mặt trái xoan, nước da trắng mịn đôi mắt đen thăm thẳm dưới đôi lông mày lá liễu cong dìa, nàng thường chít khăn nhiễu, tóc rẽ giữa, một vài sợi uốn quăn tự nhiên lòa xóa xuống trán và khoảng hai thái dương, dáng nàng đi đứng thực đoan trang, người làng vẫn gọi đùa là Thúy Kiều.


Nàng thứ hai khuôn mặt tròn, nước da trắng hồng, đôi mắt bồ câu đen thơ ngây, giọng nói tiếng cười ròn tan, dáng đi lanh chao đon đả, làng vẫn gọi là Thúy Vân. Là con nhà giàu, quanh năm “nàng Vân” chít khăn nhung, vành khăn tròn lẳn rất khéo rất gọn trên đầu.


Nàng thứ ba có vẻ đẹp đầm lai, khuôn mặt bầu bĩnh, đôi mắt phảng phất màu xanh da trời lóng lánh, mũi cao; nàng vấn tóc trần và đầu ngơi rẽ lệch, tên nàng là Hạn. Một thanh niên có chút Tây học gọi đùa nàng là Étéenne (Été + N = Hạ + N = Hạn).


Năm 1944, hội giời – dân làng Lại Vũ vẫn gọi năm nào có dịch bệnh tả hoành hành là năm hội giời – nàng Étéenne không may mắc bệnh rồi “nửa chừng xuân, thoắt gãy cành thiên hương.”


Nàng Thúy Vân vẫn cất hàng ngũ cốc tại huyện Từ Sơn rồi xuôi Hà Nội bán buôn cho mấy hiệu khách lớn ở phố hàng Bồ. Một thanh niên Trung Hoa con một chủ hiệu lớn nhất mê nàng. Rồi đôi bên mê nhau. Chàng thanh niên con trời đó lần mò về tận làng Lại Vũ hỏi nàng làm vợ nhưng cha mẹ nàng cương quyết khước từ cho rằng để con gái lấy khách là một cái nhục lớn cho gia phong. Câu chuyện vỡ lở, nàng Thúy Vân mất giá! Một số chàng trai môn đăng hộ đối trong làng giữ nguyên thành kiến không ai chịu hỏi nàng. Sang năm 1944, nàng đành nhận lời lấy một thanh niên cùng xóm rất tầm thường, kém nàng hai tuổi. Chàng trai này đã thi ba lần rồi mà vẫn chưa đỗ bảng Cơ thủy, y cao lớn ngô nghê như gà tồ, ăn nói bộc tệch, mặt đầy trứng cá, đôi bàn tay chuối mắn đã thô lại sần sùi vì ghẻ mướp, y chỉ được một ưu điểm là: con một, nhà giàu, mẹ góa. Các chàng trai môn đăng hộ đối tuy giữ thành kiến không chịu hỏi nàng Vân làm vợ, nhưng xem ra chẳng chàng nào là không giữ nguyên tình cảm ngấm ngầm say mê nàng. Vì ngấm ngầm nên mãnh liệt, càng mãnh liệt khi biết kẻ kia sẽ làm chủ nàng và càng mãnh liệt hơn nữa theo tỉ lệ thuận với thời gian vun vút xê dịch tới gần ngày vu quy của nàng. Ba hôm trước ngày cưới một thanh niên hào hoa nhất làng gặp nàng trước cửa miếu vắng vẻ, đúng lúc tiếng chuông chùa gần đấy ngân tiếng thu không. Anh chàng đã buông theo lòng dục mà sấn sổ ôm ghì lấy nàng như một tên vũ phu, nàng bị ẩn lùi cho ngã dưa lưng vào đống rơm bên tường miếu gần với cầu hoa móng rồng tỏa hương thơm sực nức vào lúc nhòa tối. Nàng hết sức kháng cự! Anh chàng nói nửa như van lơn, nửa như giận dữ, trong tiếng thở hổn hển: “Em sống với anh một chút chẳng hơn sống với thằng đó suốt đời ư?” Nàng vẫn vùng vẫy sau cùng thoát khỏi đôi cánh tay sắt lung lạc giữa ái tình kia, vành khăn sổ tung, quần áo cô xô lệch… Hôm sau gặp nàng giữa đường làng đông đúc, chàng thanh niên bất đắc chí đã bước theo sát nàng mấy bước và ngâm khẽ đủ để nàng nghe:


Biết thân đến bước lạc loài


Nhị đào thả bẻ cho người tình chung.


Ngày cưới nàng, những lời xì xào bàn tán, than tiếc ngẩn ngơ: “Hạt ngọc ngâu vầy”… “Củ đậu cành mai…”


Vẫn anh chàng thanh niên bất đắc chí ngâm thêm một câu nữa:


Tiếc thay hạt gạo trắng ngần,


Thôi nồi đồng điếu lại vần than rơm.


Một bầu không khí hận tình u uất qui tụ lấy trí tưởng tượng của thanh niên làng, đan lát thành một màng lưới vây quanh nàng Vân trong đêm tân hôn.


***


Thúy Kiều vừa đến tuổi xuân của đời – hai mươi tuổi – thì xuất giá. Chồng nàng là một thanh niên trắng trẻo dáng cao và hơi gầy, có đôi chút học thức; chàng học đến năm thứ ba Thành Chung thì phá ngang theo ngành hiệu thính viên. Mãn khóa chàng được làm trưởng đài vô tuyến tại Mường Sinh, một thị trấn miền thượng Lào phía Tay Nam Phong-Saly, khoảng giáp với Vân Nam và Miến Ðiện. Chàng một mình ra đi nhậm chứ vừa lúc nửa năm hương lửa đương nồng, hẹn vợ mãn nhiệm kỳ – một năm rưỡi – sẽ trở về cùng nàng. Con đường cách trở xa thật là xa, thư từ kể từ ngày gửi phải một tháng sau mới nhận được. Mấy bức thư đầu chàng viết cho anh em vui lắm, chàng kể những chuyện ân ái rất ngộ nghĩnh mà chàng hưởng thụ với các “noọng” (em) miền thượng Lào giữa ban ngày, ngay trong vườn cây thuốc phiện. Bỗng nhiên thư tín của chàng ngưng bặt với nàng cũng như với các bè bạn trong làng. Nàng tiếp tục công việc hàng ngày ươm tơ tằm, quay guồng, xe sợi, dệt lụa tại căn nhà ngang cửa mở về hướng Ðông. Buổi sáng ánh mặt trời ùa vào, bóng nàng in thành vệt dài trên vách phía trong cùng; ban đêm khi nàng khêu lớn ngọn đèn trên vách để dệt cửi, bóng nàng ngả dài về phía cửa ra vào. Ôi, bóng nàng sớm trưa, chiều và đêm sao mà âm thầm, âm thầm những vẫn đoan trang rất mực. Sang giữa năm 1944, nàng được tin chàng có tham gia cách mạng hoạt động miền Thượng Lào và bị thực dân xử bắn cùng với một số đồng chí ngay trong rừng Mường Sinh cách nơi chàng làm việc không bao xa. Bóng nàng càng âm thầm càng đoan trang, tiếng guồng xa, sợi chỉ se dài như bất tận tự cuộn tròn trong lòng thăm thẳm của thời gian; rồi ban đêm là tiếng khung cửi đều đều buồn buồn làm nền cho tiếng lòng âm thầm, nỉ non một mình nàng biết, một mình nàng hay.

Khu Rừng Lau (Kỳ 20)

 


Kỳ 20


 


Khi ra về ông đô Cán mới giật mình lo lắng nghĩ thầm hẳn bạn mình đã tự bấm số trước biết không tránh được số trời nên mới nghĩ đến đặt tên hiệu. Và lòng ông đô Cán rưng rưng.


Ðược lúc tĩnh tâm nào. Ông nghĩ câu đối viếng bạn.


Những tưởng ngày một ngày hai ông đồ Thinh mất, nào ngờ ông đồ khỏe trở lại, đôi bạn còn gặp nhau nhiều để tiếp tục thảo luận về tử vi. Kể những câu thơ bàn về tử vi ông đồ đọc nhiều lắm nhưng cậu bé Chủy – năm đó lên bảy – chỉ nhớ được độc có một câu mà cậu cho là lý thú lắm:


Sao Thai mà ngộ Ðào Hoa


Tiền dâm hậu thú mới ra vợ chồng.


Ðúng vào lúc không ngờ nhất thì ông đô Cán được hay tin ông đồ Thinh mất. Tên hiệu “Thái Nhất tiên sinh” đặt trước thấm thoắt đã năm năm.


Trong hàng đối trướng dài nườm nượp của bà con bạn hữu xa gần phúng ông đồ có chiếc trướng của ông đô Cán. Ông đô Cán đã tôn việc xem tử vi của người bạn quá cố lên thành một thứ đạo, ông dùng bốn chứ của Từ Cán đời Lục Triều để ca ngợi bạn trong lời ai điếu:


KỲ ÐẠO DO TỒN


Ý ông muốn nói: ông đồ Thinh tuy chết đi nhưng đạo tử vi của ông sẽ mãi mãi trông đám môn sinh.


Ông đồ mất, Chủy lên tám, học trò có họp đồng môn làm ma linh đình, nhưng sau đó bà đồ sống lần hồi trong cảnh túng bẩn. Sau cùng, cực chẳng đã bà đành cho Chủy sang làng bên – quê bà – đi chăn bò cho một điền chủ là cháu họ gọi bà bằng cô. Ngày ngày Chủy phụ trách chăn một con bò đen tuyền và một con bê vàng đốm trắng. Chùy rất ưa con bò đen hung hăng này; trên bờ sông máng hễ gặp con bò khác nó thường xông tới húc liền kỳ cho đối phương bỏ chay, nhiều con vì hốt hoảng tránh nó mà lăn xuống sông máng. Cũng vì con bò đen hung hãn này mà thường xảy những vụ xô xát giữa Chủy với lũ mục đồng cùng lứa tuổi, nhưng vì sức Chủy vạm vỡ nên mỗi khi có cuộc ẩu đả phần thắng thường về Chủy. Sau phút chiến thắng, Chủy cười hềnh hệch ngồi ngất nghểu trên lưng bò tay cầm sợi chỉ dài buộc con cánh cam giựt giựt cho nó bay vù vù trước mặt và ca lớn câu đồng dao:


Bò đen húc lẫn bò vàng


Ðể cho bò trắng lăn quàng xuống sông.


Sớm sớm Chủy thường tìm bắt một con cánh cam buộc vào sợi chỉ dài làm đồ chơi cầm tay suốt ngày; về chiều khi con cánh cam đã mệt là giựt không buồn bay nữa, Chủy đặt nó xuống đất, dí mạnh gót chân lên, lắng tai nghe tiếng vỡ vạn của đôi cánh cứng cùng thân thể con vật khốn nạn, khi nhấc gót chân sang bên Chủy khoan khoái nhìn xuống con vật đã bị nát bét, phần dưới tiết ra một chất nước vàng bầy nhầy. Mỗi lần dí gót chân như vậy Chủy nghe xao động trong tiềm thức sức mạnh của bản năng phá hoại và dường như còn vương chút tình cảm hãnh tiến của kẻ thấy mình nắm được quyền sinh sát trên một sinh vật.


Ðêm đêm Chủy có cắp sách đi học A.B.C. Vì sáng ý chẳng bao lâu Chủy biết đọc, biết viết, làm tính. Năm mười bốn tuổi Chủy về sống với mẹ. Bà đồ vẫn nghiêm khắc với con nhưng Chủy cũng biết sau bề ngoài nghiêm khắc đó, mẹ thương mình rất nhiều. Tính từ mẫu dường như có làm yếu khuynh hướng phá hoại và tình cảm hãnh tiến bên trong Chủy. Rồi trên mười năm ròng Chủy đem hết mực ra giúp mẹ mọi việc đồng áng khó nhọc: đó là ưu điểm thứ nhất của Chủy về chữ hiếu. Chủy thuộc rất nhiều ca dao câu ví, trong khi làm lụng ngoài đồng Chủy vẫn hát đối đáp với các cô gái cùng làng. Chỉ những lúc cách ngỡ như vậy là các cô giữ được cảm tình với Chủy, tới lúc đôi bên gần nhau Chủy hay giở trò cợt nhả thô tục bị các cô cự nự. Các cô gọi riễu Chủy là “anh Trưởng Vổ.” Dáng người vạm vỡ, khuôn mặt không đến nỗi xấu duy có bộ răng vổ làm Chủy thất thế trước ái tình. Trong trường hợp bị xúc phạm, nhiều lúc dùng những câu khá chanh chua. Chuyện đó đến tai bà đồ, bà lồng lộn lên xỉa xói vào mặt Chủy: “Cha tiên nhân nhà mày, mày có thèm cái đậu rán để bà mua về cho mày, việc gì mày phải giở trò khốn nạn để bêu riếu bà.” Bị mẹ mắng, Chủy biết lỗi im lặng: đó là ưu điểm thứ hai của Chủy về chữ hiếu. Nhưng rồi sau đó, chứng nào vẫn tật ấy! Ðồng thời với cái xỉa xói: “Cha tiên nhân nhà mày, mày có thèm cái đậu rán để rồi bà mua về cho mày!” Bà đồ đi ướm hỏi mấy cô gái cùng làng cho Chủy, nhưng vì có lẽ vì Chủy có thành tích bất hảo quá, lại thêm danh từ “Trưởng Vổ” đã quá phổ biến trong làng nên các cô gái đến tuổi đều một mực từ chối, bà đồ đành tính chuyện hỏi vợ cho Chủy ở làng bên – quê bà – công việc chưa thành thì bà bị bệnh – bệnh già – rồi mất. Ðó là vào khoảng 1943-44 gì đó.

Thơ Giao Yên

 


Thơ Giao Yên


 


Trời ngắt guồng tơ


(Tặng cố thi sĩ Nguyễn Tôn Nhan)


 


Sàigòn Nhan với Mịch La Phong


Ðang nhậu mình phôn gặp chất nồng


Nay bỗng Nhan về nơi tịnh độ


Tin làm Yên sững quán sầu đong


Ơi trời nỡ ngắt guồng tơ ngộ


Ðể đất liền ngăn tánh áo sòng


Bạn đã ra đi chừng đã thỏa


Sách Nhan thư viện Mỹ lưu dòng.


_________


 


Nhủ lòng


 


Tiết đang mặc áo màu tươi rói


Mình nhủ lòng ươm cụ túc tâm


Ân oán giữ hoài hay giũ sổ?


Nhục vinh nào thiết phải đem cân


Ðành sao chỉ biết chào tân khách?


Nên chẳng hề nguôi vọng cố nhân


Dõi tận phương trời kêu bớ bạn


Trúc ngân mà ngỡ giọng tri âm.


_______


 


Ta gọi người thơ


 


Người chỉ thoáng qua song


Thơ đuối trông hằng giờ


Tình có biết hay không?


Tình ai mỏng như tơ


Như dòng sông mềm mại


Lặng lẽ làm xanh ai


Rơi vào trong mịn màng


Thơ bàng hoàng tóc mai


Ôi!


Sợi hương khờ dại


Buộc hồn thơ khó phai


Thơ đắm trong ngậm ngùi


Ta buồn như hốc núi


Ta gọi người thơ ơi!


_______


 


Còn dư sức


 


Chút trăng-trăng theo em trớt


Chút bạn-bạn cũng chia tay


Chút thơ hòa cùng chút rượu


Rượu vơi thơ đọng những ngày…


 


Bạn kia che lều rừng trúc


Bạn nầy dựng trại rừng thông


Phần ta nặng lòng biển động


Nghĩ khi hơ hỏng-Ức lòng


 


Việc lên trời xin khoan đã!


Việc xuống đất hãy chững thôi!


Cứ cõi trần chơi cho thoáng


Còn dư sức để thấy đời…


San Diego, CA.

Ðộc thiện kỳ thân

 


Nguyễn-Xuân Nghĩa 


“Các nền văn minh không biến mất trên mặt địa cầu vì bị tiêu diệt mà vì tự sát”. Sử gia Arnold Toynbee người Anh đã phán như vậy. Nhân dịp Giáng Sinh, hãy thử nhìn vào một khía cạnh tự sát của các nước dân chủ Tây phương qua chuyện… sinh đẻ.


Ngày 29 tháng 11 vừa qua, trung tâm Pew Research Center công bố một phúc trình trong loạt nghiên cứu về trào lưu xã hội và dân số, dưới một tiêu đề bắt mắt: “Tỷ lệ sinh đẻ tại Mỹ sụt tới mức kỷ lục: Sút giảm mạnh nhất là trong thành phần di dân”. Ðại để là tỷ lệ sinh sản của phụ nữ Hoa Kỳ trong tuổi sinh con đã giảm trong những năm qua, nhất là từ năm 2007, và giảm đến mức kỷ lục, kể cả trong thành phần phụ nữ Mỹ sinh đẻ ở nước ngoài, một định nghĩa khác của di dân.


Nhìn trong ngắn hạn và tập trung vào khía cạnh kinh tế, người ta có thể giải thích rằng nạn tổng suy trầm 2008-2009 và khó khăn kinh tế từ năm năm vừa qua đã khiến dân Mỹ ngần ngại đẻ con và thành phần di dân xưa nay vẫn sinh đẻ nhiều hơn cả cũng giảm mạnh nhất. Nhìn trong trường kỳ và ra khỏi khuôn khổ kinh tế thì Hoa Kỳ đang gặp xu hướng sút giảm dân số rất đáng ngại.


Trước cái tin hấp dẫn đó, nhiều nhà bình luận bèn nhập cuộc từ cả hai góc trái phải của võ đài.


Thí dụ như Ross Douthat, một chủ biên của tạp chí The Atlantic, đã rất đao thớt như tên gọi mà viết trên tờ New York Times rằng sự suy đồi văn hóa và nếp sống chỉ vì lạc thú riêng tư khiến người Mỹ chúng ta quên hẳn những hy sinh căn bản đã tạo dựng ra nền văn minh này. Một trong những hy sinh đó tất nhiên là lập gia đình, sinh đẻ và nuôi nấng con cái để còn duy trì sự sống cho cả xã hội và quốc gia. Từ góc trái của cuộc đấu khẩu, nàng Amanda Marcotte thấy ngứa và phản pháo trên báo điện tử Slate.com. Rằng “người Mỹ” đây ám chỉ phụ nữ.


Nổi tiếng là đấu tranh cho nữ quyền, nàng Amanda này quạt lại phe bảo thủ là chỉ muốn ghìm phụ nữ vào cái khung cổ hủ của quá khứ, là ở nhà và đẻ con, chứ không cho họ tranh đua với nam giới tại hãng sở… Biên tập viên Jamelle Bouie của tạp chí thiên tả The American Prospect bèn nhảy vào phụ họa: Ðấy là thái độ kỳ thị phụ nữ và phản tiến hóa! Ðịnh nghĩa tuyệt vời của chữ tiến hóa.


Người viết này phải đọc ngần ấy lập luận và nhớ đến một lời thuyết giảng của… Ðức Ðạt Lai Lạt Ma.


Tháng 3 năm 2007, ngài nói với dân Tây Tạng, cho nước Tây Tạng: “Nếu ai ai cũng chỉ muốn đi tu thì dân số Tây Tạng sẽ giảm và nền văn hóa Tây Tạng bị đe dọa”. Cách nhìn thực tế của bậc chân tu thánh thiện này khiến chúng ta suy ngẫm…


Và thấy rằng sau Nhật Bản, các nước Âu Châu và cả Liên bang Nga, Hoa Kỳ cũng lại trôi vào nạn lão hóa dân số vì thành phần cao niên chiếm một tỷ trọng lớn hơn. Ðó là một vấn đề kinh tế trong trường kỳ, một thứ “định mệnh” y như địa dư hình thể.


Khác với nhiều nước công nghiệp hóa, Hoa Kỳ có dân số tương đối trẻ hơn là nhờ tiếp nhận di dân, thành phần vốn dĩ có sinh suất cao hơn nên phần nào bù đắp sự sút giảm dân số của xã hội.


Dân số một quốc gia sẽ giảm nếu không đạt một sinh suất (fertility rate) tối thiểu là 2.1. Diễn giải cho nôm na theo dân số học hay nhân khẩu học thì một phụ nữ trung bình phải có 2.1 đứa con để bù vào tử suất, là số người mãn phần. Sinh suất tại Mỹ hiện đã sụt tới 1.9 và còn đang sụt.


Trong quá khứ, khi kinh tế suy trầm (recession, là đà tăng trưởng sút giảm trong hai quý liền, khác với suy thoái, depression, là khi không có tăng trưởng mà còn sụt mạnh trong nhiều khu vực sản xuất khác nhau), đà sinh đẻ đều giảm. Nhưng sau đó sức đẻ lại phục hồi khi kinh tế bắt lại đà tăng trưởng. Lần này, tình hình lại khác và đáng ngại hơn cả, cái vựa người trong cộng đồng di dân cũng cạn dần… Lý do thứ nhất là số di dân có giảm, nhất là trong thành phần chủ lực là di dân gốc Mễ. Lý do thứ hai là di dân đã được Mỹ hóa khá nhanh nhờ các dịch vụ ngừa thai hay giáo dục về sinh lý trong học đường.


Mà Mỹ hóa là cùng chia sẻ một nhân sinh quan: Hạnh phúc không nhất thiết là qua hôn nhân, có gia đình một vợ một chồng, và có con gái…


Người ta lập gia đình trễ hơn, có con trễ và ít hơn, tỷ lệ vui đời độc thân cũng cao hơn: Bằng phân nửa của xã hội… Kinh hãi nhất là ba phần tư các bà mẹ độc thân là phụ nữ da trắng. Nhưng nói vậy là oan cho nước Mỹ, cho phụ nữ Hoa Kỳ, thuốc ngừa thai, phong trào phá thai, triệt sản hoặc hôn nhân giữa người đồng tính.


Ðấy là hiện tượng chung của các xã hội chúng ta gọi là tiên tiến.


Tại Ðức, 30% phụ nữ cho biết là họ không muốn có con. Tại Nhật, phụ nữ ở lớp tuổi 25-29 có 60% là những người chưa từng lập gia đình, cao gấp ba tỷ lệ 20% của năm 1960. Trong toàn cõi Ðông Á đang trở thành “tân hưng”, có 25% phụ nữ đã kiên trì độc thân cho đến tuổi 50. Nghĩa là khỏi phải hy sinh lấy chồng đẻ con để lo việc truyền chủng. Ðấy là trào lưu chung của thế giới gọi là văn minh.


Trung Quốc thì còn văn minh hơn thiên hạ: chính quyền chủ động thi hành quốc sách triệt sản với kế hoạch “mỗi hộ một con”. Nhờ vậy mà 40 năm sau là ngày nay, người dân chưa giàu thì đã già…. Dân số cũng lão hóa và kinh tế chưa qua mặt Hoa Kỳ như người ta dự báo thì đã bị Ấn Ðộ bắt kịp trong vài chục năm tới. Vì dân Ấn Ðộ vẫn ấn đại chứ chưa biết sùng chuộng nếp sống độc thân của người văn minh?


Bốn mươi năm trước, một tổ chức chuyên trị về hốt hoảng đã báo trước mối nguy nhân mãn của nhân loại. Phúc trình “Giới hạn Tăng trưởng” của Club of Rome dạy rằng thế giới sẽ hết vàng vào năm 1981, hết thủy ngân vào năm 1987, cạn dầu vào năm 1991. Nhân loại sẽ đói vì tay làm không đủ cho hàm nhai.


Trong đà hốt hoảng tập thể, phim khoa học giả tưởng “Soylent Green” còn báo động về nạn ăn thịt người vì hết lương thực! Chuyện hão huyền dớ dẩn vì ngày nay, sự thể xảy ra hoàn toàn trái ngược.


Một quốc gia giàu tài nguyên như Liên bang Nga đang lụn bại dần vì dân số sút giảm: Người dân hết tin vào tương lai nên chẳng thiết có con nữa. Hạnh phúc nằm dưới đáy chai rượu đế. Các nước dân chủ Tây phương thì tìm thấy hạnh phúc ở điều khác – và có con là một cực hình. Ta nhớ đến nhận xét của Toynbee về sự tự sát của các nền văn minh.


Thật ra, chẳng có nền văn minh nào lại chủ động tự sát như vậy cả. Cái thiên đường âm u của các nước dân chủ có tấm bảng chỉ đường hấp dẫn là Thượng đế đã chết. Và nền giáo dục đại chúng lẫn văn hóa tiên tiến đều quảng bá các chân lý mới, như trì hoãn thành hôn và sinh đẻ, như quyền ly dị, phá thai, hoặc bọn nhà giàu phải tài trợ chế độ bao cấp, để người người đều sướng vô tội vạ… “Sướng một mình” hay “độc thiện kỳ thân” không là một vấn đề sinh lý mà cũng là đạo lý. Với ảnh hưởng chậm rãi và sâu xa cho kinh tế.


Bội chi ngân sách, thâm hụt thuế khóa, vực thẳm tài chánh?… Biết đâu chừng là ngần ấy chuyện đều xuất phát từ phòng ngủ!

Thơ Viên Dung

 


Thơ Viên Dung


 


Cất Dạo Tình Ðầu


 


Ðiều yêu quý vấp, quỵ bên rào


Không may giẫm vô tâm hành bạo


Tiếng yêu em lén trong tim gào


Lạnh đông về treo cao áo não


 


Giang hà rụng giữa ngàn sao


Rụng ngừ niêm yết lao đao tình đầu


 


Cầm yêu, em nhón ghé tình đau


Lá rừng che anh hằn thô bạo


Em về đi! Cất dạo tình đầu


Và nghe, tình phất ngọn canh thâu


 


Em ơi, ngắt ngọn tình sầu


Lặt ra duyên mới tình đầu (là) tình không


 


Rồi quên khi bận bịu con chồng


Mai sau thấp thoáng bóng tình không


Thì thôi! Phong kín thuở mộng lòng


Thì thôi nhé, tình đầu (là) tình không


09/X/2012


_______


 


Cầm Khúc Tình Không


 


Tình nhất thiết phiền va rún bão


Biết làm sao nhẹ nhõm niềm đau


Ðông phong siết tình lay rướm máu


Vói bên rào thét chẳng gần nhau


 


Vàng sao nuốt chửng giang san


Sá chi mối tình vỡ tan mùa hẹn


 


Em cầm thẹn ươn hèn uất nghẹn


Em cầm chờ mai nữa gần nhau


Nhan sắc nôn nao rời bến đợi


Biết làm sao lạnh nỗi chờ nhau


 


Hối em mùa cưới xôn xao


Sang đò nuối tiếc níu sào can ngăn


 


Biết làm sao bước về còn vắng


Dòng đời nghiệt ngã siết băng băng


Chận thời gian dung nhan chẳng đặng


Em sợ mai tình vẳng ăn năn


 


Em sợ mai đời khó khăn


Anh cậy ai đỡ khúc quanh giang hà


 


Mai anh về không em, đời lạ


Trong tay chồng tình rã trối trăn


Trong tay người anh căm đại bại


Tình đầu phai dấu ngoái trăm năm


16/X/2012

Thơ Trúc Ngọc

 


Thơ Trúc Ngọc


 


 


Ðêm Vườn Xưa


 


Hoàng hôn rơi trên cỏ


Loang tím thềm nhà xưa


Con chim đêm vỗ cánh


Bước chân người xa chưa


 


Ta một mình ngồi nhớ


Bên bóng tối cuộc đời


Trong miền khô ký ức


Rực lên mùa hạ xưa


 


Rong rêu thềm đá ngủ


Thời gian im ắng xa


Tìm đâu chiều nắng cũ


Về soi ấm sân nhà


 


Tiếng cười không còn đợi


Trong vườn lá thân quen


Xưa cầm tay người hỏi


-Mai rồi em có quên?


 


Ðêm, đêm ơi, thôi nhé


Ðừng khơi nữa hoài mong


Vườn mùa xưa lặng lẽ


Nở riêng một nụ hồng.


________


 


Seattle, Tháng Mười Hai


 


Seattle, tháng mười hai, em về lặng lẽ


Những buồn vui những hệ lụy cuộc đời


Nỗi phiền muộn cứ mỗi ngày gặm nhấm


Nghe mịt mù như sóng gió trùng khơi


 


Những quà tặng của đời em gom lại


Chút buồn vui hạnh phúc của riêng mình


Em cất giữ để ngày mai gởi trả


Cho gió ngàn của một kiếp phù sinh


 


Mang trên vai bao điều chừng đã mỏi


Chén rượu đời mù mẫm cả lòng em


Ngày mai nắng còn thơm hương hoa


Hạnh phúc nào cũng rất đỗi mong manh


 


Seattle, tháng mười hai, mùa Ðông đang về


Những ngày trời rét lạnh chỉ mình em


Niềm mơ ước như mây trời xa tắp


Có bao giờ níu được gió trùng khơi.


(Nguồn: [email protected])

Thơ Phùng Minh Tiến

 


Thơ Phùng Minh Tiến


 


Vô Cùng


 


Lòng buồn sâu như rừng


Ðời theo sông chia nhánh


Ôm trong hồn vô cùng


Tháng ngày bỗng lặng câm


Áo ai bay mùa hạ


Trôi cuối trời bặt tăm


 


Em một lần qua ngõ


In gót sầu trăm năm


Ta mang đời phiêu bạt


Rượu buồn ai tri âm?


 


Mây mùa Thu nhớ bạn


Trăng mùa Thu xa người


Quê xưa chìm lớp lớp


Nhớ thương nầy sao nguôi


Em theo về cuối phố


Nắng reo trong tiếng cười


Ta ôm hồn đứng ngó


Mây đầy trời trong tôi.


_____


 


Ðôi Nẻo Có Không


 


Hữu dã hồi


Vô dã hồ


Mạc tại giang biên lãnh phong suy.


(Kệ cổ của Phật giáo)


 


Có cũng về


Không cũng về


Sao còn đứng đợi bến sông mê


Bốn phương gió nổi mùa hư ảo


Ngoảnh lại hoa xuân rụng não nề


 


Có cũng về


Không cũng về


Về đâu, non nước về đâu nhỉ?


Chảy xiết cuồng lưu, vọng khứ hề!


 


Có cũng về


Không cũng về


Sáu bảy mươi năm làm lữ khách


Một chiều tuyết phủ với sương che


 


Có cũng về


Không cũng về


Thanh xuân giờ đã xa biền biệt


Dừng lại bên sông, lạnh bốn bề.


________


 


Mùa Khổ Hạnh


 


Em chợt đến nét cười âu yếm quá


Ấm đời ta cơn bão rớt cuối mùa


Khuya em về qua phố cũ nghe mưa


Linh hồn nhỏ, bao u hoài nuối tiếc


Em hỡi em! Tóc ai bay tiền kiếp


Xanh một dòng suối ngọt, nét môi thơm


Ta nhìn em, bốn bể giá băng tan


Sầu hận cũ bỗng phai mờ theo gió


Em hỡi em! Thiên đường dù bỏ ngỏ


Không có em ta lặng lẽ quay về


Giữa trần gian đọa lạc những si mê


Bàn tay nhỏ em ôm đời hệ lụy


Em đi rồi, gió mưa tràn thế kỷ


Bụi thời gian mờ mịt lối tinh cầu


Những bến bờ đưa tiễn, bước chân đau


Mùa khổ hạnh đã lấp vùi nhân thế


Trùng dương ơi! Muôn đời còn kể lể


Triệu năm qua trái đất vẫn quay đều


Sỏi đá nào than thở với rong rêu?


Lòng vô định biển dâu mờ mịt lối.


(Nguồn: www.thunhan.org)

Thơ Nguyễn Lương Vỵ

 


Thơ Nguyễn Lương Vỵ


 


Cuối năm


 


Cuối năm mần một bài thơ


Vu vơ lục bát, ngẩn ngơ lục bình


Người xa, bụi đỏ run mình


Sao khuya chớp tắt lung linh giọt đàn


Ta gần, sương cũng vừa tan


Chuông ngân ánh bạc lạnh tràn qua vai


 


Bài thơ chẳng biết gửi ai


Vần lơ láo nhịp, câu sai sót lời


Người xa, tội lắm chỗ ngồi


Ghế trơ niềm nhớ, bàn đơ nỗi sầu


Ta gần, đêm cũng chìm sâu


Ðất thương cỏ mục, trời đau lá gầy


 


Bài thơ hỏi lại mây bay


Kiếp xưa đi biệt! Kiếp nầy về đâu?!


Người xa, nắng đã rưng màu


Hồng tươm búp lửa, tím nhàu dấu son


Ta gần, đêm lắng nụ hôn


Phố rêu thức đợi, trăng non ngủ vùi


 


Cuối năm đất lạ ngậm ngùi


Trời quen thân thiết xin mời cùng ta


Rượu vang rượu của phôi pha


Tình câm tình của bao la rót vào


Nâng ly ực hết chiêm bao


Cụng ly nhậu hết thiên cao tít mù…


Tháng 12, 2012


(Nguồn: Tác giả gửi qua sangtao@org)

Thơ Nguyễn Ðạt

 


Thơ Nguyễn Ðạt


 


Bên cầu Ðại Ninh


 


Sáng trắng trời mây nước


Hơn nghìn lần buổi trước


Hơn nghìn lần buổi sau


Ai mãi bên chân cầu


Dòng chảy tới nơi nào


Ai chờ ai hẹn ước.


 


Có ai không ai biết


Sáng trắng trời tỏ bày


Tôi về giữa buổi này


Dưới dòng trôi mây nước


Làm sao tôi nói được


Dòng chảy tới nơi nào.


 


Nghìn lần hơn xanh xao


Nghìn lần hơn thân đau


Hơn nghìn lần buổi trước


Hơn nghìn lần buổi sau


Ai mãi bên chân cầu


Ai nhìn ai thắt ruột.


 


Tôi về bên chân cầu


Thấy hình hài ai đau


Thấy sáng lòa trên cao


Và mây trôi dưới nước


Và ai vừa thổ huyết.


 


Không không không ai chết


Mãi mãi còn bên nhau


Mãi mãi bên chân cầu


Dòng trôi chảy về đâu.


______


 


Giáng Tuyết


 


Nơi đâu nơi đâu


Hàn Giáng Tuyết


Les yeux / Les yeux / Immense et bleu*


Thẳm vời mấy biển trời cách biệt.


Lên chuyến bay ở Sài Gòn lúc mấy giờ


 


Hàn Giáng Tuyết


Buốt giá tim


Ôm lấy đầu tròn ôm lấy mặt đẹp.


Ðang làm gì nghĩ gì thấy gì ở Sydney


Có thấy anh không


 


Mười chiếc máy ảnh vòng quanh ngực


Tuyết Montréal nhiều gấp bội phần.


Hàn Giáng Tuyết


 


Les yeux / Les yeux / Immense et bleu


Nơi này để chết


Từ cao ốc, tuyết tràn xuống mặt đường


phủ lấp hết thảy, sá gì thân thể anh, cùng


mười chiếc máy ảnh vòng quanh ngực.


 


Câu chuyện cũ nhắc nhơ


Chẳng để làm gì


Ấy tuy nhiên những đôi mắt


mãi mãi khép mở


Les yeux / Les yeux / Immense et bleu.


*Thơ Ðinh Ngọc Mô tặng Hàn Giáng Tuyết.


_______


 


Hồ Sương B’Lao


 


* Nhớ thi sĩ Quách Thoại


 


Ai hỏi mãi hoài tôi và B’Lao


Linh hồn từ thuở ấy khi nào


Em chưa ra đời lá đã buốt


Lũng rừng mấy thuở đã xanh xao.


 


Ai tới lui một điệu vòng tròn


Chiếc lá kim đêm nhớ Sài Gòn


Ngày mỏi linh hồn tôi nhức nhối


Kè thân đau về với u buồn.


 


Chưa ngóng trông ai ở đây rồi


Nhẹ bước chân đi. Nhẹ thốt lời


Em trở dạ sinh đôi một thuở


Từ khi tôi rã mệt vì đời.


 


Mù sương lên tôi biết làm sao


Trăng bơ vơ suốt mấy đường đèo


Người thi sĩ ốm yếu ủ ru


Bóng hình thiếu phụ có cùng theo?


Về với B’Lao về với u buồn


 


Tôi ngó lại hồ sương đêm ấy


Mù sương lên vẫn tỏ hồ gương


Khuôn mặt tôi?


Thi sĩ Quách Thoại?

Hạt sương và kim cương

 


Anne Nguyễn chuyển ngữ


 


Hạt sương và kim cương


 


Em và nàng so bì sao nỡ


Dẫu tình si một thuở thiết tha


Nàng như ngọc quý kiêu sa


Em ngoan sương đọng cánh hoa êm đềm


 


Giọt sương mai hồn nhiên khóe mắt


Cả núi rừng trời biển thênh thang


Ngọc kia phá nát gia cang


Giang san thành quách cũng hoàn bụi tro


 


Dew-drop and Diamond


 


The difference between you and her


(whom I to you did once prefer)


Is clear enough to settle:


She like a diamond shone, but you


Shine like an early drop of dew


Poised on a red rose petal.


 


The dew-drop carries in its eye


Mountain and forest, sea and sky,


With every change of weather;


Contrariwise, a diamond splits


The prospect into idle bits


That none can piece together.


* Robert Graves (1895-1985)


(Nguồn: sangtao@org)

Thơ Ðỗ Duy Ngọc

 


Thơ Ðỗ Duy Ngọc


 


 


 


Khi về tóc chẳng còn xanh


Gió hoang mang thổi xoáy thành rong rêu


Phố phường không một tiếng kêu


Khoảng trống phía trước tiêu điều phía sau


 


Khi về bước thấp bước cao


Chân run tay yếu tim cồn cào đau


Ngàn trùng thấm thoát trôi mau


Trăm năm giữa cuộc bể dâu được gì


 


Khi về rồi lại vội đi


Hàng cây phố cũ còn chi ngước nhìn


Ngoái đầu nhìn lại lặng im


Ngẩng lên mai mốt thất kinh tuổi già


 


Khi về gió thét mưa la


Chim tan tác tổ quê nhà mất tăm


Mỏi chân tìm một chỗ nằm


Gác tay qua cửa trăng rằm đẫm sương


 


Khi về ngựa lỏng dây cương


Quẩn quanh quanh quẩn con đường buồn tênh


Con phố cũ chẳng còn tên


Mình ta ngơ ngác bên thềm nhà xưa


 


Khi về đứng khóc dưới mưa


Nỗi đau li biệt như vừa hôm qua


Khi về lòng bỗng vỡ òa


 


Ðà Nẵng, tháng 11, 2012


(Nguồn: Tác giả gửi qua sangtao@org)



 

Và mỗi lần Noel đến

 


* Phan Trang Hy


 


Cứ cuối tháng 11, đầu tháng 12, cái lạnh bắt đầu thấm trên từng cây lá, thấm vào những bàn tay, vào những nụ cười, tôi nghe được cái lạnh qua lời nói của mọi người: “Gần đến Noel rồi!” Và tôi nghĩ về mùa Giáng Sinh với những cây thông gắn những món quà xinh xắn, nghĩ về truyện “Cô bé bán diêm” của Andersen. Tôi cảm thấy mình còn may mắn được sống trong sự đủ dùng như theo lời nguyện của người Kitô trước những bữa ăn. Dẫu tôi không theo đạo nào, nhưng tôi vẫn tin có cái Ðại Ngã Vô thường tồn tại cùng cái Tiểu Ngã của tôi.


Nhớ năm học 1973-1974, tôi học lớp12 B3 trường Phan Châu Trinh, Ðà Nẵng. Tôi được học Triết do thầy Hiền dạy. Dù tôi học ban B, thế nhưng cũng nhờ những khái niệm cơ bản về triết học, tôi nhìn nhận sự vật không chỉ duy tâm hoặc duy vật, duy lý hoặc duy tình. Môn triết là môn có thể là sở trường của tôi. Có lần, trong một giờ học, tôi đã giơ tay trình bày quan điểm non nớt, ngây ngô của mình: “Thưa thầy, theo lý thuyết thì bất cứ vật chất nào cũng bị nóng chảy ở nhiệt độ cao. Thế nhưng, mặt trời cũng là dạng vật chất, nóng đến hàng ngàn độ, nhưng sao nó chỉ có nóng mà không chảy?” Tôi nhớ thầy không trả lời cụ thể, mà chỉ gợi cho tôi thấy rằng lý luận chỉ là lý luận. Cả thế giới vật chất này không chỉ có vật chất thuần túy mà còn có sức mạnh vạn năng nào đó đang điều hành cả vũ trụ này. Lời thầy chỉ thoáng khơi gợi một điều gì đó trong tôi…


Và mỗi lần Noel đến, tôi đều tự hỏi: Sao nhạc thánh có sức mạnh lôi cuốn, nhẹ nhàng, thánh khiết như vậy? Sao tiếng chuông nhà thờ làm rung chuyển sự tỉnh thức của mỗi tâm hồn đến vậy? Sao lời của Chúa hơn hai ngàn năm vẫn là sự thật? Tôi có dịp may là đọc những lời trong Kinh thánh, nhất là phần Tân ước. Sao Chúa yêu thương con người đến vậy, trong khi con người nhân danh con người lại mạt sát, bắt bớ, cầm tù, đâm chém, hành hạ lẫn nhau? Sao Chúa bao dung đến vậy, trong khi con người vẫn nuôi thù hận triền miên? Sao Chúa lại chữa lành những vết thương của người bệnh, trong khi con người gieo rắc những mầm diệt chủng, diệt sự sống ở trần gian này? Chúa vì ai mà yêu thương, bao dung, chữa lành con người? Vì ai? Vì ai?…


Nghĩ đến Chúa, tôi lại nghĩ đến Darwin.Theo Darwin thì có thể thủy tổ của loài người là loài vượn-người. Nhưng mấy có ai, kể cả ông Darwin thờ vượn-người và gọi nó là ông tổ? Ðã là thuyết thì mãi là thuyết! Có ai cho mình là dòng giống thấp hèn? Có ai cho mình là người dại? Có ai vẽ hình tượng vượn-người để thờ phụng đâu? Kiến thức của tôi có hạn, như cái sống có hạn của tôi ở cõi trần này, tôi không biết có tôn giáo nào, tín ngưỡng nào thờ vượn-người và tôn vinh nó không?


Và mỗi lần Noel đến, tôi như thuộc lòng câu “Vinh danh Thiên Chúa trên trời. Bình an dưới thế cho người thiện tâm” (có nơi cho là người thiện lương). Ngẫm đi ngẫm lại lời ca ấy sao thực tình, thực tế, gần gũi với con người đến vậy. Chỉ cần câu “Bình an dưới thế cho người thiện tâm” là thấy sướng cả bụng rồi! Cầu mong cuộc đời này, người thiện tâm được an bình là quý rồi. Nhưng cuộc đời này, chính con người đã gây ra bao tai họa, đã tự trút những cơn thịnh nộ của tham sân si thì làm gì có sự an bình cho chính mình và cho người khác. Thật là buồn! Buồn cho kiếp người không có bình an vì trót gây tội.


Nói đến tội, tôi cũng là kẻ có tội ở trần gian này. Thấy cha mẹ già yếu mà không được chăm nom, phụng dưỡng hằng ngày là có tội. Thấy anh em nghèo khó mà không giúp được, vì mình chưa giúp được mình xong, cũng là tội. Thấy mình vì tiền mà chèn ép học trò đi học thêm để mình tồn tại cũng là có tội. Thấy học trò không chăm học, không học giỏi, cũng thấy mình có tội. Thấy con cái khổ cực mà chẳng giúp được, thấy con cái lớn rồi mà chẳng có công ăn việc làm ổn định, cũng là tội. Thấy việc phải mà không dám làm vì hèn, vì sợ cũng là tội. Cái tội nó đeo đuổi mình suốt kiếp!


Biết bao cái tội của kiếp làm người. Nhiều lần, tôi làm điều gì sai trái, tôi cảm thấy mình cớ sao dại những một giờ như vậy? Cớ sao có lúc giận hờn? Cố chấp? Biết bao điều để tôi trở thành kẻ có tội ở thế gian này. Tôi lấy làm xấu hổ, ân hận vì những gì tôi gây nên tội. Bất chợt, trong tôi hiện lên bao gương mặt của những cô gái bán dâm nuôi miệng, đang lấy hai tay che mặt khi có người chụp ảnh, quay phim. Chắc các cô còn xấu hổ. Tôi cũng bất chợt thấy bao gương mặt của những kẻ có quyền, có thế khi gây nên tội vẫn nhơn nhơn cười đểu, lẻo mép chối tội như thách đố với người thiện tâm. Những việc ấy, những con người ấy, báo chí đăng trên những bản tin hằng ngày bên cạnh những tin tốt lành. Tin ác, tin dữ còn, tội đó do ai?


Và Noel đến, bên tai tôi vẳng lên khúc nhạc mừng Thiên Chúa xuống trần, làm người để chịu kiếp người ở thế gian. Tôi như thấy cái chết của Thiên Chúa trong thân phận người mới làm cho con người đến với ánh sáng, đến với sự bình an. Và khúc nhạc “Bình an dưới thế cho người thiện tâm” cứ vang lên trong lòng tôi, như vỗ về tôi, an ủi tôi những lúc tưởng như tôi bị sa ngã bởi bao ràng buộc ở cõi trần này.


Trong tôi cũng vẳng lên lời bài hát như tránh móc, dỗi hờn của Trịnh Công Sơn: Chúa đã bỏ loài người – Phật đã bỏ loài người… Thế nhưng, mỗi lần Noel đến, tôi nhẩm hát theo những ca khúc Giáng Sinh. Tôi hát mà tin rằng Chúa Phật chẳng bỏ loài người. Chúa Phật vì loài người mà đến với thế gian này, đến để người bình an, để người được làm người thiện tâm, an bình dưới thế.


Tháng 12, 2011


* Phan Trang Hy


(Nguồn: Tác giả gửi qua sangtao@org)

Mùa Giáng Sinh ở Tampa Bay

  


*Nguyên Nhung


 


Chuyến bay đứa chúng tôi đến phi trường Quốc Tế Tampa khoảng gần một tuần trước ngày lễ Giáng Sinh. Ngày 21 tháng 12 đã bước vào tiết Ðông Chí, trời thực sự vào Ðông nhưng ở những tiểu bang như Texas hay Florida thường ấm áp hơn các tiểu bang miền Ðông Bắc. Những ngày lạnh giá thường do cơn gió mùa từ miền Bắc thổi về, nhiều năm trời vừa mưa vừa lạnh, nhiệt độ xuống thấp nên những hạt mưa đông lại như những viên thủy tinh, treo lủng lẳng ngoài hàng hiên hay trĩu nặng trên cành cây.


Nếu như không có mùa Hè đổ lửa của Houston, hay những cơn bão thường xuyên ghé thăm Florida thì hai nơi này cũng khá lý tưởng để sinh sống. Houston giá nhà cửa tương đối rẻ nên dễ làm chủ một căn nhà hợp với túi tiền, công việc làng nhàng không thiếu nên ít bị thất nghiệp. Riêng Tampa Bay khí hậu ôn hòa mát mẻ rất tốt cho sức khỏe, người đã về hưu có lợi tức khá thường chọn miền này vì thích hợp cho tuổi xế chiều, tuy thỉnh thoảng có bão ghé thăm cũng phải khăn gói gió đưa chạy đi lánh nạn ở những tiểu bang khác.


Tampa Bay là một cảng tự nhiên dọc theo vịnh Mễ Tây Cơ vùng Trung Tây Florida, bao gồm vịnh Hillsborough, Tampa Bay cũ, giữa và mới, Tampa theo chữ cổ của người địa phương còn có nghĩa là “sấm chớp” chắc cũng giống như câu “chớp bể mưa nguồn” của người Việt. Tampa Bay có khoảng 4.2 triệu dân, nguồn nước ngọt được cung cấp từ hằng trăm sông rạch, mà dòng sông Hillsborough là nguồn chính. Từ nhiều thế kỷ trước, nơi này là vùng đất của dân chài lưới, Tocobage là những người dân địa phương của vùng Tampa, đất đai màu mỡ nên ngành trồng trọt cũng rất phát triển với những vườn cam vàng óng và các loại trái cây khác cung cấp cho nước Mỹ.


Mùa Giáng Sinh năm ấy là mùa Giáng Sinh tuyệt vời đối với tôi, vì cũng là dịp gặp chị tôi cũng từ Washington D. C. bay qua, cùng với anh chị chủ nhà là những người bạn cố tri của chị, tuy giờ đây không ai còn trẻ nữa nhưng cái vui được ngồi bên nhau nhắc chuyện cũ, nhất là chuyện ngày xưa thì đám trẻ trong nhà vẫn không hiểu nổi tại sao người già hay nói chuyện quá khứ. Chúng tôi tạm tách rời với con cái trong mùa Giáng Sinh là vậy, xứ sở này hình như không còn cảnh người già ngồi trong bốn bức tường than thở cho thân phận hay sự đơn côi của mình, khi không thể hòa nhập vào nếp sống mới mẻ và ồn ào của đám trẻ.


Từ phi trường về nhà khá xa, đi qua một cây cầu nổi tiếng được gọi là Sunshine Skyway Bridge, gió từ ngoài khơi thổi vào khiến hàng cọ nghiêng về một phía như hình dáng ẻo lả của những vũ nữ thân gầy. Chưa biết mấy ngày ở đây tôi sẽ thấy gì ở Tampa Bay, nhưng chỉ con đường ven biển này đã đủ thu hút tầm nhìn hạn hẹp của tôi về một chân trời vô định xa tít ngoài biển xa. Biển xanh cát trắng, trời cao mênh mông và cũng xanh ngắt như màu biển, có lẽ vì vậy mà ta cảm thấy sự giao hòa giữa trời và nước gần nhau trong gang tấc.


Ðường phố Tampa Bay thênh thang và sạch sẽ, không khí Giáng Sinh đã tràn ngập khắp nơi từ các siêu thị cho đến nhà cửa của cư dân, nhưng đặc biệt hơn là những cây cam trĩu trịt chín vàng tràn lan khắp nơi. Hoa cam là biểu tượng cho tiểu bang Florida, lần đầu tiên khi nhà thám hiểm Juan Ponce de Léon người Tây Ban Nha, tìm thấy vùng đất này mùa Phục Sinh năm 1513, ông đã ngửi thấy một mùi hương ngào ngạt của hoa cam quyện trong gió biển, mùi thơm lan tỏa khắp nơi nên ông đã đặt tên là Florida, tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là “đất nở hoa.” Từ đấy “đất lành chim đậu,” nơi nào đem đến nguồn sống là nơi ấy có nhiều người tìm đến lập nghiệp.


Ngày hôm sau vẫn là một ngày đẹp trời ở Tampa Bay. Anh chị đưa chúng tôi đến khu chợ trời bán rau cải, trái cây tươi và những đặc sản địa phương. Tại đây tôi đã gặp những nụ cười hiền hậu, nước da hơi ngăm đen của người Lào, Miên và một vài giống dân thiểu số khác. Họ là những người nội trợ cần cù, suốt tuần ở nhà trồng trọt hay chăm sóc trẻ con cho đám trẻ đi làm, cuối tuần họ đem đến đây những món thu hoạch được trong vườn nhà, từ buồng chuối chín cây, quả mướp, trái đu đủ, vài loại rau còn tươi xanhThích thú biết mấy khi tôi tìm được loại rau ngổ xanh mướt để um lươn theo kiểu người miền Tây, món ăn khoái khẩu này không dễ tìm được trên đất Mỹ. Chọn vài bó rau ngổ tươi xanh, bữa cơm chiều hôm ấy món rau ngổ luộc chấm nước cá kho được cả nhà chiếu cố tận tình, ngoại trừ ông chủ nhà “mắt xanh tóc vàng” hiền hậu như ông Peter giữ chìa khóa cửa Thiên Ðàng, tuy vẫn xơi được bún ốc, bún riêu với mắm tôm chanh ớt, nhưng vẫn chưa quen nổi món rau luộc chấm nước cá kho dầm ớt của vợ.


Cơm nước xong anh ở nhà làm một giấc ngủ trưa, còn chị đưa khách tới thăm một gia đình người Việt mới đến Mỹ khoảng trên mười năm, đứa con gái là học trò của chị thời trung học. Mới có từng ấy năm nhưng cả nhà cùng xắn tay hòa nhập vào cuộc sống mới trên xứ lạ, thế mà họ đã có một căn nhà khang trang sân trước vườn sau cây lá xanh rờn rất thích mắt. Mới gặp lần đầu mà tiếng cười câu nói cứ vui như tết, cứ như là“tha hương ngộ cố tri” mặc dù hồi ở Việt Nam chẳng ai biết ai, nhưng cái tình viễn xứ đưa đẩy từ ngọn rau lá cỏ mà bỗng thành thân như người nhà lâu ngày không gặp. Chủ nhà có nụ cười hịch hạc, dáng dấp cục mịch mà khỏe mạnh, còn bà vợ chân thật giản dị đúng nghĩa người mẹ hiền Việt Nam không lẫn đi đâu được.


Khách lại được đưa ra thăm vườn. Cha mẹ ơi! Khí hậu Tampa Bay quá lý tưởng vì là vùng bán nhiệt đới, lâu lâu có bão ghé thăm vài hôm rồi đi, nhưng trời vẫn đãi ngộ cho người địa phương một món quà quý là khí hậu và đất đai tốt dễ canh tác. Chỉ vất vả lúc đầu thôi nhưng bây giờ mát mắt lắm, sân sau là một gốc nhãn che gần hết mảnh sân mát rượi, mỗi năm cây cho bao nhiêu là trái, ăn không hết còn phải đem nhờ bà con bạn bè xơi hộ. Ven rào hay trong vườn, ông chủ nhà không bỏ phí một miếng đất nào để trồng rau, đủ thứ rau tươi cho bữa cơm hằng ngày, những bụi rau ngót thấp ngọn nhưng xanh biếc, món rau này vò sơ lên mà nấu với giò sống khoái khẩu biết là chừng nào, lại có công dụng dược thảo làm mát mẻ lục phủ ngũ tạng con người. Ăn không hết, cứ vặt lá đóng gói gửi làm quà cho bà con ở những tiểu bang xa thiếu rau xanh, gửi Bưu Ðiện một, hai ngày là tới. Thế mới biết đức tính cần cù, tằn tiện nhưng lại có nhân có nghĩa của người Việt chân quê, họ như những quả cam vỏ xanh còn ngan ngát hương quê nhưng lòng dạ chân thật ngọt ngào khiến ai cũng phải quý mến


Vì mê mải khí hậu trong lành và cây trái của Tampa Bay mà tý nữa tôi quên mất mùa Giáng Sinh tuyệt vời tôi được chung vui với gia đình anh chị, lại được gặp chị tôi để ôn lại những mùa Giáng Sinh hồi thơ bé. Chiều hôm đó cả nhà ăn cơm sớm rồi chuẩn bị đi ngắm đèn Giáng Sinh, hầu như vào mùa này nhà nào cũng giăng đầy trước sân nhà của họ. Thôi thì đèn hoa đủ màu đủ kiểu, giăng từ ngoài sân vào tới trong nhà, trời đêm bắt đầu trở lạnh mà sao lòng lại ấm lạ thường, không khí mùa Giáng Sinh lan lan trên những con đường mà hằng ngày chỉ có những ngọn đèn đường vàng vọt ….


Xe đậu kín sân ngôi nhà thờ cổ, có một chút gì đó khác biệt với không khí Giáng Sinh ở Việt Nam hay các nhà thờ người Việt Nam ở hải ngoại, đó là sự giản dị và yên bình toát ra trong cách trang hoàng nhà thờ của người Mỹ. Trong ngôi nhà thờ ấm áp không đèn hoa rực rỡ, những dây đèn màu xanh lơ, hoặc tím biếc tỏa ánh sáng dìu dịu hiu hắt buồn trên những nhánh thông hay hang Noel. Nhìn những bức tượng Thánh bằng đất nung bỗng làm tôi chạnh nhớ những mùa Giáng Sinh thời niên thiếu ở Trà Vinh khi tôi chỉ độ hơn mười tuổi, con bé đi học về ghé ngang nhà thương để nhờ một bà sơ trẻ mổ giùm cái nhọt trên bàn tay phải, đau nhức đến không cầm viết được, chỗ ấy bây giờ vẫn lờ mờ vết sẹo. Vị nữ tu trẻ tuổi trong bộ áo tu hành màu trắng tinh khiết, vành mũ rộng nghiêng nghiêng dỗ ngọt con bé là một con cừu nhỏ bằng bông gòn để trang trí hang Bê Lem, thế là từ đấy con bé nhà nghèo học được cách làm thủ công những con cừu non, con chiên bé cho cái hang đá xinh xinh của mình. Ðêm Noel thời niên thiếu có lẽ là đêm Noel tuyệt vời nhất của tôi, một ngọn nến trắng hắt ánh sáng lung linh vào hang đá Bê Lem bé tý teo có tấm hình gia đình Chúa hài nhi bé tẻo teo, ôi cái gì cũng bé mà sao lúc ấy đối với tôi lại kỳ ảo và mông mênh lạ thường!


Ðể chuẩn bị cho đêm Giáng Sinh đúng nghĩa, ca đoàn nhà thờ chỉ trình bày nhạc cổ điển mà người ta hay gọi là “Christmas Carol,” đa số đã được dịch ra nhiều thứ tiếng rồi phổ biến rộng trên khắp thế giới mùa Noel. Ðôi khi chỉ là một bản đàn dương cầm không lời, hay một tiếng hát êm như ru đưa bao tâm hồn chơi vơi cho không khí đêm Giáng Sinh càng lắng đọng. Không ồn ào, không rì rầm to nhỏ, mọi người đến đây đêm nay dường như đều nhắm mắt lại để nhớ về một kỷ niệm hay những hình bóng nào đó đã đến đã đi theo năm tháng. Kỷ niệm có thể là một khoảng sân giáo đường ngày trẻ tuổi, một mái tóc đen mềm nép vào dáng đứng chinh nhân, thì thầm lời nguyện cầu cho đất nước hết điêu linh và qua cơn binh lửa. Kỷ niệm đôi khi cũng buồn như chiếc bóng lẻ loi bước thấp bước cao trên con đường về nhà sau lễ nửa đêm, ánh trăng khuya trên nền trời thăm thẳm mà thương cho người đi kẻ ở, phảng phất mùi hương hoa cau giữa trời khuya ướt đẫm sương đêm, ngọn đèn dầu lay lắt trong khoang chiếc thuyền con neo bên bờ con rạch nhỏ…


Sau lễ nửa đêm, mọi người lục tục ra về, nét mặt ai cũng hân hoan cùng chúc tụng tất cả những người quen hay không quen câu “Merry Chirstmas!” Bước ra khỏi ngôi thánh đường về nhà mà dường như dòng nhạc đêm Noel còn vướng vít trong đầu, khiến tôi nhớ đến cô Walker khi theo chồng đến làm việc ở Việt Nam vào giữa thập niên 60. Cô tự nguyện đến luyện giọng cho các học sinh ngôi trường Nữ Trung Học của tỉnh lỵ, trong những buổi học gần mùa lễ Giáng Sinh, cô đã dạy cho chúng tôi hát thuộc lòng bài “Silent Night” và kể những câu chuyện nhỏ mùa Giáng Sinh ở Hoa Kỳ. Ðang sống trong đất nước chiến tranh, qua những gì cô Walker kể đám học trò như lạc vào giấc mơ thần tiên, hình như chỉ thấy trên những tấm thiệp Giáng Sinh có hoa tuyết phủ đầy trên rặng thông.


Những ngày còn lại ở Tampa Bay sau mùa Giáng Sinh, chị đưa chúng tôi đi thăm nhà bà hàng xóm người Ý ở gần nhà, chúng tôi thả bộ theo những con đường ngang đường dọc trong xóm, vì là ban ngày nên tha hồ vừa đi vừa ngoạn cảnh. Cảnh thì nhà nào cũng gần giống nhau, không khí Giáng Sinh sau một đêm tưng bừng đêm 24 hình như cũng lặng lẽ trôi đi theo nhịp thở thời gian. Trên đường đi thì chao ơi là cam, không cam thì quýt, vàng óng, trĩu trịt, thả xuống trước sân nhà ven lối đi, người đi đường nếu khát nước tiện tay bứt một quả mà nhấm nháp. Cam Florida không ngọt gắt như cam Texas đâu nha, chua chua ngọt ngọt thấm vào đầu lưỡi để dịu ngay cái khát cái mệt. Xung quanh nhà bà hàng xóm cũng chỉ cam là cam, bà chủ nhà tốt bụng mời khách cứ việc tự hái cam đem về bao nhiêu cũng được. Ngoài cam ra thì chủ nhân cũng là người thích sưu tầm búp bê, hằng trăm con búp bê đủ loại cũ mới trưng trong phòng khách, thật trúng tủ cho một người cũng mê búp bê từ thuở bé như tôi, và mỗi con búp bê đem về từ nơi nào đó lại gắn thêm một câu chuyện về thời gian và nơi chốn.


Một tuần lễ ở Tampa Bay, tôi được gặp chị tôi để nhớ về những mùa Giáng Sinh trong quá khứ, căn nhà thời thơ ấu có hình bóng của cha, của mẹ, của anh chị em trong gia đình. Ban ngày nắng vẫn óng ả mảnh vườn sau, tôi lại bắt gặp mảnh vườn rau quê hương có những bóng nắng xuyên qua kẽ lá cây bưởi oằn trái, vài thân dừa lơi lả ven bờ rào đem chút duyên quê trong mảnh vườn của chị.


Thế rồi ngày vui qua mau, buổi sáng khi anh chị đưa tôi ra phi trường để về lại Houston, con đường dài ven biển những thân dừa đang oằn oại trong gió, tôi nhớ đến một câu thơ làm đã lâu: “Cây lả ngọn vào bờ nghe biển hát,” một bản đàn không lời của thiên nhiên kết hợp bởi trùng trùng cơn sóng vỗ. Chỉ vài giờ bay về Houston, về lại mái nhà thân yêu của mình, không hiểu những nụ đào vào mùa đông giờ này có đủ sức để nở hoa vào mùa Xuân không nhỉ?


Mùa Giáng Sinh 2012


Nguyên Nhung


(Nguồn: [email protected])

Tin mới cập nhật