Lễ Tốt Nghiệp Khóa Huấn Luyện Báo Chí

 


 


Mai Hoàng


 


Trong không khí thân mật đầy trang trọng trong nhà hàng Mai Village, St. Paul. Minnesota, buổi lễ Tốt nghiệp Khóa Huấn luyện Báo chí đã được diễn ra rất ư vùa ý vào hôm 31 tháng 3 năm 2012. Viện Báo Chí Á Châu (Asian Commnity Media Institute) tuy không quy mô, đông đảo nhưng đã hoàn thành công tác trong tinh thần khiêm tốn đáp ứng được sự mong đợi của đồng hương Song Thành.










Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích trình bày bài diễn văn.


Sau 12 tuần học hỏi lý thuyết, quan sát nhiều cơ sở truyền thông trong vùng và nhất là trau dồi thực tập, 15 sinh viên đã hoàn tất khóa học đúng như dự trù. Tuy đây không hẳn là một bằng cấp chuyên nghiệp, nhưng với chứng chỉ tốt nghiệp này cũng giúp ích rất nhiều cho các học viên có thể dấn thân vào nghề báo.


Trong phần mở đầu chào đón ông Huỳnh Sĩ Nghị, giám đốc điều hành của viện đã xúc động cám ơn 150 người tham dự gồm học viên, ban giảng huấn, quý vị lãnh đạo cộng đồng và thân hữu. Cử tọa rất tán thưởng những thành quả của các công tác thực tâp do chính tay các học viên thực hiện cụ thể là một trang báo in, một trang mạng, một chương trình phát thanh và một mẫu phim truyền hình.


Học viên Phạm Ái Lan phát biểu cảm tưởng “đã học hỏi rất nhiều trong khóa huấn luyện, ngắn ngủi nhưng đầy đủ.” Một học viên khác, anh Nguyễn Minh Phan, thì cho rằng “có thể áp dụng kiến thức học hỏi cho các dự án báo chí tương lai.”










Các thầy giáo và diễn giả Nguyễn Ngọc Bích nhận bằng tưởng lục của ACMI với khách danh dự ông Phạm Văn Yến (Giám đốc điều hành CQXHVNMN) và ông Chris Manor (Chairman ACMI)
Từ trái sang phải: Antonio Lizano (dạy Radio), Phạm Văn Yến, Phan Thanh Tâm (dạy báo in), Nguyễn Ngọc Bích (key note speaker), Huỳnh Sĩ Nghị (President ACMI), Chris Manor, Huỳnh Ðỗ Ðán (dạy Web) và Noel Lee (dạy TV).


Sau khi phát văn bằng và thưởng thức bữa tiệc, Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích, một học giả vừa là nhà báo vừa là người tích cực sinh hoạt cộng đồng, đã chia sẻ một bài diễn văn, ngắn gọn nhưng hàm chứa những ý nghĩa tuyệt vời. Ông đề cao ngành báo nhưng không quên nhắc nhở tinh thần trách nhiệm của người làm báo.


Ông cho rằng cộng đồng người Việt hải ngoại cần có những chương trình huấn luyện tương tự ngõ hầu có đủ nhân lực phục vụ cộng đồng trong lãnh vực đặc biệt này.










Giáo Sư Stephen Young


Giáo Sư Stephen Young trong mục đóng góp ý kiến thì cho rằng “báo chí có ảnh hưởng lớn với xã hội.” Trong cuộc chiến Việt Nam, báo chí Hoa Kỳ đã không hiểu rõ chính phủ Việt Nam Công Hòa, nên đã đưa ra nhiều nhận định sai lầm, mà hậu quả không tốt đã đến cho người dân Miền Nam.


Ban nhạc Hồng Ðức đã làm cho cả hội trường vui nhộn với những bản nhạc hay vừa lời Việt vừa Mỹ cộng thêm những bài hát trữ tình của ca sĩ Thế Vinh.


Buổi lễ được kết thúc đúng giờ trong bầu không khí luyến tiếc của mọi người.

Jessica’s Bridal Center


Giới thiệu Thương mại


 


Mai Hoàng


 


 


Trung tâm Jessica’s Bridal Center được thành lập cách đây hơn 7 năm dưới danh hiệu Hoa Nhi Bridal Center. Ðể tân trang và nới rộng, trung tâm được đổi tên để phù hợp với các đường hướng phục vụ tốt đẹp hơn.


Trung tâm chuyên bán và cho thuê các loại áo cưới, áo dài, đầm dạ hội, Tuxedo và thời trang đủ loại.


Có thể nói Jessica’s Bridal Center là một địa điểm quen thuộc. Ðến với Jessica bạn sẽ tìm được những bộ trang phục sang trọng, tuyệt đẹp như ý.


Ðặc biệt là chiếc áo dài thùy mị, duyên dáng làm tăng thêm vẻ đẹp của người con gái Việt Nam trong ngày Ðại Lễ Mừng Trăm Năm Hạnh Phúc.


Giờ mở cửa: Thứ Hai-Thứ Bảy: 10:00AM – 8:00PM. Chủ Nhật: 11:00AM – 6:00PM


Ðịa điểm: JESSICA’S BRIDAL CENTER


2643 Niccolet Ave. S.


MPLS, MN 55408


Phone: 612-871-2629

Phở bò (Bắc)

 


Cho 8 phần



 


Nguyên liệu:


Nước dùng:


– 2 cây xương ống + 2 lbs.


Xương sườn bò loại có thịt + 1 cây đuôi bò: Tất cả cưa thành khúc.


– 1 miếng vỏ quế, 5 tai hồi, 5 thảo quả (1/2 muỗng cà phê ngũ vị hương tùy ý thích).


– 6 hay 7 củ hành hương hay 1 củ hành tây lớn.


– 1 củ gừng lớn, lựa loại già nhiều sơ càng thơm.


– 1 củ cải trắng; gọt vỏ xong xắt khúc.


– Muối biển: 1 muỗng canh.


– Bột nấm nêm: 1 muỗng canh.


– Ðường phèn: 1 cục bằng ngón tay cái.


– Nước mắm: 2 muỗng canh (tùy ý).


– Thịt nạm: 3 lbs. (brisket hay nạm gân).


– Thịt tái: 2 lbs (flank steak hay rib eyes).


– Gân: 1 lbs.


– Sách: 1 lbs.


– Bánh phở tươi: 4 lbs.


– Giá, rau ngò gai, ớt, chanh, hành lá, hành hương hay hành tây, tương đen và tương ớt tùy thích


 


Cách làm:


Cách nấu nước dùng:


-Xương bò, xương đuôi bò, sườn bò, thịt nạm, gân cho vào nồi nước nấu sôi lên 10 phút rồi đổ xương ra rửa cho thật sạch.


Có thể luộc từng thứ nếu không có nồi lớn.


– Gừng, hành nướng trên bếp than hay bỏ lò cho tới khi thơm, hơi cháy, cạo sạch chỗ cháy, hành lột vỏ để nguyên cùng gừng rửa cho sạch, phần gừng đập giập, để qua 1 bên.


– Quế, thảo quả, tai hồi nướng hay rang trên chảo cho thơm, đừng để cháy, rửa sạch xong đập giập thảo quả cùng ngũ vị hương cho tất cả vào 1 túi vải buộc chặt hay cho vào đồ lược trà, để qua 1 bên.


– Bắc 1 nồi nước sôi, cho xương ống, sườn bò vào, bỏ túi gia vị, hành gừng nướng cùng muối biển, bột nêm, đường phèn vào, cho sôi bùng lên, hớt cho thật sạch bọt, xong vặn lửa nhỏ xuống (medium), đừng đậy vung tiếp tục hầm 5 tiếng hay cho tới khi xương mềm. Nhớ luôn vớt bọt và vớt mỡ để nước dùng được trong. Có thể vớt túi gia vị ra bất cứ lúc nào nếu nồi nước dùng đã bốc mùi thơm.


– Khoảng 2 tiếng trước khi nước dùng xong, cho xương đuôi bò vào, hầm cho tới khi xương mềm, vớt ra, ngâm trong nước lạnh 20 phút, vớt ra để qua 1 bên.


– Cho củ cải trắng vào nước dùng hầm (bất cứ lúc nào trong khoảng thời gian hầm xương) cho tới khi mềm, vớt ra bỏ đi vì chỉ hầm lấy nước ngọt.


– Sau khi xương mềm, nêm lại với nước mắm cho vừa ăn đừng nêm mặn quá vì hâm nhiều lần, nước dùng sẽ bị mặn. Ðể lửa riu riu trên bếp tiếp tục hầm, trừ lúc luộc thịt thì cho lửa cao (medium).


Cách chế biến thịt:


1. Thịt chín:


– Thịt nạm và gân cho vào nồi nước dùng và hầm cho tới khi thịt/gân mềm, xâm đũa dễ dàng vào thịt/gân là thịt vừa chín tới, vớt ra cho vào ngâm trong nước lạnh 20′. Vớt ra, để 1 bên. Sau khi thịt nguội, thái lát mỏng tùy khẩu vị. Gân cũng thái lát hơi dày 1 chút.


– Thịt nạm có gân, có thể cuốn lại dùng chỉ buộc chặt khi luộc, khi cắt sẽ rất đẹp mắt, chế biến cũng như thịt nạm, để qua 1 bên.


2. Thịt tái:


– Thịt tái: Muốn cắt cho dễ cho vào tủ đông đá, để hơi cứng xong xắt lá mỏng, để vào tủ lạnh.


– Thịt flank steak: Xắt mỏng, dùng cán dao đập giập, để vào tủ lạnh.


3. Sách: Rửa với muối cho thật sạch, trần riêng qua nước sôi với gừng đập giập, để qua 1 bên, thái mỏng.


Hành lá thái nhỏ, đầu hành có thể tỉa mỏng cho đẹp, ngò thái nhỏ, hành tây hay hành hương thái lát mỏng. Trộn tất cả và để qua 1 bên.


Rau quế + rau ngò gai + giá + ớt + chanh rửa sạch; ớt thái lát mỏng theo chiều dài cho đẹp, chanh thái ngang, trình bày trên dĩa cho đẹp.


Hành giấm: Thái hành hương mỏng, cho giấm vào trộn đều ngay trước khi dùng phở.


Hành trần: Cho đầu hành lá đã thái khúc, trần vào nước dùng 30 giây.


Trình bày:


Trụng bánh thật nhanh trong nước sôi, bỏ vào bát, cho các loại thịt theo ý thích trên mặt bánh (thịt nạm, gân, đuôi bò, sách), phần thịt tái dùng vợt lưới trần sơ trong nồi nước dùng (nước dùng đang sôi sẽ không bị đục nước, nhớ vớt bọt luôn), bỏ lên mặt bánh xong múc nước dùng đang sôi vào bát, bỏ hành ngò trên mặt, nhớ rắc tiêu vào cho thơm. Ðem ra dùng ngay.


Dùng nóng với ớt, chanh, giá hay rau mùi, tương đen hay tương ớt tùy ý thích.


Có thể bỏ chút gừng non đã thái thật nhuyễn vào bát phở nếu thích. Mùi thơm của gia vị cùng hành gừng nướng trong nước dùng quyện lẫn với gừng non sẽ tạo ra hương vị đặc biệt của bát phở bò.


Phần xíu quách múc ra tô, rắc hành ngò chấm với nước mắm mặn rắc chút tiêu hay chanh cũng rất hấp dẫn để đưa duyên vài chai bia, không nên bỏ qua phần tủy vì đây là phần bổ dưỡng nhất.


Muốn thưởng thức đúng hương vị một bát phở, không nên bỏ tương đen vào bát mà chỉ nên chấm ngoài.


Món này có thể để trong tủ lạnh ăn dần.


Chú thích: Ðây là một món ăn rất ngon, bổ dưỡng nhưng chế biến công phu và tốn nhiều thời giờ như người Mỹ cũng tin rằng “good food takes time”!! Phở là biểu tượng cho Việt Nam cuisine, dùng quanh năm và suốt ngày không bao giờ chán. Bí quyết để có nồi nước dùng ngọt là thịt nhiều, xương thì cho chất bổ và mùi vị nhất là tủy. Nhưng để giữ được chất bổ dưỡng của nước dùng, phải dùng 1 nồi thật lớn để hầm xương, chỉ cho nước lạnh 1 lần thật đầy nồi, gấp đôi lượng xương, nhớ không cho thêm nước lạnh lúc đang hầm cho tới khi xương mềm. Lượng nước dùng còn lại trong nồi là nước cốt chứa đầy chất bổ dưỡng từ xương và thịt.


Nhiều quốc gia đã dùng xương tủy cho các món soup. Lượng iron được tìm thấy rất cao trong tủy.


 


Macronutrients In Bone Marrow



Component
 Amount
 % Daily Value*
 
Calories
 786
 
 
Protein
 6.7 g
 13%
 
Fat
 84.4 g
 130%
 
Carbohydrate
 0 g
 0%
 
Water
 7.4 g
 
 
Ash
 1.5
 
 



*The daily value is based on a 2,000 calorie per day diet.
 


 


Vitamins and Minerals in Bone Marrow



Nutrient
 Amount
 % Daily Value*
 
Thiamin – B1
 .04 mg
 3%
 
Niacin – B3
 .2 mg
 1%
 
Vitamin A
 240 mg
 5%
 
Iron
 4.5 mg
 25%
 
Phosphorus
 107 mg
 11%
 



*The daily value is based on a 2,000 calorie per day diet.
 



 

Ông Nói, Bà Nói!

 


Ông Nói, Bà Nói!


 


Tuần lễ 6 -Thứ Sáu 20, 2012


 


“Có đồng ý cho quý ông xem phim ‘người lớn’ trên mạng hay không, tại sao?”


 
































Hoàng Kim, 65, San Jose:


Không thể được, điều này trái ngược với đạo đức tâm linh.



Hà Nguyễn, 45, Milpitas:


Chỉ là entertaiment thôi mà, lâu lâu xem cho thư giãn vì đàn ông cần sự tưởng tượng để hâm nóng lại lòng ham muốn với người vợ vốn dĩ đã nhàm chán vì không có gì mới mẻ trong chuyện gối chăn. Tôi nghĩ không có hại nhưng có lợi cho hạnh phúc gối chăn thì tại sao các bà lại cấm!


 



Tuấn D., 33, San Francisco:


Ðàn ông ai cũng thích cảm giác hứng thú và họ chỉ có thể tìm thấy nơi những điều mới lạ, xem xong rồi cũng quay về đời sống thực tế với gia đình công việc làm cho nên xem phim người lớn cũng giúp đầu óc thoải mái, nhưng thật ra, xem xong thì không relax chút nào! Xem xong cũng học hỏi được vài điều mới lạ để làm vui lòng bạn gái và thêm credit với nàng!! Có cấm thì mình xem lén vì Internet lúc nào cũng có thể xem được.


 



Loan Trần, 46, Alameda:


Không được à nhen! Có bà xã còn kiếm đâu mấy cái lăng nhăng đó, phim trên mạng chỉ là commercial, thực tế chuyện phòng the đâu có quá sức như vậy. Họ chỉ dàn dựng để các ông trả tiền hội viên, nói chung là tiền mất mà chẳng thoải mái vì bà xã giận và cho “ôm sa long”!!


 



Tuyết Ð., 53, San Jose:


Không cho nhưng cũng không cấm, nếu mình tự tin thì sợ gì! Thật ra cũng nên cho các ông được hưởng những gì các ông cảm thấy vui, hâm nóng cảm xúc miễn là đừng mơ mộng viễn vông vì thực tế cũng sẽ thấy hạnh phúc nếu biết nói với bà xã những gì mình muốn và ngược lại.


 



Hồng Dương, 49, Hayward:


Xem phim người lớn đâu có gì sai!! Chuyện phòng the đã trở nên quá quen thuộc, cần xem để tạo cảm giác mới và gia tăng sự ham muốn, cuối cùng cũng chỉ để làm bà xã “happy” thôi mà. Ðừng cho bà xã biết thì tốt hơn, tự âm thầm luyện “Nhất Dương Chỉ” thì đến khi lâm trận bà xã phục sát đất!!


 



Andy, 25, Fremont:


Ðàn ông không thích xem phim người lớn mới là chuyện lạ!! Còn cho hay không thì bạn gái đâu có biết mà cấm; nếu biết thì xin lỗi là xong và nói với nàng là không ai thay thế được nàng thì nàng sẽ okay. Phụ nữ chỉ cần nói ngọt là xong. Xem thì vẫn xem, thương ai thì cũng thương chỉ 1 người.


 


 


Nam, 35, San Jose:


Ðàn ông cần học hỏi trong mọi vấn đề kể cả chuyện gối chăn. Xem phim người lớn giúp ngừơi đàn ông hiểu đàn bà muốn gì trong chuyện phòng the, miễn là đừng so sánh vợ nhà với những người đẹp “porn star” bởi vì mình có yêu ai thì cảm giác mới thật là “thiên đưòng” trong chuyện ân ái dù người đó “dở ẹt”!


 



Liên, 67, San Jose:


Thật là bậy bạ! Ðàn ông xem loại phim này bị bịnh tâm lý, nói đến đã không được rồi lại còn làm thành phim và cho cả nước coi thì quá bịnh hoạn! Tôi không bao giờ cho ông nhà tôi xem ba cái thứ yêu ma này. Sống mấy chục năm với nhau ông tôi vẫn hạnh phúc, con cái đầy nhà đâu có vấn đề gì đâu!


 


 

Leon Tolstoi cuộc đời sự nghiệp văn chương


Giới Thiệu Sách


Leon Tolstoi cuộc đời sự nghiệp văn chương của Trọng Ðạt


Trăng Vàng


 



 


Người Việt chúng ta, chắc hẳn cũng một hoặc nhiều lần nghe nói đến nhà văn hào tên tuổi Leon Tolstoi.


Leon Tolstoi là một tiểu thuyết gia trứ danh, một bậc vĩ nhân được người Nga cũng như cả thế giới quý trọng. Các tác phẩm tìêu biểu của ông được coi như là công trình văn hóa của nhân loại vượt thời gian và không gian, được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới và đánh giá cao về nghệ thuật, là di sản để lại cho nước Nga vô cùng phong phú, vĩ đại.


Nhà văn Trọng Ðạt đã dành nhiều thời gian tìm đọc, ngihiên cứu, phân tích công trình nghiên cứu để viết về sự nghiệp văn chương, tác phẩm của văn hào Leon Tolstoi.


Trăng Vàng xin được giớt thiệu đến quý đọc giả quyển sách mới của tác giả Trọng Ðạt, in lần thứ nhất tại Hoa Kỳ năm 2010, Người Việt Dallas xuất bản. Sách có nhan đề “Leon Tolstoi cuộc đời sự nghiệp văn chương” – Trọng Ðạt.


Sách dày 330 trang gồm 4 chương: Tiểu sử – Khái luận – Tác phẩm – Kết luận.


Ấn phí 16 Mỹ kim.


Muốn mua sách hoặc biết thêm chi tiết, xin liên lạc với:


[email protected]


714-878-4129

Lượng định áp lực quốc tế lên nhà cầm quyền Việt Nam và sự phản kháng của quần chúng quốc nội

 


Nguyễn Chính Kết


 


Hiện nay, CSVN đang phải chịu áp lực nghịch chiều nhau từ nhiều phía:


*Áp lực từ ngoài vào hay áp lực quốc tế:










Cap: Biểu tình tại Hà Nội chống chính sách của Trung Quốc tại Biển Ðông. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)


– Từ Trung Cộng: nhằm xâm lược Việt Nam, duy trì chế độ cộng sản tại Việt Nam, buộc CSVN nhượng đất nhượng biển và đàn áp những ai phản đối việc Trung Cộng xâm phạm lãnh thổ Việt Nam.


– Từ thế giới tự do: buộc Việt Nam tôn trọng nhân quyền.


*Áp lực từ bên trong hay từ người dân trong nước: đòi hỏi CSVN tôn trọng nhân quyền, tôn trọng quyền tự quyết của người dân, và thay đổi chế độ.


Giữa hai thứ áp lực quốc tế ngược chiều nhau, CSVN phải chấp nhận thế đu dây để tồn tại. Tuy nhiên, thế đu dây này cũng có một lợi điểm cho CSVN: Cả Trung Cộng lẫn các nước tự do đều không dám áp lực CSVN quá mạnh, vì điều đó sẽ đẩy CSVN vào vòng tay của phía đối nghịch.


Ðối với áp lực từ phía người dân hiện còn yếu, CSVN chủ trương đàn áp mạnh tay, tiêu diệt từ trong trứng nước mọi liên kết, mọi tổ chức… nhưng có thực hiện được hay không còn tùy thuộc vào áp lực nhân quyền từ phía thế giới tự do.


 


I. Áp lực quốc tế


 


Hiện nay, CSVN đang bị hai thứ áp lực quốc tế ngược chiều nhau, cả hai đều rất mạnh, khiến CSVN lâm vào thế rất khó xử:


A) Áp lực từ Trung Cộng:


Áp lực này buộc CSVN phải làm nhiều điều bất lợi cho quyền lợi cũng như cho sự sống còn và phát triển của dân tộc, như nhượng đất nhượng biển cho Trung Cộng, đàn áp những người yêu nước muốn bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ… CSVN phải chấp nhận áp lực này để được Trung Cộng bảo hộ cho chế độ độc tài, hà khắc và đầy tội ác của mình.


Lý do khiến Việt Nam chịu áp lực:


– Ðịa thế Việt Nam giáp ranh Trung Quốc: Việt Nam là một nước nhỏ bé bên cạnh một nước lớn luôn luôn có tham vọng bành trướng lãnh thổ. Từ bao thế kỷ, Trung Quốc luôn luôn muốn biến nước ta thành một quận huyện của họ. Họ đã xâm lược Việt Nam nhiều lần, và đã từng cai trị đất nước ta cả ngàn năm. Chống ngoại xâm, cụ thể là chống Trung Quốc, là một chủ đề chính trong lịch sử Việt Nam.


– Trung Cộng có nhu cầu giải quyết nạn nhân mãn và nhu cầu kinh tế cho người dân quá đông: Dân Trung Quốc quá đông, nằm sâu trong đại lục, không có nhiều đường biển để giao thương với thế giới. Việt Nam là một vị trí rất thuận lợi cho sự giao thương quốc tế, lại có nhiều mỏ (dầu, than, vàng bạc, uranium), nên là một cám dỗ rất lớn cho mộng xâm lược của Trung Cộng hiện nay.


– CSVN mắc nợ Trung Cộng quá nhiều trong việc cướp chính quyền cả hai miền Bắc Nam: Hồ Chí Minh đã cậy dựa, nhờ sự giúp đỡ và vay mượn nhiều mặt của Trung Cộng (võ khí, lương thực, cố vấn chiến lược-chiến thuật…) để cướp chính quyền ở Miền Bắc năm 1945, và tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Miền Nam suốt 2 thập niên (1954-1975). Khi đã chiếm được trọn cả đất nước, CSVN phải trả nợ Trung Cộng bằng sự lệ thuộc, bằng lãnh thổ lãnh hải, bằng quyền lợi dân tộc.


– Trung Cộng đã cài được người của họ vào bộ máy cai trị của CSVN ở thượng tầng cũng như hạ tầng cơ sở (sau hàng mấy chục năm cậy nhờ vào Trung Cộng): Qua những tên tay sai được cài vào bộ máy cai trị của CSVN, Trung Cộng đang thật sự điều hành bộ máy cai trị của CSVN, khiến cho rất nhiều quyết định của đảng, Bộ Chính Trị, ba ngành Lập Pháp-Hành Pháp-Tư Pháp có lợi cho Trung Cộng. Những người trong bộ máy cai trị có tinh thần dân tộc, không chấp nhận Trung Cộng, có khuynh hướng thân Mỹ, thường không dám biểu lộ lập trường chống Trung Cộng vì sợ bị thanh trừng (bị mất quyền lợi, địa vị, tài sản, có thể mất mạng). Nên phe thân Trung Cộng trong bộ máy cai trị vẫn chiếm ưu thế, họ đang nắm được cả công an lẫn quân đội (1).


– CSVN sẵn sàng chấp nhận áp lực của Trung Cộng: Mục đích tối hậu của Trung Cộng là xâm chiếm Việt Nam để giải quyết nạn nhân mãn và nhu cầu kinh tế, giao thương với thế giới. Mục đích tối hậu của CSVN là duy trì chế độ độc tài để tiếp tục cưỡi đầu cưỡi cổ dân tộc. Cùng chủ trương độc tài như CSVN, Trung Cộng sẵn sàng bảo trợ cho chế độ độc tài của CSVN được sống còn, nên CSVN sẵn sàng nhượng bộ trước những áp lực của Trung Cộng.


B) Áp lực từ những nước tự do dân chủ:


Các quốc gia tự do thường có lý tưởng dân chủ, họ chủ trương phổ biến và phát huy tinh thần tự do, dân chủ và nhân quyền đến mọi dân tộc. Nhưng họ cũng có nhu cầu phát triển kinh tế và giao thương với mọi dân tộc. Các nước này tùy theo tình hình từng thời điểm mà ưu tiên cho lý tưởng dân chủ hay cho nhu cầu phát triển. Hiện nay, tình hình kinh tế toàn cầu đang gặp khủng hoảng, các nước tự do thường ưu tiên đặt nặng việc giải quyết kinh tế hơn lý tưởng dân chủ.


Với lý tưởng dân chủ, các quốc gia tự do đòi buộc CSVN phải tôn trọng nhân quyền, quyền tự do của người dân, không được đàn áp dân chúng, phải trả tự do cho các tù nhân lương tâm… CSVN cần giao thương với các nước dân chủ vốn giàu có trên thế giới và muốn được họ viện trợ về nhiều mặt. Các nước dân chủ thường lợi dụng nhu cầu này của CSVN để áp lực CSVN phải tôn trọng nhân quyền. CSVN buộc phải chấp nhận áp lực này để có thể giao thương với các nước tự do hầu phát triển kinh tế.


Tuy nhiên, áp lực quốc tế lên CSVN về mặt nhân quyền rất giới hạn, vì:


*Vì tình hình kinh tế khó khăn hiện nay trên toàn thế giới, các quốc gia tự do muốn giao thương với Việt Nam để có lợi về kinh tế, chính trị, nên không muốn khó dễ Việt Nam về mặt nhân quyền hầu tránh những bất lợi về mặt ngoại giao và giao thương…


*CSVN đặt ưu tiên việc bảo vệ chế độ hơn việc phát triển kinh tế, nên CSVN chỉ chấp nhận nhượng bộ áp lực nhân quyền trong mức độ không nguy hiểm cho sự tồn tại của chế độ. Áp lực quốc tế về nhân quyền dù có mạnh, nhưng nếu nguy hiểm cho sự tồn tại của chế độ, CSVN sẽ bất chấp: thà bị quốc tế trừng phạt còn hơn để mất quyền lực và bị nhân dân lật đổ.


*Các quốc gia tự do không dám áp lực mạnh về nhân quyền vì sợ CSVN đứng hẳn về phía Trung Cộng để nước này bảo vệ cho chế độ độc tài của mình. Ðiều này có thể bất lợi cho dân tộc Việt Nam (2).


*Các nước tự do cần giao thương với Trung Cộng, một thị trường lớn rất béo bở và giá nhân công rẻ, nên có khi phải nhân nhượng trước những yêu cầu của Trung Cộng trong vấn đề Việt Nam.


 


II. Sự phản kháng của quần chúng quốc nội


 


A) Nguyên nhân:


Càng ngày CSVN càng lộ rõ bản chất là:


– Một đảng cướp, tham tàn: cướp đất đai, tài sản, kể cả những kẻ nghèo nhất… cướp cả những quyền căn bản của người dân, kể cả quyền tự vệ… dùng cả một hệ thống nhà nước với 3 ngành lập pháp, tư pháp và hành pháp để ăn cướp… sẵn sàng dồn người dân vào đường cùng, không còn đường sống.


– Tham quyền cố vị, độc tài toàn trị: bảo vệ bằng bất cứ giá nào độc quyền cai trị, độc quyền ăn cướp, độc quyền cưỡi đầu cưỡi cổ nhân dân…


– Một tập đoàn buôn dân bán nước: đã từng bán đất bán biển và sẵn sàng bán cả đất nước cho ngoại bang, bất chấp hậu quả tai hại khôn lường cho cả dân tộc.


B) Sự phản kháng của người dân:


Trước những hành động gian ác của CSVN, dân chúng kẻ trước người sau ngày càng ý thức được bản chất xấu xa của CSVN và ngày càng phẫn nộ, nên có khuynh hướng phản kháng, đòi công lý, muốn thay đổi chế độ. Người dân ngày càng có nhiều người vượt thắng được nỗi sợ hãi cố hữu để đấu tranh, không chỉ với tư cách cá nhân, mà còn liên kết thành phong trào, tổ chức đấu tranh:


– Ðòi dân chủ, nhân quyền: Khối 8406, Ðảng Thăng Tiến, Ðảng Dân chủ 21, Liên minh dân chủ nhân quyền, Công Ðoàn Ðộc Lập, Lực lượng Ðoàn Kết Công Nông, Ủy ban Nhân quyền Việt Nam…


– Ðòi công bằng xã hội: dân oan biểu tình đòi đất, giáo xứ Thái Hà, Cồn Dầu… công nhân đình công…


– Ðòi toàn vẹn lãnh thổ: giới trí thức sinh viên biểu tình chống Trung Cộng, phản đối CSVN tiếp tay bán nước… Biểu tình chống rước đuốc Olympic Bắc Kinh (tháng 4, 2008), biểu tình đòi Hoàng Sa, Trường Sa tại Hà Nội và Saigon (tháng 6, 7, 8, 2011).


Phương cách đấu tranh: ôn hòa, bất bạo động, tránh vi phạm luật (kẻo bị kết án), chỉ sử dụng những phương tiện tốt… Nhưng khi bị dồn đến đường cùng, người dân đôi khi sẵn sàng bạo động để tự vệ: vụ Ðoàn Văn Vươn, vụ Bắc Giang, vụ Mường Nhé, vụ Long Thành (xã Long Hưng)…


Phương tiện đấu tranh: sử dụng mọi phương tiện thông tin (Internet, web, blog, facebook, twitter, email, paltalk, viết bài, truyền đơn, biểu ngữ…), âm thầm liên kết, biểu tình…


Người dân khi chống lại bạo quyền, tuy có chính nghĩa, có tiềm năng rất lớn, nhưng không có thực lực…


– do thiếu tổ chức, thiếu lãnh đạo, thiếu tài chánh…


– không được đào tạo (về chính trị, quân sự, óc tổ chức, kỹ thuật lãnh đạo, khả năng giữ bí mật)…


– đấu tranh mang tính tự phát, mạnh ai nấy làm, không có kế hoạch chung, đường lối chung…


– dễ bị chia rẽ, do kế ly gián của cộng sản và do đố kỵ, do nghi ngờ nhau (không phân biệt được Ta, Bạn và Thù)…


 


C) Sự đàn áp của bạo quyền:


CSVN cương quyết bảo vệ độc quyền cai trị đất nước với bất cứ giá nào, bất chấp đạo lý, quyền lợi của dân tộc, nên quyết tâm sử dụng bạo lực để dẹp tan từ trứng nước mọi mầm mống phản đối, đòi công lý, tự do, nhân quyền, dân chủ, tiêu diệt mọi tổ chức, bẻ gãy mọi liên kết đấu tranh chống lại họ.


Nhờ kinh tế phát triển, nhờ tiền viện trợ từ nhiều nước, nhờ đồng bào hải ngoại gửi tiền về cho thân nhân trong nước, nhờ tiền thuế của nhân dân, Ðảng và Nhà Nước rất giàu có, có thể trả lương công an, cán bộ rất cao để họ sẵn sàng bảo vệ chế độ, ngăn chặn những ai đòi hỏi tự do, nhân quyền, có ảnh hưởng xấu đến chế độ.


Ngoài ra, họ còn có đầy đủ phương tiện để đàn áp dân chúng: quyền lực, luật pháp, công an, quân đội, tòa án, võ khí, súng đạn, tiền bạc… Nhờ tình báo nằm vùng được cài trà trộn trong mọi giới dân chúng, khả năng nghe lén điện thoại, đọc lén email, họ có thể có thông tin đầy đủ về mọi động thái chống đối của dân chúng để sẵn sàng tiêu diệt đối kháng (3).


 


III. Áp dụng vào cuộc đấu tranh dân chủ Việt Nam


 


A) Phải tự lực, đừng mong đợi quá nhiều nơi áp lực quốc tế


Trong cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ của quê hương đất nước, chúng ta cần vận động sự ủng hộ của quốc tế, yêu cầu các nước tự do áp lực lên CSVN. Tuy nhiên, chúng ta không nên trông cậy quá nhiều vào sự giúp đỡ của quốc tế, mà phải tìm cách phát triển nội lực của chính chúng ta. Theo nhận định của cụ Phan Chu Trinh, người Việt có tính vọng ngoại và yêu nước kiểu hẹp hòi. Tính vọng ngoại khiến ta trông cậy và ỷ lại vào sức của người, không tin tưởng và phát huy sức mạnh của mình (4).


Muốn chiến thắng cộng sản, chúng ta cần phải quyết tâm củng cố nội lực hơn là dựa dẫm vào người Mỹ hay vào quốc tế. Chẳng ai thương chúng ta, dân tộc chúng ta bằng chính chúng ta cả. Nếu chúng ta không nhất tâm tự cứu lấy chính mình thì sẽ chẳng có ai ra tay cứu chúng ta cả. Khi chúng ta thật sự có nội lực, các thế lực khác mới sẵn sàng hợp lực giúp chúng ta. Aide-toi, le Ciel t’aidera! (5)


Nội lực chỉ có khi chúng ta biết hợp lực đoàn kết và thống nhất ý chí, đường lối. Chúng ta biểu lộ quyết tâm chiến thắng cộng sản, nhưng trong thực tế lại không quyết tâm tạo đoàn kết là điều kiện không có không được để có sức mạnh mà chiến thắng (6). Do đó, quyết tâm chiến thắng cộng sản dường như chỉ là quyết tâm ngoài môi miệng chứ không phải thực tâm (7).


Chúng ta trông cậy vào người Mỹ nhiều quá, chúng ta muốn nhờ Mỹ áp lực CSVN trong khi chính chúng ta có thể tự áp lực CSVN một cách hữu hiệu mà chúng ta không chịu làm. Chẳng hạn, chúng ta có thể hạn chế việc du lịch về Việt Nam, hạn chế gửi tiền về Việt Nam, chỉ gửi tiền hay đi về Việt Nam khi nào thật cần thiết. Vì hiện nay, chế độ CSVN tồn tại được một phần khá lớn là nhờ hàng chục tỉ đôla mỗi năm mà Người Việt hải ngoại gửi về hoặc đem về qua ngả du lịch, và phần nào do sự đầu tư làm ăn của Người Việt hải ngoại tại Việt Nam.


B) Phải vận động quốc tế cách hợp lý


Chính sách của các nước tự do có những điều bất lợi cho công cuộc đấu tranh dân chủ tại Việt Nam, trong đó có những điều không thay đổi được và những điều có thể thay đổi.


– Ðối với những điều không thay đổi được, chúng ta có cố gắng vận động thay đổi cách mấy cũng vô ích.


– Ðối với những điều có thể thay đổi, chúng ta có thể tạo thay đổi, nếu chúng ta biết vận động đúng cách. Vận động không đúng cách thì khó mà thay đổi.


Do đó, cần nhận định và phân biệt hai loại trên, để đừng phí sức vào những việc không thể thay đổi.


a. Ðừng phí sức vào những gì không thể thay đổi trong chính sách của Hoa Kỳ


Chính phủ Mỹ hoạt động theo chính sách và đường lối của họ. Các quốc gia tự do dân chủ khác cũng tương tự như vậy. Riêng đối với Mỹ, chính sách của họ nhiều khi mang tính toàn cầu, vì một cách nào đó, Mỹ đang là quốc gia có tầm vóc lãnh đạo thế giới… Nhiều khi vì lợi ích của một số quốc gia nào đó, chính sách toàn cầu của Hoa Kỳ chấp nhận hy sinh lợi ích của một hay vài quốc gia nhược tiểu.


Nếu chính sách hay đường lối của Hoa Kỳ có những điểm quan trọng bất lợi cho đất nước mình, thì dù có vận động giỏi cách mấy, chúng ta cũng khó mà thay đổi được những điều quan trọng ấy. Do đó, chúng ta đừng bao giờ phí thì giờ và công sức cho những vận động bất khả thi hầu dồn nỗ lực vào những vận động có tính khả thi.


Chẳng hạn, nếu Mỹ chủ trương giao thương với Trung Cộng hay với Việt Nam, sẵn sàng ưu đãi hai nước này trong một số lãnh vực (WTO, Quy chế Tối Huệ Quốc…)(8), điều này có thể khiến chế độ độc tài cộng sản phát triển và tồn tại lâu dài, rất bất lợi cho dân tộc Việt Nam, thì dù vận động mạnh mẽ đến đâu, chúng ta cũng không thể khiến Mỹ ngưng thực hiện chủ trương đó (9).


Tạm dung thân trên đất Mỹ này, chúng ta cần phải biết mình là ai. Mình không phải là sắc dân quan trọng có sức mạnh tại đất Mỹ (do mình thiếu đoàn kết và không bảo được nhau), nên chúng ta không dễ dàng áp lực được chính phủ Mỹ phải quan tâm đến những nguyện vọng của chúng ta. Tuy nhiên, chúng ta vẫn có thể yêu cầu hay đề nghị chính phủ Mỹ thực hiện một số việc nào đó có lợi cho dân tộc mình, hoặc cho cuộc đấu tranh của chúng ta.


b. Cần vận động hành lang (lobby) cách hữu hiệu


Cách tranh đấu của người Việt tại Hoa Kỳ thường là lobby và biểu tình. So với các sắc dân thiểu số khác, người Việt lobby rất nhiều nhưng rất rời rạc, không thống nhất, và chỉ lobby ở trung ương chứ không lobby tại địa phương, nên không hữu hiệu bao nhiêu. Muốn lobby hữu hiệu, các nhóm lobby thay vì lobby riêng rẽ thì nên hợp lại thành một nhóm lớn đại diện cho một đám rất đông (đương nhiên càng đông thì càng mạnh) và có chung một tiếng nói duy nhất. Chẳng hạn, một thỉnh nguyện thư với 150.000 người ký tên vào đầu tháng 3, 2012 vừa qua khiến chính phủ Hoa Kỳ quan tâm nhiều gấp bội hơn là hàng trăm thỉnh nguyện thư khác nhau, mỗi thỉnh nguyện thư chỉ có khoảng 1, 2 ngàn người ký tên.


Người Việt tụ tập khá đông tại nhiều tiểu bang, nhiều thành phố. Với tư cách cử tri có quyền bầu cử, tiếng nói của chúng ta rất có sức mạnh đối với các vị dân cử tại thành phố hay tiểu bang của chúng ta. Vì thế chúng ta nên lobby các vị dân cử ngay tại địa phương hay tại tiểu bang của mình. Khi các vị dân cử họp tại trung ương để biểu quyết vấn đề gì, tiếng nói và lá phiếu của họ có giá trị gấp nhiều lần tiếng nói của chúng ta (khi chúng ta lobby tại trung ương).


c. Nên biểu tình đông đảo, đồng loạt và khắp nơi


Biểu tình là một hình thức đấu tranh rất tốt nhưng nếu biểu tình một cách rời rạc, lẻ tẻ, thì dù biểu tình rất thường xuyên, chúng ta cũng không làm chính phủ Mỹ đặc biệt quan tâm, và cũng không làm cộng sản ở trong nước phải sợ hãi nhiều. Nhưng nếu cùng bảo nhau biểu tình thật đông hàng trăm ngàn hay hàng triệu người và đồng loạt biểu tình khắp nơi trong cùng một thời điểm với cùng một mục đích thì sẽ tạo sự chú ý và gây tiếng vang rất lớn.


d. Sức mạnh của lá phiếu


Ðiều làm cho Quốc Hội và các quan chức Mỹ đặc biệt quan tâm là:


– khả năng sử dụng lá phiếu của người Việt trong các cuộc bầu cử (vốn chiếm một tỉ lệ khá cao trong các sắc dân), nếu biết bảo nhau dồn phiếu cho một ứng cử viên nào đó thì có thể ảnh hưởng rất lớn đối với kết quả cuộc bầu cử.


– và khả năng ủng hộ tài chánh trong các cuộc vận động bầu cử.


Các vị dân cử rất biết ơn chúng ta nếu nhờ chúng ta dồn phiếu mà họ đắc cử, hay nhờ chúng ta đã hy sinh tiền bạc để giúp đỡ họ trong việc vận động tranh cử. Lúc đó, tiếng nói của chúng ta mới mạnh và mới được họ đặc biệt quan tâm thực hiện.


Nhưng dường như người Việt khá thờ ơ trong mặt trận này. Tỉ lệ người Việt đi bầu cử tại Mỹ có thể nói là rất thấp và sự ủng hộ tài chánh của người Việt trong các cuộc vận động bầu cử cũng rất ít. Do đó, sự quan tâm của Quốc hội Mỹ, các vị dân cử Mỹ cũng như chính phủ Mỹ đối với những nguyện vọng của người Việt không cao lắm.


e. Phối hợp nguyện vọng của ta với nhu cầu của chính quyền địa phương


Rút kinh nghiệm từ vụ biểu tình chống Trần Trường tại Santa Ana (Nam California), chúng ta thắng nhờ cái gì? Khi chúng ta biểu tình lên đến hàng chục ngàn người hết ngày này sang ngày khác, chính phủ tại Santa Ana phải tôn trọng quyền biểu tình ôn hòa của chúng ta nên vẫn phải cho phép. Cứ kiên trì biểu tình đông đảo như thế, thành phố Santa Ana sẽ phải chi phí rất nhiều tiền cho cảnh sát để giữ trật tự nên sẽ bị thiếu hụt ngân sách. Ðó là điều buộc chính quyền tại Santa Ana phải giải quyết.


Thật ra, chính quyền Santa Ana không hề quan tâm về việc Trần Trường treo cờ cộng sản hay hình Hồ Chí Minh trong nhà của anh ta, cũng chẳng thèm quan tâm chuyện sang băng lậu của anh ta (họ có thể biết những vẫn làm ngơ). Ðiều khiến họ phải quan tâm là cứ phải chi tiêu ngoài dự tính một số tiền quá lớn vì dân chúng biểu tình chống Trần Trường. Ðây mới chính là điều buộc họ phải hành động để giải quyết. Và họ quyết phải dẹp tiệm của Trần Trường vì bất lợi về tài chánh cho họ. Vì thế họ bày cho mình tố cáo Trần Trường sang băng lậu, đồng thời cung cấp chứng cứ phạm pháp của anh ta. Cuối cùng Trần Trường phải dẹp bỏ tiệm bán băng của anh ta, thế là mục đích cuộc biểu tình của chúng ta đã đạt được.


Nếu chúng ta cứ biểu tình đông đảo và trường kỳ tương tự như vậy trước lãnh sự quán của cộng sản khi nhà cầm quyền CSVN vi phạm nhân quyền, chính quyền Mỹ sẽ phải chi phí rất lớn vào việc giữ an ninh cho những cuộc biểu tình. Ðiều đó buộc họ phải giải quyết. Nếu chúng ta vận động để Hoa Kỳ có luật buộc tòa lãnh sự cộng sản phải trả mọi chi phí cho việc giữ an ninh cho các cuộc biểu tình (10), thì đó cũng là một cách buộc CSVN ở trong nước phải chùn tay đàn áp ở trong nước. Ðây là một phương cách áp lực với CSVN mà chính chúng ta có thể chủ động làm được.


 


IV. Kết luận


 


Trước những hiện tượng mà chúng ta đang thấy từ trước đến nay tại Việt Nam như:


– Công hàm của Phạm Văn Ðồng công nhận Hoàng Sa-Trường Sa nằm trong phần lãnh hải của Trung Cộng;


– Trung Cộng đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974 dưới thời VNCH, Cộng sản Bắc Việt im lặng đồng tình, không một lời phản đối;


– Năm 1999, CSVN đã nhượng hàng ngàn cây số vuông đất biên giới và hàng chục ngàn cây số vuông biển cho Trung Cộng


– Trung Cộng tuyên bố quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa và đường lưỡi bò thuộc lãnh hải của họ mà CSVN không những không phản đối, mà còn bắt bớ, giam cầm các nhà đấu tranh dân chủ dám công khai tuyên bố quần đảo này là của Việt Nam (trường hợp Phạm Thanh Nghiên, Nguyễn Xuân Nghĩa… và dẹp tan những cuộc biểu tình tại Hà Nội và Saigon vào các tháng 6, 7, 8 năm 2011 phản đối Trung Cộng xâm phạm lãnh hải Việt Nam)


– Trung Cộng ra lệnh cấm ngư dân Việt Nam đánh cá, bắt bớ, đòi tiền chuộc, thậm chí bắn chết ngư dân đánh cá trong vùng biển Ðông Nam Á, vùng quần đảo Hoàng Sa, mà CSVN không dám phản đối.


– Phim ảnh Tàu, sách vở Tàu, hàng hóa Tàu tràn ngập Việt Nam, một phương cách xâm thực rất rõ ràng về văn hóa và kinh tế.


– Trung Cộng được tự do đưa dân của họ qua Việt Nam không cần visa để định cư, làm ăn, những khu dân cư gồm toàn người Tàu, và tạo những trung tâm du lịch của Tàu dọc bờ biển Hạ Long, Sầm Sơn, Nha Trang, Vũng Tàu, v.v…


– Trung Cộng được đem hàng chục ngàn công nhân “có thể là quân nhân trá hình” vào Tây Nguyên, một vị trí chiến lược trọng yếu, với danh nghĩa khai thác bauxite. CSVN còn cho Trung Cộng thuê rừng đầu nguồn, khai thác khoáng sản, năng lượng như than đá, quặng mỏ, điện năng tại Việt Nam. Ðó là những nguy cơ rất lớn chắc chắn sẽ gây tai hại vô cùng lớn lao và không thể sửa chữa cho nền an ninh và môi trường sinh thái tại Việt Nam.


Qua những hiện tượng trên, ta có thể chắc chắn rằng CSVN đã bí mật bán đứng tổ quốc Việt Nam cho Trung Cộng chỉ để giữ vững quyền cai trị độc tài và bóc lột của mình trên dân tộc Việt Nam. Trên danh nghĩa, Việt Nam vẫn còn là của Việt Nam, nhưng trong thực tế, Việt Nam đã trở thành một chư hầu, một thuộc địa của Trung Cộng. Việt Nam đã bị bí mật mất vào tay Trung Cộng, đó là sự thật phũ phàng mà CSVN cố gắng che dấu bằng đủ mọi kịch bản khác nhau hầu lừa dối và xoa dịu sự bất mãn và phẫn nộ của người dân có thể bùng lên lật đổ chế độ. Rất có thể việc CSVN đang đu giây giữa Trung Cộng và Hoa Kỳ cũng chỉ là một kịch bản để người Việt Nam và thế giới tưởng rằng CSVN vẫn còn muốn dựa vào Hoa Kỳ để tạo thế cân bằng đối trọng với Trung Cộng.


Làm chính trị thì phải suy ra được từ những hiện tượng bên ngoài để thấy được bản chất hay sự thật sâu xa mà cộng sản đang cố gắng hết sức che dấu. Sự thật ấy là: Ðảng CSVN không chỉ bán công nhân ra nước ngoài làm nô lệ lao động, bán phụ nữ cho ngoại bang làm nô lệ tình dục, v.v… mà còn cả gan bí mật bán toàn đất nước và dân tộc Việt Nam cho Trung Cộng. Việt Nam thực tế đã trở thành thuộc địa của Trung Cộng trong các lãnh vực chính trị, văn hóa, kinh tế, chính sách, biển đảo, biên giới


Ðiều mà CSVN rất sợ hiện nay chính là người dân trong nước biết được sự thật phũ phàng ấy. Họ có thể nổi giận mà đứng lên lật đổ chế độ để cứu lấy đất nước và tương lai của họ, của con cháu họ.


Bổn phận của chúng ta, người Việt tị nạn cộng sản ở hải ngoại, là phải công bố sự thật ấy cho họ, đồng thời phải làm đủ mọi cách để cứu lấy đất nước.


Houston, ngày 9 tháng 4 năm 2012


 


Chú thích


 


(1) CSVN đang chia thành hai phe mâu thuẫn nhau, mặc dù cả hai phe đều chủ trương bảo vệ chế độ độc tài bằng bất cứ giá nào. Nhưng đường lối bảo vệ chế độ của hai phe khác hẳn nhau:


a. Phe chủ trương ngả theo Trung Cộng để bảo vệ chế độ: Phe này đặt nặng ngai vàng, quyền lực và quyền lợi của mình với bất cứ giá nào, cho dù phải chấp nhận mất nước cho Trung Cộng hay dân tộc phải lầm than. Phe này hiện rất mạnh vì đang nắm được công an và quân đội. Họ hy vọng rằng sau khi Trung Cộng chiếm Việt Nam, họ sẽ được Trung Cộng cho nắm hết quyền lực để cai trị đất nước.


b. Phe chủ trương đi theo Mỹ để bảo vệ chế độ: Phe này vừa muốn bảo vệ chế độ vừa không muốn bị mất nước vào tay Trung Cộng. Vì một khi nước bị mất vào tay Trung Cộng thì họ chỉ như chó săn một khi không còn mồi để bắt nữa nữa sẽ bị đem làm thịt. Vì thế họ chủ trương theo Mỹ vừa để nhờ Mỹ giúp bảo vệ đất nước, vừa được Mỹ giúp nắm quyền lực cho dù đổi sang thể chế dân chủ.


Hiện nay, hai phe này đang tranh đấu với nhau. Phe thân Mỹ tuy yếu nhưng được sự ủng hộ của nhân dân. Tuy nhiên, phe này bị phe thân Trung Cộng tìm đủ mọi cách bách hại, nên không dám tỏ thái độ rõ rệt là thân Mỹ. Phe thân Trung Cộng tuy nắm được quyền lực nhưng bị dân chúng phẫn nộ phản đối và muốn lật đổ vì chủ trương bán nước hại dân, hèn với giặc ác với dân của họ.


(2) “Bộ Chính Trị Ðảng Cộng sản không sợ áp lực chính trị quốc tế bao nhiêu vì họ có Trung Quốc ở sau lưng hậu thuẫn cho họ rồi. Họ đã nhượng đất nhượng biển để mua chuộc sự hậu thuẫn này rồi.” (Stephen B. Young).


(3) “Hai sự việc mà đảng Cộng sản sợ nhứt là một ông Gorbachev sẽ lên làm Tổng Bí thơ và thanh niên, sinh viên sẽ xuống đường như vụ Thiên An Môn ở Bắc Kinh. Nổ lực của cấp lãnh đạo đảng là dùng đủ mọi khả năng và mọi thủ đoạn để tránh hai sự việc đó xảy ra.” (Stephen B. Young)


(4) Nhận xét của một tác giả người Mỹ: Cộng đồng Việt Nam là cộng đồng dễ hội nhập nhất, nhưng dễ tha hóa và vọng ngoại nhất. Người Việt có những ưu điểm: con cái học hành giỏi giang so với những cộng đồng như Ðài Loan, Tàu, Nhật, Ðại Hàn… làm ăn kinh tế được nhưng chỉ có tính cá thể chứ không kết hợp làm ăn lớn được như người Tàu, người Nhật. Còn nói về khả năng đoàn kết để cứu nước thì rất yếu.


(5) Trong các cuộc Cách Mạng Hoa Lài tại Trung Ðông, tất cả đều có Mỹ nhúng tay vào. Nhưng dường như họ chỉ tiếp tay khi mà phe dân chủ tỏ ra có đủ sức mạnh để lật đổ chế độ độc tài. Hiện nay, tại Việt Nam, phe dân chủ trong nước còn yếu quá, do bị cộng sản đàn áp mạnh tay quá, không phát triển nổi. Còn phe dân chủ ở hải ngoại thì tuy có nhiều tiềm lực và lợi thế, nhưng không có thực lực vì thiếu đoàn kết, không thống nhất được sức mạnh. Do đó, Hoa Kỳ chưa sẵn sàng ra tay giúp chúng ta.


(6) CSVN rất sợ cộng đồng Việt Nam hải ngoại đoàn kết và thống nhất với nhau, nên tìm đủ mọi cách để chia rẽ Cộng đồng người Việt hải ngoại thành những mảnh vụn, ngày càng lắm phe nhiều nhóm, chẳng nhóm nào muốn kết hợp với nhóm nào. Tình báo của CSVN và của Trung Cộng (đương nhiên giấu mặt, có thể mang mặt nạ chống cộng, được cài vào trong cộng đồng và trong các tổ chức chống cộng) ở hải ngoại luôn luôn tìm cách “đâm bị thóc, thọc bị gạo” để chia rẽ người Việt hải ngoại, và do tự ái cao, tính ganh tị cũng như muốn mọi người phải theo quan điểm của mình, nhiều người đã vô tình tiếp tay cho chính sách gây chia rẽ của tình báo CSVN, tạo nên tình trạng chụp mũ nhau là cộng sản, làm mất uy tín của những người và những tổ chức thật sự đấu tranh chống cộng, người quốc gia chống phá lẫn nhau nhiều hơn chống cộng, nhất là đánh phá những người có khả năng lãnh đạo và biết làm việc… Tình trạng chia rẽ này khiến cộng đồng Việt Nam hải ngoại không có được sức mạnh cần thiết phải có.


(7) “Từ 1975 đến hôm nay, cộng đồng người Việt hải ngoại chưa bao giờ hổ trợ công cuộc tranh đấu cho dân tộc, cho tổ quốc một cách đúng mức. Cộng động người Việt ở hải ngoại nên cố gắng tự mình chế giảm bớt sự chia rẻ, sự ganh tị người này với người kia, đè nén bớt tham vọng cá nhân, phải mình mới làm lãnh đạo. Cộng đồng nói chung chưa thiệt tình sẳn lòng đóng góp đều đặn để yểm trợ những người tranh đấu ở trong nước và nhứt là những người vì tranh đấu, biểu tình bị tù tội, gia đình lâm vào cảnh khó khăn. CSVN đánh giá cộng đồng là bất lực, thiếu khả năng, làm việc không có hiệu quả” (Stephen Y. Young).


(8) Chính sách của Mỹ đối với Việt Nam hiện nay rất có lợi cho Mỹ. Mỹ với Việt Nam đã ký những thương ước tập trận chung, mặc dù Việt Nam mua súng đạn, mua tàu của Nga (toàn mua tàu rách), nếu có mua của Mỹ thì toàn trả góp. Chính sách ngoại giao của Mỹ đối với Việt Nam: Mỹ đi ra đi vô Việt Nam như đi chợ, có thể đi đâu bất cứ chỗ nào tại Việt Nam… Ðâu có nước nào cho Mỹ được như vậy? Mỹ biết rất rõ tính cách điếm đàng của Việt Nam, nhưng không sao. Ðiều quan trọng là lợi ích chính trị và kinh tế của Mỹ tại Ðông Nam Á và Biển Ðông.


Ðiều Mỹ muốn ở Việt Nam là Việt Nam nghe lời Mỹ để tạo áp lực đối với Trung Cộng và tạo ảnh hưởng cho Mỹ tại Thái Bình Dương. Hiện nay, đầu tư của Mỹ lớn nhất tại Việt Nam, hơn Nhật, Ðại Hàn, Ðài Loan…


(9) Ðể dễ hiểu, xin đan cử một minh họa cụ thể: Khi chúng ta xin quá giang xe một người bạn đang chạy về phía Nam, nếu chúng ta xin quá giang đi về phía Nam thì OK; nhưng nếu xin quá giang đi ngược về hướng Bắc thì đương nhiên bị từ chối, trừ trường hợp chúng ta là cha mẹ của chủ xe.


(10) Vì chính phủ cộng sản tại Việt Nam của họ vi phạm nhân quyền khiến dân chúng phẫn nộ và biểu tình rầm rộ như vậy.

Khi đồng minh tháo chạy (6)


Chương 2


 


Kissinger, ông là ai?


 


New York là thành phố “không bao giờ ngủ.” Từng dẫy cao ốc chọc trời. Ðường phố rộng thênh thang, xe cộ chạy như mắc cửi. Mỗi khi phải đi băng qua phố ở những chỗ không đèn báo hiệu là cả một vấn đề khó khăn.


Nếu vì lý do gì lại phải đợi có ai đi qua để cùng theo thì lại càng mất thời giờ. Ấy thế mà cậu bé Heinz luôn luôn làm như vậy. Mới lớn lên mà đã rất cẩn thận. Mỗi khi phải qua phố, cậu luôn chờ xem có đám trẻ nào đi qua thì mới theo sau.


 


Cậu bé di cư từ làng Bavaria


 


Ðầu Thế Chiến Thứ Hai nhiều người gốc Do Thái từ nước Ðức sang tìm tự do tại Hoa Kỳ, trong đó có gia đình cậu Henry Kissinger. Tên thật của cậu là Heinz Alfred Kissinger. Heinz đổi ra Henry từ khi sang Mỹ. Sinh trưởng ở làng Bavaria, thuộc vùng Furth ngày 27 Tháng Năm, 1923. Lên bảy, làng cậu đã bị đám thanh niên theo Hitler quấy nhiễu. Heinz và các bạn trẻ Do Thái bị trẻ con trong làng đánh đập thường xuyên (1).


Cậu sợ đến nỗi là dù đã tới đất của Nữ Thần Tự Do rồi mà vẫn luôn luôn nhút nhát, lúc nào cũng giữ thế thủ. Gia đình cậu được di cư sang Mỹ vào Tháng Tám, 1933. Thoát chết, vì chỉ ba tháng sau đó, trong một đêm gọi là “Ðêm Pha Lê” (Crystal Night), đoàn “Thanh Niên Hitler” cùng quân đội đã ào ạt tấn công một cách man rợ vào cư dân Do Thái khắp nước Ðức. Trong số 3,000 dân Do Thái ở vùng Furth, chỉ còn đếm được có 70 người lúc chiến tranh kết thúc năm 1945 (2).


Tới Mỹ, gia đình cậu Henry cư ngụ tại New York, sinh hoạt bình thường như những gia đình di cư khác. Ngay từ lúc còn học trung học, Henry đã tỏ ra là một học sinh xuất sắc.


 


Tiến Sĩ Kissinger


 


Trưởng thành, Kissinger đi quân dịch và nhập trại huấn luyện ở tiểu bang North Carolina vào Tháng Hai, năm 1943. Tới Tháng Sáu cùng năm ông được nhập tịch, trở thành công dân Hoa Kỳ. Sau khi giải ngũ, Kissinger được nhận vào Ðại Học Harvard. Và đỗ tiến sĩ với điểm ưu hạng. Vừa học giỏi, Kissinger lại được một giáo sư nổi tiếng là William Elliott đỡ đầu. Ông Elliott cho Kissinger đảm nhiệm chương trình “Hội Thảo Chuyên Ðề Quốc Tế Harvard” (Harvard International Seminar). Chương trình này được tổ chức vào mỗi mùa Hè để các chính khách, học giả từ các nước tới trao đổi về các vấn đề quan trọng. Ðây là cơ hội quý giá cho Kissinger gặp nhiều yếu nhân từ khắp nơi. Và ông bắt đầu được biết đến từ lúc đó (3).


Năm 1957, ông cho xuất bản cuốn sách “Vũ Khí Nguyên Tử và Chính Sách Ngoại Giao” (Nuclear Weapons and Foreign Policy), một cuốn sách được liệt vào hàng bán chạy nhất năm đó. Cuốn này phản ảnh tư tưởng của ông về sự xung đột liên tục trên thế giới giữa phe bảo thủ và phe cách mạng. Nhưng làm sao tránh được một cuộc chiến tranh nguyên tử toàn diện giữa Hoa Kỳ và Nga Xô? Ông đề nghị một chính sách “Chiến tranh Nguyên tử Giới hạn” để theo đuổi một mục đích cũng giới hạn. Ðọc cuốn sách này, Nixon và đồ đệ của ông đã rất khâm phục (4).


 


Cơ hội tiến thân


 


Trong cuộc bầu cử Tổng Thống năm 1968, ai là người đã cho phía Nixon biết hết những bí mật về kế hoạch của Tổng Thống Johnson tại Hòa Ðàm Paris? Người đó chính là Kissinger (5).


Ông có nhiều mối liên lạc với những chuyên gia về ngoại giao trong chính phủ Johnson vì chính ông đã làm tư vấn bán thời gian cho họ về vấn đề Việt Nam. Biết vậy nên ông Richard Allen, trong ban tham mưu về ngoại giao của ứng cử viên Nixon, đã liên lạc với Kissinger để dò xét xem phía Dân Chủ đang mưu tính những chuyện gì về kế hoạch hòa bình.


Kissinger liền xác định với Allen là mình có nhiều bạn bè và đồng liêu hiện đang làm việc ngay tại Hòa Ðàm Paris (bắt đầu từ Tháng Năm, 1968). “Tôi có cách liên lạc với họ,” Kissinger quả quyết. Và ông đã làm như vậy.


Phía Nixon được ông khuyến nghị là phải đề phòng vì: “Johnson đang chuẩn bị ngưng giội bom, và sẽ tung con bài bất ngờ ra trước ngày bầu cử.” Trong tập hồi ký, chính Nixon cũng xác nhận việc này và tiết lộ một văn thư của phụ tá Haldeman thuật lại báo cáo của Kissinger gửi ông Mitchell (người điều hợp ban tham mưu của Nixon rồi Tổng trưởng Tư Pháp) nói trước mưu lược của Johnson: “Nguồn tin của chúng tôi cho việc chống đối ngưng ném bom là không thực tế, nhưng khuyên ta phải để tâm tới sự kiện là việc đó có thể xẩy ra – nghĩa là ta nên tiên liệu trước việc đó – và nhất định là ta phải chuẩn bị cho cái lúc mà việc đó xẩy ra. Nguồn tin của chúng tôi vô cùng quan ngại về những nước cờ sắp tới của Johnson, và tiên đoán rằng Johnson sẽ có một hành động nào đó trước ngày bầu cử” (6).


Bà Anna Chennault kể lại là vào thời điểm đó, bà đã không biết rõ “nguồn tin của chúng tôi” là ai. Mãi về sau này, ông Mitchell mới tiết lộ cho bà tông tích của “nguồn tin”: đó là Henry Kissinger. Khoảng 12 giờ trước khi Johnson ngưng ném bom, Kissinger đã gọi cho Allen để thông báo một tin sốt dẻo: tại Paris, hai ông Harriman và Vance, lãnh đạo phái đoàn Hoa Kỳ tại hòa đàm, đã mở rượu xâm banh ăn mừng rồi! Mọi vấn đề liên hệ đã điều đình xong, và việc ngưng ném bom sẽ được tuyên bố sớm (7).


Về hành động này của Kissinger, ký giả Seymour Hersh (người nổi tiếng về tiết lộ vụ Mỹ Lai) bình luận: “Khi đem những thông tin từ Paris cho phía Nixon, không những Kissinger đã lạm dụng tình đồng liêu nhưng còn phản bội những người mà ông đã từng cộng tác về những cố gắng đàm phán bí mật” (8).


Sau khi đăng quang, Tổng Thống Nixon đã lựa chọn ông vào chức Cố vấn An ninh Quốc gia. Nixon viết thẳng ra trong hồi ký của ông rằng, “Trong những ngày cuối cùng của cuộc bầu cử, khi Kissinger cung ứng cho chúng tôi những tin tức về việc ngưng ném bom, tôi đã thấy được rõ hơn nữa, về sự hiểu biết sâu rộng và ảnh hưởng của ông ta… tôi có một trực giác mạnh về Henry Kissinger” (9).


Trong cương vị cố vấn của tổng thống, Kissinger chẳng mấy lúc đã nắm được trọn quyền hành về ngoại giao, qua mặt cả Ngoại Trưởng William Rogers. Và sau cùng, ngày 22 Tháng Tám 1973, Tổng Thống Nixon còn chọn ông làm ngoại trưởng thay ông Rogers (từ chức ngày 16 Tháng Tám). Và Kissinger đã trở thành người di cư đầu tiên lên tới chức vị này. Quan trọng hơn nữa, ông cũng là ngoại trưởng đầu tiên kiêm cả chức cố vấn tổng thống về an ninh. Sau khi Nixon từ chức, ông Ford lên kế vị (ngày 9 Tháng Tám 1974), lại cũng tiếp tục bổ nhiệm Kissinger kiêm luôn hai chức như cũ. Tới Tháng Mười Một, 1975 (bảy tháng sau khi Miền Nam sụp đổ) ông Ford mới rút lại chức cố vấn. Như Kissinger đã tự thuật sau này là: ông đã kịch liệt phản đối việc ấy vì làm cho người ta nghi ngờ về địa vị của ông. “Và trong mấy tuần, tôi còn có ý định từ chức nữa” (10).


Trong tám năm trời và dưới hai thời tổng thống, ông Kissinger đã nắm toàn quyền về ngoại giao Hoa Kỳ. Chắc chắn lịch sử sẽ phải ghi nhận rằng trong một thời gian là sáu năm ba tháng (từ 20 Tháng Giêng 1969 tới 30 Tháng Tư 1975), tức là gần một phần ba thời gian tồn tại của Việt Nam Cộng Hòa, Kissinger đã đóng vai trò then chốt trong cả việc Mỹ tháo gỡ và việc Mỹ bỏ chạy ra khỏi Miền Nam.


 


Chuyên gia Tư vấn: từ Dân chủ sang Cộng Hòa


 


-Tư vấn cho đảng Dân Chủ. Ðầu thập niên 1960, Kissinger theo đảng Dân Chủ và được làm tư vấn bán thời gian cho bộ Ngoại Giao về vấn đề Âu Châu thời Tổng Thống Kennedy. Tới thời Tổng Thống Johnson, ông còn tư vấn thêm cả về vấn đề Việt Nam, đặc biệt là trong một công tác được gán cho mật hiệu là “Pennsylvania.” Trong khi tham dự nhiều hội nghị quốc tế tại Paris, Kissinger có gặp một nhà vi trùng học người Pháp tên Herbert Marcovich. Marcovich cho biết ông có người bạn, một kỹ sư tên Raymond Aubrac, là chỗ quen biết với ông Hồ Chí Minh. Rất bén nhạy, Kissinger về Washington thuyết phục các cấp trên của ông dùng Aubrac làm đường dây với Hà Nội để điều đình. Chính phủ Johnson đồng ý và ngày 21 Tháng Bảy 1967, hai người Pháp cùng với Kissinger bay ra Hà Nội gặp Thủ Tướng Phạm Văn Ðồng (11).


Và đó là “Pennsylvania,” nguồn gốc của hòa đàm. Tháng Năm 1968, Cyrus Vance, đại diện Hoa Kỳ và Hà Văn Lâu, đại diện Hà Nội đến họp tại Paris để thảo luận về chi tiết những cuộc hòa đàm về chiến tranh Việt Nam.


-Tư vấn cho Ðảng Cộng Hòa. Khoảng năm 1964, Kissinger đổi sang Ðảng Cộng Hòa.


*Trước hết là tư vấn cho Nelson Rockefeller, đối thủ của Richard Nixon. Nhà triệu phú Rockefeller, thống đốc tiểu bang New York, đã tuyển ông làm tư vấn về ngoại giao khi ra cạnh tranh với Nixon trong chức ứng cử viên tổng thống của Ðảng Cộng Hòa. Thời đó, Kissinger rất khinh miệt Nixon, cho ông này là người “nông cạn, tham quyền, chống cộng quá khích và có thể đưa Mỹ tới đụng độ nguyên tử với Nga Xô và Trung Cộng.” Ông còn nói với phe chống Nixon trước ngày họp đảng “Con người Nixon đó không thích hợp để làm tổng thống.” Ðể thuyết phục, ông thêm: “Trong ngần ấy những người ra tranh cử, Richard Nixon là con người nguy hiểm nhất nếu trở thành tổng thống.” Thế nhưng, tại Ðại hội đảng Cộng Hòa, ngày 8 Tháng Tám 1968, ông Nixon được Ðảng lựa chọn.


Khi thấy Rockefeller thất bại ngay lần bỏ phiếu đầu với số phiếu 277 so với 692 cho Nixon, Kissinger vô cùng buồn bã. Người ta kể lại rằng ông đã khóc. Ông còn nói: “Cái ông đó hả, ông ta không có quyền để cai trị” (12).


*Nhảy sang tư vấn cho Richard Nixon. Khinh miệt Nixon như vậy, mà khi ông này vừa được đảng Cộng Hòa tuyển chọn, Kissinger xoay chiều ngay. Dù biết rằng Kissinger coi thường cấp trên của mình, ban tham mưu của Nixon cũng nhận ra tài năng của ông ta. Chính ông Nixon cũng biết về thái độ thù nghịch của Kissinger, nhưng ông cho rằng đó chỉ là chuyện chính trị trước bầu cử (13). Phía Cộng Hòa liền đề nghị Kissinger cộng tác để làm việc cho đảng trong kỳ tuyển cử tới.


Kissinger vui vẻ quá sức. Người ta cho đây là “cơ hội chủ nghĩa” ở đỉnh cao nhất của nó (14). Lúc đó, Nixon đang cần có một nhà tư tưởng, nhà quân sư như McGeorge Bundy, Arthur Schlesinger của Kennedy hay Walter Rostow của Johnson. Là một luật sư, tuy có nhiều kinh nghiệm thực tế về chính sách vì đã làm phó tổng thống thời Eisenhower, nhưng ông Nixon thiếu cách diễn tả lưu loát về ngoại giao và những quan


niệm về cơ cấu quy mô của chính trị toàn cầu. Về điểm này, chúng tôi cũng có nhận thức được phần nào khi nghe ông Nixon tranh luận với ông Kennedy vào lúc bầu cử Tổng Thống hồi Tháng Mười Một, năm 1960. Ngồi trong gian phòng giải trí dành cho sinh viên tại Ðại Học Virginia, tôi được xem cuộc tranh luận đầu tiên giữa hai ứng cử viên tại nước Mỹ trên truyền hình, tuy là TV đen trắng và nhỏ xíu. Chắc là ông Kennedy có những cố vấn ở Ðại Học Harvard luyện cho trước cuộc tranh cãi, nên ăn nói lưu loát và bình luận về ngoại giao ở tầm lý thuyết cao. Còn ông Nixon thì mắt cứ chớp chớp, chỉ chống chế cho thành tích ngoại giao dưới thời Eisenhower. Sau cùng Nixon đã thất cử năm đó.


 


Tư vấn cho hai đảng một lúc


 


Trong kỳ bầu cử 1968, khi Henry Kissinger ngấm ngầm làm việc với phía Cộng Hòa qua Richard Allen, ông lại tiếp tục cộng tác với phía Dân Chủ qua Zbigniew Brzezinski, người điều hợp về ngoại giao cho Humphrey. Tác giả Seymour Hersh trong cuốn The Price of Power có dẫn chứng là Ted van Dyke, viên phụ tá thân cận của Humphrey có xác nhận chính ông đã là người tiếp nhận bức thư Kissinger viết cho Humphrey vừa chỉ trích Nixon vừa xin tình nguyện làm việc với chính phủ Humphrey. Trong một cuộc điện đàm với Brzezinski, Kissinger cho biết là ông có thể đưa cho xem cả hồ sơ riêng của Rockefeller về Nixon. Theo như lời Kissinger, đó là những “hồ sơ nhơ bẩn” (shit files) của Nixon (15).


Và ông cứ đi hàng hai như vậy cho tới giữa Tháng Chín khi những cuộc thăm dò dân ý cho biết Nixon đã bỏ xa Humphrey, lúc đó ông mới tỏ rõ thái độ, nghiêng hẳn về Nixon. Khi Brzezinski gọi điện thoại tới văn phòng Kissinger để hỏi xin hồ sơ này, cô thư ký trả lời: “Như ông đã biết, Tiến Sĩ Kissinger bây giờ đang làm việc cho ông Nixon rồi.” Và từ đó phía Humprey không nghe thấy gì về “shit files” của Nixon nữa (16).


Vào đầu thập niên 1990, khi tôi có dịp quen biết với Richard Allen (trước đó là cố vấn an ninh cho Tổng Thống Reagan), trong cương vị là thành viên của Hội Ðồng Quản Trị Trung Tâm Nghiên cứu Á Châu (Asian Studies Center tại Heritage Foundation) do Allen làm giám đốc, tôi tò mò hỏi xem ông nghĩ sao về việc đã giới thiệu Kissinger cho Nixon, Allen nhún vai, lắc đầu, như hối tiếc đã giúp cho tham vọng của ông này.


 


Lên chức cố vấn tổng thống


 


Ngày 27 Tháng Mười Một, 1968, sau khi Nixon thắng cử, ông John Mitchell mời Kissinger tới căn phòng của Nixon ở lầu 39 khách sạn Pierre, New York để gặp tổng thống tân cử. Nơi đây, Nixon mời Kissinger làm phụ tá an ninh quốc gia. Vui vẻ quá sức, nhưng ông vẫn tỏ vẻ ngần ngại, nói là cần có thời gian để suy nghĩ. “Ðược rồi, một tuần,” Nixon trả lời. Kissinger về hỏi ý kiến Rockefeller. Ông này đồng ý để tiến cử đệ tử mình. Ngày 20 tháng Giêng 1969, Nixon đăng quang, dọn vào Bạch Ốc, Kissinger dọn vào theo (17).


Tổng Thống Nixon là người muốn thành công ở lãnh vực ngoại giao nên muốn tập trung chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ vào tòa Bạch Ốc, chứ không giao cho ngoại trưởng như Tổng Thống Eisenhower đã giao cho ông John Foster Dulles. Và như vậy cũng rất khôn ngoan. Quyền lực và danh vọng của một tổng thống Mỹ thực ra chỉ được biểu lộ trong lãnh vực đối ngoại. Truman thả bom nguyên tử ở Hiroshima, Kennedy cho chiến hạm trực chỉ Cuba ép Krutschev gỡ hỏa tiễn về. Và ngày nay, ông Bush Cha thả bom Baghdad, bắt Iraq rút khỏi Kuwait; ông Bush Con, đánh đuổi Taliban và Al Qaeda khỏi Kabul. Rồi chiếm Iraq, lại bắt được Saddam Hussein trốn trong hầm. Ngay chính bản thân Nixon, khi làm Phó cho Tổng Thống Eisenhower cũng đã chỉ nổi tiếng về vụ “Kitchen Debate,” đốp chát với Krutschev ở trong một khu trưng bày đồ gia dụng nhà bếp tại hội chợ quốc tế ở Moscow.


Bây giờ lên đài, Nixon phải sáng chói. Cũng chỉ trong lãnh vực ngoại giao thôi. Vì trong thời hiện đại, có tổng thống Mỹ nào nổi tiếng về vấn đề nội trị đâu? Nền kinh tế Mỹ như cái máy tự động, khổng lồ, chỉ làm sao đừng bị lạm phát (dưới 4%), giữ thất nghiệp cho thấp (khoảng 5%) là tốt rồi, đâu có làm phép lạ được. Xã hội thì đã có nền nếp; luật pháp thì đã thành khuôn, chắc như đanh đóng cột. Khó mà làm được gì nổi bật trong địa hạt chính sách đối nội. Ngược lại chỉ thấy nhức đầu: tăng thuế cũng bị chửi, giảm thuế cũng bị la. Tổng Thống Johnson đã hái được nhiều thành quả trong nước, đặc biệt là đã để ý tới vấn đề xóa đói giảm nghèo, công bình xã hội, nhưng lại thất bại về mặt ngoại giao là chiến tranh Việt Nam, nên rồi cũng chẳng đi đến đâu. Hiện giờ (2005) TT George Bush vừa thắng nhiệm kỳ hai, ông đặt ưu tiên cho chính sách đối nội là sửa đổi lại hệ thống “an ninh xã hội” (social security system), nhưng rồi cũng sẽ gặp nhiều chống đối, và dù đa số ở Quốc Hội là Cộng Hòa, ông cũng sẽ phải đi đến thỏa hiệp nếu muốn thành công. Và sau cùng thì kết quả về chiến tranh Iraq cũng vẫn là yếu tố quan trọng xác định địa vị của ông trong lịch sử.


(Còn tiếp)

Dan Southerland, nhân chứng ‘phút cuối cùng’


Nhà báo chứng kiến phút cuối cùng của VNCH


 


Ðinh Quang Anh Thái/Người Việt


 


Trong số các nhà báo ngoại quốc ở Việt Nam, ký giả Dan Southerland là một trong ít người ở lại tới ngày cuối cùng và chứng kiến ngày chót của Việt Nam Cộng Hòa 30 Tháng Tư 1975.


Từ 1985 đến 1990, ông là giám đốc văn phòng Washington Post tại Bắc Kinh và tường thuật vụ đàn áp đẫm máu phong trào dân chủ Thiên An Môn, và do loạt bài này ông được trao giải Pulitzer.


Trong cuộc chiến Việt Nam, ông làm việc cho hãng tin UPI và tờ The Christian Science Monitor, và cũng từng tường thuật chiến sự tại Cambodia, Lào, và cuộc chiến giữa Ấn Ðộ và Pakistan năm 1971.


Ông hiện là phó tổng giám đốc đặc trách chương trình của Ðài Á Châu Tự Do (RFA). Ông từng sống và viết cho nhiều hãng tin và báo chí quốc tế và thường trú tại Tokyo, Hong Kong, Sài Gòn, Bắc Kinh.


Qua email ông trả lời phỏng vấn của Ðinh Quang Anh Thái báo Người Việt về những diễn biến ở Việt Nam ngày 30 Tháng Tư, 1975.










Dùng xe jeep của UPI, ký giả Dan Southerland đưa thường dân Việt Nam bị thương đến nơi an toàn để được chở vào nhà thương, trong trận Mâu Thân II tháng 5-6, 1968.

 


-Ðinh Quang Anh Thái (NV): Khi Sài Gòn sụp đổ cách đây 36 năm, lúc bấy giờ ông ở đâu?


-Dan Southerland: Tuần lễ cuối cùng của Tháng Tư trước khi Sài Gòn sụp đổ, trong bối cảnh các xe tăng của quân Bắc Việt tiến gần vào Sài Gòn, lúc đó tôi ở tại khách sạn Continental để viết bài cho tờ The Christian Science Monitor. Tôi tường thuật những giây phút cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa với hai sự kiện trọng đại là việc Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức và lễ nhậm chức tổng thống của Tướng Dương Văn Minh.


-NV: Tâm trạng của ông ra sao khi chứng kiến những sự kiện lịch sử đó?


-Dan Southerland: Tôi buồn khi nhìn thấy cảnh hỗn loạn của Sài Gòn. Tôi cố trấn an người thầy dạy tôi tiếng Việt và người thông dịch viên lâu năm của tôi. Tôi cũng đưa ra vài ý kiến là họ nên làm gì trong tình huống này. Cả hai quyết định ở lại; người dạy tiếng Việt thì vì hoàn cảnh gia đình, còn người thông dịch thì cho rằng chẳng có gì để lo sợ Việt Cộng. Khi tôi đến căn nhà nhỏ của anh thông dịch viên, anh chỉ cho tôi tình cảnh sống quá nghèo nàn của anh và bảo rằng không có lý do nào khiến anh bị cộng sản kết án.


Tôi ước rằng phải chi tôi khuyên được anh ra đi. Khi cộng sản chiếm chính quyền, họ hành hạ anh rất nặng nề, một phần cũng vì anh có quan hệ với tôi, nên sau đó anh vượt biên và tôi đã có dịp gặp lại anh ở Paris. Anh xin tôi tha lỗi vì trong thời gian bị cộng sản tra khảo, anh đã có những lời khai không đúng về tôi. Phần tôi, tôi cũng đã xin lỗi anh vì đã không hết sức thuyết phục anh thoát khỏi Sài Gòn thời gian đó.


Cũng vào những giờ phút cuối của Tháng Tư 75, tôi đã dàn xếp cho một giáo sư của đại học Sài Gòn cùng vợ và đứa con mới sanh của ông ta ra đi bằng trực thăng nhưng ông ta đổi ý vào giờ chót và ở lại, vì tin rằng Tướng “Big Minh” có thể thương lượng một cách ổn thỏa việc chia quyền với những người cộng sản.


Không chịu đi, nhưng ông giáo sư này lại gọi điện thoại nhờ tôi giúp đưa một quân nhân là bà con của ông ta ra đi. Lúc bấy giờ, tại mặt trận Xuân Lộc cách Sài Gòn khoảng 90 cây số về phía Ðông, Sư Ðoàn 18 của Việt Nam Cộng Hòa đang chống trả trước những đợt tấn công dữ dội của quân Bắc Việt. Cho nên ý kiến đưa một quân nhân trốn khỏi đất nước trong khi những đồng đội khác đang chiến đấu sống còn khiến tôi tức điên lên và tôi đã đập nát chiếc điện thoại trên tay. Tôi ý thức rõ là tôi đang bị căng thẳng.


Tình cảnh lúc đó ngay tại Tòa Ðại Sứ Mỹ, giấy tờ tài liệu bị xé nát, hành lý và súng đạn bị vất ngổn ngang. Binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đang đẩy lui hàng ngàn người Việt Nam xô lấn nhau muốn xông vào sân Tòa Ðại Sứ để tìm đường thoát thân. Nhiều người ném giấy tờ tùy thân vào bên trong và kêu gọi giúp đỡ. Một người trong đám đông nhận ra tôi. Ông ta kêu tên một viên chức Mỹ. Tôi tìm được viên chức này và cùng nhau giúp đưa người đàn ông kia lọt qua cổng vào bên trong.


Trong không khí hoảng loạn đó, tôi gào qua điện thoại để gửi bài viết cho một đồng nghiệp cũng đang làm việc ở Sài Gòn chỉ tích tắc trước khi hệ thống điện thoại của Tòa Ðại Sứ bị cắt. Người điều hành phòng máy điện thoại đang lên máy bay để ra đi.


Tâm trạng tôi khi ấy giống như một số người Mỹ khác, cảm thấy rất đau buồn khi chứng kiến cảnh người Mỹ di tản trong khi nhiều người Việt Nam từng làm việc với Mỹ bị bỏ rơi lại. Quả thật, ra đi như thế thật là nhục nhã.


-NV: Ông từng đi theo và viết bài về các đơn vị của quân đội Việt Nam Cộng Hòa, ông nhận xét ra sao về những quân nhân này?


-Dan Southerland: Thành thật mà nói, quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã chiến đấu anh dũng khi đẩy lui cuộc tấn công của Việt Cộng trong Tết Mậu Thân 1968. Tôi cũng rất thán phục một số đơn vị của quân đội này trong các trận đánh tại Quảng Trị và An Lộc suốt thời gian diễn ra cuộc tấn công quy mô của Bắc quân năm 1972.










Một quân nhân Việt Nam Cộng Hòa hỏi cung tù binh cộng sản, bên trái là ông Southerland, trong trận Mậu Thân II tháng 5 năm 1968 tại Sài Gòn.


Tuy nhiên cũng phải nhìn nhận là có sự cách biệt khá lớn về khả năng tác chiến giữa đơn vị này và đơn vị khác của QLVNCH. Ðơn cử một thí dụ, năm 1972, trái ngược với Thủy Quân Lục Chiến của Việt Nam đã chứng tỏ là một đơn vị thiện chiến trong các trận đánh tại Quảng Trị cho dù không đủ quân số, thì Sư Ðoàn 3 Bộ Binh đã bị tan rã vì thiếu kinh nghiệm.


Tôi đã từng tường thuật về nhiều vấn đề trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa, như tình trạng đào ngũ, hôi của, tham nhũng và thiếu khả năng của một số sĩ quan. Một vấn đề nữa là QLVNCH lệ thuộc vào không trợ của Mỹ, kể cả bom B-52. Khi sự hỗ trợ đó bị rút đi, hậu quả trở thành tai hại. Nhưng nếu nhìn tổng quát thì vẫn thấy có sự tiến bộ rõ rệt trong một số đơn vị QLVNCH giữa 1972 và 1973, kể cả khi Mỹ đã rút quân.


Một số bài tường thuật của hãng tin Mỹ khiến người ta có cảm tưởng VNCH bị thất trận trong cuộc tấn công của Cộng quân năm 1972. Năm đó, ngày 11 Tháng Tư, trong một điện tín gửi cho mẹ tôi sống tại Arlington tiểu bang Virginia, tôi viết rằng: “Cho tới nay không có gì giống như trận Tết Mậu Thân 1978. Con vừa từ Quảng Trị và Huế về lại Sài Gòn và con thấy QLVNCH phòng thủ mạnh mẽ hơn những gì báo chí Mỹ tường thuật. Và rõ ràng là Bắc quân đang di chuyển dọc biên giới Cambodia khó lòng đặt chân đến Sài Gòn.”


Tôi cho rằng nhiều phóng viên Mỹ không tường thuật về QLVNCH, hoặc là họ đã tường thuật thoáng qua mà thôi. Cá nhân mình, tôi cũng nhiều lần tự chỉ trích về những cách tường thuật của mình. Chỉ có vài phóng viên ngoại quốc là nói được tiếng Việt để làm trọn vẹn việc tường thuật tin tức khi đi với quân đội VNCH; số đông còn lại đã chọn cách dễ dàng hơn là đi theo các đơn vị Hoa Kỳ.


Tôi đã từng viết một bài về tính nhân bản của các quân nhân thuộc binh chủng Thủy Quân Lục Chiến của VNCH. Và tôi cũng đã viết câu chuyện về những người anh hùng của QLVNCH tại mặt trận An Lộc, với quân số ít ỏi so với Cộng quân và chỉ với những khẩu súng chống chiến xa loại nhẹ, họ đã tiêu diệt những xe tăng của Cộng quân. Dù vậy, tôi vẫn nghĩ mình chưa mô tả được trọn vẹn những gì tôi chứng kiến.


Ðầu năm 1970, tôi ngưng làm việc với hãng tin UPI để dành thời gian vài tháng học tiếng Việt hòng có thể viết những câu chuyện sâu hơn với tư cách một phóng viên tự do. Nhưng rất tiếc, việc học Việt ngữ của tôi bị gián đoạn khi tờ The Christian Science Monitor mời tôi cộng tác. Ðúng lúc đó, chiến tranh bùng nổ tại Cambodia, thế là tôi bỗng nhiên phải tường thuật tin tức chiến sự của hai cuộc chiến.


-NV: Một số cuốn sách viết rằng, chính ông và nhà báo Phạm Xuân Ẩn đưa Bác Sĩ Trần Kim Tuyến – người từng cầm đầu ngành tình báo thời Tổng Thống Diệm – ra máy bay di tản khỏi Việt Nam; sau này, ông Ẩn lộ nguyên hình là cán bộ tình báo cao cấp của cộng sản miền Bắc, vai trò của ông lúc đó là gì?


-Dan Southerland: Ngày 30 Tháng Tư, tôi gọi điện thoại cho một số tờ báo ngoại quốc có văn phòng ở Sài Gòn, trong đó có tuần báo Time là nơi ông Phạm Xuân Ẩn làm phóng viên. Ẩn nói với tôi rằng có một người bạn từng quen biết lâu năm với chúng tôi là Trần Kim Tuyến hiện không thể tìm được đường thoát thân.


Tôi tin chắc chắn rằng, nếu ông Tuyến rơi vào tay cộng sản, ông sẽ không cách nào toàn mạng. Vì vậy tôi gọi ngay cho một viên chức Mỹ của Tòa Ðại Sứ nhờ giúp đỡ. Ông này báo cho tôi biết địa điểm mà chỉ trong chốc lát nữa một trực thăng sẽ đáp xuống để bốc người. Tôi báo ngay cho Ẩn. Thế là Ẩn hộc tốc lái xe đón ông Tuyến rồi đưa ông Tuyến đến một căn biệt thự nơi chiếc trực thăng sắp hạ càng xuống nóc nhà. Trần Kim Tuyến đi thoát. Lúc bấy giờ, tôi hoàn toàn không biết Phạm Xuân Ẩn là gián điệp của cộng sản.


-NV: Theo ông, tại sao ông Ẩn lại giúp ông Tuyến thoát khỏi tay cộng sản?


-Dan Southerland: Khi Ẩn về lại Việt Nam năm 1959, sau khi tốt nghiệp ngành báo chí tại Hoa Kỳ, ông ta rất sợ bị bắt. Vì lúc đó chính phủ của Tổng Thống Diệm đã bắt giam một số gián điệp Việt Cộng nằm vùng. Ẩn bèn tìm đến ông Tuyến và chính ông Tuyến xin cho Ẩn làm việc tại Việt Nam Thông Tấn Xã. Tuyến cũng vô tình không hề biết Ẩn là gián điệp nên đã che chở cho Ẩn khi ông này có thể lộ tông tích gián điệp nằm vùng. Chính vì vậy Ẩn mang ơn Tuyến vô cùng.


-NV: Sau năm 1975, ông đã có dịp quay lại Việt Nam chưa, nếu có, hình ảnh Việt Nam ra sao trong mắt ông?


-Dan Southerland: Năm 1982, trên đường tới Cambodia, tôi có dịp quay lại Việt Nam có vài ngày. Tôi nghe người Việt than trách về tình trạng thiếu thực phẩm và quần áo. Người cộng sản đã tỏ ra thiếu khả năng quản trị kinh tế. Nhiều chục ngàn người ở các thành phố bị đưa đi “vùng kinh tế mới” để trồng trọt mà rốt cục kết quả chẳng đi đến đâu. Gần 7 năm sau khi chiến tranh chấm dứt, vậy mà chế độ mới vẫn không an tâm nên tiếp tục giam cầm nhiều chục ngàn sĩ quan quân đội và công chức miền Nam trong các “trại cải tạo.” Sau này tôi nghe nói một luật sư Sài Gòn trước kia (Luật Sư Trần Văn Tuyên), một người từng chỉ trích chế độ của ông Thiệu, đã chết trong “trại cải tạo.” Sự kiện này rõ ràng cho thấy diện mạo của chế độ mới. Và tôi còn ghi nhận, rất nhiều người tôi gặp trên đường phố Sài Gòn – họ vẫn gọi thành phố này bằng tên Sài Gòn – vẫn bày tỏ tình cảm thắm thiết với người Mỹ.










Làm phóng sự về lực lượng thủy quân lục chiến Việt Nam Cộng Hòa, nhà báo Dan Southerland phỏng vấn cố vấn Mỹ trong trận Mậu Thân II tháng 5 năm 1968 trên một nóc nhà Sài Gòn.


Năm 2005, tôi và con trai là Matt xin được giấy chiếu khán du lịch để đến Việt Nam. Rõ ràng tôi thấy giới lãnh đạo cộng sản đã nhận thức là kinh tế của Việt Nam đang trôi vào thảm họa nên đã mở cửa chạy theo một nền kinh tế tư bản kiểu nguyên thủy. Sài Gòn bùng lên phát triển. Căn apartment trước kia tôi từng cư ngụ nằm ở đường Nguyễn Huệ nay bị phá đi và thay vào đó là một cao ốc vừa được xây lên. Nhưng dân chúng ta thán rằng giới lãnh đạo cộng sản hưởng lợi hơn bất kỳ thành phần nào khác do sự phát triển này của Sài Gòn.


Cũng trong dịp trở lại này, tôi và một bạn đồng nghiệp phóng viên Mỹ đã đến thăm khu Nghĩa Trang Quân Ðội gần Biên Hòa và chúng tôi tận mắt nhìn thấy cảnh hương lạnh, tro tàn của nghĩa trang này. Nơi đây bây giờ do bộ đội canh gác nên trông không khác gì một trại lính. Lính gác không cho chúng tôi vào bên trong và cấm chụp hình. Nhưng lợi dụng lúc các lính canh lơ đễnh, tôi chụp được một số tấm hình những ngôi mộ cỏ dại mọc đầy chung quanh. Tôi biết được rằng, những năm gần đây, nhờ dùng tiền đút lót, thân nhân những người lính Việt Nam Cộng Hòa nằm xuống trong cuộc chiến đã được phép vào nghĩa trang để dọn dẹp sạch sẽ một số ngôi mộ.


Sự kiện cũng khiến tôi nổi giận là ngay tại Bảo Tàng Chiến Tranh tại Sài Gòn, lịch sử đã bị bóp méo khi người ta trưng bày hình ảnh khiến người xem hiểu lầm là chỉ có người Mỹ chiến đấu chống lại cộng sản trong cuộc chiến vừa qua. Trong thực tế, người miền Nam Việt Nam đã chiến đấu nhiều năm trước khi Hoa Kỳ tham chiến và họ đã gánh chịu nhiều tổn thất nhân mạng nặng nề. Nhưng đau buồn thay, những người lính can trường này đã bị người ta xóa tên khỏi lịch sử.


-NV: Ông nhận định ra sao về hiện trạng của Việt Nam?


-Dan Southerland: Những tháng gần đây mọi việc diễn ra có vẻ không thuận lợi cho Việt Nam. Cải tổ kinh tế không dẫn tới cải tổ chính trị. Trước khi khai mạc đại hội đảng cộng sản vào Tháng Giêng vừa qua, nhà cầm quyền đã tung ra một đợt trấn áp những người hoạt động dân chủ và những blogger.


Một số luật sư, những người bất đồng chính kiến và những người hoạt động dân chủ đã bị bắt giam chỉ vì phát biểu quan điểm của họ. Chế độ còn sách nhiễu, thậm chí bắt giữ hoặc quản thúc tại gia những vị lãnh đạo các tôn giáo. Ngoài ra, luật mới về báo chí truyền thông vừa được ban hành, với những quy định mơ hồ, còn tạo thêm cơ hội dễ dàng để nhà cầm quyền kiểm soát gắt gao hơn và xử phạt nặng hơn giới cầm bút. Luật báo chí này còn làm cho vấn nạn tham nhũng – hiện đang lan tràn ở mọi cấp chính phủ – trở nên khó diệt trừ hơn.


Dầu vậy, vẫn có một số nhà báo và blogger Việt Nam rất can đảm, họ tìm cách phanh phui những vụ tham nhũng ở địa phương và hành vi lạm quyền của công an. Nhưng khi họ bắt đầu phanh phui tới những hành vi ở cấp cao hơn thì họ bắt đầu gặp nguy hiểm.

Thung lũng hoa vàng dậy sóng: Oracle kiện Google


Giám đốc điều hành của Oracle, ông Larry Ellison, nói với bồi thẩm đoàn rằng công ty của ông đã bỏ ra 7.4 tỷ Mỹ kim mua Sun Microsystems chỉ nhằm sở hữu phần mềm Java. Thế nhưng, theo hồ sơ tòa án, các luật sư của công ty Oracle đã kiện công ty Google vì đã lấy cắp một số lập trình của Java để tạo ra hệ điều hành di động phổ biến Android sử dụng trong các Smartphone.


 


 


Tri Le/Người Việt San Jose


 


BAY AREA – Trong đơn kiện tại tòa, công ty điện toán Oracle cho rằng Google đã vi phạm bằng sáng chế và bản quyền tác giả qua việc sử dụng các công cụ phần mềm của Java để tạo ra hệ điều hành Android được sử dụng trong các Smartphone (điện thoại thông minh).










Văn phòng chính của Oracle tại thành phố Redwood, CA và Google tại Mountain View, CA. (ảnh trên Net)


Trong khi Google vẫn một mực từ chối bất kỳ hành vi xâm phạm bản quyền nào, Oracle cho biết họ đã bị thiệt hại gần 1 tỷ Mỹ kim và án lệnh kiện lên tòa án ở San Jose buộc Google phải thay đổi cách phân phối và sử dụng phần mềm Android này.


Nhưng sau vài tháng tham dự một loạt các phiên điều trần trước khi xét xử nhằm gom lại mục đích chính của vụ tranh chấp rất phức tạp này, Thẩm Phán Alsup đã cảnh cáo các luật sư của Oracle không nên nói quá về con số thiệt hại, ông nói: “Phải hết sức thận trọng! Nếu quý vị tự ý đẩy con số thiệt hại lên thật cao với hy vọng tòa cho thắng kiện và hưởng bồi thường, nếu có, sẽ không được phép. Nếu quý vị cố tình làm như vậy, tôi sẽ phải ra tay.”


Ông cũng cảnh cáo các luật sư cả hai bên không nên công bố những tài liệu đang bị niêm phong, ngay cả tiết lộ bí mật tài chính hoặc đưa ra những thông tin nhằm làm bẽ mặt đối phương, bởi vì như ông nói: “Ðây là một phiên xử công khai.”


Sáng Thứ Hai vừa qua, trước khi phiên tòa bắt đầu, thẩm phán Alsup đã nêu ra một loạt các vấn đề và cho biết vụ kiện có thể kéo dài mười tuần lễ. Sau đó, trong tiến trình chọn lựa bồi thẩm đoàn, Thẩm Phán Alsup đã khước từ một ứng viên bồi thẩm đoàn đang làm việc cho Oracle và một người khác là bạn của một nhân viên cũng đang làm việc cho Oracle. Ông nói với các ứng viên bồi thẩm đoàn còn lại rằng không nên tìm kiếm các dữ liệu của vụ kiện từ các nguồn bên ngoài phòng xử, hay trên trang mạng Google vì như thế sẽ không chính xác.


 


Tầm ảnh hưởng của vụ án


 


Phiên tòa sẽ có lời chứng của những người đã từng nổi tiếng trong ngành công nghệ tại Thung Lũng Hoa Vàng như các ông Larry Page – đồng sáng lập và là giám đốc điều hành của Google; ông Eric Schmidt, chủ tịch Google và cũng là cựu giám đốc công nghệ của Sun Microsystems khi Java được thành lập. Các nhân chứng nổi bật khác bao gồm ông Andrew Rubin, trưởng điều hành Android của Google; ông Jonathan Schwartz, cựu giám đốc điều hành Sun Microsystems; và James Gosling, người được mệnh danh là “cha đẻ” của Java.


Lời khai của họ có thể sẽ vén lên bức màn về những vấn đề mà các công ty thường giữ bí mật, bao gồm các cuộc thảo luận nội bộ về việc tạo ra một hệ thống công nghệ ứng dụng mới như Android và các giá trị toàn năng của nó. Trong thương vụ Android này, Google đã cho phép các nhà chế tạo Smartphone sử dụng hệ điều hành Android miễn phí, nhưng lại giành phần thu quảng cáo từ việc người sử dụng tìm kiếm dữ kiện qua mạng Internet được tiến hành trên các thiết bị này.


Vụ án là một trong những vụ mà qua đó các công ty công nghệ phàn nàn rằng điện thoại Smartphone và các tiện ích khác vi phạm bằng sáng chế mỗi kiểu khác nhau. Tuy nhiên trong hầu hết các trường hợp, Apple hoặc các nguyên đơn khác đã kiện các nhà sản xuất chế tạo các thiết bị của Smartphone nhưng không kiện Google. Nay, Oracle trực tiếp kiện Google.


Kể từ khi Oracle bắt đầu nộp đơn kiện vào tháng 8 năm 2010, những quyết định của thẩm phán Alsup đã giúp thu hẹp những bất đồng của vụ án. Có lúc, Oracle cho rằng Google có thể đã nợ Oracle đến $6 tỷ Mỹ kim. Tuy nhiên, sau khi Oracle bị buộc rút lại năm trong số các cáo buộc ban đầu về vi phạm bằng sáng chế, phần lớn các tranh chấp còn lại đặt trọng tâm vào việc Google đã vi phạm bản quyền Oracle bằng cách đã sử dụng 37 giao diện lập trình ứng dụng của Java, gọi tắt là Java API, để lập hệ điều hành Android.


Một vấn đề được nêu ra là liệu tác quyền có áp dụng đối với các giao diện lập trình ứng dụng (API) không. Bởi vì, API được mô tả như là mã “thư viện” đã được các nhà phát triển phần mềm viết sẵn từ trước để giúp các chương trình có thể tương tác lẫn nhau. Những công trình sau này có thể sử dụng các khối mã này để chèn vào chương trình riêng của mình hầu tạo nên một sản phẩm mới mà không cần phải viết lại từ đầu.


 


Quan điểm của Oracle vs. Google


 


Google đã phủ nhận mọi cáo buộc cho rằng hệ điều hành Android đang được sử dụng trong các Smartphone vi phạm bằng sáng chế Java và bản quyền mà Oracle đã mua lại năm ngoái từ Sun Microsystems, và đang được sử dụng rộng rãi từ những năm 1990.


Sun đã phân phối miễn phí các ngôn ngữ lập trình Java, được sử dụng để tạo ra hàng ngàn chương trình và ứng dụng khác bởi các nhà phát triển độc lập và các công ty công nghệ khổng lồ như Oracle và IBM. Nhưng Sun yêu cầu người sử dụng phải có giấy phép sử dụng các công cụ phát triển Java họ tạo ra cùng với ngôn ngữ lập trình.


Luật sư phía Oracle thì cho rằng 37 giao diện lập trình ứng dụng sẽ lấp đầy 11,000 trang nếu được in ra, và được bảo vệ bởi bản quyền vì đây là những công việc sáng tạo của các nhà phát triển ban đầu của Java, những người đã thực hiện việc lựa chọn và sắp xếp yếu tố cho mỗi giao diện lập trình ứng dụng. Google đã sử dụng những công cụ ấy để tạo ra hệ điều hành Android, bởi vì Google rất muốn hệ điều hành điện thoại di động của mình phải được thực hiện bởi những người đã từng làm việc với Java.


Tuy nhiên, Google cho rằng hệ điều hành Android chỉ sử dụng các yếu tố miễn phí có sẵn của Java mà thôi. Các API của Java mà Google sử dụng để làm hệ điều hành Android, đơn thuần chỉ là các khối mã, có thể ví như các chữ cái hoặc các từ ngữ trong một ngôn ngữ. Trong hồ sơ tòa án, Google lập luận rằng luật bản quyền bảo vệ tác phẩm gốc của “biểu hiện sáng tạo,” nhưng không bảo vệ ngôn ngữ hoặc phương tiện được dùng để tạo ra những sáng tạo đó.


 


Các ý kiến bàng quan


 


Các luật sư cho rằng không có luật trực tiếp về việc API được nêu tác quyền hay không. Nhưng các nhà phê bình về các khiếu nại của Oracle đã tranh luận rằng nếu Oracle thắng kiện, nó có thể tạo ra sự tàn phá trong ngành công nghiệp phần mềm bằng cách giăng ra các rào cản pháp lý để cản trở việc sử dụng các API.


Các luật sư của phía Oracle nói rằng họ chỉ đơn thuần thực thi các quyền hợp pháp, chính Google đã và đang đe dọa ngành công nghiệp. Ðiều rõ ràng là Google đã thiết kế hệ điều hành Android theo cách nó không thể dùng chung với tất cả các ứng dụng khác của Java. Luật Sư David Boies của Oracle kết luận rằng việc đó đã lấy đi giá trị của Java như một ngôn ngữ lập trình phổ biến và làm thiệt hại “toàn bộ hệ sinh thái của Java.”


Các thẩm phán đã phân loại vụ án mang tầm vóc quốc tế về các ứng dụng chuyển tải thông tin của Internet (World Series of IP cases) vì tầm quan trọng của nó đối với luật sở hữu trí tuệ.


Alsup đã ra lệnh vụ án sẽ được tiến hành trong ba hiệp, hai tuần của hiệp đầu dành cho việc tranh chấp bản quyền. Hiệp thứ hai sẽ tập trung vào vấn đề bằng sáng chế và ban giám khảo sẽ không xem xét đến khả năng thiệt hại cho đến khi hiệp ba bắt đầu.

Ðêm Văn Nghệ Du Ca Bắc Cali


Trung Cang/Người Việt San Jose


 


Ðêm Văn Nghệ Du Ca với chủ đề Chuyện Quê Ta đã được Ðoàn Du Ca Bắc Cali tổ chức vào lúc 7g tối Thứ Năm, ngày 12 tháng 4, 2012, tại nhà hàng Hội An Bistro. Ngoài những thân hữu tại địa phương, còn có sự tham dự đặc biệt của nhạc sĩ Fa Thăng, tức Nguyễn Quyết Thắng, đến từ Hòa Lan, và các anh chị Nguyễn Thiện Cơ và Bích Hạnh đến từ Quận Cam.










Nhạc sĩ Fa Thăng (Nguyễn Quyết Thắng) tại đêm văn nghệ Du Ca Bắc Cali, 12 tháng 4, 2012. (Hình: Tri Le/Người Việt San Jose)


Nhân dịp này, Ðoàn Du Ca Bắc Cali đã giới thiệu DVD Karaoke, “Ca Khúc Nguyễn Ðức Quang” và tập nhạc “Những Ca Khúc Cuối Cùng” cũng của Nguyễn Ðức Quang vừa được phát hành.


Sau hiệu đoàn ca Ðoàn Ta Ra Ði, một sáng tác của Nguyễn Ðức Quang đã được toàn thể anh chị em trong Ðoàn Du Ca Bắc California trình diễn để mở đầu đêm văn nghệ, các khuôn mặt văn nghệ tiêu biểu tại San Jose như nữ ca sĩ Ðồng Thảo, nam ca sĩ Nguyên Nhu, và một số anh chị em ca nhạc sĩ du ca từ các nơi đến như nhạc sĩ Nguyễn Thiện Cơ, Bích Hạnh và vợ chồng ca nhạc sĩ du ca Nguyện Quyết Thắng… đã hát những ca khúc một thời được giới sinh viên học sinh miền nam yêu thích như Dưới Ánh Mặt Trời, Chuyện Quê Ta, Về Với Mẹ Cha, Ðường Việt Nam, Người Yêu Tôi Bệnh v.v…


Ngoài ra, một số các ca khúc của hai nhạc sĩ Nguyễn Thiện Cơ và Fa Thăng, những con chim đầu đàn của phong trào, cũng được chính các anh trình diễn với đàn guitar tự đệm. Riêng ca khúc Ngày Ấy Ðất Nước Hồi Sinh của cố Nhạc Sĩ Trần Ðình Quân đã được tất cả các anh chị em trong đoàn Du Ca có mặt trong đêm văn nghệ trình diễn thật cảm động trong phần nửa cuối của chương trình.


Ðược biết, nhạc sĩ Trần Ðình Quân đã mất cách nay 7 năm, và ca khúc này đã được ông sáng tác khi ông còn lao đao lận đận trong trại tù cải tạo. Với nhạc điệu rộn ràng, lời nhạc thiết tha, ông ước vọng một ngày đất nước Việt Nam thân yêu sẽ hồi sinh, nhưng mãi đến khi ông nhắm mắt, vọng ước ấy vẫn chưa đạt được:


 


…….


Ngày ấy anh về bên em


Ngày ấy anh về với mẹ


Nhìn mái tóc người trắng xóa gian nan


Tìm đến từng nhà thăm viếng


Gọi tiếng Việt Nam thiêng liêng


Từ nay quên đi bao ngày tháng kinh hoàng


Lòng anh nôn nao rộn ràng


Cùng với niềm tin và hy vọng


Ngày ấy đất nước hồi sinh,


Ngày ấy đất nước hồi sinh


 


Suốt tuần qua, thời tiết San Jose mưa và lạnh, nhưng số người tham dự có lúc đã chiếm hết ghế của nhà hàng Hội An Bistro. Ðiều này đã nói lên lòng ưu ái và sự hâm mộ của cộng đồng người Việt tại San Jose đối với tinh thần dấn thân đấu tranh cho quê hương và dân tộc bằng lời ca tiếng hát của Phong Trào Du Ca Việt Nam trong gần nửa thế kỷ qua. Buổi văn nghệ đã kết thúc vào lúc 10g khuya với ca khúc nổi tiếng của cố nhạc sĩ Nguyễn Ðức Quang, bài Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ.

Về một vụ thử hỏa tiễn


Câu chuyện cuối tuần

 

 

Lê Phan

 

Hôm 19 tháng 4, Ấn Ðộ loan báo thử thành công một hỏa tiễn liên lục địa với khả năng mang theo đầu đạn hạt nhân và với một tầm hoạt động 3,100 dặm (5,000km), tức là có khả năng tấn công cả Bắc Kinh lẫn Thượng Hải.

Với việc phóng hỏa tiễn mang tên Agni-5, Ấn Ðộ đã gia nhập một câu lạc bộ rất nhỏ các quốc gia có khả năng phóng hỏa tiễn hạt nhân đường trường. Theo viện nghiên cứu International Institute for Strategic Studies, đây là một câu lạc bộ gồm năm nước thành viên của Hội Ðồng Bảo An Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Trung Quốc và Nga, và nay Ấn Ðộ. Israel được nghĩ là có khả năng này nhưng cho đến nay vẫn chưa công nhận. Agni là tên của “Thần Lửa” tiếng Hindi. Vụ phóng này xảy ra trong khi những nhà thảo chính sách của Ấn Ðộ đang tính toán về triển vọng đe dọa tương lai của Trung Quốc, vốn vẫn là đối thủ vùng của Tân Delhi về quân sự.

Một nhà bình luận về an ninh người Ấn và cũng là một cựu sĩ quan cao cấp Hải Quân Ấn, ông Uday Bhaskar, được tờ Financial Times dẫn lời giải thích “vụ phóng hỏa tiễn Agni-5 gửi một thông điệp rõ ràng cho Bắc Kinh.” Ông cũng thêm là mục đích cuối cùng của Ấn Ðộ là làm sao vô hiệu hóa được đe dọa từ Trung Quốc.

Trong khi tờ Global Times tỏ vẻ tức giận, lên tiếng khuyến cáo Ấn đừng tưởng như vậy là thắng thế, Bộ Ngoại Giao ở Bắc Kinh đã có thái độ bình tĩnh hơn, không lên tiếng chỉ trích. Ngược lại, phát ngôn nhân Lưu Vi Dân còn nói “Ấn Ðộ và Trung Quốc không phải là hai đối thủ kinh tế mà là hai nước bạn hợp tác. Chúng tôi tin là hai quốc gia nên trân trọng những đà tiến khó đạt được về liên hệ tốt song phương, thúc đẩy tình hữu nghị và hợp tác song phương, và đóng góp cho hòa bình và an ninh vùng.” Sáo ngữ đó tuy vậy cũng không hoàn toàn che giấu sự khó chịu của Bắc Kinh.

Ðài truyền hình nhà nước CCTV thì tuyên bố hỏa tiễn này “thực sự không phải là một đe dọa tức thời cho Trung Quốc.” Ðài được biết đã đặt câu hỏi về độ chính xác của hệ thống đạn đạo và về trọng lượng 50 tấn, mà Trung Quốc nói sẽ buộc phải phóng từ một địa điểm cố định, khiến nó sẽ trở thành rất dễ hạ thủ khi cần. Ấn Ðộ tuy vậy khẳng định hỏa tiễn của họ có thể được phóng từ một giàn di động.

Dĩ nhiên Ấn Ðộ hài lòng. Cố vấn khoa học của Bộ Quốc Phòng Ấn, ông VK Saraswat, đã khoe là với sự phóng hỏa tiễn Agni, Ấn Ðộ đã trở thành một cường quốc quân sự quan trọng. Ông nói: “Chúng tôi đã tham gia một nhóm quốc gia đặc biệt sở hữu khả năng phác họa kiểu, phát triển, xây dựng và sản xuất các loại hỏa tiễn đường dài thuộc loại này với những phức tạp kỹ thuật của nó.”

Ấn Ðộ ngày nay đã trở thành quốc gia ngày càng mua nhiều vũ khí nhất trên thế giới, vượt Trung Quốc phần vì Trung Quốc nay tự sản xuất nhiều vũ khí, theo sau một thập niên phát triển kinh tế bền vững. Ấn muốn tăng cường ngân sách cho quân đội lên 13 phần trăm trong năm tài chánh này lên khoảng 38 tỷ đô la, theo thống kê chính thức của chính phủ. Dĩ nhiên con số đó vẫn không bằng ngân khoản mà Bắc Kinh dành cho quốc phòng, hiện nay đã lên đến 110 tỷ đô la.

Ấn Ðộ đã mua một loạt các quân cụ, kể cả một lực lượng chiến đấu cơ phản lực đa dụng mới lên đến 20 tỷ đô la. Mục đích là để canh tân toàn diện khả năng trong cố gắng đối phó với đe dọa từ Trung Quốc và nước láng giềng và cũng là đối thủ số một trong tiểu lục địa, Pakistan.

Ấn Ðộ đã lâm chiến một lần với Trung Quốc hồi năm 1962 về vùng biên giới tranh chấp ở Hy Mã Lạp Sơn. Kể từ khi đó liên hệ đã cải thiện nhưng Delhi vẫn còn lo sợ việc Trung Quốc có thể đột nhập vào vùng Ðông Bắc Ấn, nhất là tiểu bang Aranuchal Pradesh, vốn bị Trung Quốc nói là lãnh thổ của họ, vùng mà họ gọi là Nam Tạng. Nhưng căng thẳng chính giữa hai cường quốc Á Châu là qua việc Trung Quốc ngày càng gia tăng ảnh hưởng ở Pakistan, một quốc gia mà Trung Quốc đang cung cấp vũ khí để có thể sử dụng chống lại Ấn.

Vụ phóng hỏa tiễn này xảy ra trong khi đang ngày càng có lo ngại về việc quân sự hóa Á Châu và sự gia tăng đối đầu giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc. Hôm tháng 3, Bắc Kinh đã loan báo một gia tăng hai con số về ngân sách quốc phòng. Hôm Thứ Năm vừa qua, Nam Hàn đã thử hỏa tiễn có khả năng bắn tất cả mọi nơi tại miền Bắc, chỉ chưa đầy một tuần sau khi Bắc Hàn phóng hụt một hỏa tiễn vốn đã nổ tung chỉ vài phút sau khi rời khỏi giàn phóng.

Một số các nhà bình luận như ông Graeme P. Herd, của trung tâm Center for Security Policy ở Genève, vốn là một trung tâm huấn luyện các nhà ngoại giao về hòa bình và các vấn đề an ninh, thì cho là vụ phóng hỏa tiễn này làm gia tăng cảm nhận là Á Châu đang có một cuộc chạy đua vũ khí.

Ông Herd nghĩ là thời điểm mà Ấn chọn để thử hỏa tiễn liên lục địa này thực sự vô cùng khiêu khích, đến vào lúc mà chính quyền Bắc Kinh đang phải đối phó với một vụ scandal liên hệ đến một trong những viên chức hàng đầu của đảng, và sau khi Hoa Kỳ đã chuyển hướng trở lại Á Châu, tăng cường sự hiện diện quân sự trong vùng. Ông Herd cho là đứng trong sự suy nghĩ của Trung Quốc, mọi sự này có vẻ như đang chuyển từ thăng bằng với Trung Quốc nay đã trở thành bao vây Trung Quốc. Ông Herd lo ngại việc này sẽ thúc đẩy Bắc Kinh tăng cường thêm nữa kho vũ khí của họ và tìm cách siết chặt thêm liên hệ với Pakistan và vùng Trung Á.

Hoa Kỳ, vốn dẫn đầu vụ chỉ trích Bắc Hàn khi quốc gia này phóng hỏa tiễn đường xa hôm Thứ Sáu tuần trước, có vẻ đã ủng hộ vụ thử hỏa tiễn của Ấn Ðộ mặc dầu không mấy hăng say. Phát ngôn nhân Bộ Ngoại Giao Mark C. Toner tuyên bố “Chúng tôi yêu cầu tất cả các quốc gia có khả năng hạt nhân hãy tự chế trong khả năng hạt nhân của họ.” Nhưng đồng thời ông cũng, “Nói vậy nhưng Ấn Ðộ đã có một thành tích không phổ biến hạt nhân rất tốt.”

Dĩ nhiên mặc dầu Agni-5 sẽ cho Ấn khả năng bao trùm toàn Trung Quốc, có thể đến cả Tehran và một phần của Ðông Âu và Manila, chuyên gia Poornima Subramaniam của HIS Jane’s Defence giải thích “Khả năng kỹ thuật của Agni-5 đã thu hẹp được khoảng cách hỏa tiễn giữa Ấn Ðộ và Trung Quốc, trong khi thăng bằng chiến lược giữa hai đối thủ vẫn còn nghiêng về phía Trung Quốc.”

Vụ phóng thử Agni-5, từ một hòn đảo ngoài khơi bờ biển miền Ðông của Ấn, là một phần của một chương trình bắt đầu cách đây nhiều thập niên. Ấn bắt đầu chương trình này năm 1983. Thỉnh thoảng chương trình đã có thất bại nhưng tháng 11 năm ngoái, Ấn thử Agni-4, có tầm hoạt động 2,200 dặm. Agni-4 sắp được trao cho quân đội để cùng sử dụng với các hỏa tiễn Agni từ 1 đến 3. Ðiều cũng phải thêm là quân đội Ấn nói phải đến năm 2014 thì mới đưa vào sử dụng.

Nhưng dầu sao với khả năng chở một đầu đạn hạt nhân 1.5 tấn và tầm hoạt động 5,000km, Agni-5, một khi sử dụng được, không phải là không tạo lo ngại cho Trung Quốc. Ít nhất nay Ấn có khả năng đối phó sau khi bị tấn công. Và tối đa thì cũng làm Bắc Kinh suy tính kỹ hơn khi tính chuyện tấn công Ấn.

Các công ty vùng vịnh phối hợp với chính quyền liên bang chống lại tội phạm qua mạng Internet


Nhận thấy tình hình đất nước đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi các cuộc tấn công qua mạng Internet, cộng đồng an ninh quốc gia của Mỹ đang gấp rút tuyển dụng khu vực tư nhân của vùng Vịnh để chống lại các cuộc tấn công này.


 



 


Theo Steve Johnson/Mercury News


Thẩm Vân phỏng dịch


 


SAN JOSE – Có dấu hiệu cho thấy những mối lo ngại đối với tội phạm qua mạng Internet đã được chia sẻ ở cấp cao nhất của chính quyền Tổng Thống Obama, đó là hôm Thứ Hai, Bộ Trưởng Nội An Janet Napolitano đã đích thân giúp đỡ các công ty công nghệ ở San Jose.


  










(Hình minh họa lấy từ mạng http://www.cybersociology.org)


Hiện Quốc Hội đang xem xét một số dự luật để khuyến khích chính phủ và doanh nghiệp cùng chia sẻ thông tin tình báo về mối đe dọa qua mạng Internet này.


Cùng lên tiếng cảnh báo là Tướng Keith Alexander, đương kim Giám đốc Cơ quan An ninh Quốc gia và tư lệnh U.S. Cyber với nhiệm vụ bảo vệ mạng lưới quân sự. Tại một cuộc hội nghị hôm Tháng Mười, ông đã lên tiếng kêu gọi các khu vực công lẫn tư nên làm việc với nhau bởi vì “đây là điều mà chúng ta không thể tự làm một mình được.”


Quan hệ đối tác này được coi là thiết yếu để cho thấy việc đột nhập vào máy vi tính qua mạng Internet đã gây thương tổn nghiêm trọng như thế nào đến đất nước chúng ta. Một số chuyên gia cho rằng, trong tương lai Hoa Kỳ có thể sẽ bị tê liệt bởi các đối thủ trong cuộc chiến tranh qua mạng Internet này. Những người khác thì cho rằng công nghệ bị mất cắp đã làm thất thoát nghiêm trọng ngân quỹ quốc gia.


Phyllis Schneck, phó chủ tịch công ty nhánh của Intel McAfee (INTC) tại Santa Clara, người đứng đầu Trung tâm Ðào tạo và Cơ quan Ðiều tra Mạng Quốc gia trong nỗ lực chống lại các cuộc tấn công qua mạng Internet đã cho biết: “Ðó là tiếng kêu đang cuốn rút tất cả tài sản trí tuệ của chúng ta sang một nước khác.” Cô nói thêm, “Những đối thủ này nhanh hơn chúng ta.”


 


Tiền tỷ bị đánh cắp


 


Các chuyên gia ước tính rằng những vụ cắp trên mạng vi tính đã khiến Hoa Kỳ thất thoát hàng tỷ đô la mỗi năm và các cơ quan liên bang cũng đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Một số vụ tấn công tồi tệ nhất có liên quan đến Trung Quốc. Trong Tháng Bảy, Phó Bộ Trưởng Quốc Phòng William Lynn tiết lộ rằng: “Những kẻ xâm nhập qua mạng Internet từ nước ngoài đã lấy cắp hàng ngàn tỷ bytes các dữ liệu thuộc những công ty quốc phòng, từ các chi tiết kỹ thuật của bộ phận xe tăng, máy bay và tàu ngầm đến những hệ thống nhạy cảm nhất của chúng ta.”


Một số chuyên gia cho biết các công ty thường không được trả tiền cho sự giúp đỡ mà họ cung cấp cho các điều tra viên chính phủ. Nhưng rõ ràng một số lớn các công ty tại thung lũng Silicon đang cộng tác với cộng đồng an ninh quốc gia trong nỗ lực này.


Robert Sharpe, quyền giám đốc Trung Tâm Network Security Innovation cho biết, một số công ty vùng Bay bao gồm Adobe Systems (ADBE), eBay (EBAY), Intel, Cisco Systems (CSCO), McAfee và PayPal cũng đã tham gia với phòng thí nghiệm Lawrence Livermore để chống lại các tội phạm qua mạng Internet thông qua các phòng thí nghiệm an ninh mạng của trung tâm được mở cửa trong Tháng Bảy vừa qua. Họ trao đổi những thông tin mang tính đe dọa cũng như đã có những thực tập rất hữu hiệu để chống lại những cuộc tấn công qua mạng, và những hiểu biết của họ đã được chuyển đến các cơ quan khác của liên bang.


Một số các công ty như Hewlett-Packard (HP), NetApp, Symantec, VMware và Juniper Networks đang cung cấp trợ giúp tương tự như các cơ quan quân sự và tình báo thông qua một trung tâm Lockheed Martin ở Maryland.


Ngoài ra, Bộ Nội An cũng đã cho xây một Trung Tâm Nghiên Cứu và Phát Triển An Ninh Mạng tại viện nghiên cứu quốc tế Standford Menlo Park; hàng chục công ty địa phương đến chia sẻ thông tin thông qua chương trình InfraGard, một chương trình của FBI thành lập năm 1996 tại Cleveland chuyên nhận sự trợ giúp từ các công ty kỹ nghệ để giúp FBI điều tra tội phạm mạng Internet.


Ashar Aziz, giám đốc điều hành của FireEye ở Milpitas, một công ty chuyên cung cấp thiết bị chống lại các cuộc tấn công mạng, cho biết: “Chúng tôi đã cho khai triển các hệ thống trong hơn 60 khách hàng và các cơ quan thuộc liên bang, bao gồm cả Bộ Quốc Phòng và cộng đồng tình báo.” Ông cũng cho biết FireEye đã làm việc với FBI để giúp làm giảm các botnet, tức các nhóm máy tính được điều khiển bởi các tên tội phạm qua mạng Internet.


Công ty Mocana ở San Francisco sẽ giúp các cơ quan liên bang ngăn chặn các thiết bị trái phép từ việc sử dụng mạng của họ và mã hóa dữ liệu của chính phủ trong trường hợp thiết bị bị mất cắp. McAfee, hãng chuyên bán phần mềm bảo mật và giám sát những cuộc đột nhập mạng trên toàn cầu, cảnh báo chính phủ về những vụ tấn công. Trong tháng Tám, họ đã báo với cơ quan có thẩm quyền về một âm mưu đã xâm nhập rất nhiều cơ quan khiến Bộ Nội An mở các cuộc điều tra.


 


Luật về chia sẻ thông tin


 


Một số dự luật sẽ cho phép chia sẻ thêm thông tin giữa các khu vực công và tư bằng cách qui định các thủ tục về thông tin sẽ phải được trao đổi như thế nào. Nhưng một phân tích của tổ chức phi lợi nhuận Electronic Frontier Foundation cho biết các dự luật cho phép các quan chức chính phủ và phi chính phủ được toàn quyền theo dõi mọi hoạt động trên mạng có thể gây nguy hiểm cho tự do dân sự. Congressional Research Sercives đã ghi nhận một báo cáo trong Tháng Ba rằng một số doanh nghiệp có thể sẽ không quan tâm cộng tác và tránh chia sẻ các thông tin độc quyền vì sợ rằng điều đó có thể tiết lộ cho các đối thủ cạnh tranh, và họ có thể bị kiện.


Melissa Hathaway, một cựu quan chức an ninh mạng liên bang thuộc Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia và Văn Phòng Giám Ðốc Tình Báo Quốc Gia cho biết các doanh nghiệp cũng nhận ra họ sẽ tốn rất nhiều thời giờ nếu hợp tác với chính phủ trong các dự án này nên thường chỉ đóng góp các dịch vụ của họ một cách tự nguyện. Cô cho biết ít nhất có 55 liên minh công lẫn tư đã được hình thành để chống lại các tội phạm mạng và tin rằng việc giảm thuế là điều cần thiết để kích thích nhiều công ty cộng tác hơn nữa.


 


Nhiều nỗ lực cần thiết


 


Tuy nhiên, theo ông Robert Rodriguez, cựu chủ tịch Mạng Lưới Bảo Vệ Cải Tiến đã tài trợ một hội nghị tại Ðại Học Stanford có sự tham gia của Cơ Quan An Ninh Quốc Gia thuộc Bộ Quốc Phòng hồi tháng trước cho biết trừ khi các quan chức liên bang và các doanh nghiệp tăng đôi nỗ lực của họ để hành động, nếu không thì Hoa Kỳ có thể sẽ gặp rắc rối lớn. Và việc cộng tác cũng như giúp đỡ đến từ các công ty vùng Bay là rất cần thiết. Ông nói thêm, “Nó thực sự là trung tâm điểm cho tinh thần kinh doanh và đổi mới trên toàn thế giới.” Và trong khi các tội phạm qua mạng Internet tấn công liên tục với sự tàn bạo ngày càng tăng, thì “chúng ta đang ở trong giai đoạn vô cùng khó khăn!”

Biểu diễn thời trang – theo chiều dọc


BOSTON (AP) –
Một người mẫu trình bày bộ trang phục của nhà vẽ kiểu thời trang Ted Baker London trong lúc được buông dây xuống bên tường tòa nhà Revere Hotel Boston Common trong buổi trình diễn thời trang khai mạc khách sạn mới tân trang này, ở Boston, hôm Thứ Năm.

Những người mẫu trong cuộc trình diễn thời trang theo chiều dọc này đều là những vũ công hoặc nhà leo núi. (Hình: AP Photo/Steven Senne)

Năm phiến quân bị giết tại Nam Thái Lan


YALA, Thailand (Reuters) –
Năm phiến quân bị giết trong cuộc chạm súng với lực lượng chính phủ ở khu vực Nam Thái Lan, theo nguồn tin cảnh sát hôm Thứ Năm.










Thành viên đội đặc nhiệm gỡ bom của quân đội Thái kiểm tra con đường nơi phiến quân tại Narathiwat đặt bom, hôm 19 Tháng Tư, 2012. (Hình: Madaree Tohlala/AFP/Getty Images)


Ðây là cuộc giao tranh mới nhất ở vùng đông đảo người theo Hồi Giáo sinh sống đang có nhiều bất ổn do cuộc chiến đòi ly khai từ tám năm nay.


Các tay súng nói trên bị hạ sát sau khi cảnh sát bao vây nơi ẩn náu của họ trong ngôi làng ở tỉnh Yala, một trong ba tỉnh với đa số dân gốc Hồi Giáo Malay, nơi khoảng 5,000 người thiệt mạng trong các cuộc bạo động từ năm 2004 đến nay.


Vụ nổ súng xảy ra trong khi có tình trạng căng thẳng tiếp theo ba vụ nổ xe bom có phối hợp tại hai thành phố ở vùng Nam Thái Lan, cách nhau 140 km, khiến 13 người thiệt mạng hôm 31 Tháng Ba.


Ba tỉnh Yala, Pattani và Narathiwat từng thuộc một tiểu vương quốc Malay trước khi bị Thái Lan sát nhập vào lãnh thổ của họ năm 1909.


Thành phần đòi ly khai đã hoạt động từ đó đến nay, với phía người dân theo Hồi Giáo cho rằng họ bị đối xử bất công trong quốc gia Thái Lan với đại đa số dân theo Phật Giáo. Chính phủ Thái Lan phải đưa khoảng hơn 60,000 binh sĩ và cảnh sát đến khu vực này để duy trì an ninh. (V.Giang)


 



 

Nhật xóa nợ $3.7 tỉ cho Myanmar


TOKYO (AFP) –
Chính phủ Nhật dự trù xóa nợ 300 tỉ yen (khoảng $3.7 tỉ) cho Myanmar và tái lập chương trình viện trợ cho quốc gia này, theo một nguồn tin hôm Thứ Năm.










Hoàng đế Nhật Bản, Akihiko (phải) và tổng thống Miến Ðiện, Thein Sein, tại buổi tiệc trà ở Hoàng Cung Nhật Bản, hôm 20 Tháng Tư, 2012. (Hình: Toru Yamanaka/AFP/Getty Images)


Thủ tướng Nhật, ông Yoshihiko Noda, dự trù sẽ loan báo quyết định xóa nợ này trong cuộc họp với Tổng Thống Myanmar Thein Sein hôm Thứ Bảy ở Tokyo, theo nhật báo Asahi Shimbun.


“Tiếp theo việc xóa nợ, Nhật dự trù sẽ tái tục viện trợ cho Myanmar, lần đầu tiên từ 25 năm qua,” theo tờ Asahi Shimbun.


Tổng Thống Thein Sein, dự trù viếng thăm Nhật từ ngày 20 đến ngày 24 Tháng Tư, là giới chức lãnh đạo Myanmar đầu tiên đến quốc gia này trong 28 năm trở lại đây.


Trong bước đầu tiên, Nhật sẽ loan báo việc xóa món nợ 127.4 tỉ yen từng được chấp thuận trước đây nhưng hoãn thi hành trong khi Myanmar dưới sự cai trị của chế độ quân nhân độc tài, theo tờ báo.


Số tiền 176.1 tỉ yen còn lại, kể cả tiền lời và tiền phạt, sẽ được xóa với điều kiện tiến trình cải cách dân chủ được tiếp tục.


Myanmar, sau nhiều năm bị thế giới cô lập vì chế độ cai trị độc tài hà khắc, nay đang nhanh chóng tái hội nhập vào cộng đồng thế giới kể từ sau cuộc bầu cử hồi năm ngoái đưa một chính quyền dân sự có khuynh hướng cải cách lên điều hành đất nước. (V.Giang)

Fort Ord: Ðồn lính cổ thành địa điểm tưởng niệm quốc gia

 

 

WASHINGTON (NV) – Tổng Thống Barack Obama vừa ký công nhận một đồn binh bỏ hoang nằm ở duyên hải miền Trung California, làm địa điểm tưởng niệm quốc gia, theo tường thuật của USA Today.

Bưu thiếp với hình ảnh Fort Ord, California. (Hình: Thelilsicboy/Wikimedia/Public Domain)

Fort Ord nằm cạnh bên vịnh Monterey Bay, được thành lập năm 1917 để làm nơi thực tập hành quân và tác xạ pháo binh của Lục Quân, đến Tháng Chín 1994 thì đóng cửa. Từ đó Fort Ord được chuyển giao cho dân sự và biến thành nơi bảo tồn sâu bọ và loài bướm quí hiếm Smith’s blue butterfly đầu tiên ở Hoa Kỳ.

Bản văn của Tòa Bạch Ốc có đoạn nói: “Fort Ord là một địa điểm thuộc tầm vóc quốc tế, dành cho người thích di hành, leo núi và sinh hoạt ngoài trời, người ta đến đây để hưởng thụ cảnh quan có tính cách lịch sử.”

TT Obama vinh danh Fort Ord chiếu theo đạo luật Antiquities Act, vốn được 16 đời tổng thống sử dụng đến từ năm 1906, để vinh danh những danh lam thắng cảnh như Grand Canyon và tượng Nữ Thần Tự Do.

Qua một văn bản gửi đến báo Mercury News ở San Jose, TT Obama nói: “Cảnh sắc tuyệt vời của Fort Ord sống với kỷ niệm của hằng ngàn cựu chiến binh từng đến đây để nếm mùi đầu tiên của đời quân ngũ, và cũng là điểm dừng chân cuối cùng trước khi đi vào cuộc chiến, hoặc là hậu phương trong đời làm lính của họ.”

TT Obama thêm: “Ðịa điểm tưởng niệm quốc gia này không chỉ để bảo tồn vùng duyên hải quí báu của California, mà còn để vinh danh sự hào hùng của nam nữ công dân Hoa Kỳ, từng phục vụ cho đất nước và từng chiến đấu qua các cuộc xung đột lớn của thế kỷ thứ 20.” (TP)

Việt Nam: Xăng tăng giá, thị trường hỗn loạn


VIỆT NAM (NV)
Tin tăng giá hai lần trong vòng hai tháng qua khiến người dân ở Việt Nam bu đen để đổ đầy bình tại các trạm xăng.

Cảnh chen lấn mua xăng trước giờ tăng giá. (Hình: VNExpress)

Báo Tuổi Trẻ cho biết, dân chúng Việt Nam tại các thành phố lớn như Sài Gòn, Hà Nội, Ðà Nẵng đua nhau đưa xe đến các trạm xăng liền sau khi nghe tin giá xăng tăng thêm 900 đồng/lít, tương đương 4.5 cent.

Tối 20 tháng 4, các trạm xăng đầy nghẹt người và xe kể từ lúc 7 giờ, trước một tiếng đồng hồ giá xăng chính thức được “điều chỉnh.” Nhiều người thốt lên thảm thiết tại trạm xăng ở đường Trưng Nữ Vương, Ðà Nẵng: “Ðổ xăng gấp để vớt vát, lợi được bao nhiêu hay bấy nhiêu. Xăng tăng giá liền liền như vầy chắc chết quá.”

Cũng theo báo Tuổi Trẻ, để đối phó với hàng rào người ùn ùn vây chặt, một số chủ trạm xăng ở Ðà Nẵng ra lệnh đóng cửa, nghỉ bán.

Nhiều trạm xăng ở Sài Gòn cũng ngừng bán để chờ đến giờ áp dụng giá xăng mới. Một chủ trạm xăng ở đường Nguyễn Kiệm, quận Gò Vấp cho biết họ cũng phải “vớt vát, kéo lên đồng nào hay đồng nấy.”

Theo VNExpress, nhiều người hay tin xăng tăng giá lên 23,800 đồng/lít, tương đương gần 1.19 đô/lít trước đó hơn một tiếng đồng hồ. Vì việc tăng giá xăng không diễn ra đột ngột như những lần trước cho nên người ta có thể nhìn thấy cảnh hỗn loạn diễn tại hầu hết các trạm xăng.

Tại trạm xăng ở góc đường Nguyễn Trãi-Trần Hưng Ðạo, Chợ Lớn, một số tài xế taxi giật vòi để tự bơm xăng vào xe vì không đủ kiên nhẫn chờ đợi đến lượt mình.

Theo báo Dân Trí, đây là lần tăng giá xăng thứ hai kể từ đầu năm 2012 cho đến nay. Giá xăng ở Việt Nam tính từ ngày 20 tháng 4 tương đương 4.49 đô/gallon. Ðiều mà người dân ở Việt Nam lo lắng là giá xăng đã lên thì không bao giờ xuống. Trước đó, báo Pháp Luật cho biết, bốn công ty nhập cảng xăng gồm Petrolimex, Sài Gòn Petro, PV Oil và Công ty Thương mại Dầu khí Ðồng Tháp đã đồng loạt đề nghị tăng giá xăng để tránh lỗ.

Một phụ nữ mang bình đi mua xăng với vẻ mặt thất thần tối 20 tháng 4 tại Sài Gòn. (Hình: báo Tuổi Trẻ)

Nhiều người lo ngại rằng sau mỗi lần xăng tăng giá thì lập tức giá cả hầu hết các hàng hóa và dịch vụ khác đều kéo lên theo.

Báo Pháp Luật hồi tuần rồi còn trích đăng tuyên bố của một viên chức lãnh đạo Cục Quản Lý Giá Việt Nam nói sẽ “rà soát thận trọng khi đưa ra quyết định tăng giá xăng.” Tuy nhiên, chỉ một tuần lễ sau thì giá xăng mới được tung ra.

Ðiều cuối cùng còn lại là dư luận chờ đợi cơn “bão giá” mới nhất lại sẽ ập đến trong vòng vài tuần lễ tới.

Một năm nữa mới biết vì sao xe cháy


VIỆT NAM (NV) –
Trong khi giới hữu trách bối rối tìm cách ngăn chận thì nạn xe cháy tiếp tục diễn ra. Vụ mới nhất xảy ra sáng ngày 19 tháng 4 tại huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước.










Người chủ xe là ông Trần Cao Chương 37 tuổi, cư dân tỉnh Bình Phước cho biết chiếc xe đang chạy trên quốc lộ, đoạn đi ngang huyện Bù Gia Mập thì đột ngột phát hỏa. Ông Chương nhảy ra khỏi xe, tri hô cầu cứu. Tuy nhiên, báo Thanh Niên cho biết, chiếc xe đã bị thiêu rụi hầu như hoàn toàn chỉ 20 phút sau.


Còn theo báo Dân Trí, một phúc trình của cục cảnh sát phòng cháy – chữa cháy thuộc Bộ Công An cộng sản Việt Nam nói rằng trong năm 2011 có 196 vụ cháy xe hơi và xe gắn máy trong toàn quốc. Khoảng 50% các vụ cháy này cho đến nay vẫn chưa xác định được nguyên nhân.


Cũng theo báo Dân Trí, số vụ cháy xe tăng vọt trong vòng ba tháng đầu năm 2012 với 47 vụ và có đến 40 vụ không xác định được nguyên nhân, chiếm tỉ lệ 85%.


Báo này cho rằng tình trạng cháy xe tiếp tục lan tràn khiến người dân ngày càng thêm hoang mang, bất chấp việc Bộ Trưởng Bộ Giao Thông-Vận Tải Việt Nam Ðinh La Thăng đứng ra nhận trách nhiệm.


Nỗi hoang mang tiếp tục kéo dài bất chấp cả việc thủ tướng cộng sản Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đích thân chỉ thị các bộ giao thông – vận tải, công an, công thương và kế hoạch – đầu tư điều tra nguyên nhân cũng như tìm cách ngăn chặn tình trạng này tiếp diễn.


Tin Dân Trí còn cho biết mới đây, cục trưởng Cục Ðăng Kiểm Việt Nam thuộc Bộ Giao Thông-Vận Tải Trịnh Ngọc Giao cho biết đã soạn thảo một dự án nghiên cứu để tìm nguyên nhân làm cháy xe tại Việt Nam. Bốn đơn vị cùng tham gia việc thực hiện dự án này bao gồm trường Ðại Học Bách Khoa Hà Nội; trường Ðại Học Giao Thông-Vận Tải Hà Nội; Viện Công Nghệ Hóa Dầu thuộc Bộ Công Thương và Trung Tâm Thử Nghiệm Xe Cơ Giới thuộc Cục Ðăng Kiểm Việt Nam. Tuy nhiên, ông này nói rằng thời gian nghiên cứu của 4 đơn vị trên sẽ kéo dài đến 18 tháng mới hoàn tất.










Nạn cháy xe gắn máy hoành hành không ngớt tại Việt Nam. (Hình: Báo Dân Trí)


Ông Giao cho biết thêm, nếu có rút ngắn thời gian thì cũng ít nhất một năm nữa mới có thể công bố được nguyên nhân làm cháy xe hơi và xe gắn máy hàng loạt tại Việt Nam hiện nay.


Báo Dân Trí còn cho biết, ngay sau khi nguồn tin này được tung ra đã gặp phải sự phản đối ồn ào của dư luận. Có người cho rằng một năm nữa mới biết được nguyên nhân cháy xe là thời gian quá dài. Người ta e rằng từ nay đến lúc đó sẽ có không dưới 100 chiếc xe nữa làm mồi cho… thần hỏa. Tài sản của người dân tiếp tục bị thiêu hủy một cách không thương tiếc.

Trộm bò để cứu vợ, bị bắt


NGHỆ AN (NV) –
Thiếu tiền bệnh viện tiếp máu cho vợ bị băng huyết, một nông dân trộm bò của người hàng xóm. Âm mưu bị bại lộ, nợ không trả được, ông này lại lâm cảnh tù tội.



Hai người đàn ông trộm bò bị bắt. (Hình: Bee.net.vn)


Người lâm bước đường cùng này là ông Lê Văn Thạch, ngụ tại huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.


Bee.net.vn cho biết, ba tuần lễ trước đó, ông Thạch đưa vợ đến bệnh viện cứu cấp vì bị băng huyết. Tại đây, vợ của ông được bệnh viện tiếp máu và tính tiền viện phí tổng cộng 10 triệu đồng, tương đương 500 đô la.


Kiếm tiền nộp cho bệnh viện để vợ được xuất viện không ra, ông Thạch bí quá liền nghĩ kế rình trộm bò của người hàng xóm.


Khoảng 10 giờ đêm 18 tháng 4, ông Thạch cùng với một người nữa trộm được bò, dắt về nhà. Tuy nhiên, sáng hôm sau, người hàng xóm thấy mất bò, đi tìm kiếm khắp nơi và bắt được quả tang hai người đàn ông đang dắt bò của mình trên đường ra chợ.


Ông Thạch bị bắt trong khi vợ của ông này vẫn còn đang kẹt lại bệnh viện vì không có tiền trả viện phí.

Trung Quốc thả 21 ngư dân Việt Nam

Giữ lại một tàu đánh cá

 

HÀ NỘI (NV) –Trung Quốc thả 21 ngư dân của huyện đảo Lý Sơn khai thác hải sản gần quần đảo Hoàng Sa bị họ bắt giữ nhưng còn giữ lại một tàu đánh cá không trả.

Hơn 30 tàu cá của xã An Hải, huyện Lý Sơn nằm bờ vì dầu lên giá. (Hình: Người Lao Ðộng)

Bản tin Tân Hoa Xã từ Quảng Châu ngày Thứ Sáu nói nhà cầm quyền Trung Quốc trả tự do cho 21 ngư dân từng bị bắt giữ ngày 3 tháng 3 trên 2 tàu đánh cá ở khu vực gần quần đảo Hoàng Sa mà họ gọi là “đánh cá trái phép.”

Bản tin này nói các ngư dân Việt bị buộc phải ký tờ giấy cam kết “không xâm phạm vùng biển của Trung Quốc, đặc biệt là để đánh cá.” Nhóm ngư dân này bị Trung Quốc cáo buộc có trên tàu 25 kg chất nổ và các dụng cụ đánh cá bằng mìn.

Bản tin của TTXVN thuật theo tin của Bộ Ngoại Giao Hà Nội nói: “Việt Nam sẽ làm việc với phía Trung Quốc về tàu cá còn lại.”

Khi các ngư dân Lý Sơn mới bị bắt đưa về đảo Phú Lâm trong quần đảo Hoàng Sa, họ được cho gọi điện thoại về nhà thúc giục nộp tiền chuộc mỗi đầu người 70,000 nhân tệ hay khoảng $11,000 USD, một số tiền rất lớn đối với ngư dân Việt Nam.

Thân nhân của các người bị bắt bồn chồn muốn bán nhà, bán tài sản để chuộc người nhưng đã được khuyến cáo chờ đợi.

Hơn 2 tuần sau khi họ bị bắt giữ, nhà cầm quyền Hà Nội đã phản đối Trung Quốc bắt giữ ngư dân Việt vì họ đánh cá trong khu vực quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Việt Nam nói rằng đại diện Bộ Ngoại Giao Việt Nam đã gặp đại diện Tòa Ðại Sứ Trung Quốc ở Hà Nội để phản đối và đòi thả ngư dân và hai chiếc tàu. Sau nhiều vận động ngoại giao, tuy ngư dân được thả nhưng vẫn bị giữ lại một chiếc tầu đánh cá. Cách cư xử như thế này của Trung Quốc đã từng xảy ra trong quá khứ. Họ dồn tất cả các ngư dân bị bắt giữ lên một chiếc tàu, chỉ cho một ít dầu, tịch thu hết ngư cụ, trang bị hải hành, ngư sản rồi đuổi về, giữ lại một số tàu.

Trong khi Trung Quốc thả 21 ngư dân của huyện đảo Lý Sơn, tin trên báo Ðất Việt hôm Thứ Sáu cho hay một chiếc tàu khác của ngư dân Việt Nam tuy không bị bắt giữ nhưng đã bị tịch thu hết ngư sản đã đánh được.

Báo Dân Việt thuật lại cho biết, “Tàu cá của ông Phạm Cảnh (thôn Ðịnh Tân, xã Bình Châu tỉnh Quảng Ngãi) trong khi câu mực ngoài khơi tại vùng biển Hoàng Sa thì bị tàu Hải Quân Trung Quốc bắt. Trung Quốc đã tịch thu của ông Cảnh 1 giàn câu bổ gồm 300 lưỡi câu, 50 tấn lưới ba, 1 đàn dây neo và khoảng 7 tạ cá. Sau đó tàu Hải Quân Trung Quốc xua đuổi tàu ông Cảnh ra khỏi khu vực quần đảo Hoàng Sa. Hiện tàu ông Cảnh đang trên đường chạy về đất liền.”

Hiện nay ngư dân đánh cá xa bờ của Việt Nam đang đối diện với hai khó khăn. Dầu lên giá ra khơi sẽ lỗ vốn, còn nếu ra khơi và đến ngư trường gần Hoàng Sa lại bị Trung Quốc bắt giữ. Ðến giữa tháng 6 tới đây, Trung Quốc sẽ cấm ngư dân Việt Nam đánh cá trên Biển Ðông (nhiều phần trong phạm vi “Lưỡi Bò” đến đầu tháng 8 tức vào đúng chính vụ của ngư dân Việt Nam.)

Báo Người Lao Ðộng ngày 9 tháng 4 loan tin 60 trong số 410 tàu đánh cá của huyện đảo Lý Sơn đã phải nằm bờ vì giá xăng dầu leo thang. Bây giờ, nhà cầm quyền vừa mới tăng giá xăng dầu thêm lần nữa.

Ngày 13 tháng 4, TTXVN loan tin và được một số tờ báo diễn dịch lại là nhà cầm quyền trung ương sẽ cổ động chương trình “bọc thép” đoàn tàu đánh cá xa bờ, khởi đầu với đoàn tàu đánh cá của huyện đảo Lý Sơn rồi “nhân rộng ra 28 tỉnh, thành ven biển.”

Ông Lê Viết Chữ, phó chủ tịch UBND Quảng Ngãi được tường thuật trên báo điện tử VTC nói tỉnh này “đang cùng với tập đoàn công nghiệp tàu thủy Vinashin ký kết đóng thí điểm 20 tàu (đánh cá) vỏ thép công suất 600-800 mã lực để hỗ trợ ngư dân các địa phương ven biển, gồm Bình Sơn, Tư Nghĩa, Ðức Phổ và huyện Lý Sơn.”

Tin mới cập nhật