Hàng ngàn người Pakistan biểu tình ủng hộ thiếu nữ bị Taliban mưu sát

 

 

ISLAMABAD (AP) Hàng chục ngàn người tập trung biểu tình tại thành phố lớn nhất ở Pakistan để bày tỏ sự ủng hộ đối với một thiếu nữ 14 tuổi bị Taliban bắn trọng thương vì đã hô hào cho nữ giới có quyền được đi học.

Quang cảnh cuộc biểu tình ủng hộ cô Malala Yousufzai. (Hình: AP Photo/Shakil Adil)

Cuộc biểu tình tuần hành ở thành phố Karachi hôm Chủ Nhật được coi là lớn nhất từ khi cô Malala Yousufzai và hai bạn học bị bắn hôm 9 Tháng Mười khi đang từ trường về nhà.

Cuộc biểu tình được đảng chính trị lớn nhất ở Karachi, Muttahida Quami Movement, tổ chức. Người lãnh tụ đảng này, ông Altaf Hussain, phát biểu với người tham dự qua điện thoại từ London, nơi ông đang phải tự lưu vong.

Ông Hussain gọi các tay súng tấn công cô Yousufzai là “bọn thú” và nói rằng cuộc nổ súng là sự tấn công vào chủ thuyết của Pakistan.

Người biểu tình mang theo hình của cô gái trẻ tuổi và các biểu ngữ hoan nghênh sự can đảm của cô.

Trong khi đó, có tin chính quyền United Arab Emriates (UAE) dự trù sẽ gửi một phi cơ tải thương sang Pakistan đợi sẵn, trong trường hợp các bác sĩ nơi đây thấy rằng cần phải đưa cô Malala Yousufzai ra điều trị ở ngoại quốc. (V.Giang)

Alexis Zorba con người chịu chơi (Kỳ 74)

 


Không biết từ đời thuở nào tôi đã vô cùng ái mộ nền văn minh Hy Lạp. Hy Lạp với những đền đài uy nghi tráng lệ song lại rất giản đơn, thanh nhã. Hy Lạp với những thần linh uy mãnh song lại mỹ miều như những con người ngọc và đầy đam mê rất người. Và rồi dưới ảnh hưởng của Nietzsche, tôi biết ái mộ thêm tinh thần sáng lóa, tinh khôi của thiên tài Hy Lạp, biểu lộ một cách bi tráng, lẫm liệt qua những bi kịch gia vĩ đại, những triết gia độc đáo tiền Socrates, Plato. Cuối cùng, Henry Miller với cuốn du ký tuyệt vời “The Clossus of Maroussi” đã đưa tôi vào những vườn olive, vườn chanh thơm ngát bên bờ biển, gặp gỡ những người Hy Lạp đầy sức sống, nồng nàn tình người.


Với tình yêu Hy Lạp đó tôi đã dịch Alexis Zorba vào năm 1969.

 

Nguyễn Hữu Hiệu

 


Kỳ 74


 


Hắn cười to và hăng hái rảo bước về lều. Tôi chạy theo hắn. Hắn làm cá không hé môi trong khi tôi khuân củi và nhóm bếp. Xúp nấu xong, chúng tôi lấy muỗng và bắt đầu ngay từ trong nồi.


Cả hai chúng tôi không ai nói gì cả. Chúng tôi ăn ngấu nghiến: Cả ngày chúng tôi chưa có gì dính răng. Chúng tôi uống rượu và tinh thần sảng khoái. Bây giờ Zorba mới mở miệng:


– Bây giờ mà thấy mụ Bouboulina đến đây thì vui biết mấy, ông chủ nhỉ! Chỉ còn thiếu có mụ thôi. Mụ không có chút giá trị gì hết. Tuy nhiên ông cũng biết đó, ông chủ, tôi mong nhớ mụ quá, ma quỉ bắt mụ!


– Thế bây giờ bác không hỏi ai đã ném cho bác khúc xương đặc biệt đó à?


– Ông đếm xỉa đến điều đó làm chi, ông chủ? Nó tựa như một thứ cỏ nội hoa hèn ấy mà. Hãy gậm lấy khúc xương và đừng thắc mắc bàn tay nào đã ném cho mình khúc xương ấy. Nó có ngon không? Còn dính chút thịt nào trên đó không? Ðó là tất cả vấn đề cần đặt ra. Kỳ dư…


– Thực phẩm đã hoàn thành cái phép lạ kỳ diệu của nó! Tôi vừa nói vừa vỗ vai Zorba. Thân thể đói khát đã lắng dịu! Thế rồi tâm hồn tra hỏi cũng lắng xuống theo. Lấy cây santuri xuống đây!


Nhưng ngay lúc Zorba đứng dậy, chúng tôi nghe thấy những bước chân nhỏ vội vàng và đè nặng trên sỏi. Hai lỗ mũi đầy lông của Zorba hấp hiu.


– Vừa nói tới ma là quỉ tới liền! Hắn vừa nói khẽ vừa vỗ đánh đét một cái vào đùi. Mụ đến đó! Con chó cái đã đánh hơi thấy mùi Zorba trong không khí và đã dẫn xác đến đó.


– Tôi đi đây, tôi vừa nói vừa đứng lên. Tôi chán chuyện đó lắm. Tôi ra ngoài đi dạo một vòng. Muốn làm gì thì làm!


– Ngủ ngon, ông chủ!


– Ðừng quên nhé, Zorba. Bác đã hứa lấy mụ rồi đấy. Ðừng khiến tôi trở thành một kẻ nói dối.


Zorba thở dài.


– Lấy vợ nữa ư, ông chủ? Tôi ngán đến tận mang tai rồi!


Mùi xà phòng thơm lại gần thêm.


– Cố lên Zorba!


Tôi vội vã ra khỏi lều. Bên ngoài, tôi đã nghe thấy hơi thở hổn hển của mụ ngư nữ già.


 


17


 


Sáng hôm sau, từ mờ sáng, tiếng nói của Zorba đã đánh thức tôi dậy.


– Mới bảnh mắt ra mà đã có chuyện gì vậy? Tại sao bác la hét thế?


– Không có gì nghiêm trọng, ông chủ, hắn vừa trả lời vừa nhét đồ ăn vào túi dết. Tôi đã dắt về hai con la, ông dậy đi, chúng ta tới tu viện ký giấy tờ để đặt đường sắt treo. Chỉ có một cái làm con sư tử sợ: Ðó là rận. Những con rận sẽ hút hết máu mủ chúng ta, ông chủ.


– Tại sao bác lại coi mụ Bouboulina đáng thương như một con rận? Tôi vừa cười vừa nói.


Zorba giả điếc.


– Ði thôi, trước khi mặt trời lên quá cao.


Tôi rất sung sướng được leo núi và ngửi mùi thông. Chúng tôi leo lên lưng những con vật của chúng tôi và bắt đầu leo dốc. Chúng tôi dừng lại một lát ở mỏ để Zorba cắt đặt công việc cho thợ cuốc hầm “Mẹ Bề Trên”, đào rãnh trong đường hầm “Nước Ðái” để tháo nước và dọn sạch “Canavaro”.


Ngày rực rỡ như một viên kim cương đẹp nước. Càng lên cao, tinh thần chúng tôi càng trở nên tinh khiết và hứng khởi. Một lần nữa, tôi lại cảm thấy ảnh hưởng của không khí trong sạch, dễ thở và chân trời bao la trên tâm hồn. Con người cho rằng tâm hồn cũng là một con vật có phổi và lỗ mũi, nó cần nhiều dưỡng khí và nó chết ngộp trong bụi bậm hay giữa nhiều hơi thở hôi hám.


Mặt trời lên cao khi chúng tôi vào đến rừng thông. Không khí phảng phất mùi mật ong, gió thổi trên đầu chúng tôi, ào ào như sóng biển. Trong cuộc hành trình, Zorba quan sát độ dốc của núi. Trong trí tưởng tượng, vài thước một hắn lại trồng một cây cột, và khi ngước mắt lên, hắn đã trông thấy dây cáp sáng lòa dưới ánh mặt trời và chạy thẳng cho tới bờ biển. Treo vào dây cáp, những thân cây đã bị đốn vừa lướt đi vừa rít lên như tên bắn.


Hắn xoa tay vào nhau nói:


– Tuyệt diệu! Ðây sẽ là một mỏ vàng! Chẳng bao lâu nữa chúng ta sẽ ngồi trên đống vàng mười và có thể thực hiện tất cả những việc gì chúng ta đã nói.


Tôi ngạc nhiên nhìn hắn.


– Ô kìa, ông quên hết cả rồi sao? Trước khi xây tu viện, chúng ta sẽ trèo lên một ngọn núi cao. Ông gọi là núi gì nhỉ? Thèbes phải không?


– Tây Tạng, Zorba, Tây Tạng. Nhưng chỉ có hai chúng ta thôi. Bác không thể mang đàn bà đến đó được đâu.


– Ai nói chuyện đem đàn bà tới? Nhưng dù sao những kẻ đáng thương đó rất có ích, vì thế đừng nói xấu họ; rất có ích, khi một người đàn ông không có một công việc đàn ông để làm như khai mỏ than, tấn công những thành phố hay nói chuyện với Thượng Ðế. Trong trường hợp đó hắn còn nói có việc gì để làm để khỏi chết? Hắn uống rượu, chơi súc sắc, vuốt ve đàn bà… và hắn chờ đợi. Hắn chờ thời – nếu thời cơ đến.

Alexis Zorba con người chịu chơi (Kỳ 73)

 


 





Không biết từ đời thuở nào tôi đã vô cùng ái mộ nền văn minh Hy Lạp. Hy Lạp với những đền đài uy nghi tráng lệ song lại rất giản đơn, thanh nhã. Hy Lạp với những thần linh uy mãnh song lại mỹ miều như những con người ngọc và đầy đam mê rất người. Và rồi dưới ảnh hưởng của Nietzsche, tôi biết ái mộ thêm tinh thần sáng lóa, tinh khôi của thiên tài Hy Lạp, biểu lộ một cách bi tráng, lẫm liệt qua những bi kịch gia vĩ đại, những triết gia độc đáo tiền Socrates, Plato. Cuối cùng, Henry Miller với cuốn du ký tuyệt vời “The Clossus of Maroussi” đã đưa tôi vào những vườn olive, vườn chanh thơm ngát bên bờ biển, gặp gỡ những người Hy Lạp đầy sức sống, nồng nàn tình người.


Với tình yêu Hy Lạp đó tôi đã dịch Alexis Zorba vào năm 1969.





 


Nguyễn Hữu Hiệu


 


Kỳ 73


 


Zorba bỉu môi, không nói gì cả. Hắn chỉ gừ gừ như một con chó trung thành khi bị chủ nhà đánh. Tôi nói tiếp:


– Trên thế giới có những ngọn núi cao vời, bát ngát, đầy tu viện. Và trong những tịnh xá ấy có những tu sĩ áo vàng sống. Họ ngồi kiết già một tháng, sáu tháng, và chỉ quán tưởng tới một điều và điều duy nhất mà thôi. Một điều duy nhất thôi, bác nghe rõ chưa? Không hai, một thôi! Họ không nghĩ về đàn bà hay về than non như chúng ta, hay về sách vở và về than non: Họ tập trung tinh thần trên một và cùng một vật thôi, và họ tạo ra phép lạ. Phép lạ thường xảy ra như vậy. Bác thấy gì khi bác để một cái kính lúp ngoài mặt trời và hội tụ tất cả tia sáng trên một điểm độc nhất Zorba? Ðiểm đó chẳng bao lâu bắt lửa ngay. Tại sao? Bởi vì sức mạnh của mặt trời không bị tản mát, nó được hội tụ tất cả trên một điểm duy nhất đó. Tinh thần con người cũng vậy. Người ta tạo ra phép lạ bằng cách tập trung tinh thần trên một điều duy nhất. Bác hiểu không, Zorba?


Zorba thở một cách nặng nhọc. Lát sau hắn nhúc nhích như muốn bỏ chạy. Nhưng hắn tự kềm chế mình.


– Ông nói tiếp đi, lẩm bẩm bằng một giọng tắc nghẹn.


Nhưng rồi hắn đứng phắt dậy, ngay ngắn.


– Ông im đi! Im đi! Hắn la. Tại sao ông nói với tôi điều đó, ông chủ? Tại sao ông đầu độc tâm hồn tôi? Tôi đang yên lành ở đây, tại sao ông lại làm cho tôi bối rối bất an? Tôi đói. Thượng Ðế hay ma quỉ (trời đánh tôi nếu tôi thấy sự khác biệt giữa Thượng Ðế và ma quỉ) quẳng cho tôi một khúc xương, và tôi gặm. Tôi vừa vẫy đuôi vừa kêu: “Cám ơn! Cám ơn!” Bây giờ…


Hắn giậm chân, quay đi, làm một cử động như muốn trở về lều, nhưng hắn vẫn còn sôi máu. Hắn ngừng lại.


– Hừ! Khúc xương khốn nạn y ném cho tôi, tên thượng đế – ma quỉ đó! Hắn gầm lên. Một mụ ca kỹ già bẩn thỉu hết thời!


Hắn vốc một nắm sỏi và liệng xuống biển.


– Nhưng y là ai, y là ai, tên ném cho chúng ta những khúc xương đó?


Hắn chờ một lát và hắn bực tức khi không thấy câu đáp.


– Ông không nói gì sao, ông chủ? Hắn la lớn. Nếu ông biết, nói cho tôi hay để tôi biết tên y. Ông đừng lo ngại gì hết, tôi sẽ săn sóc y cẩn thận! Nhưng nếu lại ít hy vọng như vậy thì tôi biết đi về ngả nào bây giờ? Hỏng bét cả!


– Tôi đói rồi, tôi nói. Về làm bếp đi là vừa. Ăn cái đã!


– Chúng ta không thể nhịn đói một tối được sao, ông chủ? Tôi có một ông chú tu sĩ, ngày thường ông chỉ dùng muối với nước lã. Chủ Nhật và ngày lễ lớn, ông dùng thêm một chút cám. Vậy mà ông sống tới một trăm hai chục tuổi.


– Ông ấy sống tới một trăm hai chục tuổi, Zorba, bởi vì ông có đức tin. Ông ta đã tìm thấy Thượng Ðế và không còn lo lắng gì nữa. Nhưng chúng ta không có Thượng Ðế nào để nuôi chúng ta, Zorba, bởi vậy bác hãy nhóm lửa đi, chúng ta có mấy con cá trác. Nấu một nồi xúp nóng, đặc, với thật nhiều hành và hồ tiêu vào, như chúng ta vẫn thích. Sau đó sẽ thấy.


– Thấy gì? Zorba tức tối hỏi. Vừa khi no bụng một cái là chúng ta sẽ quên hết tất cả những điều đó.


– Ðó chính là điều tôi muốn! Ðó là giá trị của thực phẩm, Zorba. Thôi, đi đi, nấu một nồi xúp cá thật ngon, nếu không đầu chúng ta nổ tung bây giờ!


Zorba vẫn không nhúc nhích. Hắn đứng yên chăm chú ngó tôi.


– Này, ông chủ, tôi có điều muốn nói với ông. Tôi biết ông định làm gì rồi. Khi ông đang nói với tôi, thình lình tôi thấy rõ những dự định của ông nhanh như chớp.


– Tôi định làm gì, Zorba? Tôi tò mò hỏi.


– Ông muốn xây một tu viện chứ còn gì nữa! Thay vì tu sĩ, ông qui tụ một vài ông cạo giấy như các hạ, tối ngày bôi bác nguệch ngoạc. Rồi, giống như mấy ông thánh người ta thấy trong những bức tranh cổ, từ miệng các ngài vọt ra những băng giấy in chữ. Tôi đoán có đúng không?


Tôi cúi đầu, buồn bã. Những giấc mơ xưa của tuổi trẻ, đôi cánh rộng đã rụng hết lông – những ước vọng ngây thơ, bao dung, cao nhã… Thiết lập một đoàn thể trí thức, khép mình trong đó, một nhóm chừng mươi mười bạn thân – nhạc sĩ, họa sĩ, thi sĩ… suốt ngày làm việc, chỉ gặp nhau ban đêm, ăn uống, ca hát, đọc sách chung với nhau, bàn luận những vấn đề lớn của nhân loại, đánh đổ những giải đáp truyền thống. Tôi đã soạn thảo những nội quy của đoàn thể. Tôi còn tìm thấy luôn cả trụ sở, ở Thánh-John-Liệp-Hộ, tại một ngọn đèo của rặng Hymettus…


– Tôi đoán đúng quá! Zorba thích thú la lên khi thấy tôi vẫn im lặng.


– Ðược rồi, lúc bấy giờ con sẽ xin ngài một đặc ân, thưa đức tu viện trưởng: Trong cái tu viện đó, xin ngài cho con chân gác cửa để con có thể buôn lậu và thỉnh thoảng đem vào một vài của lạ: đàn bà, đàn mandoline, bình rượu raki, lợn sữa quay… để ngài đừng phí hoài cuộc đời trong những câu chuyện tào lao!

Thêm một người Tây Tạng tự thiêu phản đối Trung Quốc

 

BẮC KINH (AP) Ông của một đạo sư Phật Giáo Tây Tạng nổi tiếng vừa qua đời hôm Thứ Bảy sau khi tự thiêu phản đối sự cai trị của chính quyền Trung Quốc, theo tin từ tổ chức Free Tibet, có trụ sở đặt tại Anh.

Người Tây Tạng lưu vong thắp nến cầu nguyện tại Dharmsala, Ấn Ðộ, trong lúc có người tự thiêu tại Tây Tạng phản đối sự chiếm đóng của Trung Quốc. (Hình: AP Photo/Ashwini Bhatia)

Ðây là vụ tự thiêu mới nhất của người dân Tây Tạng trong nhiều chục vụ xảy ra kể từ năm 2009 đến nay.

Tổ chức Free Tibet cho hay ông Tamdrin Dorjee, 52 tuổi, chết tại nơi tự thiêu gần tu viện Tsoe Monastery ở tỉnh Cam Túc (Gansu), nằm về phía Tây Bắc Trung Quốc.

Nguồn tin trên cho hay người này là ông của đại sư Gungthang Rinpche, tái sinh đời thứ bảy.

Xác của ông Dorjee được đưa về quê quán, theo tin từ Free Tibet. Các hình ảnh chụp ở hiện trường cho thấy hàng chục người dân và các nhà sư đứng quanh một thân xác còn bốc khói.

Chính quyền Tây Tạng lưu vong cũng xác nhận nguồn tin này và nói rằng công an võ trang được nhanh chóng đưa tới bên trong và chung quanh tu viện Tsoe sau khi xảy ra vụ tự thiêu.

Có hơn 50 người Tây Tạng đã tự thiêu để phản đối sự cai trị của Trung Quốc trong khu vực Hy Mã Lạp Sơn, theo thống kê của các nhóm bảo vệ nhân quyền Tây Tạng. (V.Giang)

Hàng ngàn lính Anh sẽ rút khỏi Afghanistan năm 2013

 

 

 

LONDON (AP) Bộ trưởng quốc phòng Anh cho hay hàng ngàn người lính của quốc gia này sẽ rời khỏi Afghanistan năm tới, một giảm sút lớn lao trong quân số Anh trên chiến trường này.

Một binh sĩ Anh nghỉ ngơi trong lúc hành quân tại Gereshk, tỉnh Helman, Afghanistan. Anh sẽ rút hàng ngàn lính khỏi quốc gia này vào năm tới. (Hình: Sergeant Alison Baskerville RLC/MoD via Getty Images)

Chính phủ Anh mới đây cho hay khoảng 500 trong số 9,500 lính của họ tại Afghanistan sẽ được rút về nước trong năm 2012, và tất cả các binh sĩ sẽ rút đi vào cuối năm 2014, khi quân đội quốc tế trao nhiệm vụ gìn giữ an ninh cho quân đội chính phủ Afghanistan.

Tuy nhiên, chính phủ Anh chưa nói rõ là sẽ rút bao nhiêu quân trong năm 2013.

Bộ Trưởng Quốc Phòng Philip Hammond hôm Chủ Nhật nói rằng ông dự trù “có sự giảm quân lớn vào cuối năm tới”.

Ông Hammond cho đài BBC hay rằng “hàng ngàn, chứ không phải hàng trăm” quân nhân Anh sẽ rời khỏi Afghanistan vào cuối năm 2013.

Kể từ năm 2001 đến nay đã có 433 lính Anh thiệt mạng trên chiến trường Afghanistan. (V.Giang)

Khánh Ly, ở hay về? Thương và ghét!

 


Huy Phương


Truyền thông trong nước hôm 24 và 25 tháng 9 đã đưa tin, Cục Nghệ Thuật Biểu Diễn đã cấp phép cho nữ ca sỹ Khánh Ly về nước diễn từ giờ cho đến hết tháng 12, qua các thành phố tại Hà Nội, Ðà Nẵng và Saigon vào tháng 11, 2012 tới do công ty giải trí Ðồng Dao tổ chức.


Chuyện ca sĩ hải ngoại về hát ở Việt Nam thì đâu có gì lạ mà làm ầm ĩ, nhưng quả thật tin Khánh Ly về đã gây xôn xao dư luận và giới truyền thông đã dành nhiều trang báo, bản tin, có những tin tức và ý kiến khác nhau về chuyện này.


Về hay không về?


Trên nhiều trang web cộng đồng người Việt tại California, đã đăng bản tin: “Khánh Ly không hát tại Việt Nam trong tháng 11”. Theo bản tin thì Khánh Ly vẫn chưa biết gì về tin sẽ về Việt Nam biểu diễn. Hơn nữa, “từ nay đến tháng 11, kéo dài đến Tết Âm lịch, Khánh Ly hoàn toàn chuyên tâm cho chương trình CD & DVD Thánh Ca dâng Mẹ và Thiên Chúa, kỷ niệm 50 năm ca hát, thực hiện tại Nhà Thờ Kiếng tại quận Cam, California” hay “tháng 11 rất bận rộn với các chương trình hát cho nhà thờ ở Hawaii, rồi sang hát tại Châu Âu”…


Trong khi đó đài BBC loan báo Khánh Ly sẽ về hát ở Việt Nam qua các cuộc phỏng vấn những người quen biết xa gần với ca sĩ này.


Chuyện về của Khánh Ly, theo chính quyền trong nước: “Bằng quyết định này, chúng tôi muốn thể hiện chính sách cởi mở của nhà nước, tạo điều kiện cho những nghệ sĩ nay muốn hướng về tổ quốc, có thể trở về biểu diễn cho đồng bào mình, ngay trên quê hương mình.”


Với nhạc sĩ Phạm Duy, người đã về sống ở Việt Nam, phủ nhận tất cả sự vinh danh và yêu mến của hải ngoại, mấy năm sau “hồ hởi” cầm tờ CMND và hộ khẩu để chụp hình đăng báo thì khẳng định: “Ðây cũng là bằng chứng hùng hồn của chính sách đại đoàn kết dân tộc!”


Khánh Ly mà không phải là ai khác!


Chuyện về hát ở Việt Nam đâu còn là chuyện lạ: Chế Linh, Thanh Tuyền, Ðức Huy, Duy Quang, Elvis Phương, Lệ Thu, Ý Lan… và vô số các ca sĩ khác đã về Việt Nam, mà ít ai quan tâm bình luận. Trách chi thương nữ! Ngay cả Như Quỳnh, con gái của một cựu sĩ quan miền Nam đã được định cư tại Mỹ theo chương trình “H.O.,” hiện nay cũng đã có mặt tại Saigon để hát trong đêm chung kết Tiếng Hát Truyền Hình 2012. Ca sĩ cũng là một nghề, nghề thì cần làm việc để nuôi thân, thế thôi! Ngày xưa họ còn ngại, bây giờ chính phủ CSVN đã bật đèn xanh: “Tạo điều kiện cho những nghệ sĩ nay muốn hướng về tổ quốc” thì còn gì phải e dè. Nhưng khi có nguồn tin Khánh Ly về hát trong nước thì thiên hạ ầm ĩ.


Chuyện này có thể giải thích: “Người ta yêu và quý mến tên tuổi Khánh Ly hơn những người khác và không một ca sĩ nào đồng thời, hay cho đến bây giờ có thể so sánh với ca sĩ Khánh Ly, trước và sau khi miền Nam rơi vào tay cộng sản, trong cũng như ngoài nước!”


Vì khán giả quá thương yêu Khánh Ly, thương yêu nên mới giận hờn, trách móc, bàn luận… Chúng ta có thể hiểu điều này, nếu mọi người thờ ơ, chẳng hề quan tâm khi thấy những Ðức Huy, Chế Linh hay cả Lệ Thu về hát ở trong nước!


Khi yêu ai chúng ta thường muốn nhân vật đó làm, suy nghĩ theo ý chủ quan của mình, từ con cái, bạn bè cho đến những nhân vật thần tượng. Khi không vừa ý, điều đó thường mang lại khổ đau cho mình, thương trở thành ghét, yêu trở nên giận hờn, trách móc.


Có thể hiểu trong ba điều:


1. Người ca sĩ nào lại không yêu sân khấu và tiếng vỗ tay của khán giả, nên trình diễn trước đám đông là sự sống cần thiết của ca sĩ. Thời gian và tuổi tác sẵn sàng đào thải, không ai là “vượt thời gian” hay “muôn năm” cả! Vậy thì làm được gì thì làm, đừng để mọi sự trở nên muộn màng.


Trong nước từ ngày thay đổi chế độ, tiếng hát ngày xưa là nỗi thương nhớ khôn nguôi, Khánh Ly là cố nhân của những ngày tháng của kỷ niệm đã xa. Mà không phải là người cũ, người mới, những người đi từ miền Bắc đến Ðông Âu, những người Cộng Sản “đặc” từ rừng về, cũng muốn nghe và gặp Khánh Ly. Vậy thì Khánh Ly sẽ về.


2. Ai lại không yêu quê hương, xứ sở. Bỏ quê hương, xứ sở ra đi là một điều bất đắc dĩ, như cây nhổ rễ để mang đi trồng ở một vùng đất khác. Tuổi trẻ còn nhựa sống sinh lực, nhưng tuổi già thì héo hon. Chúng ta phải đau đớn lắm qua những tháng ngày sống xa quê hương. Là một người Việt tha hương, Khánh Ly cũng thế, vậy thì Khánh Ly sẽ về.


3. Ta thì nói: “Ðồng tiền là huyết mạch,” Tây thì cho là “Money First”. Trên đời này không thiếu người đã làm những việc gian dối, dơ bẩn, phi pháp để kiếm tiền, trong khi đó, người ca sĩ cũng như những người tử tế, lương thiện kiếm tiền bằng tài năng và sự lao động cực nhọc của mình, thì đâu có gì là đáng trách. Hiểu theo nghĩa đó, vậy thì Khánh Ly sẽ về.


Chỉ tiếc rằng tiếng hát Khánh Ly đã đồng hành với những nỗi thăng trầm của người tỵ nạn, khán giả đã thổn thức với Khánh Ly trong “Ðêm Chôn Dầu Vượt Biển,” “Sài Gòn ơi, vĩnh biệt!” “Ðêm nhớ về Sài Gòn,” “Chút quà cho quê hương,” “Người di tản buồn,” “Ai về xứ Việt”. Hình như về “lập trường” Khánh Ly đã tuyên bố “Ði thì cùng đi, về thì cùng về!” Bây giờ chúng ta có thể xoay trở ý nghĩa của câu nói này theo nghĩa: “Bây giờ bao nhiêu ca sĩ hải ngoại đã về hát ở Việt Nam, đã đến lúc Khánh Ly ‘cùng về!’”


Giấy “cho phép về hát” đã có, hộ chiếu đã có, địa điểm trình diễn đã có, dư luận cũng có phần thuận lợi, tôi tin chắc rằng Khánh Ly sẽ về hát ở Việt Nam, không phải trong nay mai, mà khi bài báo này đến tay bạn đọc, chưa chừng Khánh Ly đã có mặt ở Hà Nội rồi! Thắc mắc của riêng tôi là trong các địa điểm trình diễn không có Huế, quê hương của Trịnh Công Sơn, quê hương của những “mẹ già lên núi tìm xương con về,” quê hương của những “mộ bia đều như nấm!” Phải chăng vì Huế xưa nay đã quá nghèo, thuộc loại “chân đất” không đủ khách hạng sang cho một buổi trình diễn của “nữ hoàng” Khánh Ly. Theo tôi đó là một điều đáng tiếc.


Tôi chỉ xin một điều. Khánh Ly thường thích nói nhiều trước khi hát. Nói đến chuyện yêu quê hương, nguồn cội thì cứ nói, nhưng chớ nói điều gì đi ngược lại chính con người mình trước đây và gây tổn thương cho những người đã vì chế độ Cộng Sản mà bỏ nước ra đi, bằng cách này hay cách khác, đang hiện diện ở ngoài đất nước, quê hương Việt Nam hôm nay; làm đau lòng những người đang hy sinh tranh đấu để thay đổi chế độ hiện hữu ở Việt Nam.


Thấp hèn hay cao cả, tất cả đều tự do mình làm ra, không ai có thể thay đổi được nhân cách của mình!

Chú Shep Lowman

 

Trịnh Hội (Nguồn: VOA)

Không hiểu sao ngày càng lớn tôi càng thích tìm đến những người già. Ðặc biệt là những ông già cá tính, đã từng ngang dọc đó đây. Nhớ lúc tôi còn học đại học ở Melbourne, một trong những ông già mà tôi thích nhất là ông Wills. Mà tôi và các bạn ông vẫn thường chỉ gọi vắn tắt là vậy. Mặc dù ông là một bác sĩ chuyên khoa nổi tiếng ở Úc. Và ông hơn tôi những gần 70 tuổi.

Cứ mỗi tuần, mỗi chiều Thứ Tư, là tôi lại xách vợt đi đánh tennis cặp với ông. Ðể đấu với một cặp cũng đâu hơn tôi năm, ba chục tuổi. Ðể chúng tôi cùng nghe ông kể chuyện tiếu lâm trong những lúc nghỉ xả hơi về quãng đường dài mà ông đã đi qua. Từ Ireland nơi ông sinh ra và lớn lên, sang Châu Âu khi cả một vùng trời vẫn còn đắm chìm trong biển lửa của Ðệ Nhị Thế Chiến. Và từ Châu Âu ông đã tiếp tục dấn thân sang Phi Châu vào cuối thập niên 1940 khi cả lãnh thổ ấy chưa có được một trường y khoa đúng nghĩa.

Ông là người sáng lập trường y khoa đầu tiên ở Phi Châu. Và ông cũng là người đầu tiên cho tôi thấy những cầu vồng muôn màu trong cuộc sống, ở những vùng đất xa xôi, ở những con người luôn đi tiên phong trong công việc giúp dân, khai trí. Ðể nhận thức được rằng, cuối cùng, khi chúng ta chùn chân, mỏi mệt, sẽ không có gì hạnh phúc bằng được sống lại một lần nữa với những kỷ niệm tràn đầy tình nghĩa, giữa người và người.

Lần đầu tiên tôi gặp Shep Lowman ở Geneva, Switzerland vào Mùa Thu năm 2002, ông đã làm cho tôi nhớ lại ông bạn già tên Wills của tôi nay đã mất. Cũng cái dáng gầy gầy đó, hai gò má cao, tóc bạc, cùng với sự hóm hỉnh trong từng lời nói, mỗi cử chỉ mà tôi chỉ thấy có ở những ông già đã hơn một lần lưu lạc khắp bốn phương trời, đã từng thấy và sống hết mình ở những nơi mà họ đã đi qua.

Có khác chăng là Wills sinh ra và lớn lên bên Châu Âu. Còn Shep là người Mỹ chính cống.

Ông cũng là một trong những nhân viên cuối cùng của Tòa Ðại Sứ Mỹ rời khỏi Sài Gòn vào sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Khi ông biết rằng không còn cách nào khác để giúp những người bị kẹt lại. Chính ông là người đã tự tay lên list cho hàng trăm, hàng ngàn người di tản bằng máy bay, trực thăng trong những ngày cuối cùng và cũng chính ông sau này đã tiếp tục tranh đấu trong nhiều cương vị khác nhau kể cả chức vụ phó thứ trưởng Bộ Ngoại Giao để nước Mỹ nhận gần 1 triệu người Việt tỵ nạn qua các chương trình định cư nhân đạo, con lai Mỹ, HO, ROVR.

Sau này ông cũng là một trong những người hết mình ủng hộ giải pháp mà chúng tôi đưa ra. Ðó là nước Mỹ nên nhận tất cả những thuyền nhân Việt Nam cuối cùng còn kẹt tại Philippines. Bằng cách đưa ra những tiêu chuẩn dễ nhất có thể.

Cũng nhờ vậy mà qua chương trình nhân đạo này, đã có gần 1,600 người Việt tỵ nạn được cho đi định cư ở Mỹ chỉ trong vòng 2 năm, 2005-2006. Mặc dù họ đã bị rớt thanh lọc ở Philippines. Mặc dù họ không được Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc công nhận. Và không còn một ai ngó ngàng đến họ.

Ngoại trừ những người có tâm, có lòng, có kiến thức, và có khả năng như Shep. Ở ngay thủ đô Washington nơi tất cả mọi chính sách lớn, nhỏ của Mỹ được đưa ra.

Nhìn lại quãng đường tranh đấu của 10 năm về trước, thật lòng mà nói tôi không thể tưởng tượng được là cũng nhờ nó mà tôi đã có dịp gặp được những con người quá ư là tuyệt vời như Shep. Nếu như trước đây, sau khi học xong ở Anh vào Mùa Thu năm 2002 tôi không quyết định sang Geneva để bắt đầu tranh đấu cho điều mình vẫn một mực tin tưởng, thì tôi đã không có dịp gặp được những nhà hoạt động nổi tiếng như Shep.

Và nếu như tôi không gặp được Shep thì chưa chắc gì tôi đã được ông giới thiệu để gặp những nhà hoạt động nổi tiếng, tài giỏi khác ở Washington D.C. Ðể từ đó chúng tôi đã cùng nhau lên tiếng và sau đó là thương thảo với cả ba nơi khác nhau: Văn phòng của các dân biểu, thượng nghị sĩ nơi đề nghị thay đổi chính sách, Bộ Ngoại Giao nơi đưa ra chính sách và Bộ An Ninh Quốc Gia nơi thực thi chính sách.

Ðể cuối cùng một chính sách mới của nước Mỹ dành cho thuyền nhân Việt Nam đã được cho ra đời vào ngày 29 tháng 4 năm 2004. Chỉ sau gần 2 năm tranh đấu.

Hôm tôi ghé thăm Shep và cô Hiệp là vợ của ông tại tư gia của hai người ở Virginia trước khi ra phi trường, chúng tôi đã tay bắt mặt mừng hỏi thăm nhau vì cũng lâu rồi tôi mới có dịp trở lại. Khác với cách đây 3 năm về trước khi tôi vẫn còn nhiều công việc ở Washington D.C. nên thỉnh thoảng vẫn được cô kêu qua cho ăn ba món canh chua, cá kho tộ và rau muống luộc mà tôi đi đâu cũng thèm.

Cô nấu ăn ngon tuyệt vời và được ngồi ăn cùng với cô chú, để nghe Shep kể lại chuyện tình của hai người, ông ‘cua’ cô ra sao lúc mới đến Việt Nam lần đầu tiên vào năm 1966, hai người đã cùng nhau chia sẻ những khó khăn như thế nào, đương đầu với những biến đổi to lớn sau năm 1975 ra sao, đối với tôi đó là một diễm phúc ngọt ngào mà có bao nhiêu tiền cũng không thể nào mua được.

Chỉ tiếc rằng trong hoàn cảnh hiện tại, vì công việc bề bộn, vì những chuyện riêng tư, chúng tôi đã không còn gặp thường xuyên như trước đây.

Mà thời gian thì có chờ ai đâu. Năm nay Shep đã 86 tuổi. Cái tuổi từng ngày một làm cho người ta chậm lại, tai không còn nghe rõ, trí kém đi.

Nhưng có một điều mà Shep – đáng tuổi ông tôi thế vậy mà vẫn buộc tôi chỉ được gọi thân mật là Shep – vẫn đang biết rõ, rất rõ khi tôi hỏi điều gì sẽ làm cho ông vui nhất trong những năm tháng cuối đời.

Nháy đôi mắt vẫn còn tinh anh, Shep cười nhẹ, bảo: “I want to go back to Vietnam. And to die there if I can.”

Rõ là cuộc sống này muôn màu, phải không bạn?

Bài học từ cuộc bầu cử tổng thống ở Mỹ

 


Nguyễn Hưng Quốc (Nguồn: VOA)


 


Sống ở Úc nhưng tôi lại thích theo dõi cuộc bầu cử tổng thống ở Mỹ. Có ba lý do chính.


Thứ nhất, khác với tất cả các quốc gia khác, chính trị của Mỹ không chỉ giới hạn trong phạm vi nước Mỹ. Mà còn ảnh hưởng đến toàn cầu. Do đó, sẽ ngây thơ vô cùng nếu những người sống ngoài nước Mỹ có thể tự tin cho rằng bất kể ai lên làm tổng thống Mỹ, thế giới cũng chẳng có gì thay đổi cả.







Hai ứng cử viên phó tổng thống, Joe Biden (trái) và Paul Ryan, bắt tay nhau trước cuộc tranh luận. (Hình: SAUL LOEB/AFP/GettyImages)


Thứ hai, xem tranh cử ở Mỹ có cảm giác hồi hộp, căng thẳng, gay cấn như xem một trận đấu trong thể thao, thậm chí, trong võ thuật, ở đó, có hai đối thủ cùng so găng. Có đánh qua đánh lại. Cũng nhứ. Cũng lừa. Cũng phòng thủ. Cũng phản công.


Và cuối cùng, bao giờ cũng có một người ngã gục. Kẻ chiến thắng nhận vòng hoa, giữa những tiếng hoan hô vang dội. Và thứ ba, qua những sự quan sát ấy, chúng ta có thể học được một số bài học về dân chủ.


Trong bài này, tôi xin tập trung vào điểm thứ ba.


Cần nói ngay: Thứ nhất, không phải điều gì chúng ta học được cũng có thể ứng dụng được; thứ hai, không phải điều gì có thể ứng dụng được cũng nên ứng dụng ngay. Lý do là mỗi nước có những hoàn cảnh khác nhau. Cũng là dân chủ, nhưng dân chủ ở Úc khác ở Châu Âu (nhất là Châu Âu lục địa, nghĩa là trừ một số quốc đảo, đặc biệt là Anh); và dân chủ ở Châu Âu cũng khác dân chủ ở Mỹ. Ở đây, chúng ta chỉ chú ý đến những vấn đề có tính nguyên tắc chung. Trong các vấn đề ấy, tôi quan tâm đến một điểm: Tính công khai trong cạnh tranh.


Có lẽ không ở đâu cuộc tranh cử tổng thống lại kéo dài như ở Mỹ: Cả hàng năm trời. Bắt đầu bao giờ cũng là cuộc lựa chọn ứng cử viên của đảng. Với đảng đang cầm quyền, công việc này tương đối dễ: Thường, tổng thống đang ở nhiệm kỳ thứ nhất sẽ được đảng đề nghị ra tranh cử nhiệm kỳ thứ hai (như trường hợp Tổng Thống Barack Obama hiện nay); nếu đương kim tổng thống đang ở nhiệm kỳ thứ hai và không được quyền tranh cử cho nhiệm kỳ thứ ba thì phó tổng thống, nếu muốn, sẽ được đề cử (như trường hợp Al Gore năm 2000); chỉ trong trường hợp đương kim phó tổng thống, vì lý do nào đó, không ra tranh cử tổng thống, đảng cầm quyền mới tổ chức vòng lựa chọn ứng cử viên lâu dài, đầy nhọc nhằn và tốn kém (như trường hợp đảng Cộng Hòa năm 2008, khi Phó Tổng Thống Dick Cheney quyết định nghỉ hưu). Với đảng đối lập thì bao giờ cũng có một vòng lựa chọn gắt gao: Từ hàng chục người có tham vọng nắm giữ chiếc chìa khóa Nhà Trắng, cuối cùng, chỉ có một người được lựa chọn đại diện cho đảng để ra tranh cử.


Trong quá trình lựa chọn, các ứng cử viên phải cạnh tranh nhau dữ dội. Cạnh tranh ở ba khía cạnh:


Thứ nhất, về tài chính, phải cố gắng quyên góp thật nhiều tiền từ những người ủng hộ để có đủ khả năng trang trải các phí tổn trong cuộc tranh cử. Khả năng quyên góp này cũng được xem như một khả năng chính trị: Nó chứng tỏ ứng cử viên ấy biết cách tổ chức và nhất là, cách vận động quần chúng.


Thứ hai, về tranh luận. Các ứng cử viên phải thường xuyên tranh luận công khai với nhau. Những người ăn nói kém, thiếu nhanh nhạy, không thuyết phục sẽ dần dần bị loại trừ. Cuối cùng, người còn lại sẽ là người có khả năng đối đáp sắc sảo nhất.


Thứ ba, về chính sách. Sự lựa chọn ứng cử viên cho đảng thực chất là sự lựa chọn giữa các chính sách: Người thắng cuộc thường là người có chính sách được đa số thành viên trong đảng đồng ý và ủng hộ.


Khoảng ba tháng trước ngày bầu cử chính thức, đảng đối lập phải hoàn tất quá trình chọn lựa này. Từ đó về sau, trên võ đài chính trị chỉ còn hai đối thủ chính đại diện cho hai đảng tỉ thí với nhau.


Cuộc tỉ thí vẫn diễn ra trên lãnh vực quen thuộc: Khả năng vận động tài chính, khả năng tranh biện và khả năng hoạch định chính sách cũng như rao bán chính sách. Tuy nhiên, trong cuộc đua này, nổi bật lên nhất vẫn là khả năng thuyết phục, vận động và tổ chức quần chúng. Ở khía cạnh này, giới nghiên cứu chính trị đánh giá rất cao Obama, đặc biệt trong cuộc tranh cử vào năm 2008, lúc ông sử dụng hầu như tất cả các phương tiện truyền thông hiện đại nhất, từ email đến facebook, để tiếp cận quần chúng và biến quần chúng thành một lực lượng ủng hộ viên đầy hiệu quả cho mình. Lúc ấy, có hơn 2 triệu người đăng ký vào trang MyBarackObama của ông và hơn 13 triệu địa chỉ email thường xuyên nhận được tin nhắn từ ủy ban vận động tranh cử của ông.


Ðiều thú vị là tất cả các cuộc tỉ thí ấy đều diễn ra một cách minh bạch, công khai, giữa thanh thiên bạch nhật. Ðối thủ cũng như giới truyền thông tha hồ phanh phui mọi bí mật của họ. Một lời phát biểu đâu đó, trong các buổi tiệc được xem là bí mật, cũng có thể được bạch hóa để dư luận đánh giá. Còn các cuộc tranh luận giữa họ với nhau thì được truyền hình trực tiếp để cả hàng chục triệu người theo dõi. Ai nói năng mạch lạc và ai ấm ớ; ai thắng và ai thua… mọi người đều biết rõ.


Trong các cuộc tỉ thí ấy, trọng tài quan trọng nhất là quần chúng. Quần chúng được cung cấp thông tin. Quần chúng so đo cân nhắc. Cuối cùng, quần chúng sẽ là người quyết định.


Bởi vậy, cuộc tranh tài giữa hai ứng cử viên không nằm ở chỗ ai hạ gục được ai mà chủ yếu ở chỗ: Ai tranh thủ được quần chúng nhiều nhất. Ðể có nhiều phiếu nhất.


Và cũng bởi vậy, chiến thắng cuối cùng không phải chỉ thuộc về một người, cái người được bầu làm tổng thống. Mà còn thuộc về cái khối đa số đã ủng hộ những chính sách chính của người ấy.

Có nên mua xe mô tô hai bánh?

 


Phạm Ðình


 


Mấy ngày trước, nhận được thư một độc giả hỏi về chuyện bảo trì xe mô tô 2 bánh, đại khái “Xe gắn máy có phải thay nhớt không? Bao lâu một lần?” Người viết muốn đấm ngực ăn năn về chuyện “con yêu con ghét”, trong bao nhiêu năm nói chuyện xe hơi mà đúng thực là chưa có một dòng nói về xe gắn máy. Nội tướng thấy ông xã mình băn khoăn như vậy thì “xùy” to một tiếng, “Trời, tưởng gì! Xe gắn máy chạy rợp đường ở Việt Nam, có lạ gì đâu mà nói!” Có thật như vậy không? Với những đầu óc “cán cộng đỉnh cao” ở Việt Nam hiện nay, vấn đề xe cộ thế nào không biết, chứ ở các xứ Bắc Mỹ (bao gồm Hoa Kỳ và Canada) thì chuyện lái mô tô 2 bánh không phải không đáng nói đâu. Trước hết, bạn phải có một bằng lái riêng, và tại nhiều địa phương, lấy được bằng lái mô tô còn khó hơn là lấy bằng lái xe hơi nữa. Và dĩ nhiên, chuyện bảo trì xe 2 bánh cũng quan trọng, không khác gì như bảo trì xe 4 bánh vậy. Thế nhưng…







Những chiếc xe hai bánh trong một tiệm sửa xe. (Hình minh họa: Ann Tornkvist/AFP/Getty Images)


 


Xe hai bánh là gì?


 


Chả ai lạ gì xe 2 bánh, nhưng bởi vì xe đạp cũng là xe 2 bánh, nên xin nói rõ để khỏi hiểu lầm: Xe 2 bánh ở đây được hiểu là xe gắn máy 2 bánh, cũng gọi là Motorcycle, khác với xe hơi (car, automobile) cũng được gắn máy nhưng lại có 4 bánh.


Nhân tiện, xin có đôi nhận xét về tên gọi xe hơi. Lý do gọi xe hơi là bởi vì… nó chạy bằng hơi? Không phải, nếu chạy bằng hơi được thì đâu có ai “ke” mỗi khi xăng tăng giá, Hoa Kỳ chẳng phải khổ sở khi các nước trong khối cung cấp xăng dầu, đa số ở tại Trung Ðông, làm eo để áp lực! Hay vì nó chạy trên các bánh xe có nạp hơi? Rất có thể! Bởi vì ở thuở mới khai sinh, xe chạy trên các bánh gỗ, bánh thép, rồi từ từ được thay bằng bánh cao su có bơm hơi… góp phần vào sự chuyển động nhịp nhàng cho xe trên đường, và thoải mái cho những cái bàn tọa của người ngồi trong xe. Ðịnh nghĩa như thế, xe hơi phải bao gồm cả xe đạp và xe gắn máy 2 bánh, chứ không thể là cái tên độc quyền cho… xe hơi được, phải không bạn? Thế nhưng, không thể đi ngược lại thói quen của ngôn ngữ, chúng ta sẽ dùng chữ mô-tô cho loại xe 2 bánh gắn máy, và chữ xe hơi cho những chiếc “xế hộp” 4 bánh.


 


Tại sao nên dùng xe mô tô?


 


Ðúng vậy, tại sao lại nên mua xe mô tô? Có nghĩa là, so với xe hơi thì xe mô tô có lợi gì? Hại gì? Nhìn những “yêng hùng xa lộ” lượn lách giữa những hàng xế hộp, nhiều người không khỏi có ý ghen thầm. Nhưng có người lại cho rằng, “ngồi trong xế hộp không an toàn và sang trọng hơn sao? Cớ gì phải phơi thân ngoài nắng gió trên yên xe 2 bánh như vậy?” Hai phe đều có lý. Nhưng để có một câu trả lời đầy đủ về sự lợi hại của xe mô tô, chúng ta nên xét tới những khía cạnh sau:


 


Lợi điểm:


1. Nhiên liệu: Xe mô tô xài rất ít xăng. So với xe hơi thì có thể tiền xăng để chạy mô tô chỉ bằng 1/4 phí tổn dành cho xe hơi. Thí dụ: Cỡi mô tô chạy liền trong 4 tiếng, chúng ta chỉ mất độ $10 tiền xăng, trong khi ngồi xe hơi phải tốn đến $30, xe truck tốn $40…


2. Tiền mua bảo hiểm: Nói về bảo hiểm thì vô chừng, nhưng nếu chỉ xét bảo phí tối thiểu (bảo hiểm một chiều) thì mô tô có lẽ chỉ bằng 1/5 xe hơi mà thôi.


3. Khả năng lạng lách: Mô tô có thể lạng lách dễ dàng hơn, nhờ đó đỡ bị kẹt xe hơn. Ðiều này chắc hẳn ai trong chúng ta cũng đã chứng kiến: Trong khi cái xe hơi nhích đi từng xăng ti mét trên khoảng đường đông xe thì những cái mô tô lượn lách vòng vèo xuyên qua những khe hở nhỏ xíu giữa những hàng xe để đi tới như chỗ không người, coi kẹt xe chẳng có “kí lô” gì cả.


4. Chiếm hữu lòng đường: Chả cần lý luận dài dòng ai cũng phải công nhận xe hơi là “kẻ” xài hoang phí lòng đường, trong khi xe mô tô chỉ cần một “đường kẻ chỉ” cũng đủ để xê dịch… Nếu có thể vận động tất cả mọi người dùng xe mô tô thì có lẽ nhà chức trách không còn phải giải quyết nạn kẹt xe, cũng như vấn đề chỗ đậu (parking lot) cho xe trong thành phố nữa.


5. Bảo trì (maintenance): Kỹ thuật bảo trì xe mô tô đơn giản hơn, không mỗi lúc lại phải đưa ra cúng tiền cho thợ máy.


Ấy là chưa kể, lái xe mô tô cho ta cái cảm giác hào hứng của một người được vùng vẫy giữa thiên nhiên, được trực tiếp đùa với nắng, vờn với gió, thênh thang bất tận, chứ không giống như những tên chết nhát (?),co cụm trong cái xế hộp, chẳng biết trời đất ngoài kia thênh thang là chừng nào…


Nghe đến đây, có thể bạn đã sốt ruột lắm, muốn đứng lên đi kiếm ngay một cái mô tô rồi, phải không? Xin đừng vội, nếu nghe xong cả những điểm bất lợi của mô tô mà bạn vẫn thấy thích thì không ai cấm cản. Nhưng cũng rất có thể bạn sẽ trầm ngâm nghĩ lại, “Chắc mô tô không thích hợp cho mình!” Vậy để suy nghĩ cho công bằng, chúng ta cùng điểm qua một số bất lợi của xe mô tô như sau.


 


Bất lợi:


1. An toàn: Phải nói ngay là ngồi mô tô không được an toàn bằng ngồi xế hộp, là vì: Mô tô không có seat belts (dây nịt an toàn), không có air bag. Khi bị va chạm thì tài xế đành đưa toàn thân ra chịu đòn chứ không thể cậy nhờ vào “cái hộp” bảo vệ chung quanh như xe hơi. Thực ra tài xế mô tô kinh nghiệm ít gặp tai nạn (là vì mô tô cho ta cơ hội ứng biến nhặm lẹ hơn khi gặp hoàn cảnh nguy hiểm trên đường phố), nhưng đã gọi là tai nạn thì nó chẳng chừa ai, một khi gặp tai nạn thì lái mô tô dễ bị thương tích nặng hơn lái xe hơi.


2. Chịu đựng thời tiết: Khác với người lái xe hơi, thoải mái ngồi trong “phòng” điều hòa không khí bất kể trời nắng chói chang, hoặc bão tuyết dập vùi ở bên ngoài… người lái mô tô thì phải trần thân chịu đựng, dù đó là nắng, gió hoặc tuyết sương. Với những điều kiện thời tiết khắc nghiệt, tài xế mô tô khó mà còn đủ sức lực cho chiếc xe lăn bánh ngoài 30 phút, trong khi chiếc xế hộp vẫn kiên nhẫn đưa người tài xế đi qua hết trở ngại này đến trở ngại khác, đến nơi vẫn an toàn lịch sự và bảnh bao…


3. Sự chọn lựa: Có lẽ người chơi mô tô không có nhiều chọn lựa cho bằng khi chơi xe hơi. Trong khi thị trường có cả hàng chục loại xe hơi để bạn tha hồ lựa chọn và đắn đo, thì chọn lựa xe mô tô, bạn chẳng có gì ngoài những tên tuổi đã quen thuộc từ bao nhiêu năm nay, như Harley Davidson, Honda, Yamaha, Kawwasaki, Suzuki, BMW.


4. Sức chứa: Ðiều này thì hiển nhiên: Mô tô chỉ có thể chở tối đa 2 người, một tài xế và một người ngồi đằng sau (thường là khác phái) vòng tay ôm cứng eo ếch người đằng trước, thích hợp với những cặp nam nữ thanh niên còn đang trong thời kỳ trăng mật. Nhưng khi bạn muốn đi cùng gia đình, với đủ cả bầy đoàn thê tử, và thêm nhiều vật dụng lỉnh kỉnh trong “cốp” xe thì rõ ràng chỉ có xe hơi mới đáp ứng được yêu cầu về sức chứa.


Trên đây là một vài điểm “lợi, hại” tiêu biểu. Chắc chắn khi “xùy” một tiếng ngụ ý chê bai, bà xã Phạm Ðình mới chỉ nghĩ tới “vai vế” một Việt kiều “ai lại đi xe gắn máy giống như mấy đứa ở Việt Nam” chứ chưa thể nghĩ tới những điểm này. Còn bạn thì sao? Ðã biết lợi hại mà vẫn quyết mua mô tô, thì điều kế tiếp phải nghĩ tới là mua mô tô ra sao? Mua cũ có được không? Biết thế nào là một cái mô tô tốt? Chúng ta sẽ nói tiếp những chuyện này trong bài lần sau.


Phạm Ðình


[email protected]


Xe lột dên, xe kêu lóc cóc, xe rỉ nhớt…? Xin xem Cẩm Nang Bảo Trì Tập III đã phát hành. Cùng với Tập I, Tập II, mỗi tập $6.00+$2.00 cước phí. Money Back Guarantee 3 tháng. Gửi cheque hoặc tiền mặt cho Phạm Ðình, PO Box: 9255, Fountain Valley, California 92728 – 9255. Tel: 714-837-1935. Cho biết điện thoại và email, nếu có. Có thể hỏi tại nhà sách Tú Quỳnh 714-531-4284; hoặc Tự Lực 714-531-5290.

Khác biệt giữa phá sản xóa nợ và gom nợ

 


 


Luật Sư LyLy Nguyễn


 





LTS: Luật Sư LyLy Nguyễn chuyên về luật bảo vệ tài sản, luật thương mại cho các công ty hoặc tiểu thương, cố vấn điều hành tài sản, bênh vực thân chủ trong những vụ rắc rối khi bị kiểm tra thuế, kế hoạch địa ốc, và khai phá sản. Luật Sư LyLy còn thay mặt cho thân chủ trong các vấn đề liên quan đến thuế lợi tức cá nhân (income tax), thuế trả nhân công (employment tax), thuế mua bán (sale and use tax) và thuế tài sản (estate tax), ở cả hai cấp liên bang và tiểu bang, cũng như đã nhiều lần diễn thuyết về các vấn đề giao dịch thương mại, ngân hàng, thuế và điều hành tài sản tại nước ngoài. Ngoài ra LyLy Nguyễn còn rất giàu kinh nghiệm về luật khánh tận với Chương 7 hay Chương 13. Luật Sư LyLy Nguyễn được chứng nhận hành nghề tại Supreme Court of California, United States District Court, United States Court of Appeals for the Ninth Circuit và United States Tax Court. Nếu cần tham khảo riêng xin liên lạc với Luật Sư LyLy Nguyễn tại văn phòng ở 2009 North Broadway, Santa Ana, CA 92706. Ðiện thoại: (714) 531-7080.





Trong những bài trước chúng tôi đã trình bày ảnh hưởng của hai lối khai phá sản chính tại Hoa Kỳ theo luật khánh tận mới từ khi có “Ðạo Luật Khánh Tận Ngừa Lạm Dụng và Bảo Vệ Giới Tiêu Thụ” (“Bankruptcy Abuse Prevention and Consumer Protection Act – gọi tắt là BAPCPA) có hiệu lực từ tháng 10 năm 2005.


Sau đây là so sánh khác biệt giữa hai lối xóa nợ phát mãi theo Chương 7 và gom nợ trả dần theo Chương 13:


 


1. Nợ nhà và nợ xe đang trả chậm trễ vài kỳ:


Chương 7: Sở hữu chủ nhà, xe phải giao lại cho chủ nợ hoặc dàn xếp trả trọn vẹn một lần theo trị giá tương đương bán sỉ (wholesale value).


Chương 13: Sở hữu chủ nhà, xe có thể gộp nợ trả trễ vào chung tổng số nợ còn thiếu rồi ấn định số tiền phải trả hàng tháng vào bản “Lịch Trình Trả Nợ Chương 13 (The Chapter 13 Repayment Plan)”, thanh toán trong vòng từ 3 tới 5 năm. Sở hữu chủ vẫn giữ lại được nhà, xe với điều kiện phải trả đều đặn đúng hạn kỳ mỗi tháng theo số tiền ấn định mới. Nếu có khả năng thanh toán dứt được nợ trước lịch trình thì có thể được giảm số tiền đáng lẽ phải trả.


 


2. Có nhiều tài sản không miễn trừ nhưng có giá trị:


Chương 7: Sở hữu chủ phải nộp hiện vật cho “Tín Viên Khánh Tận (Bankruptcy Trustee)” do tòa chỉ định để phát mãi lấy tiền thanh toán mọi khoản nợ theo thứ tự ưu tiên, trả được bao nhiêu thì trả.


Chương 13: Sở hữu chủ được hoàn toàn giữ lại mọi hiện vật này.


 


3. Trách nhiệm của người phụ ký vay nợ cá nhân (co-debtors on personal loan):


Chương 7: Nếu người vay chính khai phá sản xin xóa nợ, chủ nợ sẽ đeo đuổi đòi người ký phụ cho đến khi nào trả hết mới thôi. Trong mọi trường hợp người ký phụ vẫn phải chịu trách nhiệm hoàn toàn dù người chính khai phá sản nhưng nợ này không xóa được.


Chương 13: Chủ nợ không cần đòi người ký phụ.


 


4. Ðã từng khai phá sản sáu năm trước:


Chương 7: Không được khai theo Chương 7 nữa trừ phi lần phá sản trước khai theo Chương 13 và đã thanh toán được ít nhất 70% số nợ lần đó.


Chương 13: Không thành vấn đề, có thể xin khai phá sản lại theo Chương 13 bất cứ lúc nào sau thời hạn sáu năm phá sản trước đây.


 


5. Muốn giữ lại tài sản có thế chấp:


Chương 7: Sở hữu chủ có thể trả một lần trọn số tiền tương đương với giá sỉ của hiện vật như mục 1 nói trên.


Chương 13: Ðược trả dần hàng tháng theo kỳ hạn ấn định trong bản “Lịch Trình Trả Nợ Chương 13” tính theo “giá thay thế (replacement value)” gồm cả tiền lãi.


 


6. Có lợi tức sử dụng được (disposable income) đủ khả năng trả nợ dần:


Chương 7: Tòa án từ chối không cho khai theo Chương 7.


Chương 13: Tòa án cho phép khai theo Chương 13.


 


7. Các loại nợ ưu tiên gồm có:


-Tiền trợ cấp cho con cái hay người hôn phối (child support and alimony).


-Tiền nợ vay đi học (student loan) trừ trường hợp nợ này sẽ gây ra hoàn cảnh sinh sống cực kỳ khó khăn (severe hardship).


-Tiền nợ do án tòa bắt bồi thường cho nạn nhân trong một vụ kiện hoặc tiền phạt do tòa án phán quyết trong một vụ án hình sự.


-Tiền thuế còn nợ IRS trong vòng ba năm.


-Tiền bồi thường tòa xử hậu quả lái xe khi say rượu gây thương tích cho người khác.


Chương 7: Phá sản không có hiệu lực và không xóa được mọi nợ ưu tiên.


Chương 13: Nợ ưu tiên nói trên phải thanh toán hàng tháng và tiếp tục trả đủ cho đến khi dứt hẳn bất kể lịch trình theo Chương 13 chấm dứt.


 


8. Nợ do thỏa thuận phân chia tài sản hoặc do ly dị:


Chương 7: Nợ này không xóa được nếu người hôn phối cũ hay chủ nợ khiếu nại tại tòa trừ phi người khai chứng minh được rằng:


-Không còn đủ khả năng trả nợ sau vụ khai phá sản.


-Xóa nợ này có lợi ích hơn hẳn thiệt hại đối với vợ hoặc chồng cũ.


Chương 13: Nếu không trả hết được trong lịch trình trả nợ, phần còn lại sẽ được xóa bỏ khi chương trình kết thúc.


 


9. Nợ do các vi phạm liên quan đến tội danh sau đây:


-Trộm cắp, biển thủ công quỹ.


-Lừa đảo.


-Cố ý và có ác tâm gây thương tích cho người khác.


Chương 7: Các loại nợ này không xóa được nếu nạn nhân hay chủ nợ khiếu nại tại tòa và trưng ra bằng cớ chứng minh các hành động xấu xa kể trên.


Chương 13: Nếu không trả hết được trong lịch trình trả nợ, phần còn lại sẽ được xóa bỏ khi chương trình kết thúc.


 


10. Nợ thuế:


Chương 7: Phần lớn nợ thuế không xóa được cho dù có khai phá sản theo Chương 7. Tòa cho giải các nợ khác nhưng nợ thuế vẫn giữ nguyên phải thanh toán.


Tuy nhiên nợ thuế có thể được xóa trong trường hợp đặc biệt hội đủ các điều kiện sau:


-Phải là thuế lợi tức liên bang. Những loại thuế khác thí dụ như thuế thu trên lương bổng nhân viên hoặc tiền phạt vì khai gian thuế là những loại không bao giờ xóa được.


-Không trốn thuế hoặc khai gian thuế. Những người khai gian lận hoặc cố tình tránh không nạp thuế thí dụ dùng số an ninh xã hội giả khi nộp tờ khai thuế thì dù có khai phá sản cũng không giải được tiền thuế phải đóng.


-Số tiền nợ thuế phải trễ trên 3 năm. Ngày nộp tờ khai thuế đó nộp từ 3 năm trước ngày khai phá sản.


-Ðã nộp tờ khai thuế. Tờ khai thuế lợi tức có số nợ muốn xóa đã nộp ít ra từ 2 năm trước ngày khai phá sản.


-Phải qua được “luật 240 ngày (240-day rule)”. Món nợ phải được IRS đòi ít nhất 240 ngày trước ngày nộp đơn khai phá sản hoặc IRS chưa từng đòi số thuế đó. Giới hạn thời gian này có thể gia hạn nếu IRS ngưng mọi biện pháp đòi nợ do đề nghị thỏa hiệp hoặc do khai phá sản lần trước.


-Nếu hội đủ các điều kiện trên thì số tiền nợ IRS sẽ được giải và IRS không có quyền xiết trương mục ngân hàng. Tuy nhiên hồ sơ thuế nợ buộc (tax lien) vẫn còn tồn tại cho đến khi nợ trên đề mục bị buộc được trả dứt.


Chương 13: Khai phá sản vẫn phải trả hết nợ thuế với ưu tiên cao hơn các loại nợ khác.


Ðối với những người đang gặp khó khăn về tài chánh thì khai phá sản hình như là cứu tinh, tuy nhiên có nhiều hoàn cảnh có thể tránh được.


Cũng như thường lệ, người viết xin xác nhận nội dung của những loạt bài tìm hiểu luật pháp này chỉ hoàn toàn được sử dụng với tính cách thông tin (information) giúp quí độc giả một vài kiến thức tổng quát căn bản về luật pháp Hoa Kỳ mà thôi và không thể coi như liên hệ của luật sư với thân chủ (attorney-client relationship). Do đó nếu có vấn đề liên quan đến luật, quí độc giả vẫn cần phải thảo luận với luật sư chuyên môn về trường hợp của quí vị.


Nếu cần tham khảo riêng xin liên lạc với Luật Sư LyLy Nguyễn tại văn phòng ở 2009 North Broadway, Santa Ana, CA 92706. Ðiện thoại: (714) 531-7080.

Hai mắt là ngọc

 


Bác Sĩ Nguyễn Ý Ðức


 


Hai mắt là ngọc…


Ðôi mắt đã được gọi bằng nhiều tên rất gợi hình như là đôi mắt huyền, mắt nhung, mắt biếc, mắt buồn tênh, mắt nai tơ, mắt tình nhân, mắt thù hận, mắt bạc tình, mắt dao cau, mắt sắc như dao, mắt bơ vơ, mắt xanh, mắt lá dăm, mắt toét.









(Hình minh họa: Getty Images)


 


Ciceron có nói: “Khuôn mặt là chân dung của tâm hồn mà đôi mắt là để diễn tả.”


Cùng nhận xét này, Mạnh Tử góp ý “Bụng ngay thẳng thì con ngươi trông sáng tỏ. Bụng đầy tà khúc thì con ngươi mờ đục, tối tăm.”


Rừng thơ có cả nhiều ngàn câu nói đến đôi mắt.


Xin ghi lại:


“Mắt Biếc” của Bích Khê diễn tả nhiều khả năng đáng yêu của mắt:


“Ôi! Cặp mắt của người trong tơ ngọc


Sáng như gươm và chấp chóa kim cương


Mỗi cái ngó là một vì sao mọc!


Mỗi liếc yêu lá phảng phất nùi hương.


Hai mắt ấy chói hòa quang sáng ngợp


Dẫn hồn ta vào thế giới thiêng liêng.


Hớp nhiều trăng cho niềm trinh rất ngớp


Say nhạc hường nổi bồng giữa đào nguyên.”


Và của Trịnh Công Sơn với “Những con mắt trần gian”:


“Những con mắt tình nhân, Nuôi ta biết nồng nàn


Những con mắt thù hận, Cho ta đời lạnh câm


Những con mắt cỏ non, Xanh cây trái địa đàng


Những con mắt bạc tình, Cháy tan ngày thần tiên…”


Một cách thực tế, Addison nhận xét: “Trong tất cả các giác quan, thị giác toàn hảo và thích thú nhất”.


Người mình vẫn so sánh: “Hai mắt là ngọc, hai tay là vàng.”


Thực vậy, mắt là vật sở hữu quý giá nhất của con người mà cho tới nay chưa có cách nào để thay thế toàn bộ được. Người ta có thể thay tim, thay thận, thay gan nhưng mắt chỉ mới thay được giác mạc, thủy tinh thể mà thôi.


Mắt là cơ quan để thu hình ảnh và nhìn sự vật, như một chiếc máy ảnh, nhưng với một cấu trúc tinh vi và những khả năng hoàn hảo gấp bội.


 


Ðôi mắt


 


a. Nhãn cầu là bộ phận phần chính của mắt nằm trong ổ mắt và được mi mắt bảo vệ ở phía trước. Ổ mắt do các xương gò má, xương trán, xương sống mũi họp thành.


Ðây là một khối hình cầu mà kích thước do di truyền quyết định. Khi mới sinh ra, trẻ nhìn xa rõ hơn vì nhãn cầu nhỏ. Tới giai đoạn tăng trưởng, trẻ nào có nhãn cầu to do di truyền sẽ nhìn gần rõ ràng hơn. Tuổi tăng trưởng lại trùng vào thời gian bắt đầu đi học, nên các em này thường hay bị cận thị. Vì vậy, cận thị thị được “cho là” do đọc sách nhiều, ngồi gần màn hình tivi, đọc sách thiếu ánh sáng.


Phía ngoài của mắt là 6 bắp thịt nhỏ, dài để di động nhãn cầu nhìn về nhiều phía.


b. Mi mắt là một lớp da với nhiều cơ và mô liên kết lót bằng kết mạc. Mi mắt nhắm lại khi giác mạc bị kích thích, đe dọa hiểm nguy. Viền quanh mi mắt là hai hàng lông mi để ngăn vật lạ bay vào mắt và chớp chớp khi bẽn lẽn tình yêu. Một hàng lông mày nằm phía trên mắt ngăn mồi hội, chất lỏng chấy vào mắt.


Nằm dưới mi mắt trên là những tuyến, tiết ra nước mằn mặn để mắt khỏi khô. Mắt thông với miệng bằng một cái ống nhỏ nằm ở góc trong mi mắt. Cạnh mi có nhiều tuyến tiết ra chất nhờn, mồ hôi.


Mi mắt chớp mở mỗi vài giây, có tác dụng như cặp gạt nước kính xe hơi, để loại bỏ bụi bặm bám trên giác mạc. Ðêm ngủ, mi mắt khép kín để giác mạc khỏi bị khô.


Lâu lâu nhiều người hay nháy mi mắt và e ngại đó là triệu chứng của bệnh tật. Thực ra, đây chỉ là sự co giựt của cơ trên mi mắt và thường thường xảy ra khi cơ thể mệt mỏi, căng thẳng. Nháy mắt kéo dài trong vài giây, không nguy hại, chỉ cần thoa nhẹ lên mi một chút là hết. Ðôi khi nháy mắt liên tục cũng thấy trong bệnh đa xơ cứng (multiple sclerosis), co giựt cơ mặt (facial tic).


c. Phần trước của nhãn cầu là giác mạc (cornea), không vẩn đục, không mạch máu và rất nhậy cảm với với sự đau đớn. Phủ lên giác mạc là kết mạc (conjunctiva) trong suốt, có rất ít mạch máu.


d. Thủy tinh thể (lens) là bộ phận quan trọng tiếp nhận và hội tụ ánh sáng hình ảnh lên võng mạc (retina). Ðây là một cấu trúc hai mặt lồi, trong suốt, gồm có nước và chất đạm, nằm sau đồng tử và có thể thay đổi độ cong để mắt có thể thấy rõ sự vật.


Tinh thể dẹp xuống khi tập trung vào vật ở xa và vật nhìn nhỏ. Tinh thể dầy lên để tập trung vào vật ở gần, vật nhìn thấy to. Ðó là sự điều tiết của mắt. Khả năng này hoàn toàn tự động, con người không điều khiển được.


e. Ánh sáng lọt qua đồng tử (pupil), một lỗ nhỏ nẳm giữa mống mắt.


f. Mống mắt (iris) là cái màng che trước thủy tinh thể. Một cơ vòng bao quanh bờ mống mắt điều khiển đồng tử thu nhỏ khi ánh sáng mạnh hoặc mở rộng khi ánh sáng yếu. Ðồng tử cũng mở rộng khi ta có cảm xúc kinh ngạc, sợ hãi hoặc hớn hở, vui mừng.


Tùy theo mống mắt có nhiều hay ít chất màu mà có người có mắt đen, mắt xanh, mắt nâu.


g. Võng mạc (retina) là lớp tế bào nhậy cảm với ánh sáng, lót phía trong mắt. Ðây là cấu trúc căn bản của cặp mắt, có công dụng như tấm phim của máy ảnh để thu nhận và ghi lại cả ngàn hình ảnh, tĩnh cũng như động, suốt ngày này qua tháng khác mà không cần thay phim như trong máy ảnh.


Trên võng mạc có những tế bào hình nón, hình que chuyển ánh sáng ra những tín hiệu điện năng, được dây thần kinh thị giác chuyển lên não bộ. Tế bào não phân tích, tổng hợp các tín hiệu và tạo ra hình ảnh của sự vật.


h. Mắt còn chứa hai dung dịch lỏng rất quan trọng.


Thể mi (ciliary body) với nhiều cơ bắp để thay đổi độ cong của tinh thể đồng thời cũng tiết ra một chất lỏng như nước gọi là thủy dịch nằm giữa tinh thể và giác mạc. Thủy dịch có đủ các thành phần cấu tạo của máu, ngoại trừ tế bào máu.


Dung dịch thứ hai, dịch pha lê, trong suốt, nẳm giữa võng mạc và tinh thể.


 


Chăm sóc mắt


 


Nhiều người hơi lơ là trong việc giữ gìn “đôi mắt ngọc” của mình. Ðây là một thiếu sót lớn, vì một tổn thương dù nhỏ của mắt cũng có thể dần dần đưa tới khiếm khuyết thị giác.


Sau đây là một số điều nên lưu ý:


1. Ðừng bao giờ rụi mắt với những ngón tay, dù là ngón tay ngọc ngà người đẹp, huống chi lại rụi mắt với bàn tay dính đất, một cái khăn nhiễm trùng, một miếng giấy dơ bẩn…


2. Khi chẳng may có một chất kích thích nào đó, như nước xà bông, nước mắm, dầu xe hơi, mỡ… bắn vào mắt, nên lập tức tạt nước lạnh vào mắt. Tổn thương cho mắt sẽ giảm thiểu rất nhiều nếu ta làm hành động rất giản dị, sẵn có nhưng quan trọng này.


3. Mang kính bảo vệ mắt khi cắt cỏ, mài giũa kim loại, đi xe gắn máy… để tránh vật nhỏ bay vào mắt. Công nhân làm công việc có rủi ro cho mắt, cần mang lính bảo vệ mắt do chủ nhân cung cấp.


4. Không dùng thuốc nhỏ mắt của người khác, vì mỗi người có mỗi bệnh khác nhau. Ngoài ra, có nhiều loại thuốc nhỏ mắt cấm dùng trong vài bệnh nhiễm của mắt.


Nhỏ thuốc vào mắt như sau: Ðứng trước một tấm gương, dùng đầu ngón tay kéo nhẹ mi mắt dưới xuống, bàn tay kia bóp thuốc vào góc con mắt, buông ngón tay giữ mi, chớp mắt vài lần, thuốc sẽ lan đều khắp mắt.


5. Nhiều người, đặc biệt là quý vị cao niên, hay bị khô mắt, gây ra cảm giác rất khó chịu, lâu ngày giác mạc có thể bị trầy. Nguyên do thông thường là tuyến nước mắt tiết ra ít nước mắt hoặc ống dẫn nước mắt bị tắc nghẹt.


Nên đi khám bác sĩ để tìm nguyên nhân rồi trị liệu. Trong khi chờ đợi, có thể nhỏ các dung dịch nước mắt nhân tạo để giảm thiểu khó chịu này.


6. Nên cẩn thận với các tia cực tím từ ánh nắng mặt trời. Tiếp xúc trực tiếp và lâu ngày, các tia này có thể gây tổn thương cho giác mặc, thủy tinh thể và cũng là nguy cơ đưa tới cao áp suất trong mắt.


Thực ra, không cần phải mang kính râm mỗi lần ra ngoài nắng. Nhưng nếu làm việc hoặc đi dưới ánh nắng trong thời gian khá lâu thì nên mang kính râm để chặn các tia tử ngoại và khỏi chói mắt. Lựa kính có độ lọc cao đối với các tia tử ngoại.


7. Nên đi bác sĩ khám mắt theo định kỳ. Nếu không có bệnh mắt, nên đi khám mỗi 5 năm, cho tới khi 50 tuổi. Sau tuổi này, nên khám thường xuyên hơn để tìm ra dấu hiệu của cao áp nhãn và các bệnh khác. Nếu có rối loạn về khúc xạ ánh sáng, nên đi khám mỗi 2 năm hoặc thường xuyên hơn, tùy theo chỉ định của bác sĩ.


Bác sĩ chỉnh mắt (optometrist) có thể khám mắt, đo thị lực, chỉ định độ nặng nhẹ của kính và, tùy theo luật lệ từng nơi, có thể điều trị mấy bệnh nhẹ của mắt.


Bác sĩ chuyên ngành nhãn khoa (ophtalmologist) đều khám, chữa tất cả các bệnh của mắt, cho toa kính mắt và giải phẫu mắt.


8. Ánh sáng khi làm việc, đọc chữ cần vừa phải, thích hợp không sáng quá hoặc tối quá để khỏi gây trở ngại cho sự nhìn. Các nhà chuyên môn về mắt đều đồng ý là cường độ ánh sáng hoặc ngồi gần màn hình tivi không gây tổn thương cho mắt.


9. Nên cẩn thận với mỹ phẩm làm đẹp mắt, vì nhiều người có thể dị ứng với các sản phẩm này. Mua một ít dùng thử, nếu an toàn thì tiếp tục.


Tránh để mỹ phẩm rớt vào mắt gây kích thích. Bôi mỹ phẩm tô đậm lông mi (mascara) vào 2/3 phần ngoài của lông, tránh mỹ phẩm rơi váo mắt. Kẻ bút chì xa mi mắt một chút, tránh đầu nhọn đụng vào giác mạc.


10. Cẩn thận khi xịt keo tóc, đừng để hóa chất bắn vào mắt.


11. Nhiều bác sĩ nhãn khoa đề nghị gắn lông mày giả loại lấy ra mỗi ngày được, để các tuyến nhờn mi mắt tiếp tục hoạt động bình thường. Khi uốn cong lông mi, tránh kéo mi mắt quá căng.


12. Nhiều người than phiền mỏi mắt sau mấy giờ đọc sách, coi máy vi tính hoặc làm công việc tỉ mỉ cần sự tập trung của mắt. Họ e ngại là mắt suy nhược, bị bệnh mắt hoặc cần mang kính.


Thực ra đây chỉ vì mắt phải làm việc quá khả năng chịu đựng, nên các bắp thịt mệt mỏi. Lâu lâu nên ngưng công việc, nhắm mắt vài phút, hoặc ngó lên trần nhà để nhãn cầu, cơ mắt thư giãn.


Ngoài ra cũng nên lưu ý là nếu sức khỏe tổng quát không tốt, thiếu dinh dưỡng, mất ngủ, căng thẳng tâm thần… cũng làm mắt mau mệt mỏi. Kính mắt chỉ để điều chỉnh khiếm khuyết về khúc xạ ánh sáng của nhãn cầu chứ không làm mắt mạnh hơn hay yếu đi.


13. Mắt đỏ cũng là mối ưu tư của nhiều người. Bình thường, trên giác mạc có một số mạch máu nhỏ xíu phủ lên. Khi nhiễm vi khuẩn, dưới tác hại của khói thuốc, hóa chất trong môi trường, uống nhiều rượu, làm việc bằng mắt quá lâu hoặc khi “nộ khí sung thiên”, tức giận… đều làm cho máu tụ lại nhiều, mắt sẽ đỏ lên.


Khi đỏ mắt do nhiễm bệnh hoặc gây ra do hóa chất cần đi bác sĩ để điều trị. Còn các trường hợp khác, chỉ cần dùng nước lạnh tạt vô mắt hoặc đắp khăn nước lạnh dăm phút lên mắt là có thể làm giảm đỏ mắt.


14. Duy trì chế độ ăn uống hợp lý, đa dạng, cân bằng có đầy đủ các chất dinh dưỡng, đặc biệt các sinh tố A, C, E… các khoáng chất kẽm, selenium.


Và đặc biệt là giữ tâm thân an lạc, giảm thiểu lo âu, buồn bực, ham muốn, giận hờn, ghen tức, đố kỵ.


“Trời sinh con mắt là gương


Người ghét ít ngó, người thương ngó hoài.”


(Ca dao)


Vì “Ðôi mắt là cửa sổ của tâm hồn,” nhìn vào thấy hết…


Bác Sĩ Nguyễn Ý Ðức


Texas-Hoa Kỳ


www.bsnguyenyduc.com

Hội luận tại chùa Ðiều Ngự

 


Chống kế sách phá hoại của Cộng Sản


 


Nguyên Huy/Người Việt


 


WESTMINSTER Gần một ngàn đồng hương và Phật tử tại Nam California đã theo lời mời của Hòa Thượng Thích Viên Lý, thay mặt Hội Ðồng Ðiều Hành Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hoa Kỳ, đến tham dự cuộc hội luận tại chùa Ðiều Ngự, Westminster, chiều 13 tháng 10.







Chủ tọa đoàn trong buổi hội luận. Từ trái: Hòa Thượng Thích Thiện Hữu, Hòa Thượng Thích Trí Chơn, pháp sư Thích Giác Ðức, Hòa Thượng Thích Chánh Lạc, Hòa Thượng Thích Viên Lý, Thượng Tọa Thích Giác Ðẳng, Giáo Sư Võ Văn Ái và nữ sĩ Ỷ Lan. (Hình: Nguyên Huy/Người Việt)


Cuộc hội luận được tổ chức để nhằm “đem lại sự thật cho lịch sử, đồng thời chống lại kế sách tiệu diệt Phật Giáo và dân tộc của Cộng Sản,” mà theo nội dung thư mời được phổ biến trên báo chí truyền thông Việt ngữ Nam California, là do “những thế lực đen tối tại hải ngoại âm mưu chụp mũ, vu khống, chống phá giáo hội và bôi nhọ Phật Giáo”.


Chủ tọa đoàn của cuộc hội luận gồm các vị Hòa Thượng Thích Chánh Lạc, Hòa Thượng Thích Viên Lý, Pháp Sư Thích Giác Ðức, Hòa Thượng Thích Thiện Hữu, Hòa Thượng Thích Trí Chơn, Thượng Tọa Thích Giác Ðẳng, Giáo Sư Võ Văn Ái và nữ sĩ Ỷ Lan.


Mở đầu cuộc hội thảo, Hòa Thượng Thích Chánh Lạc, chủ tịch Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo Giáo Hội Phật Giáo Thống Nhất Hoa Kỳ nêu lý do tổ chức cuộc hội thảo này. Hòa thượng nói: “Phật Giáo đã có mặt từ hàng ngàn năm và nay đã phổ cập đến nhiều dân tộc. Gần đây không hiểu vì đâu mà có một nhóm người muốn khuynh đảo, chia rẽ trong cộng đồng để tạo thời cơ trục lợi khi chụp mũ, bôi nhọ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam. Vì thế Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo và giáo hội phải tổ chức cuộc hội luận này, nhằm mục đích nói rõ lập trường và đường hướng của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.”







Quang cảnh một phần hội trường trong buổi hội luận tại chùa Ðiều Ngự. (Hình: Nguyên Huy/Người Việt)


Hòa thượng phát biểu: “Trước thời điểm này, chúng ta cần đến một sức mạnh để đối phó với những nguy cơ cho đạo pháp và dân tộc. Sức mạnh chỉ có được khi chúng ta biết đoàn kết. Ðoàn kết cũng để xóa đi những hiểu lầm. Không có gì quan trọng hơn là sự thật và tôn trọng lẫn nhau. Mọi người chúng ta đều có trách nhiệm trong việc kiến tạo sức mạnh đó.”


Tiếp theo, Giáo Sư Võ Văn Ái, giám đốc Phòng Thông Tin Phật Giáo, cho biết “Giáo hội và một số giáo phẩm đang bị bôi nhọ là Cộng Sản, là đã làm cho mất Việt Nam. Ðây là những điều không đúng nên giáo hội phải lên tiếng.”


Giáo Sư Võ Văn Ái cũng lược trình lại những sự kiện đã diễn ra sau ngày CSVN chiếm được toàn thể đất nước. Bốn vụ tự thiêu của Phật tử vào tháng 11 năm 1975 mở đầu cho những vụ chống lại nhà nước cộng sản khi Phật Giáo bị đàn áp. Ở hải ngoại, chùa Ðiều Ngự là nơi đặt Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo, trở thành nơi lui tới của những nhân vật, tổ chức tranh đấu chống cộng sản. Giáo Sư Võ Văn Ái cũng đề cập đến việc mất Việt Nam vào tay cộng sản, đến nay thì ai cũng đã rõ qua nhiều tài liệu được bạch hóa và của những nhân vật Việt-Mỹ, rằng VNCH sụp đổ là do Hoa Kỳ thay đổi chính sách.


Theo Giáo Sư Võ Văn Ái, sở dĩ có những cuộc đánh phá giáo hội và hàng giáo phẩm trong giáo hội là vì đã có sự hợp đồng của cơ quan phản gián Cộng Sản ở trong nước với tay sai của họ ở ngoài nước.


Ngay sau lời phát biểu của chủ tọa đoàn, ban tổ chức dành thì giờ để các tham dự viên phát biểu ý kiến. Có trên 10 tham dự viên xin được đóng góp ý kiến. Ða số đều muốn có những biện pháp pháp lý với những người mà họ cho là đã “xuyên tạc, bôi xấu giáo hội và các vị trong hàng giáo phẩm”.


Vấn đề này, Giáo Sư Võ Văn Ái trả lời, rằng mọi hành động đều phải tuân thủ ý kiến của Viện Tăng Thống trong nước. Tuy nhiên nếu họ còn tiếp tục, có thể giáo hội sẽ truy tố trước pháp luật.


Linh Mục Nguyên Thanh, có mặt trong cuộc hội luận này, cho rằng sự phân hóa trong cộng đồng người Việt hải ngoại, cả trong các tổ chức tôn giáo là điều mà Cộng Sản mong muốn. Cộng Sản “rất mong muốn có cuộc chiến giữa Công Giáo và Phật Giáo để cộng đồng chúng ta rối loạn, không còn chú tâm vào tình hình trong nước, vào sự hỗ trợ cho cuộc đấu tranh ở trong nước”.


Linh Mục Nguyên Thanh nhắc nhở quí vị lãnh đạo Phật Giáo là không nên để cho đồng bào có cảm giác là có sự đố kỵ giữa hai tôn giáo.


Cuộc hội thảo khá sôi nổi nhưng hòa nhã, kéo dài hơn một tiếng đồng hồ, có lẽ do từ thái độ ôn nhu của các vị lãnh đạo Phật Giáo trên bàn chủ tọa.


Trước khi kết thúc, ban tổ chức đề ra một tiết mục, là ký tên ủng hộ lập trường của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hoa Kỳ. Hầu hết những người tham dự đều đã ký tên vào bản ủng hộ này.


Trước ngày có cuộc hội thảo này, chúng tôi tìm gặp ông Dương Ðại Hải, giám đốc đài truyền hình có tên là “Quốc Gia Việt Nam,” là đài đã cho phát hình những chương trình của ông Liên Thành, tác giả hai cuốn sách “Biến Ðộng Miền Trung” và “Huế, Cuộc Thảm Sát Mậu Thân,” trong đó tác giả nêu ra những trường hợp của một số vị lãnh đạo Phật Giáo mà tác giả viết là có làm việc cho Cộng Sản.


Ông Dương Ðại Hải nói với Người Việt: “Ðây là những chương trình của ông Liên Thành kể lại những gì ông đã viết trong hai cuốn sách đó. Sở dĩ đài chúng tôi cho phát là vì tác giả có nêu ra được đủ bằng chứng với cả hình ảnh. Ðài chúng tôi là một đài chống Cộng triệt để nên những chương trình nào thích hợp với tôn chỉ của đài là chúng tôi cho phát đi để ngăn ngừa Cộng Sản len lỏi trong hàng ngũ người Việt quốc gia.”


Cũng trong một cuộc gặp gỡ trước ngày hội thảo, chúng tôi được Hòa Thượng Thích Viên Lý cho biết một số ý kiến khi được hỏi là hòa thượng có nhận một cuộc “đối chất” theo lời mời nào không. Hòa Thượng Thích Viên Lý cho biết: “Cuộc hội thảo này là giáo hội tổ chức nên không có thể nhận bất cứ một lời mời đối chất hay tranh luận riêng tư nào. Cuộc hội thảo nhằm mục đích chính là khẳng định lại lập trường cương quyết chống Cộng Sản.”


Ðược hỏi về dư luận cho biết giáo hội do hòa thượng thay mặt có tính đến việc nhờ pháp luật can thiệp trước những điều mà giáo hội cho là vu khống, chụp mũ và bôi lọ, Hòa Thượng Thích Viên Lý cho biết: “Giáo hội không tính đến chuyện này.”


Tuy nhiên, ở một câu hỏi khác, rằng nếu các Phật tử tổ chức làm công việc này thì giáo hội có hỗ trợ không. Hòa Thượng Thích Viên Lý cho biết giáo hội đã được một số luật sư, luật gia cho biết ý kiến về vấn đền này, nhưng “chưa có quyết định gì”.


____


Liên lạc người viết: [email protected]

Endeavour nghỉ hưu vĩnh viễn tại Los Angeles

 




INGLEWOOD, CA – Phi thuyền Endeavour, từ phi trường Los Angeles LAX, đến vận động trường The Forum để người dân chiêm ngưỡng trước khi được đưa vào Trung Tâm Khoa Học California. Sau chuyến đi dài hai ngày, từ 12 đến 13 tháng 10, Endeavour sẽ vĩnh viễn được trưng bày tại California cho công chúng đến xem. (Hình: Kevork Djansezian/Getty Images)

Tin Luot

Việt Nam


Hàng trăm học viên tại trung tâm cai nghiện ở Bình Dương phá tường, trốn trại. Khoảng 80 người bị bắt lại.


 


Số nhà ở Hà Nội đã lộn xộn, nay lại lộn xộn hơn, khi người dân tự gắn biển số nhà theo nhu cầu & phong thủy.


 


Một tài xế taxi của công ty Mai Linh Ðà Nẵng-Hội An trả lại cho khách tài sản trị giá hơn 200 triệu ÐVN bỏ quên trên xe.


 


Cộng Ðồng/Ðịa Phương


Sau nhiều ngày tăng giá, nay giá xăng tại quận Cam giảm… 2 xu, xuống còn $4.64/gallon vào ngày Thứ Bảy.


 


Ði bộ tại Irvine, gây quỹ giúp trẻ em bị tự kỷ, quyên được $255 ngàn.


 


Giá nhà tại Nam California tăng trong Tháng Chín, cao nhất trong bốn năm qua, nhưng lại khiến số bán giảm đi.


 


Hoa Kỳ


California có thể đi đầu toàn quốc trong việc giảm nhẹ hình phạt theo luật “bất quá tam” (three strikes).


 


Thâm thủng ngân sách giảm nhẹ, nhưng vẫn cao trên $1 ngàn tỷ Mỹ kim, năm thứ tư liên tiếp.


 


Dự báo thời tiết: Bão, gió mạnh, lốc xoáy đe dọa miền Trung Hoa Kỳ, từ Iowa đến một phần của Missouri, Kansas, Oklahoma, và Texas.


 


Một thiếu niên bán nước chanh dạo, gây quỹ nghiên cứu chống ung thư, quyên được $80,000.


 


 


Một phụ nữ ở Texas thiệt mạng khi một chiếc xe lao vào tiệm pizza khi bà đang ngồi ăn với con gái và cháu.


 


Tàu con thoi Endeavour hoàn tất chuyến bay cuối cùng, về nằm tại Nam California, hôm Thứ Bảy.


 


Thế Giới


Ngoại trưởng Hillary Clinton tái khẳng định cam kết của Hoa Kỳ trợ giúp Libya và các quốc gia bắt đầu dân chủ.


 


Hai du khách, một Canada và một Mỹ, mất tích tại Wardak, Afghanistan, có thể đã bị bắt cóc.


 


Một nữ học sinh Canada 15 tuổi tự tử sau khi đưa đoạn phim về mình lên Youtube. Ðoạn phim cho thấy cô là nạn nhân bạo hành trong nhiều năm liền.


 


Nổ bom tự sát tại Pakistan, 14 chết, 25 bị thương.


 


Một cựu thành viên Peace Corps Hoa Kỳ bị án 15 năm tù vì tội lạm dụng tình dục trẻ em tại Nam Phi.

Chuyện về một tập thơ

 


 


Lê Phan


 


Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện, tác giả của tập thơ Hoa Ðịa Ngục đã mới qua đời hôm đầu tháng. Tôi chỉ gặp thi sĩ có một lần nhưng ở một khía cạnh nào đó chúng tôi vừa tình cờ vừa nhân duyên đã là kẻ giúp thi sĩ tìm lại tập bản thảo cũ.


Trong lần gặp duy nhất đó, khi thi sĩ còn bị một số thành phần ở hải ngoại tấn công, nói ông không phải là ông, Nguyễn Chí Thiện có nhờ chúng tôi viết về liên hệ của chúng tôi với nguyên tác của tập thơ mà câu chuyện kể ngày càng sai sự thật.


Viết về nguồn gốc làm sao tập thơ này xuất hiện ở hải ngoại, Wikipedia Việt ngữ đã viết “Tập thơ Hoa Ðịa Ngục của ông xuất hiện ở hải ngoại vào năm 1980 sau khi tác phẩm này được lén đưa vào tòa đại sứ Anh tại Hà Nội và được Giáo Sư Patrick J. Honey thuộc Ðại Học Luân Ðôn (University of London), nhân chuyến đi Việt Nam năm 1979, mang được ra ngoài nước để phổ biến.” Chuyện đó thực ra là một chuyện tam sao thất bản của liên hệ giữa tập thơ đáng kính phục này với Giáo Sư P.J. Honey và chính phủ Anh.


Tiếc là lúc đó đang bận rộn nhiều việc khác, tôi chưa có thì giờ viết lại câu chuyện về tập bản thảo của tập thơ này. Nay xin viết ra sự thật, một là để đính chính những sai lầm, và hai nữa như là một nén hương lòng phúng điếu người đã ra đi.


Số là vào những năm cuối của thập niên 1990, nhà báo Như Phong Lê Văn Tiến đến thăm vợ chồng chúng tôi ở Luân Ðôn. Chuyến viếng thăm có mục đích là một chuyến đi nghiên cứu. Tưởng cũng xin nói thêm là nhà báo Như Phong cũng còn là một nhà nghiên cứu nổi tiếng về chính trị nội bộ của đảng Cộng Sản Việt Nam. Chính trong vai trò này, ông Như Phong đã quen biết Giáo Sư P.J. Honey. Trong nhiều năm trước năm 1975, ông Như Phong đã có những bài đóng góp cho Tập san China Quarterly của trường Ðông Phương và Phi Châu Học (School of Oriental and African Studies – SOAS) mà Giáo Sư Honey là chủ bút, bàn về những vấn đề bên trong nội bộ đảng Cộng Sản Việt Nam.


Trong thời gian lưu lại ở Luân Ðôn, ông Như Phong đã yêu cầu chúng tôi đưa xuống Devon ở vùng bờ biển phía Nam của nước Anh là nơi Giáo Sư Honey đã về hưu để thăm lại người bạn cũ. Trước khi ra về, Giáo Sư Honey nói với ông bạn Như Phong là ông có một món quà cho ông Như Phong và đưa cho ông Như Phong một phong bì trong đó có tập bản thảo của những bài thơ của thi sĩ Nguyễn Chí Thiện.


Khi được hỏi tại sao giáo sư lại có tập bản thảo này thì ông kể lại là sau khi Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện ném tập thơ vào tòa đại sứ, một hành động khiến ông đã bị chính quyền bắt lại vào tù, thì tập thơ này đã được lưu trữ vào hồ sơ của tòa đại sứ. Một photocopie của tập thơ được gửi đến cho Giáo Sư Honey và cho bà Judy Stowe, trưởng ban Việt ngữ đài BBC. Chính qua đài BBC tập thơ này đã được phổ biến ra cho thế giới.


Nguyên bản của tập bản thảo viết tay sau cùng đã được tòa đại sứ đưa về Anh và cất vào hồ sơ lưu trữ. Một thời gian sau, khi hồ sơ được kiểm soát lại, Bộ Ngoại Giao Anh không cảm thấy tập thơ này có giá trị gì cho Anh Quốc để phải lưu trữ ở văn khố quốc gia. Nhưng vì không muốn vứt đi một tài liệu vô giá như vậy, bộ đã hỏi Giáo Sư Honey, vốn là cố vấn của chính phủ Anh về tình hình Việt Nam, là ông có muốn giữ hay không. Giáo Sư Honey đã nhận lời giữ tập bản thảo đó. Ông nói với ông Như Phong là ông tặng lại tập bản thảo này vì lúc đó ông đã về hưu và không muốn lưu trữ những tài liệu về Việt Nam nữa. Ông cũng có tặng cho ông Như Phong thêm một số tài liệu nữa.


Khi ông Như Phong trở lại Hoa Kỳ, vì số tài liệu ông thu thập được nhiều quá, ông Như Phong đã để lại một tập tài liệu khá dày trong đó có tập bản thảo và nhờ chúng tôi giữ hộ. Sau đó ông Như Phong qua đời. Tập tài liệu đó tiếp tục nằm ở nhà chúng tôi. Một hôm, trong cơn dọn dẹp những tập tài liệu ngày càng nhiều vì nhà tôi lúc đó đang làm luận án, chúng tôi đã tìm cách dẹp số tài liệu của ông Như Phong sang một chỗ khác. Trong khi di chuyển, tôi chợt thấy trong tập tài liệu này có tập bản thảo. Lúc ấy thi sĩ Nguyễn Chí Thiện đã đến Hoa Kỳ nên trong một lần ghé thăm miền Nam California, chúng tôi mang tập bản thảo theo và nhờ một người bạn trao lại cho thi sĩ bởi tác phẩm đó là của ông, chúng tôi không có lý do gì lưu giữ lại.


Một trong những điều đã gây nên thắc mắc là bản thảo không đề tên, vậy ai là người viết nó. Bộ Ngoại Giao Anh không nghi ngờ gì về danh tánh của tác giả. Họ đã thấy ông ném tập thơ vào tòa đại sứ và đã chứng kiến cảnh ông bị công an bắt mang đi. Những đồn đãi về một Nguyễn Chí Thiện giả chưa bao giờ được chính phủ Anh đặt ra. Tưởng cũng xin nhắc lại là trong nhiều năm các chính khách Anh đã hết lòng vận động cho việc trả tự do cho thi sĩ kể cả Thủ Tướng John Major.


Ngày nay thi sĩ đã ra người thiên cổ nhưng ngay sau khi thi sĩ qua đời lại thấy xuất hiện những cáo buộc thi sĩ không phải là Nguyễn Chí Thiện. Còn có những lý luận kỳ lạ hơn như một số người còn tin ông là một kẻ mạo danh có liên hệ với chính quyền Hà Nội!


Tuy chỉ gặp Nguyễn Chí Thiện có một lần, tôi cảm thấy sự chân thành và niềm uất hận trong tâm hồn ông. Mặc dầu sống trên đất tự do nhưng con mắt của ông vẫn còn đầy ám ảnh của đến gần 30 năm tù. Cũng đã từng ở tù, dầu là một thời gian ngắn hơn nhiều, tôi hiểu tâm sự đó.


Hôm nay thi sĩ đã nằm xuống. Viết vài dòng này chính là để giữ lời hứa với người quá cố là sẽ trình bày nguồn gốc tại sao tập bản thảo của tập thơ này đã được trao cho thi sĩ và trong hoàn cảnh nào. Ngày nay cả Giáo Sư Honey, nhà báo Như Phong, và Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện đều đã ra người thiên cổ nhưng hẳn các ông sẽ gặp nhau để bàn tiếp chuyện tội ác của chế độ cộng sản.


Người ở lại bùi ngùi thương nhớ và xin thắp nén hương cầu sớm siêu thoát.

ŨCV Ryan chỉ trích Tổng Thống Obama về vấn đề Trung Quốc

 


 


YOUNGSTOWN, OHIOTrước một nhóm cử tri trong khu vực ủng hộ đảng Dân Chủ, ứng cử viên phó tổng thống của đảng Cộng Hòa, Paul Ryan, chỉ trích chính sách của Tổng Thống Barack Obama trong vấn đề Trung Quốc.


Chính quyền Obama có cả thảy tám cơ hội để lên án Trung Quốc tác động lên giá trị tiền tệ. “Cơ hội thứ tám sẽ xảy ra trong hai ngày nữa; nhưng họ nói rằng họ sẽ để vấn đề này sang một bên, cho đến sau cuộc bầu cử.” Dân Biểu Paul Ryan nói với đám đông tại Youngstown State University. Ngụ ý của ông Ryan là quyết định này có tính chính trị.


Hôm Thứ Sáu, Bộ Tài Chánh Hoa Kỳ nói rằng họ sẽ ngưng việc báo cáo vấn đề tỷ giá hối đoái cho đến sau ngày 6 tháng 11. Báo cáo loại này sẽ bao gồm cả quyết định kết luận Trung Quốc có chi phối giá trị đồng tiền hay không.


“Chúng ta phải chặn đứng hành vi gian dối (của Trung Quốc).” Ông Ryan phát biểu.


Phía Ủy Ban Tranh Cử của Tổng Thống Obama ra thông cáo báo chí, nói rằng “lời lẽ của Dân Biểu Ryan không thể che giấu được thực tế là Mitt Romney sẽ không bao giờ ngăn chặn được sự gian dối của Trung Quốc. Khi Tổng Thống Obama lên tiếng phản đối Trung Quốc để bênh vực cho công nhân làm vỏ xe của Mỹ, ông Romney nói hành động ấy rất tai hại cho quốc gia.”


Tranh cử trong khu vực Ðông Nam của tiểu bang Ohio, ông Romney cũng tấn công đối thủ của mình, cho rằng ông Obama thất bại trong việc đối mặt với Trung Quốc.


Ohio là tiểu bang vô cùng quan trọng trong cuộc tranh cử tổng thống Hoa Kỳ. Ông Ryan đến đây trong lần xuất hiện thứ 17 trước công chúng trong vai trò ứng cử viên phó tổng thống. (Ð.B.)

Giải Nobel Văn Chương cho Mạc Ngôn

 


 


Ngô Nhân Dụng


 


Tôi đọc bản tin nhà văn Mặc Ngôn được giả Nobel về văn chương tại một quán cà phê trước cửa giáo đường San Marco nổi tiếng. Tôi nhìn chung quanh để tìm một người chia sẻ tin vui này, thấy có hai người trẻ tuổi đi ngang qua, nói chuyện với nhau bằng tiếng Trung Hoa. Tôi chỉ lên bản tin tiếng Anh trước mặt, và nói: Nobel! Nobel! Họ nhìn các chữ viết, nhìn nhau, cùng lắc đầu. Tôi nhắc lại: Nobel! Họ hỏi: Nobel? Lại lắc đầu; rồi lễ phép chào. Thật đáng tiếc. Tôi nói: Xin lỗi, đừng để ý nữa! Ðáng lẽ tôi phải bảo họ: Thôi, không cần nói nữa.


Vì nhà văn Quản Mạc Nghiệp (Guan Moye), 57 tuổi, lấy bút hiệu Mạc Ngôn có nghĩa là “Không cần nói nữa!” Ông đã viết hàng trăm tác phẩm, xuất bản hơn mười cuốn truyện; trong số các sách đã được ngòi bút tài hoa của Trần Ðình Hiến dịch ra tiếng Việt có truyện Cao Lương Ðỏ, Báu Vật Của Ðời, Cây Tỏi Nổi Giận, Ðàn Hương Hình, và Ma Chiến Hữu. Sinh ra và lớn lên ở tỉnh Sơn Ðông, Mạc Ngôn chuyên kể chuyện với những nhân vật miền quê hương ông quanh làng Bình An, huyện Cao Mật. Mạc Ngôn là tác giả thứ hai người Trung Hoa được giải Nobel Văn Chương, người thứ nhất vào năm 2000 là Cao Hành Kiện (Gao Xingjian) với tác phẩm “Linh Sơn,” gốc Trung Quốc nhưng mang quốc tịch Pháp, là một công dân Pháp. Ðọc “Linh Sơn” khó hơn Mạc Ngôn nhiều vì theo lối tiểu thuyết mới, không có cốt truyện. Chính quyền Bắc Kinh gần như bỏ qua Cao Hành Kiện, cũng như Lưu Hiểu Ba, năm ngoái được trao giải Nobel Hòa Bình; họ coi Mạc Ngôn là tác giả thứ nhất được giải Nobel về văn chương. Mạc Ngôn đã từng bị nhiều nhà văn Trung Hoa công kích vì không lên tiếng bảo vệ Lưu Hiểu Ba trong lúc Bắc Kinh đưa ông ra tòa và kết án. Chỉ sau khi được giải Nobel ông mới tự biện hộ, nói rằng ông vẫn mong Lưu Hiểu Ba được trả tự do, mà chính ông cũng có thể gặp nguy hiểm về chính trị khi viết về đời sống cực khổ của nông dân dưới các chế độ chính trị hà khắc, trong đó có chế độ cộng sản.


Nhưng việc trao giải Nobel Văn Chương cho Mạc Ngôn vẫn bị các nhà tranh đấu dân chủ tự do ở Trung Quốc phản bác. Họa sị Ai Vệ Vệ (Ai Weiwei) gọi Mạc Ngôn là một tay sai của chế độ và chế nhạo giới lãnh đạo Bắc Kinh đã hân hoan trước giải thưởng cho Mạc Ngôn mà trước đây thì chỉ trích việc trao giải Nobel Hòa Bình của Ðức Ðạt Lai Lạt Ma và Lưu Hiểu Ba. Nhà tranh đấu dân chủ Ngụy Kinh Sinh (Wei Jingsheng) cũng chia sẻ cùng một ý kiến. Tuy ông Ngụy Kinh Sinh công nhận Mạc Ngôn là một nhà văn có biệt tài nhưng ông chê Mạc Ngôn đã đứng về phía chế độ độc tài, đã từng chép tay cả bài diễn văn của Mao Trạch Ðông trong một tuyển tập mới xuất bản gần đây; trong đó Mao yêu cầu văn nghệ phải phục vụ cho đảng Cộng Sản. Nhà văn Dư Kiệt (Yu Jie) cũng chỉ trích việc chép tay văn Mao Trạch Ðông của Mạc Ngôn; ông nói rằng việc trao giải văn chương cho một người ca ngợi Mao như vậy, là một xì căng đan văn nghệ; trong khi ai cũng biết Mao đã làm chết nhiều người Trung Hoa hơn cả số người bị Hitler và Stalin sát hại.


Tất nhiên chính quyền Bắc Kinh hoan nghênh Hàn Lâm Viện Thụy Ðiển trong giải văn chương năm nay. Nhưng một dấu hiệu mà người Trung Hoa nào cũng có thể thấy là phần chính trong bản tin của chính quyền Trung Quốc không nói về Mạc Ngôn mà lại chú trọng đến ông Lý Trường Xuân (Li Changchun), ủy viên Bộ Chính Trị với danh hiệu đầy đủ nguyên văn “Trung Cộng Trung Ương Chính Trị Cục Thưởng Ủy” trước khi nhắc đến tên nhà văn Mặc Ngôn.


Nhà văn vốn có óc hài hước rất sâu, bén cũng có dịp nhìn thấy điểm tức cười trong bản tin của Tân Hoa Xã trong đó không giới thiệu một tác phẩm nào của Mạc Ngôn khiến ông được giải Nobel. Ngược lại, cả bản tin của nhà nước Trung Cộng chỉ nói tới nội dung lá thư đầy mầu sắc tuyên truyền chính trị! Họ Lý viết rằng giải thưởng trao cho Mạc Ngôn chứng tỏ Trung Quốc đã chứng tỏ sự thành công của cuộc đổi mới, hiện đại hóa, mở cửa, có sức mạnh gây ảnh hưởng, giúp cho văn chương sáng tạo bùng nổ. Họ Lý cũng ca ngợi các nhà văn nói chung đang hướng về đời sống của nhân dân và theo truyền thống dân tộc, vân vân.


Cuốn truyện của ông từng bị cấm không được lưu hành ở Trung Quốc là Cây Tỏi Nổi Giận (nguyên văn là Bài Ca Dao Tỏi, Ðại Toán đích ca dao), đã được dịch sang tiếng Anh thành The Garlic Ballads. Ðây là một tác phẩm được hoan nghênh nhất của ông, vì đoạn cuối mô tả một cuộc nổi dậy của nông dân chống các cán bộ tham nhũng, độc ác.


Truyện Cây Tỏi Nổi Giận mô tả một chuyện tình oan khuất, chàng trai họ Cao yêu cô gái họ Phương nhưng gia đình cô gái lại muốn gả cô cho người ông già, để đánh đổi cưới được cho đứa con trai tàn tật một cô dâu; và sau cùng đôi trai gái phải tự tử. Nhưng đằng sau câu chuyện tình, chuyện gia đình và tình bạn, là cả một xã hội làng quê với những cán bộ đầy uy quyền và những nông dân hoàn toàn bất lực trước cả thị trường, chỉ biết có tiền, lẫn guồng máy nhà nước, chỉ biết ra lệnh và hăm dọa. Dân một làng sống bằng nghề trồng tỏi bán đã thu hoạch được số tỏi quá nhiều, cao hơn hạn ngạch do nhà nước quy định là nạn nhân của các cán bộ dốt nát và không cần biết đến ý dân. Khi các cán bộ, vẫn quen thói nhất nhất vâng lệnh cấp trên, ra lệnh dân không được đem thêm tỏi ra bán, để mặc cho mùa màng bị bỏ hư thối; người dân phẫn uất đã nổi lên; hoặc đám công an đánh đập người dân oan như đánh súc vật. Những nhân vật của Mạc Ngôn là những người dân bình thường, có thiện và cũng có ác, không phải là những người mẫu phiến diện; ngòi bút Mạc Ngôn vẫn xuất sắc khi viết về nỗi thống khổ của người nông dân cùng khổ sống trên đe dưới búa; một xã hội Trung Quốc có người lái xe say rượu cán người rồi vin vào thế lực của chính quyền mà chạy tội, không khác gì những chuyện có thật đã được các báo đăng tải.


Văn của Mạc Ngôn luôn luôn kèm theo các điệu hát cổ làm nền cho các diễn biến (như trong Báu Vật Của Ðời), trong chuyện Tỏi này cũng có một nhân vật anh sẩm mù luôn luôn cất tiếng hát, làm biểu tượng cho các giá trị văn hóa cổ truyền, và làm màn đệm cho các tình tiết riêng và các biến động chung trong xã hội. Ba nhân vật chính trong chuyện đều bị tù, và đều liên can đến cảnh mùa màng ế ẩm và dân chúng bất mãn, phải nổi loạn. Chính quyền cũng can thiệp vào cuộc hôn nhân lỡ giở, đứng về phía gia đình cô gái, mặc dù việc ép hôn của họ trái ngược với cả luật pháp mà các nhân viên nhà nước đáng lẽ phải bảo vệ. Nói rằng Mạc Ngôn chỉ là một nhà văn công cụ của chế độ cộng sản thì thật là oan cho ông ta.


Chúng ta cũng không nên trách Mạc Ngôn như thể muốn rằng các nhà văn lúc nào cũng phải lên tiếng về các vấn đề chính trị; cho nên có thể thông cảm với nỗi khó khăn của Mạc Ngôn, một đảng viên cộng sản và một nhà văn trong quân đội. Với tư cách một nhà văn, ông đã chứng tỏ luôn luôn đứng về phía những người dân đau khổ. Ngay cả khi viết những chuyện đời xưa như Báu Vật Của Ðời (tên gốc là Vú To, Mông Nở) ông đã mỉa mai cả các nhân vật cán bộ cộng sản, một trong bảy người con rể của nhân vật chính, mà những người con rể khác lần lượt từng là sĩ quan Quốc Dân Ðảng, Nhật Bản, cả một người Mỹ.


Bản tin của nhật báo Ðài Bắc Thời Báo (Taipei Times) loan tin Mạc Ngôn được giải đã gọi ông với danh hiệu là “nhà văn chống đối”. Nói về mặt nội dung thì có lẽ Mạc Ngôn, cũng như của Trương Hiền Lượng (tiểu thuyết Một Nửa Ðàn Ông Là Ðàn Bà) phải được coi là một nhà văn phản kháng. Cũng giống Nguyễn Huy Thiệp, Bùi Ngọc Tấn, Nguyễn Bình Phương ở nước ta; hay Dương Thu Hương ngay trước khi ra nước ngoài sống. Họ đã mô tả con người sống trong một xã hội mà họ bị chiếm đoạt hết các quyền làm người căn bản. Dù họ không hô lên một khẩu hiệu nào chống chế độ. Tuy nhiên, chỉ cần cho độc giả thấy những con người sống thật, đau khổ và sung sướng, hiền lương và độc ác, trong một xã hội không còn hồn tính người, các tác giả đã lên tiếng bênh vực cho quyền sống làm người của nhân dân chung quanh họ. Ngay một cuốn truyện lừng danh của Aleksandr Solzenicyn là “Một ngày trong đời của Ivan Denisovi” cũng không hề viết một lời nào công kích chế độ chính trị đã đem nhân vật chính này vào trại cải tạo ở Siberia. Bổn phận quan trọng nhất của một nhà văn là phải viết cho hay; giúp độc giả sống với những nhân vật sống thật. Mạc Ngôn được nhiều nhà phê bình Tây phương so sánh với William Faulkner và Gabriel Garcia Marquez; cho thấy ông quả thật xứng đáng lãnh giải Nobel. Giải thưởng văn chương này dành cho các cá nhân chứ không phải cho một giống dân. Chắc chắn không phải là quà tặng cho một chế độ độc tài tham nhũng mà chúng ta thấy trong văn chương Mạc Ngôn cũng thể hiện.

Chí Thiện đối mặt với Cực Ác

 


 


Bùi Tín (Blog VOA)


 


Suốt 5 ngày qua, sống trong tâm tưởng với nhà thơ Nguyễn Chí Thiện, sau khi được biết anh vừa vào bệnh viện sau một cơn đau ngực dữ dội. Hôm nay 2 tháng 10, 2012 tôi được hung tin anh đã từ giã chúng ta, thọ 73 tuổi.


Chúng tôi gặp nhau ở Paris năm 2000 khi anh là khách mời của một tổ chức văn hóa Pháp. Sau đó chúng tôi đến thành phố Strasbourg ở sát biên giới Ðức, nơi anh nghỉ ngơi để sáng tác, làm thơ và viết tập truyện Hỏa Lò.


Mới tháng 6 vừa qua gặp anh ở trong khu vực nội trú của trường đại học Long Beach, phía Nam bang California, tôi thấy anh còn khá khỏe, và anh lạc quan nhắc đến các cô gái kiên trung dấn thân ở trong nước – những Hoàng Thục Vy, Phạm Thanh Nghiên, Bùi Minh Hằng, Ðỗ Thị Minh Hạnh… anh đọc cả từng đoạn văn súc tích của Võ Thị Hảo, rồi anh bình luận việc từ bỏ hàng ngũ đảng CS của anh bạn trẻ Nguyễn Chí Ðức.


Tôi nhớ lời anh kể về lý do tại sao anh lại có mối quan hệ không thân thiện, dẫn đến xung khắc với đảng CS vào lúc còn rất trẻ, ở vào tuổi 21, 22. Sau chiến tranh với Pháp, sau Ðiện Biên Phủ, anh cũng như bao thanh niên khác, “hừng hực niềm tin yêu và hy vọng”, như lời một bài hát hồi ấy. Nhưng rồi trục trặc xảy ra. Anh mê nghề dạy học, chăm đến thư viện, đọc sách báo rất nhiều, 19 tuổi đã khá thông tiếng Pháp, đọc và nhớ thơ của Victor Hugo, luận văn của Voltaire, nhớ truyện “Những kẻ cùng khổ”, “Ba chàng ngự lâm pháo thủ”. Khi một giáo viên trường trung học bị ốm, hiệu trưởng biết anh liền nhờ anh dạy thế một tiết lịch sử, nói về kết thúc cuộc Thế Chiến Lần Thứ Hai. Anh chuẩn bị kỹ, giải thích cho học sinh biết rằng phát xít Nhật bị bắt buộc phải đầu hàng vào tháng 8, 1945 là do 2 quả bom nguyên tử của Mỹ ném xuống Nagasaki và Hiroshima.


Thế là có phụ huynh học sinh cùng một giáo viên ganh tỵ với anh tố cáo với công an quận rằng anh cố tình truyền bá tư tưởng đế quốc, không theo giáo án, nói trái quan điểm của đảng, không giải thích rằng phát xít Nhật thua là do công ơn của Nguyên Soái Stalin đã chỉ huy Hồng quân tiêu diệt đạo quân Quan Ðông ở Mãn Châu.


Nguyễn Chí Thiện đã 3 lần vào tù. Từ tạm giam, rồi hỏa lò, rồi biệt giam, không xét xử, chân mang gông cùm, xích sắt, sống với muỗi, rệp, gián, chuột, với những trận ho thổ huyết lênh láng, nhưng suốt 27 năm dài, anh vẫn đứng vững chãi trên niềm tin của mình.


Tù đày đã không thể nào tận diệt bản chất Chí Thiện ở nơi anh, không tài đánh gục được sức sống quật khởi bất tận ở nơi anh, đó là sức sáng tạo nên hàng trăm bài thơ với tứ thơ, ý thơ bất diệt, độc đáo. Anh coi thơ là nguồn sống, là vũ khí tiến công, vạch mặt cường quyền, chỉ mặt cực ác phi nhân, loài dã thú giữa loài người văn minh.


Ngay trong đợt tù đầu tiên từ 1962 đến 1964 nhà thơ Chí Thiện trẻ đã làm nên nhiều bài thơ cảm khái, tuy không có bút mực, không máy ghi âm, không máy vi tính, mà chỉ ghi trong ký ức. Làm bài nào nhớ bài nấy. Làm bài sau vẫn nhớ những bài trước.


Xin nhớ lúc ấy Bắc Việt là nhà tù lớn, nội bất xuất, ngoại bất nhập. Gặp người ngoại quốc, dù là người Nga, Trung Quốc, hay Pháp, mà đến gần, nói chuyện, hỏi chuyện làm quen không xin phép đảng, không xin phép chính quyền, không có công an tham dự là tội lớn, là phạm pháp. Thư từ Bắc Nam, thư từ gửi đi thế giới hay từ thế giới gửi vào bị kiểm soát, kiểm duyệt kỹ, nói chung là cấm kỵ, thông tin bị bủa vây chặt. Vì thế Chí Thiện đã vỡ óc hàng mấy tháng để tìm cách gửi tập thơ của anh ra khỏi nước, để nó đến được với loài người ở ngoài nước ta, như một tiếng vang từ địa ngục trần gian.


Thế là anh liều. Tháng 7/1979, anh mang tập thơ – với mấy dòng chữ Pháp ở trang đầu: “Nhân danh hàng triệu nạn nhân vô tội của chế độ độc tài, đã ngã gục hay còn đang phải chịu đựng một cái chết dần mòn và đau đớn trong gông cùm của cộng sản, tôi xin ông vui lòng cho phổ biến những bài thơ này trên mảnh đất tự do của quý quốc. Ðó là kết quả 20 năm làm việc của tôi, phần lớn được sáng tác trong những năm tôi bị giam cầm” – đến trước sứ quán Anh ở Hà Nội, chạy vụt vào đưa cho một người Anh rồi chạy trở ra. Anh bị bắt ngay và bị tống vào Hỏa Lò, bị gông cùm, tra khảo, nhưng tinh thần hứng khởi, hy vọng tập thơ của anh làm trong 13 năm tù sẽ mọc cánh bay xa, làm cho những bài thơ gầm thét nỗi oan trái sẽ đến với loài người.


Ở Chí Thiện còn có một tâm hồn trong sáng cao thượng ít người biết. Khi anh được sang Hoa Kỳ năm 1995, có một chị ở Paris, Pháp, mến mộ, động lòng thương anh, tự nguyện tỏ ý mong muốn chung sống với anh trong cuộc đời lưu vong còn lại, để dựa vào nhau trong hơi ấm gia đình. Chị lái xe ra phi trường de Gaulle đón anh về nhà. Nhưng anh không dám nhận mối tình cao quý ấy. Anh tâm sự: “Mình không khỏe, đêm thường mất ngủ, lại đủ thứ bệnh, tim, gan, thận đều có vấn đề, già yếu rồi, sống chung sẽ làm phiền, làm vất vả cho người khác, mình không đang tâm”. Lúc ấy anh đã hơn 60 tuổi. Anh muốn giành toàn bộ sinh lực cho cuộc đấu tranh. Và thế là anh chấp nhận một cuộc sống đơn độc, đạm bạc, nhưng lại càng có nhiều bạn hơn, nam giới và phụ nữ, lớn tuổi cũng như bạn trẻ, chăm nom, an ủi, mang cho anh thức ăn, thuốc bổ, hoa quả, đưa anh đi họp, đi mua sắm cần thiết…


Chí Thiện có một mối thù cực sâu đối với ông Hồ. Thoạt đầu tôi nghĩ là vì anh bị đại nạn khi ông Hồ đang đầy quyền lực ở vị trí tối cao, đứng đầu nhà nước, đứng đầu đảng. Anh hiểu rõ ông Hồ là nguồn gốc chính của đại họa dân tộc, là kẻ du nhập hăng hái nhất, mù quáng nhất học thuyết Mác-Lê tai quái. Anh thường nói “các nước gần ta như Thái Lan, Indonesia, Philippines, Malaysia, Ấn Ðộ… hạnh phúc, tiến bộ do không có ai như ông Hồ, dốt nát, lẩm cẩm, vơ quàng vơ xiên, du nhập cái của nợ bất nhân rồi bắt nhân dân ta phải vái lạy nó”. Anh nói rõ không có thù riêng gì với ông Hồ, nhưng anh nói ông Hồ thực tế là đao phủ số 1, là tội phạm số 1, chịu trách nhiệm về cái chết thê thảm của hàng triệu con người, chịu trách nhiệm về nỗi đau khổ cùng cực của hàng chục triệu đồng bào. Anh cho rằng ông Hồ mắc nợ thù sâu oán nặng đối với mỗi gia đình Việt Nam, ở ngoài Bắc cũng như ở trong Nam, trong nước cũng như ngoài nước, không thể nào chối cãi phủ nhận. Và nay cái tệ sùng bái ông Hồ đã thành của nợ đèo bồng, phải giải thoát mới có lối ra.


Mới tháng 6/2012, anh thổ lộ với tôi nỗi đau của anh, khi xem truyền hình, lớp lớp nhân dân vẫn còn lũ lượt viếng lăng Hồ Chí Minh, có cả người Việt thuyền nhân trở về, “viếng đao phủ của chính dân tộc mình, gia đình mình”. Có gì chua cay hơn. Anh nhắc đến cái lăng ông Dimitrov ở Sofia, Bulgaria, đã bị phá năm 1991, xác ông này được đem về chôn ở quê quán, nay thành nơi mặc niệm các nạn nhân của chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa CS. Anh tin ở Việt Nam rồi cũng như vậy.


Anh nhắc đến một kỷ niệm riêng cách đây 5 năm khi dự lễ khai mạc trọng thể tượng đài kỷ niệm hơn 100 triệu nạn nhân của chủ nghĩa CS toàn thế giới, đặt gần trụ sở Quốc Hội Hoa Kỳ ở Washington D.C. Anh đã trả lời phỏng vấn tại chỗ của báo Mỹ, nhân danh đại diện cho hàng triệu sinh mạng người Việt bị CS giết hại trực tiếp và gián tiếp, trong đó có hàng chục vạn đồng bào thuyền nhân chết bi thảm trong lòng đại dương do phải bỏ chạy địa ngục trần gian của ông Hồ.


Hôm nay nhớ thương, quý mến Chí Thiện, tôi nghĩ không gì bằng ghi lại lại lời nhắn nhủ tha thiết của nhà thơ ngục tù Chí Thiện, gửi đến các nhà văn, nhà thơ, các chiến sỹ dân chủ, các blogger tự do, đặc biệt các bạn trẻ Ðỗ Thị Minh Hạnh, Phạm Thanh Nghiên, Huỳnh Thục Vy, Bùi Minh Hằng, Khanh Bích, Võ Thị Hảo… những tâm hồn trẻ đang dấn thân cho một Việt Nam Tự do luôn đứng thẳng mà nhà thơ Chí Thiện đã tin yêu nhắc đến tên trước khi từ biệt chúng ta:


Thế lực đỏ, phải đồng tâm đập nát


Ðể nó hoành hành, họa lớn sẽ lan nhanh


Nhưng không thể dùng bom A bom H


Phá nát địa cầu vì một lũ gian manh


Nên phải viết, phải muôn ngàn kẻ viết


Những tội tày đình được bưng bít tinh vi


Nếu nhân loại mọi người đều biết


Cộng sản là gì, tự nó sẽ tan đi


Anh Chí Thiện quý yêu, bài viết này coi như thẻ hương và bông hoa tinh thần tiễn anh đi vào cõi vĩnh hằng.

Nobel Văn Chương 2012, một giải thưởng nhiều tranh cãi

 


 


Nguyễn Hưng Quốc (Blog VOA)


 


Giải Nobel Văn Chương năm nay được trao cho Mạc Ngôn, nhà văn Trung Quốc. Không có giải thưởng nào làm hài lòng mọi người. Tranh cãi ngay sau khi giải thưởng được công bố là chuyện bình thường. Tuy nhiên, lần này, những tranh cãi không tập trung vào chất lượng nghệ thuật mà chủ yếu vào thái độ chính trị của người được giải. Hơn nữa, những tranh cãi ấy chủ yếu là giữa những người Trung Quốc với nhau.


Sinh năm 1955 trong một gia đình nông dân tại Sơn Ðông, Mạc Ngôn lớn lên trong giai đoạn Cách Mạng Văn Hóa tàn khốc của Mao Trạch Ðông; một giai đoạn hẳn đã để lại cho ông nhiều kinh nghiệm cay đắng. Nhưng ông nhanh chóng vượt qua chúng để thích ứng với không khí chính trị ở Trung Quốc: Ông đi bộ đội, học ở Học Viện Nghệ Thuật Quân Giải Phóng và trở thành một cán bộ khá cao cấp trong Cục Chính Trị thuộc Bộ Tổng Tham Mưu Quân Ðội. Hiện nay ông là phó chủ tịch Hội Nhà Văn Trung Quốc.


Với những chức vụ như thế, rất dễ hiểu, Mạc Ngôn được xem là một công thần của chế độ. Nhiều người cho là ông hèn. Không chừng chính cái bút hiệu ông chọn cũng nói lên điều đó: Mạc Ngôn, trong chữ Hán, có nghĩa là không nói. Trong một bài phỏng vấn đăng trên tờ báo El Pais bằng tiếng Tây Ban Nha năm 2008, ông kể:


“Tôi chọn cái bút hiệu ấy để nhớ những năm tôi không thể nói lời nào với ai khác. Ðó là những ngày hỗn loạn của Cách Mạng Văn Hóa, khi trong làng của tôi lúc nào người ta cũng xung đột với nhau. Bố tôi là một nông dân, nhưng gia đình tôi sống khá thoải mái; ông sợ tôi nói năng bậy bạ có thể gây phiền phức cho gia đình. Bởi vậy, ông bảo tôi đừng nói gì cả; cứ làm như một thằng câm.”


Chọn bút hiệu Mạc Ngôn vì một bài học sợ hãi từ bố. Nhưng sau đó, Mạc Ngôn lại nâng sự khuất phục lên thành một thứ chủ nghĩa anh hùng. Trong bài nói chuyện tại Hội Chợ Sách Frankfurt năm 2009, ông kể chuyện: “Một hôm, Beethoven và Goethe đang đi dạo trên đường phố thì gặp một nhà quý tộc đi ngược chiều; Beethoven tiếp tục rảo bước, còn Goethe thì ngả mũ chào.” Mạc Ngôn nói tiếp:


“Lúc còn nhỏ, tôi nghĩ Beethoven thật vĩ đại. Nhưng, khi lớn tuổi, tôi nhận ra là việc làm của ông thật dễ dàng, trong khi đó, làm như Goethe thì có thể cần nhiều can đảm hơn.”


Trong các bài báo bằng tiếng Anh tôi đọc được, không thấy ai dẫn thêm lý do tại sao Mạc Ngôn lại cho việc Goethe ngả mũ chào một nhà quý tộc mà ông không thích lại là một hành vi can đảm.


Tuy nhiên, khó có thể nói cách hành xử của Mạc Ngôn tại Hội Chợ Sách Frankfurt năm 2009 ấy là can đảm khi ông và các cán bộ khác bỏ ra khỏi phòng hội nghị phản đối khi một số nhà văn lưu vong người Hoa chuẩn bị lên phát biểu.


Cũng không can đảm chút nào khi, khá gần đây, cùng với một số cây bút khác, ông chép tay lại bài nói chuyện về văn nghệ của Mao Trạch Ðông tại Diên An năm 1942 để làm thành một “ấn bản đặc biệt” để tưởng niệm cái biến cố đầy tai tiếng ấy. Ðó chính là cương lĩnh văn học nghệ thuật chật hẹp và đầy tính giáo điều đã gây tai họa cho văn học Trung Quốc cũng như cho cả văn học Việt Nam trong suốt cả hơn nửa thế kỷ.


Càng không can đảm chút nào khi, thay vì lên án chế độ kiểm duyệt gắt gao ở Trung Quốc, Mạc Ngôn, trong nhiều bài phát biểu và phỏng vấn khác nhau, luôn luôn tìm cách biện hộ cho nó.


Ví dụ, trong bài phỏng vấn trên báo Times năm 2010, ông cho kiểm duyệt là chuyện chả có gì đáng làm ầm ĩ vì “ở nước nào cũng có một số sự kềm chế đối với việc viết lách”.


Lúc khác, ông lại phát biểu: “Tôi tin các hạn chế hay kiểm duyệt là điều tốt cho việc sáng tạo văn chương” vì “một trong những vấn đề lớn nhất của văn chương là thiếu sự tinh tế”. Kiểm duyệt sẽ khiến nhà văn tìm cách “chôn sâu tư tưởng của mình và chỉ gửi gắm chúng qua các nhân vật trong tiểu thuyết”.


Có lúc, trước sự phê phán của nhiều người, ông tìm cách biện minh:


“Một nhà văn nên bày tỏ sự phê phán hay bất bình của mình trước các góc tối trong xã hội cũng như những sự xấu xa trong bản tính của con người, tuy nhiên, chúng ta không nên dùng một kiểu diễn tả giống nhau. Vài người có thể sẽ xuống đường gào thét, nhưng chúng ta cũng nên bao dung đối với những người trốn trong phòng kín và dùng văn chương để bày tỏ ý kiến.”


Với nhiều người, đó chỉ là một cách nói. Họ vẫn cho Mạc Ngôn chọn con đường dễ dãi và an toàn nhất trong một chế độ độc tài và độc ác. Bởi vậy, những người phản đối giải Nobel dành cho ông kịch liệt nhất chính là các đồng hương và đồng bào của ông.


Cách đây mấy ngày, chỉ nghe tin đồn phong thanh là Mạc Ngôn có tên trong danh sách được chọn, nhà văn Yefu đã tuyên bố: “Giải Nobel không nên trao cho một nhà văn chỉ biết ca tụng chế độ chuyên chế. Ðó là một nguyên tắc thiết yếu.”


Sau khi giải Nobel được công bố, nghệ sĩ Ngải Vị Vị phát biểu: “Ðối với một nhà văn đương đại, tránh né các vấn đề rõ ràng của cuộc đấu tranh của ngày hôm nay là một cái gì không thể bàn cãi được. Tôi không thể tách rời văn chương ra khỏi cuộc đấu tranh của dân tộc.”


Rồi ông nói thêm: “Tôi không chê trách ủy ban giải Nobel, nhưng [quyết định trao giải cho Mạc Ngôn] đã gửi một tín hiệu phản ánh một khẩu vị thật kém cỏi (bad taste).”


Sẽ không có gì đáng ngạc nhiên khi nhà cầm quyền Trung Quốc sẽ sử dụng giải Nobel Văn Chương dành cho Mạc Ngôn như một công cụ để tuyên truyền không những cho chính sách văn học nghệ thuật của họ mà còn để củng cố vị thế nước lớn của họ: Họ đã mạnh về kinh tế và quân sự, nay, họ còn chứng tỏ cả sức mạnh trong cái giới nghiên cứu thường gọi là “quyền lực mềm” mà một siêu cường quốc cần có.


Nên nhớ đây là giải Nobel đầu tiên mà Trung Quốc hoan hỉ đón nhận. Trước, giải Nobel Văn Chương dành cho Cao Hành Kiện (năm 2000) không làm họ ưng ý: Một phần vì, lúc ấy Cao Hành Kiện đã vào quốc tịch Pháp, do đó, không còn là nhà văn Trung Quốc nữa; phần khác, về tư tưởng, ông tự xem mình và cũng được mọi người xem là một cây bút ly khai. Giải Nobel Hòa Bình trao cho Lưu Hiểu Ba (năm 2010), một tù nhân lương tâm đang bị Trung Quốc giam giữ lại càng làm cho Trung Quốc giận dữ.


Chỉ có món quà dành cho Mạc Ngôn là ngọt ngào.


Cho những tên cai ngục.


 


Chú thích: Tất cả các trích dẫn ở trên đều được đăng rải rác trong các bài viết về Mạc Ngôn trên các báo: The New York Times, The Washington Post, Los Angeles Times, Telegraph, The Wall Street Journal, Global Times, v.v. ngày 11 tháng 10, 2012.

Tăng trình độ trung học giúp học sinh dễ hoàn tất đại học

 


 


HOA KỲCứ 10 sinh viên hiện đang theo học các đại học bốn năm ở Mỹ thì sẽ có 4 người không có được mảnh bằng cử nhân sau sáu năm học tập – và mức độ ra trường đúng hạn định ở các trường hai năm lại còn thấp hơn nữa. Bài báo trên CSMonitor cho biết.


Vẫn theo bài báo này, đây là điều làm giới chức giáo dục ngày càng trở nên lo ngại trong những năm gần đây và tìm mọi giải pháp cho vấn đề. Nhưng chìa khóa để giải quyết vấn nạn này có thể nằm ở các trường trung học, qua việc chuẩn bị học sinh kỹ càng hơn trước khi lên đến bậc đại học.


Cơ quan National School Board Association (NSBA) hôm Thứ Năm tuần này đưa ra kết qủa của một cuộc nghiên cứu, theo đó cho thấy một số điểm chính có thể thực hiện ngay ở bậc trung học: Ðó là thêm các lớp toán trình độ cao, thêm các lớp khó như trong chương trình AP (Advanced Placement) hay International Baccalaureate (IB), cùng việc cố vấn hiệu quả cho học sinh.


Nếu các học sinh có những điều này-và ngay cả khi không được điểm cao trong kỳ thi của các chương trình này- các em cũng có nhiều khả năng tiếp tục theo học sau năm đầu tiên ở bậc đại học, một cái mốc mà nhiều sinh viên bị rơi rụng, theo cuộc nghiên cứu.


“Ðiều này cho thấy những gì các trường trung học có thể làm được để giúp học sinh đạt kết quả tốt ở bậc đại học,” theo ông Jim Hull, chuyên gia về chính sách của NSBA.


Tuy các kết quả nghiên cứu này không đưa ra được một giải pháp toàn vẹn cho mọi học khu ở Mỹ, và nhiều nơi vẫn còn tranh luận là có nên buộc mọi học sinh phải học các lớp toán khó hơn hay mở các lớp AP cho bất cứ học sinh nào muốn theo học, chứ không dựa theo điểm trung bình như nhiều nơi hiện đang làm.


“Rõ ràng là có sự liên hệ chặt chẽ giữa việc lấy các lớp toán khó ở bậc trung học và học hành giỏi giang ở bậc đại học, nhưng đây không phải nguyên do và hệ quả. Ðây cũng rất có thể là những sinh viên học giỏi ở đại học cũng là những người giỏi toán,” theo ông David Klein, một giáo sư toán tại đại học California State University-Northridge, người từng nghiên cứu các lớp toán AP và thấy rằng nhiều lớp trong số này không bằng các lớp ở đại học.


Nhưng qua việc cung cấp các chi tiết về những sinh viên đến từ các tầng lớp xã hội và thành quả của họ ở đại học, cuộc nghiên cứu của NSBA cho thấy có thể sửa đổi một số yếu tố để giúp học sinh trung học thành công hơn ở bậc đại học.


Vẫn theo CSMonitor, cuộc nghiên cứu dựa trên các dữ kiện thu thập từ hơn 9,000 học sinh vào đại học ngay sau tốt nghiệp trung học khóa Mùa Thu năm 2004 và có những điều đáng chú ý như sau:


-Học lớp toán khó ở trung học, có sự kiên trì hơn ở đại học: Thông thường các học sinh trung học chỉ học toán đến lớp Algebra II là cao nhất, theo ông Hull. Nhưng các học sinh trung học không ngừng lại ở đó mà lấy lớp pre-calculus hay calculus, khả năng họ sẽ tiếp tục học sau năm đầu tiên ở đại học tăng lên từ 10% đến 22% (10% cho các học sinh trên mức trung bình về sức học và hoàn cảnh kinh tế gia đình, 22% đối với các học sinh ở dưới mức trung bình trong hai lãnh vực nêu trên). Ðối với các sinh viên học đại học 2 năm, mức này vào khoảng từ 18% đến 27%.


-Các lớp AP/IB giúp tăng mức độ tiếp tục theo học từ 7% đến 17%, cũng với các tiêu chuẩn về học vấn và kinh tế gia đình như nêu trên; và đối với các sinh viên đại học hai năm là từ 17% đến 30%.


Cuộc nghiên cứu nói rằng càng lấy nhiều lớp khó, họ lại càng có nhiều sự kiên trì theo đuổi việc học ở đại học.


Chuyên gia Jim Hull cho hay vẫn còn có nhiều người nghĩ rằng cho các học sinh bị coi là “không đủ sức” theo học các lớp khó sẽ gây nguy hại cho đường học vấn của các em. Tuy nhiên “cuộc nghiên cứu này cho thấy rõ ràng một điều là cho tất cả mọi học sinh cơ hội học các lớp khó sẽ giúp chúng thành công ở đại học,” ông Hull nói. (L.T.)

Tin mới cập nhật