Sắt Son

 


LTS: Tác giả là vợ một người tù cải tạo, năm nay đã gần 80 tuổi vừa gửi cho trang Cựu Chiến Binh/Người Việt bài thơ rất cảm động sau đây. Trang Cựu Chiến Binh xin được chuyển đến quí chiến hữu.


Riêng tặng các gia đình HO. Tặng các chị “Cùng một lứa ‘Bên trời lận đận… ’ ’” (thơ Vũ Hoàng Chương)


 


Tin truyền: “Chuẩn bị mươi ngày!


Ở ăn học tập cả ngày lẫn đêm!”


Tập trung ở Don Bosco (1)


“Em ơi, gắng nhé trông con ở nhà!”


Thế rồi, đã mười ngày qua,


Mười năm vẫn đợi, vẫn chờ từng đêm!


Từ Long Giao đến Biên Hòa


Yên Bái, Phú Thọ qua Hà Nam Ninh


Núi Chứa Chan, đồi phượng Vĩ ngày nào (2)


Anh đi biền biệt, chẳng mong ngày về.


Thăm nuôi lội suối, băng ngàn


Chân mòn, gối mỏi, chẳng sờn lòng son.


Nuôi chồng ở tận phương xa


Muối vừng cơm độn, vợ con dành phần


Xa xôi cách núi ngăn sông,


Thân cò lặn lội thay chồng nuôi con


Ngày ngày buôn bán tảo tần


“Sáng ra chợ sáng, chiều qua chợ chiều”


Mỗi năm con mỗi lớn khôn,


Nhớ cha thương mẹ, chăm lo học hành


Anh đi mấy dặm non ngàn


Sống đời khổ hận, tù đày đắng cay


Vợ con mòn mỏi ngóng trông


Quê nhà vẫn đợi, vẫn mong ngày về


Xa xôi biền biệt bao năm


Ngậm ngùi giọt ngắn giọt dài xót xa


Lắng nghe tiếng chó sủa đêm


Ru con khản tiếng ví dầu ầu ơ


Cha con dù ở nơi đâu,


Thân tù cơ cực, một lòng bền gan


Dù cho trăm đắng ngàn cay


Chí cao chôn chặt, tấc lòng khôn nguôi


Mong ngày rửa hận phục thù


Dành từng tấc đất, giữ thơm quê mình.


Trải qua bao dặm sơn khê,


Một lòng gắn bó đôi bờ cách ngăn


Quê xưa một mảnh trăng thề,


Một lòng chung thủy, không hề phôi pha


Diệu Minh 2012


 


Ghi chú:


(1) Long Giao, Suối Máu Biên Hòa, Yên Bái, Tân Lập, Vĩnh Phú, Núi Chứa Chan (Gia Ray) là những nơi mà chồng tôi đã bị cầm tù.


(2) Ðồi Phượng Vĩ, núi Gia Ray là hậu cứ của Trung Ðoàn 52 do Ðại Tá Trung Ðoàn Trưởng Ngô Kỳ Dũng đóng quân, về sau chính anh Dũng cùng nhà tôi đã chuyển trại về đây cùng ngày.

Loại cây dâu nào chữa được bịnh ung thư?

 


 


LTS: “Cây Trái Vườn Sau” là mục nhằm giải đáp thắc mắc về các vấn đề liên quan đến cây trái. Người phụ trách là nhà văn Nguyễn Dũng Tiến, chủ nhân vườn cây LA Mimosa Nursery, 6270 East Allston Street, Los Angeles, CA 90022-4546. Tel: (323) 722-4543.


Quý vị có thể gửi câu hỏi liên quan đến cây trái về: Tòa soạn Người Việt (Cây Trái Vườn Sau) 14771 Moran street, CA 92683. Ðiện thoại (714) 933.7935, hay email: [email protected].


 


1. Câu hỏi của độc giả Ðào Ái Nguyễn:


Xin ông cho biết có mấy loại cây dâu nuôi tằm và chính xác loại nào người ta dùng để chữa ung thư và ông có loại đó không? Ông cho biết giữa lá cây dâu và lá mãng cầu xiêm, loại nào chữa ung thư tốt hơn? Cám ơn ông.


* Nhà văn Nguyễn Dũng Tiến trả lời:


Chúng tôi chỉ có thể trả lời nửa phần câu hỏi của bà, phần còn lại hoàn toàn ngoài phạm vi hiểu biết của chúng tôi. Nhưng cá nhân tôi vẫn chân thành đề nghị với bà, suy nghĩ lại về những loại lá cây để chữa những bệnh nan y, nên tham khảo với y sĩ trước khi sử dụng. Nếu nhớ không sai, cách đây 19 năm, báo Việt ngữ có đăng một bản tin y học, nội dung: Y khoa Hoa Kỳ đang nghiên cứu lá đu đủ có thể chữa được bệnh ung thư hay không? Cả cộng đồng người Việt Nam xôn xao, những gia đình có thân nhân bị ung thư, trên bờ tuyệt vọng đã lùng mua cây đu đủ và lá với hy vọng, đó là cái phao cuối cùng. Nhiều năm trôi qua, lá đu đủ vẫn chưa được y khoa Hoa Kỳ tìm ra được chất để trị bệnh ung thư. Mùa Xuân 2011, trên mạng có tin đồn, lá mãng cầu xiêm chữa được bệnh ung thư, mọi người lại đổ dồn đi tìm kiếm, nhưng y học vẫn chưa chứng minh được điều đó.


Cây dâu nuôi tằm đã xuất hiện nhiều ngàn năm, cây có thể sống còn được với những vùng hạn hán, ngược lại nơi nào có nhiều nước, cây mọc rất nhanh, tơ lụa đã phát triển sau đó. Trên thế giới hiện giờ có rất nhiều loại cây dâu nuôi tằm, từ dạng cây ăn trái, lấy lá nuôi tằm, làm cây cho bóng mát hay xa hơn còn biến thành loại cây cảnh khá đẹp cho một trang cảnh sân trước lẫn sân sau.









Morus Nigra. (Hình: Wikipedia)


Khoảng 25 năm về trước, cộng đồng người Việt chúng ta rất mù mờ về cây táo Tàu do quê nhà chúng ta không có loại cây này. Vì thế vào thời điểm này cây không được thịnh hành cho lắm. Ngược lại, hiện nay cây táo Tàu là loại cây bán nhiều nhất trong những loại cây ăn trái. Cũng vậy, cây dâu nuôi tằm loại cho trái để ăn chưa được thịnh hành lắm trong cộng đồng. Lý do chính, có thể loại trái này không thể bán vì trái sẽ bị dập ngay khi hái và không thể di chuyển xa. Một vài năm nay, cộng đồng người Việt đã bắt đầu để ý vì một khi đến ngay gốc cây trong mùa trái, tay hái trái ăn, chân không muốn rời. Chúng tôi xin nêu ra một vài loại dâu điển hình đang thịnh hành trên tinh thần lấy trái ăn, không phải lấy lá làm thuốc.


– Morus nigra: Trái đen, rất ngon, ngọt, có vài giống trên thị trường, thường những giống ngon đều đến từ Trung Ðông, trái có thể dài đến hai phân Anh.


– Morus alba: Trái trắng hoặc trắng hồng, ngon và vô cùng ngọt, đặc biệt là giống đến từ Pakistan, trái có thể dài đến ba phân rưỡi, bên cạnh giống trái trắng này, có một giống (morus alba pendula), cây rất đẹp, cành rũ xuống như một cái dù, thích hợp cho một trang cảnh nhã nhặn, gọn ghẽ, trái rất ngon, trẻ con hái cũng được.


Ngoài ra giống dâu nuôi tằm Việt Nam cũng hiện hữu tại Hoa Kỳ nhưng trái không đáng kể.


Chúc bà may mắn và nhiều can đảm.









Morus Alba. (Hình: Cándido Gálvez Ramírez & Rafael Navarro Cerrillo)

2. Câu hỏi của độc giả Gina Nguyen:


Nhà tôi trồng cây bưởi Biên Hòa, trái rất ngọt nhưng sao khô lắm. Không biết làm sao cho hết khô? Cây thanh long cần bón phân và cách chăm sóc sao cho trái nhiều và ngon. Cây fuji apple chưa ra trái, xin chỉ cho cách trồng và bón phân.


* Nhà văn Nguyễn Dũng Tiến trả lời:


Nếu giống bưởi Biên Hòa bị khô, bà nhớ tỉa cành sớm lúc đầu năm, cho đến giữa tháng 2 Tây để ép cho hoa ra sớm, chu kỳ của trái đòi hỏi một năm kể từ lúc nở hoa cho đến lúc hái trái. Do đó nếu tỉa sớm, ánh sáng mặt trời làm việc nhiều hơn trên lá, tạo chất đường cho trái và trái tự động sẽ có nhiều nước. Trường hợp tháng 2 cây vẫn còn trái của năm trước, tỉa bỏ bớt những cành không có trái, sau đó khi hết trái, tỉa phần còn lại.


– Cây thanh long hay bất cứ cây gì nếu để quá nhiều trái, đương nhiên chúng ta không thể có được phẩm chất hảo hạng, trái ngon nhờ nhiều ánh sáng mặt trời.


 

Bánh bột lọc trần

 


Người hướng dẫn: 4ever1nl0ver


 


Vật liệu:


– 1 gói bột năng (14 oz).


– 1 bó hành lá: rửa sạch, cắt nhỏ phi với dầu, đầu hành thì đập giập để ướp vào tôm, thịt.



– 1/2 lbs tôm (size nhỏ, không đầu): lột vỏ, ướp chút hành, tiêu.


– 1 lbs thịt ba chỉ: luộc sơ, cất miếng dài nhỏ, ướp chút hành, tiêu, đường, nước mắm.


– 2 củ hành tím, 2 tép tỏi: lột vỏ, bằm hoặc xay nhuyễn.


– Dầu ăn, đường, muối, nước mắm, tiêu, ớt, chanh…


 


Cách làm:


* Nhân bánh:


– Bắc chảo nóng, đổ ít dầu vào, phi thơm hành tỏi, cho thịt vào rim đến khi thịt thật săn thì cho tôm vào (thêm chút nước màu), đảo đều, nêm nếm lại với nước mắm, đường cho vừa. Rim đến khi nước sệt lại thì tắt bếp.



* Vỏ bánh:


– Nấu sôi 2 cup nước. Cho bột ra thố, đổ nước đã sôi từ từ vào bột (khoảng 1 1/2 cup).


– Lấy đũa quậy đều đến khi thấy bột se lại thì bắt đầu nhồi.


– Nhồi cho đến khi bột thật mịn và dẻo (vừa nhồi vừa thoa bột năng lên tay cho khỏi bị dính).


– Vo thành từng cục tròn nhỏ, cán mỏng đều.


– Cho nhân vào (1 con tôm + 1 miếng thịt), gấp lại.


– Lấy tay bấm viền bánh lại cho kín (hoặc nhún tai bèo tùy ý thích).



* Luộc bánh:


– Bắc nồi nước, chờ sôi bỏ bánh vào luộc (đừng để nước sôi mạnh, bánh sẽ bị xì)


– Khi thấy bánh nổi lên và trong là chín, vớt bánh ra nhúng vào 1 thau nước lạnh, để ra rổ thưa cho ráo nước.


– Cho ra dĩa thoa mỡ hành vào để bánh khỏi bị dính nhau.


– Dọn kèm 1 chén nước mắm nguyên chất (dằm thêm ớt hiểm ) và 1 chén nước mắm pha (gồm nước ấm, chanh [thật ít], đường, tỏi, nước mắm, ớt xay). Ai thích thứ gì thì dùng thứ đó.


 

Jeans: Muôn màu và muôn vẻ

 


Hà Giang/Người Việt


Cách đây hơn một thế kỷ, khi công ty Levi Strauss chế ra chiếc quần Jeans tân thời, quần Jeans được may bằng thứ vải dầy, rất bền, dành cho những người làm việc làm việc tay chân lao động.







Tùy theo cách trang sức và chiếc áo đi kèm, chiếc quần Jeans có thể sẽ rất thanh lịch. (Hình: www.alexiafashionworld.com)


Với thời gian, chiếc quần Jeans biến đổi nhiều, ngày càng thông dụng, và được phụ nữ mọi giới, mọi thành phần, mọi tuổi trên khắp thế giới ưa chuộng, và quần Jeans ngày nay không còn là trang phục riêng của phụ nữ Hoa Kỳ nữa.


Ngoài tiện lợi, trẻ trung và bình dị, lý do chính mà đa số phụ nữ đều thích mặc quần Jeans, là vì chúng rất “uyển chuyển”.


Thật vậy, những chiếc jeans rất căn bản này là một cái nền thật linh động, trên đó người mặc có thể tạo cho mình nhiều dáng vẻ khác nhau, thanh lịch, phong sương, hay rất nữ tính nữa.


Muốn thanh lịch? Các cô chỉ việc chọn kiểu quần jeans ôm sát người, ống bó, cộng thêm đôi giầy cao gót, chiếc áo lụa, và sợi dây chuyền bằng vàng hay sterling silver (tùy theo màu áo), và đội thêm mũ thì rất “chic”.


Muốn phong trần? Các cô thường mặc Jeans với chiếc T-shirt bạc màu bỏ ngoài quần và khoác theo đôi ủng.








Màu xanh lơ cổ điển, vải mềm và những hạt rhinestones khiến bộ áo Jeans này mang đầy nữ tính. (Hình: www.alexiafashionworld.com)


Muốn thư sinh? Áo sơ mi trắng bỏ gọn trong quần Jeans xanh thì không gì dễ thương bằng.


Nhưng theo giới nghiên cứu thời trang, đến Mùa Xuân năm 2012, quần Jeans còn tiến xa hơn nữa vào lãnh vực thanh lịch.


Sự hợp tác giữa giới vẽ kiểu và giới dệt vải đã giúp nhiều kiểu áo Jeans trong đó có blouse, và áo đầm được may bằng hàng jeans mềm mại ra đời. Ðể tăng sự mềm mại rất nữ tính cho bộ trang phục Jeans, người ta còn đính những hạt rhinestones vào thân áo.


Nghịch ngợm hơn, còn có cả những chiếc quần short bằng jeans trông vừa xinh và vừa thật táo bạo.







Thời nay ngoài màu đen, xanh, Jeans còn có những màu rất bắt mắt. (Hình: www.alexiafashionworld.com)


Ðiểm nổi bật nhất là trong mùa này, kiểu quần jeans bó sát người mầu đậm hay màu đen được ưa chuộng nhất. Trên chiếc quần bó này, người ta có thể mặc chiếc áo thun dài, hay chiếc váy ngắn. Ngoài màu đen hay màu xanh lơ đậm nhạt khác nhau, Jeans Mùa Xuân này còn có nhiều màu sắc thật độc đáo như đỏ, tím, xanh dương và xanh rêu.


Nhưng là màu gì, vải gì, tinh nghịch, sexy hay thanh lịch, người mặc Jeans lúc nào cũng có thể yên tâm là với chiếc quần jeans, họ không bao giờ cảm thấy bị lỗi thời.


_____


Liên lạc tác giả: [email protected]

Có phải anh chỉ “tám” chuyện với tôi

 





LTS:
“Biết Tỏ Cùng Ai” do cô Nguyệt Nga và anh Vân Tiên phụ trách, nhằm mục đích góp ý, chia sẻ những ưu tư, vướng mắc về những vấn đề liên quan đến cuộc sống, đời thường mà quý vị không biết tỏ cùng ai. Thư từ xin gửi về: Người Việt (Biết Tỏ Cùng Ai) 14771 Moran St. Westminster, CA 92683, hay email: [email protected].

 


Chào cô Nguyệt Nga và anh Vân Tiên.


Trước hết có vài lời chúc sức khỏe gửi đến cô và anh… Sau nhờ cô và anh… người ngoài cuộc có thể dành chút thời gian cho tôi vài lời khuyên làm cách nào để tôi có thể vơi đi nỗi buồn hiện nay vì tôi cứ trong vòng lẩn quẩn cho rằng mình đã sai sót không tế nhị… nên kết quả buồn như hiện nay…


Tôi đã 50, anh lớn hơn tôi 8 tuổi… ly dị vợ mười mấy năm nay… Anh ở miền Ðông… tôi hiện đang sống ở Bolsa… Tôi và anh quen nhau qua mạng đã 2 năm, gặp nhau 1 lần, sau vài tháng quen nhau nhưng khi anh qua chơi ở Calif. vì bận đi làm, tôi không có thời gian dành cho anh… Sau đó anh trở về miền Ðông… có giận hờn đôi chút đó nhưng chúng tôi vẫn liên lạc trở lại bình thường và trò chuyện mỗi ngày qua email rất vui vẻ… Tôi có cho anh biết thấy tuyết lạnh rất sợ… còn anh thì vướng bận nhà cửa và công việc làm không thể chuyển đổi… Rồi mọi chuyện cũng trôi qua… anh cũng nói bóng nói gió… nếu tôi là vợ anh thì thế này thế nọ… đôi lúc tôi cũng hưởng ứng nhưng cũng có lúc làm thinh vì thật lòng có sợ tuyết lạnh đó nhưng do hoàn cảnh, tôi còn mẹ già phải chăm sóc không nỡ ra đi… Tôi thấy vui và hạnh phúc khi được nói chuyện với anh mỗi ngày vì tính hài hước của anh nhưng thỉnh thoảng cũng tranh cãi vì anh là 1 sĩ quan của VNCH nên rất ghét Cộng sản… còn tôi thì lớn lên ở Vi?t Nam hơn nữa đời người dĩ nhiên không nhiều thì ít vốn từ ngữ cũng bị ảnh hưởng… Anh thường hay chọc quê tôi… rồi thì mọi chuyện cũng qua… Nhưng cách nay 2 tuần tôi nói anh “cá biệt”… anh không hài lòng với từ này và nói: Thấy rùng mình mỗi khi thấy từ Việt cộng… Tôi đã nói đùa: Nếu anh còn quen em thì anh sẽ còn rùng mình dài dài… Chỉ vì 2 câu nói này mà anh cắt đứt không liên lạc với tôi mặc dù mỗi ngày tôi đều đặn email cho anh với sự thắc mắc muốn anh trả lời: Không lẽ tôi đã sai… khi đùa quá đáng như thế… làm anh giận thật sự…


Mong cô Nguyệt Nga và anh Vân Tiên trả lời giúp sau khi đọc những dòng tâm sự của tôi:


– Việc tôi đùa với người bạn như thế có quá đáng không? Hiện nay tôi buồn nhiều có phải tôi đã đặt nặng tình cảm nơi anh?


– Việc anh cắt đứt với tôi vì lý do như thế có phải chỉ là một cái cớ… Và có phải suốt thời gian qua anh chỉ “tám” chuyện với tôi cho qua ngày chứ không có tình cảm gì hết… và hiện nay anh đang tìm cho mình 1 đối tượng khác phù hợp hơn…


– Và bây giờ tôi sẽ làm những gì để không buồn phiền nữa vì cứ tự trách mình…


Rất mong được sự gỡ rối.


Chân thành cám ơn.


Lê Tr.


 


Nguyệt Nga góp ý:


Ðọc thư bạn, Nguyệt Nga thấy người đặt nặng tình yêu là anh ấy chứ không phải bạn. Này nhé, quen nhau chỉ vài tháng là anh bay về Bolsa thăm bạn. Chắc chắn là bạn biết ngày anh về, vậy mà bạn cứ đi làm để rồi không có thời gian dành cho anh. Khi anh nói bóng nói gió chuyện hôn nhân thì có khi bạn hưởng ứng mà cũng có khi làm thinh. Bạn cũng không muốn theo anh vì sợ… tuyết, và sợ bỏ mẹ già! Nguyệt Nga tin 1000/100 mẹ bạn sẽ đi theo cùng trời cuối đất nếu chỗ đó làm bạn hạnh phúc.


Người ta nói: Yêu nhau ba bốn núi cũng trèo, bảy tám sông cũng lội, mấy vạn đèo cũng qua. Bạn toàn nại những cớ không chính đáng để không “qua”. Như thế còn trách ai!


Việc bạn đùa như thế đương nhiên là không quá đáng. Bạn buồn nhiều vì bạn muốn nhận nhiều, mà nhận nhiều sao được, khi không cho nhiều mà đòi nhiều.


Ảnh là người hài hước, vui vẻ, hay đùa… Cho nên lý do mà anh cắt đứt với bạn nhiều phần không phải vì bạn đùa.


Bạn muốn hết buồn phiền thì nên quên ảnh đi, vì theo cảm nhận của Nguyệt Nga thì bạn đang yêu bạn hơn yêu anh ấy, và anh ấy thì yêu bạn ít hơn yêu bản thân.


Lê Tr. ơi!


Chồng gần không lấy đi lấy chồng xa.


Một mai cha yếu mẹ già. Chén cơm ai bới, bộ kỷ trà ai lo


 


Vân Tiên trả lời:


Chị Lê Tr. thân mến,


Chị đã quen nhằm người cá biệt, thì thế nào cũng có lúc người ta hành xử theo kiểu của người cá biệt.


Nói chung là mỗi người có một (hay nhiều) cái tật. Anh ấy – không biết tên gì, nhưng chị đã nói anh ấy cá biệt thì Vân Tiên gọi anh ấy là ông CB – ông CB có một cái tật là ghét những chữ xuất hiện sau 1975. Ông CB không muốn người khác dùng chữ đó, CB đã cấm mà dân vẫn cứ làm, bị CB nghỉ chơi, cũng là tự nhiên thôi!


Chị ở Việt Nam hơn nửa đời người, chắc chị cũng quen với câu “sống chung với lũ”. Ở đây có cơn lũ mang tên CB, nếu chị muốn sống chung với lũ CB thì chị phải biết trôi theo dòng lũ CB. CB không muốn làm gì thì chị chớ có mà làm những gì CB cấm.


Bây giờ đã vỡ lở ra rồi thì chị nên quên cơn lũ đó đi, tìm người khác. Tại sao? Tại tình yêu kiểu đàn ông con trai nó khác kiểu phụ nữ. Ðàn ông con trai yêu nhanh, mà giận cũng dai. Người ta hay bảo tính giận dai là tính đàn bà, nhưng thật ra đàn ông con trai mới có kiểu giận rồi ghét luôn, nhiều hơn phụ nữ.


Ðường về lại với nhau, coi như hết rồi. Chị đã lỡ phạm nội quy do CB đặt ra, chị phải biết hậu quả là như vậy thôi.


Nhưng nói đi thì cũng phải nói lại. Vân Tiên cho rằng chị có mất liên lạc với CB, cũng là một điều hay.


Vì, nếu đã là bạn của nhau, thậm chí bạn khác phái muốn tiến tới hôn nhân, thì điều đầu tiên hết là phải biết thông cảm, tha thứ, dễ dãi cho nhau.


Bạn bè chơi với nhau mà không thông cảm, không tha thứ, không dễ dãi, thì thà đừng chơi còn hơn. Nói chi vợ chồng.


Việc chị Lê Tr. dùng chữ sau 1975 là điều không thể tránh được. Vốn ngữ vựng của chị Lê Tr. có thể so sánh như một trại lính, mỗi chữ là một anh lính, tất cả các anh lính, theo chị, đều giống nhau vì đều là lính chị xài hàng ngày.


Người biết phân biệt chữ trước với sau 1975 không phải là chị mà là CB. CB lập ra kỷ luật trại, cho rằng lính này xài được lính kia không xài được, thì CB có trách nhiệm phải nói cho rõ.


Kỷ luật trại không rõ, mà CB vẫn cứ trách chị, thì Vân Tiên cho rằng CB không công bằng. Không biết thông cảm. Không biết tha thứ, không biết dễ dãi. Không cưới CB, theo Vân Tiên, không phải là chuyện cần tiếc nuối lắm đâu.


 

Chuyện vãn đối cảm

 





LGT:
Trong cuộc sống có nhiều chuyện mình muốn nói với ai đó, nhưng lại không thể nói trực tiếp được. Không nói được với nhau thì hãy viết cho nhau. Âu đó cũng là cơ hội để giải tỏa những tâm tư, những nỗi niềm. Mục “Viết Cho Nhau” do phóng viên Ngọc Lan phụ trách. Thư từ xin gửi về: Người Việt (Viết Cho Nhau), 14771 Moran St. Westminster, CA 92683, hay email: NgocLannguoi-viet.com.




 


Chuyện vãn đối cảm 


Má Nẫu


Xưa kia. Tôi vượt biển tới Hồng Kông, rồi xin qua Mỹ tỵ nạn. Tới vùng đất tự do nầy sống, lúc ấy tôi cảm thấy thiếu mất cái gì đó lớn lao lắm. Có lẽ đó là tình người… Việt, nhất là tình đồng hương. Từ những cảm nhận ray rứt ấy, tôi và vài anh em sinh viên trẻ rủ nhau ngồi lại để tản mạn đôi việc hàn huyên Tết đến Xuân về nơi đất khách.


Thú thật, tôi là người ăn mặn nên nói ngay. Anh em bà con “Xứ Nẫu” gặp nhau vui mừng kể sao cho xiết.


Từ đó, năm nào tôi và vài anh em đó tình nguyện làm viên gạch tiên phong lót đường xây căn nhà tình thương của hội. Cho nên năm nào hễ Tết đến, hè về nghỉ học là có ngày hội của nhau, tay bắt mặt mừng không ai vắng mặt. Thấm thoát trên 35 năm.


Vài năm gần đây, vì sự dị ứng, tôi vắng bóng xa cách người năm cũ.


Năm nay trở lại, với tấm chân tình xưa, tôi đến hội mua một vé vào cửa để vừa có dịp thăm viếng chúc Tết mừng Xuân với ai còn mến thương, vừa cùng nhau góp ít sức mọn, tài hèn để làm sao hội mỗi năm phát triển mạnh, tạo một tiếng nói chung.


Nhưng không dè tui không gặp được người muôn năm cũ cùng một tấm lòng chung, mà chỉ gặp vài kẻ thời cơ nghểnh mặt, hênh hoan, khuếch khoác đưa mắt nhìn hậm hực!


Ra khỏi ngày hội, trên tay cầm quyển đặc san, nhìn sơ qua mắt tôi choáng váng. Về nhà đọc thấy trong đặc san có một vài bài có hiện tượng, không biết diễn tả như thế nào, và, một tấm giấy nhỏ đề như thường năm “Phiếu ủng hộ và yêu cầu đồng hương góp ý kiến xây dựng hội, gửi qua địa chỉ… email…”


Thế là, tui viết vội vài cảm nghĩ khi đọc sơ qua đặc san, góp ý xây dựng về khía cạnh văn hóa làm sao đặc san năm tới hoàn chỉnh tốt đẹp hơn để mai sau con cháu có dịp đọc.


Qua hai ngày sau, tui nhận email do người nặc danh gửi tới chửi túi bụi, chụp cái mũ cân khá nặng ký!


May mà tui có nội công, không thì tẩu mả nhập ma theo bên kia làm chuyện ruồi bu, có hại cho đồng hương, cộng đồng người Việt tỵ nạn lưu vong.


Tui có gởi email tới ông chủ tịch hội nhưng người năm cũ đi đâu, hổng thấy trả lời. Mà email nặc danh kia gửi tới chửi tơi bời hoa lá cành!


Với cung cách nầy, thử hỏi đồng hương nào dám lên tiếng góp ý khi đi dự hội năm tới?


Triệu chứng “áp huyết cao” như thế hội sẽ đi về đâu, hỡi những người muôn năm có lòng?


Nên tui có câu “Xưa kia gặp đồng hương tay bắt mặt mừng vui ơi là vui! Nay gặp đồng hương mừng mà mừng xanh mặt!”


Hổng những thế, về nhà tuần nào mở email ra thấy họ viết gửi tới chụp lên đầu tui cái mũ khá nặng cân, ý hệ vô bổ!


Trên mấy mươi năm như một cuộc đời già sắp tới ngày đi, chưa một lần về cố Quốc, nay có dịp về thắp cho Mẹ một nén nhang, tham dự giỗ họ. Thế nhưng tui vội vã bỏ mà chạy qua Mỹ, vì bóng ma ý hệ còn đè cõng trên vai, giở áo xem xét “thằng CIA” về có dắt súng lọn lưng quần không!


Qua bên nầy ẩn sống làm phó thường dân thì bị cho là Việt gian nằm vùng!


Vậy thử hỏi khi nào các nhà khoa học không gian nói chung có tàu bay, ghe thuyền con thoi lớn cho Má Nẫu tui vượt biên lên không gian, mặt trăng, hành tinh để xin tỵ nạn nữa được không?


 

‘Diet’ không phải là ăn kiêng, mà là một lối sống!

 


Hà Giang/Người Việt


Ăn kiêng để giảm béo, tìm lại thân hình thon thả từ thuở còn trung học, là mơ ước của nhiều phụ nữ, và vì thế không ít người trong chúng ta miệt mài nghiên cứu hết cách “diet” này đến cách diet khác, hy vọng sẽ vĩnh viễn trút bỏ được những lượng mỡ dư trong người.


Thế nhưng, chỉ sau một thời gian ngắn giảm được một vài pounds, từng cách ăn kiêng lần lượt khiến chúng ta thất vọng. Và cái eo thon nhỏ ngày xưa vẫn biệt tích, mù khơi.








Tìm lại thân hình thon thả từ thuở còn trung học, là mơ ước của nhiều phụ nữ, và đây là động cơ khiến họ liên tục nghiên cứu đủ kiểu diet. (Hình: www.healthprofs.com)


Chị Hương, 45 tuổi, dân cư Cypress, mới cách đây hai tháng còn tấm tức khen là cách diet của chị, buổi trưa chỉ ăn xà lách, buổi tối ăn trễ lắm là 8PM “hiệu nghiệm lắm”, đã khiến chị sút được 4 pounds trong vòng 6 tuần, giờ đây than là đã “lên cân trở lại”, và còn đang lo là dường như số cân “đang có đà vượt cao hơn cả trước” khi bắt đầu diet nữa.


Ông Bình, 56 tuổi, nhà ở Huntington Beach, cho biết hơn ba tháng qua ông bỏ không ăn thịt nữa, và đã giảm được 10 lbs, nhưng không biết có phải vì thèm thịt không mà ông có cảm tưởng người cứ yếu dần.


Giảm cân một chút rồi lên trở lại, và trong nhiều trường hợp còn nặng cân hơn lúc chưa bắt đầu ăn kiên, dường như là tình trạng chung của các những người cần giảm cân, nhất là phụ nữ.


Lý do các chương trình diets đa số không mang lại kết quả lâu bền, theo Bác Sĩ Michael L. Dansinger, hiện đang là giảng sư của đại học Tufts University School of Medicine, là vì mọi người hiểu sai ý nghĩa của chữ “diet”.







Vừa ăn vừa đo và vừa lo. (Hình minh họa: www.myweightlossadvisor.com)


“Chữ diet của Anh đến từ chữ ‘diaita’ của Hy Lạp, có nghĩa nguyên thủy là ‘lối sống’ (way of life).”


Bác Sĩ Dansinger nói.


Vẫn theo giải thích của Bác Sĩ Dansinger, dần dần, từ “diet” được dùng để chỉ những thức ăn, thức uống của một nhóm người. Chẳng hạn, chữ “Asian Diet” được dùng để chỉ cách ăn uống của người Á Ðông (thường thì nhiều rau, ít thịt, ít bơ sữa), v.v…


Sau đó nữa chữ “diet” hoàn toàn biến thể, thường được dùng để nói cách ăn kiêng khem để giảm cân. Và từ đó, khi nói “going on a diet” người ta muốn nói đến cách loại bỏ một số thức ăn ra khỏi thực đơn, hay uống ít đi, để sút cân.


“Vấn đề nằm ở chỗ khi nói đến ăn kiêng, mọi người ám chỉ rằng họ chỉ làm như thế trong một thời gian ngắn để đạt mục đích gầy đi, và sau đó, khi bớt mập, họ lại ăn uống bình thường trở lại.”


Bác Sĩ Dansinger giải thích.


“Tệ hơn thế nữa, nhiều người, nhất là phụ nữ còn mua những loại thuốc diet, mong giảm sút cân nhanh hơn.”


Ông nhấn mạnh.


Bác Sĩ Dansinger cho rằng vì hiểu sai như thế, cho nên phục muốn giảm cân đều có những trông đợi không thực tế vào những chương trình “diet” và chỉ làm giàu cho những người viết sách hay chế thuốc làm gầy.


Cùng một quan điểm với Bác Sĩ Dansinger, bà Laura Bradford, chuyên gia nghiên cứu về “diet” có văn phòng tại Massachusetts, phát biểu:


“Muốn làm sao để giảm cân thì chỉ cần làm một việc thật đơn giản. So sánh cách ăn uống của người bị quá mập với một người vừa tầm, thì sẽ thì sẽ thấy rõ.”


Bà Bradford giải thích thêm:


“Những người dư cân thường xuyên theo cách ăn kiêng này hay khác, và khi giảm được một chút cân, họ lại ăn uống bình thường trở lại, rồi đổ tội cho cách ăn kiêng này đó không hiệu nghiệm.”


Cả Bác Sĩ Dansinger và chuyên gia Bradford đều kết luận rằng chìa khóa cho một thân hình thon thả, và cân lượng lý tưởng cho bất cứ ai không phải là một kiểu ăn kiêng nào, mà là phải thay đổi hẳn cả lối sống của mình.


“Ðiều này có nghĩa là hiểu đúng và thực hành đúng ý nghĩa nguyên thủy của chữ ‘diet’”. Bác Sĩ Dansinger nhấn mạnh.


Làm sao để có một lối sống khiến cho bạn có một thân hình vừa ý và sức khỏe tốt?


Bác Sĩ Dansinger đưa ra một vài đề nghị:


Trước tiên, lối sống khiến chúng ta khỏe mạnh là hỗn hợp của tập thể dục (hay chơi thể thao) và ăn uống vừa phải, kiêng nhiều chất béo và chất ngọt. Có thể bạn chọn đi bộ mỗi buổi sáng, hay đi bơi buổi chiều, cách nào cũng được.


Chọn cách sống -trong đó gồm cả ăn uống và hoạt động nào mà mình biết có thể duy trì một cách lâu dài được, và duy trì lối sống này.


Ðừng nhắm vào những kết quả cấp tốc, và vội vàng theo đuổi những chương trình thể dục hay ăn uống kiêng khem nhất thời, mà phải bền bỉ theo đuổi cách sống khỏe mạnh mình chọn.


“Khi bạn thay đổi lối sống, và trung thành với lối sống đó, kết quả thực sự sẽ đến, và ở mãi với bạn.”


Bác Sĩ Dansinger kết luận.


______


Liên lạc tác giả: [email protected]


 

Tấm thẻ xanh

 


Ngọc Lan/Người Việt


“Trong lúc chờ đến phiên mình vô phỏng vấn, em chợt nghĩ, nếu như mình bị từ chối thì sao? Rồi em rùng mình. Không dám nghĩ đến nữa, chị à!”


Không dám nghĩ đến, nhưng nó nói tự dưng nước mắt nó cứ chảy xuống. Không ngăn được. Nó rùng mình nhớ lại chặng đường hơn 5 năm qua. Những đau đớn. Tủi hờn. Cô độc. Vất vả. Và cả nhục nhã. Ðắng cay. Mà nó đã cắn răng chịu đựng, chỉ chờ đến giờ phút sắp sửa xảy đến.


***


Trong đầu nó nhớ như in ngày nó rời Sài Gòn, có khác gì lắm đâu, những người âm thầm đi vượt biên xưa kia. Chỉ biết chắc một điều là nó không chết vì cướp biển, không chết vì đói khát, không chết vì đắm tàu hay bão tố. Nó có chỗ ngồi đường hoàng trên một chuyến bay.








Nhưng nếu người đi vượt biên năm xưa, một khi đặt chân đến miền đất tự do, đồng nghĩa với chuyện họ đã thành công, cho lựa chọn của mình.


Còn với nó, đó lại chỉ mới là sự khởi đầu, cho những gian nan phía trước, mà nó không thể nào biết được thời gian sẽ tính bằng gì. Kết quả cụ thể là cái gì. Tất cả chỉ là sự may rủi của số phận.


Nó đến miền Nam California vào Mùa Hè cách đây hơn 5 năm. Mang theo vết thương của một gia đình đang đứng bên bờ vực của sự đổ vỡ. Mang theo nỗi nhớ cồn cào, đớn đau đứa con gái vừa hơn 3 tuổi. Nó như một người thất thần, hoang mang trước mọi thứ.


Nó đi những bước đầu tiên như kẻ mộng du, không định hướng. Chỉ biết nó cần có một việc làm, một chỗ ăn, chỗ ngủ, để tự nuôi sống phần xác trước khi có thể chờ đợi vết thương hồn nó bình an.


Một năm làm công việc chăm sóc người già mang nhiều trọng bệnh, nó ăn, ở luôn ngay nhà chủ. Một năm trời, mỗi đêm nó chỉ ngủ được từ 2 đến 3 tiếng. Có đêm nó thức trắng. Không phải vì chăm sóc người bệnh. Mà vì tâm bệnh của chính nó. Nó xác xơ như cành cây sau mùa bão tố. Bao nhiêu tiền làm ra, nó chẳng tiêu gì cho bản thân. Nó gửi trả món nợ ngày nó ra đi. Và nó gửi về, như một sự bù đắp cho đứa con gái cần hơi mẹ.


Ðể thoát khỏi sự trầm uất, nó quyết định tìm một công việc khác, dù có vất vả và lương có ít hơn. Nó cần một môi trường thoáng hơn để thở, để bắt đầu sống.


Bưng phở. Nó không thể có lựa chọn tốt hơn, khi mà visa nó đã hết hạn, giấy phép đi làm nó không có. Nó sống cuộc đời của kẻ di dân bất hợp pháp, trong bộn bề những lo toan. Lo cho công việc làm. Lo cho sự an toàn của mình. Lo cho khoản nợ nần ba mẹ nó đang mang nơi quê nhà vì mùa điều, mùa tiêu thất bát. Dáng nhỏ của nó càng quắt queo, chao đi vì những gánh nặng chồng chất. Nó không quên những lúc nó vụt chạy ra cửa sau. Trốn. Khi người ta đến kiểm tra tiệm. Nó không quên người nó run như sốt và tim nó đập chừng vỡ ra. Nó không quên nó bưng mặt khóc cho những nỗi sợ hãi đó.


Nhưng nước mắt đó vẫn còn quá ít, so với những đêm nó khóc vùi vì nhớ con, vì những dằn vặt, những điều tiếng mà gia đình chồng giáng xuống nó. Nó muốn có một khoảng cách về không gian, về thời gian, để nhìn lại cuộc hôn nhân của mình. Nhưng dường như, sự hàn gắn đã không còn là dấu hiệu cho niềm hy vọng.


Nó quyết chọn con đường sẽ ở lại miền đất này, làm tất cả, đến một ngày nào đó, sẽ mang được con gái nó sang. Người ta đã đánh đổi nhiều thứ, kể cả mạng sống để có thể tồn tại ở mảnh đất này. Thì khi nó có nhiều cơ may hơn, tại sao nó không cố gắng?


Nó chắt chiu. Nó dành dụm. Tiền sẽ giúp nó thực hiện ước mơ của mình.


Nhiều người đàn ông ngỏ ý muốn “giúp” nó. Họ hứa hẹn với nó một tương lai có nụ cười, có màu hồng.


Nhưng, như con chim một lần trúng tên, nó không thấy mình sẵn sàng cho bất cứ một cuộc hôn phối nào nữa. Nó từ chối những tình cảm trai gái. Nó muốn tự mình kiếm tiền, từ những bát phở nó bưng, từ những đống rau nó nhặt, từ tất cả những gì sức nó có thể làm được, để thực hiện ước mơ của mình – Ðổi lấy một tấm thẻ xanh. Tấm thẻ bảo đảm cho nó một sự an toàn và hợp pháp, trong chừng mực nào đó, tương lai của nó.


Phạm pháp. Người ta nhân danh nhiều điều để miệt thị và lên án chuyện nó tìm đường ở lại đất nước này, bằng cách đó, là phạm pháp.


Nó chấp nhận.


Thói đời, người ta vẫn thích dè bỉu người khác. Lý do mình tồn tại ở mảnh đất này, bao giờ cũng vĩ đại và cao cả hơn giấc mơ của kẻ khác.


5 năm, khi mà ước mơ của nó tưởng chừng vẫn giậm chân tại chỗ, thì một tình cờ, trong số những tình cờ rất ngẫu nhiên, rất lạ thường của cuộc đời, đã xảy ra.


Hai người bạn, một trai một gái, cùng nó làm một hành trình dài 4 ngày từ miền Tây sang miền Ðông Hoa Kỳ. Ðể thực hiện ước mơ của nó.


Tất cả như một cuốn phim nó đang review lại. Nó nhìn người đàn ông đang mở lòng giúp nó, cũng là một trong hai người đã đi cùng nó trong hành trình từ Tây sang Ðông. Bằng sự biết ơn.


***


“Trong thời gian qua, cô có tiếp tay với tổ chức khủng bố nào không?” – Không.


“Trong thời gian qua, cô có đưa người vào Mỹ một cách trái phép không?” – Không.


“Cô có một đứa con gái còn đang ở Việt Nam?” – Ðúng.


“Cô có muốn mang con gái cô sang Mỹ trong tương lai không?” – Muốn.


Câu cuối cùng, “3 tháng trước khi thẻ xanh này hết hạn, cô nhớ phải nộp hồ sơ xin cấp thẻ xanh 10 năm”.


Ðó là tất cả những gì người ta đã hỏi nó trong cuộc phỏng vấn.


Nước mắt nó vòng quanh. Nó chỉ biết nắm lấy bàn tay người đàn ông, bạn của bạn nó, siết chặt.


***


Trời Mùa Xuân có những ngày mưa xói đất. Ngày nó cầm trong tay tấm thẻ xanh, cũng là ngày tin nhà báo sang: Ba nó ung thư máu.


Dáng nhỏ của nó lại chao đi, gồng gánh 12 tiếng làm việc mỗi ngày, gửi tiền về thay máu cho ba.


Nhưng dù sao, nó không phải canh chừng cửa sau để vụt chạy. Trốn. Khi người ta đến kiểm tra tiệm. Bởi, nó đã có tấm thẻ xanh – đủ yên tâm còng lưng làm, kiếm tiền giúp cha, và chắt chiu đến ngày con gái nó sẽ đoàn tụ cùng mẹ, trên miền đất này.


 

Câu chuyện thứ 1778

 


Bài CTS1


Email từ ÐỨC:


 


 


From: Truong Sinh Chung <[email protected]>


To: Các anh chị HH3


Date: Wednesday, March 14, 2012 05:15 am


Subject: [K3HH] 1778 Stories -bá láp -ngày 14.3.2012


 


Các bạn HH3 thân mến,


Tôi đang mổ chữ trên bàn phím, bây giờ là 8 giờ sáng, mặt trời lên khá cao, tuy nắng không chan hòa vì hơi nhiều mây nhưng trời sáng, “lác đác” vài tia nắng đủ làm cho người ta thấy cái không khí Xuân.



Ông Taku Mayumura.


Nhiệt độ ngoài trời lên đến 8 độ C (46 độ F), ở tháng này, nơi vùng cao như cái xã tôi thì phải nói là rất “ấm”.


Vào những thời điểm như thế, không gì sướng bằng là vừa nghe nhạc vừa đọc sách, trên tay có thêm 1 ly cafe nóng, thứ cafe đen đặc, có đường, tuy không thơm bằng cafe “Phin” Saigon ngày xưa nhưng ở nơi xa xôi hẻo lánh này thì thế cũng là quý lắm rồi.


Trên 1 trang báo điện tử, trong mục văn học nghệ thuật, tình cờ tôi đọc được 1 câu chuyện bên Nhật: Chuyện tình yêu giữa 2 vợ chồng già. Dạo này cứ lâu lâu lại nhận được những E-mail, bài viết, các pps hay những danh ngôn nói về tình già. Thậm chí có chuyện cô dâu lên xe hoa ở tuổi 99 hay 100 gì đó. Người ta cứ nhắc là phải quý những giờ phút bên nhau thế này, thương yêu đến bạc đầu thế kia, v.v…


Nhưng câu chuyện sáng nay tôi đọc làm tôi “mê” đến quên cả hớp miếng càfê trong cái tách trên bàn. Chuyện có thật!


Chuyện kể rằng:


Ông Taku Mayumura, sinh năm 1934 tại Osaka, tốt nghiệp khoa Kinh Tế ở trường Ðại Học Osaka nhưng sở trường của ông ta lại là viết tiểu thuyết, nhất là tiểu thuyết khoa học ảo tưởng cho thanh thiếu niên. Vợ ông, bà Etsuko, nguyên là bạn học thời trung học. Sau khi kết hôn, bà Etsuko nghỉ làm ở nhà nội trợ và khuyến khích chồng nghỉ làm việc chuyên môn để chuyên tâm viết tiểu thuyết. Họ là một gia đình bình thường và đầm ấm.


Hai người sống hạnh phúc bên nhau cho đến năm 1997, tháng 6 năm đó, sau 1 cuộc khám nghiệm, bác sĩ cho biết bà Etsuko mắc bệnh ung thư ruột. Theo chẩn đoán, bà chỉ còn sống tối đa 1 năm nữa thôi, dù được giải phẫu tức thời.


Ông Taku nghe tin như bị Trời đánh. Việc ông ta có thể làm được cho vợ chỉ còn là làm sao để giảm bớt những gánh nặng, đau khổ về tinh thần cũng như thể xác. Từ ngày đón vợ từ bệnh viện về nhà trở đi, ông quyết định giúp cho vợ vui sống bằng cách mỗi ngày viết 1 truyện ngắn để vợ đọc cho vui. Ông hỏi vợ: Tôi viết cho bà mỗi ngày 1 truyện để đọc, bà thấy sao? Vốn là người thích đọc truyện, bà Etsuka đồng ý liền.


Và như thế là kể từ ngày 16 tháng 7 năm 1997, ông Taku bắt đầu mỗi ngày viết 1 truyện riêng tặng cho vợ. Ông đã tự vạch ra những tiêu chuẩn cho những truyện ông viết hàng ngày cho vợ, như: Truyện không được quá dài, không được viết kiểu tùy bút, nội dung phải vui, có thể viết những truyện giả tưởng, hơi hoang đường, nhưng tránh những nội dung liên quan đến buồn phiền, bệnh tật, lo âu, đau khổ hay sinh ly tử biệt, v.v… Nhân vật trong những truyện có thể được sài đi sài lại nhưng truyện đọc phải đạt tiêu chuẩn có giá trị xuất bản và vui. Ðiều ông ước muốn chỉ là sau khi đọc những truyện này, vợ mình sẽ cười lên thích thú.


Sau khi viết được 3 tháng như thế, vợ ông nói với ông rằng: Nếu ông viết như thế mà thấy mệt quá thì cứ nghỉ đi, không sao cả. Ông Taku trả lời: Thì cũng như là đi cúng đến cả trăm lần cũng chỉ mong được thần thánh phù hộ vậy! Mà thực sự trong thâm tâm, ông cũng linh cảm rằng nếu mà ngưng viết thì bệnh tình của vợ sẽ xấu đi. Và như thế ông kiên trì viết tiếp mỗi ngày 1 truyện cho vợ.


Những câu chuyện ông Taku viết được bà vợ đọc rất kỹ, có những lúc ông ngỡ là bà sẽ phá lên cười vì câu chuyện vui, nhưng lại thấy bà chỉ cười chua chát hay có những lúc bà Etsuko lại đưa ra những ý kiến về nội dung mà ông ta không nghĩ đến.


Ngày qua ngày, ông Taku cứ viết, và bệnh tình của bà Etsuko càng đi vào tình trạng ổn định. Ðến năm 1999, họ còn đi du lịch ở bên Anh.


Câu chuyện của cặp vợ chồng Mayumura loan truyền dần, làm cho nhiều người Nhật cảm động. Và vào năm 1998 nhà xuất bản đã thu lượm những bài viết hàng ngày của ông Taku, đóng thành tập cho xuất bản dưới nhan đề “Mỗi ngày 1 truyện”. Các truyền thông cũng tường trình về việc này, ông Taku nhận được nhiều ủng hộ về tinh thần từ dân chúng ở Nhật.


Ngày 15 tháng 4, 2002 cơn bệnh bộc phát, bà Etsuko phải vào bệnh viện trong tình trạng hôn mê: Bà không những không còn đọc được mà thường không còn nghe rõ những câu chuyện mà chồng vẫn đọc cho mình nghe hàng ngày bên giường. Những câu chuyện của ông Taku đã không còn giữ đúng những giới hạn về nội dung mà ông đã tự đặt cho mình nữa: Trong các truyện ông viết ra lúc này đượm đầy lời yêu thương dành cho vợ và nỗi đau vô bờ bến tràn đầy trong tim ông.


Ngày 28 tháng 5 năm 2002, bà Etsuko qua đời, ông Taku hoàn tất câu chuyện thứ 1778 và cũng là câu chuyện cuối cùng của mình dành cho người vợ thân yêu đã chung đường đời với ông mấy chục năm nay. Câu chuyện kể như thế này: Bây giờ đã đến câu chuyện cuối cùng rồi. Bấy lâu nay hẳn là tôi đã làm phiền bà nhiều lắm. Tôi phải dùng lối viết mà bà có thể đọc nổi… (từ đây là 1 khoảng trống rất lớn)… Ðọc có thích không, cám ơn bà đã chăm lo bao năm nay cho tôi: Kiếp sau, xin cho chúng mình lại được ở với nhau đến trọn kiếp nhé!


Tình yêu trọn vẹn dành cho vợ của ông Taku khiến cả nước Nhật cảm động. Truyện tình này đã được quay thành phim, xuất bản năm 2011 dưới tựa đề: Boku to Tsuma no 1778 Monogatari ố “1778 Stories of Me and My Wife”. Cả thế giới ngậm ngùi cảm động.


Câu chuyện thật của 1 người bình thường nhưng với tình yêu chân thật không bình thường chút nào.


Mời các bạn hãy tìm xem phim này, nhưng nhớ lời nhắc nhở của ông đạo diễn Hoshi Mamoru: Quý vị nhớ đem đầy đủ khăn giấy để lau mướt mắt! (Xin gửi kèm hình của Taku Mayumura.)


Ở 1 góc trời nào đó, có 1 thằng già nói với vợ rằng: Bà ráng sống đừng chết trước tôi nghe. Tôi phải chết trước để “xuống dưới” làm visa cho bà. Bà nhớ “gửi” nhiều nhiều tiền xuống cho tôi, vì còn phải mua đất xây nhà xây cửa đàng hoàng để sau này bà xuống đấy ở.


Nhưng đó là 1 chuyện nhỏ, tưởng tượng bên lề!


Thân chào


* Ch.Tr.Sinh

Thơ Phượng Các Vũ Thị Mưu

 


Màu Nhớ


 


Áo tím hoa cà màu thương nhớ


Thủa ban đầu xao xuyến mắt ai


Chuyện ngày xưa bồng bềnh mây trắng


Áo tím hoa cà nhòa nhạt nắng mai


Tay em gầy môi hồng má phấn


Vạt áo dài quấn quít vờn bay


Có ai nói hoa cà đẹp quá


Nét dịu dàng ấm cả trời đông


Bóng khuất xa hồn còn đứng lại


Dõi theo hoài màu áo vấn vương


Yêu làm sao hoa cà màu tím


Nét ngọc ngà duyên dáng thướt tha


Bao năm qua nỗi nhớ không ngờ


Quá tha thiết áo dài tím biếc


Giữa trời hanh chợt qua màu áo


Cả cõi lòng rung động dấu xưa.


 


Mùa Xuân đi qua


 


Xuân vươn nhẹ lời thơ trên tóc


Bóng em hồng đẫm ướt nắng mai


Tay ai khỏa nước vàng lắng đọng


Nói thầm thì nỗi nhớ yêu đương


Em về đó nửa đời câm lặng


Cành mai vàng rụng khẽ xuân sang


Nỗi khát khao lộc non chồi dậy


Ve vuốt hồng ẩn dấu bờ môi


Khơi cháy đỏ bếp than buồn lặng


Cho tay gầy hoa nở mùa xuân


Cười đi em nụ cười nuối tiếc


Cả mộng vàng nhòa nhạt trời đông


Em ngồi đây hiên ngà mong đợi


Hạnh phúc nào rơi rớt kẽ tay


Có gì đâu mùa xuân đang đến


Tiếng chim nào hót giữa trời đêm.

Thơ LNÐạt


Với mộng


 


tay không với mộng ngay trong mộng


đốt ánh lửa lòng trong ngát mong


vận cát xa nguồn vơi nắng đọng


âm thơ viễu vợi sóng tràn sông


 


mắt sâu thắp sáng từ trong sáng


khẽ mở tâm hồng bóng vọng hoang


hồn nhạc chơi vơi thần tích ẩn


dương cầm sa ngã ngấn trầm tan


 


có không vợi vắng nguyên hoàn biến


sắc đổi huyền siêu cuối biển thiêng


tâm hưởng xuôi dòng buông vĩnh viễn


sáo trời cao vút giấc triền miên.


 


Huyền diệu


 


huyền hoặc vì em biến đổi mùa


nắng vào tắm gội cuối làn mưa


ửng môi thơm ngọt từng giọt thắm


ngấm tận thân trời dấu tích xưa


 


huyền sử trong em trắng xóa màu


trần gian bạc mệnh nối ngàn sau


nay mai thăm hỏi từng sợi biếc


gây lại rừng vơi gốc rễ đau


 


huyền thoại cùng em qua viễn ranh


gửi vào trái đất cụm mây xanh


gửi vào tâm thức vào truyền thuyết


cả mối tình người nao núng quanh


 


huyền diệu từ em mải miết chờ


con đường tê dại hóa dòng thơ


đêm qua thao thức trong thao thức


tưởng chính cuộc đời cả vận mơ


* LNDAT


(Nguồn: wissai; [email protected])

Thơ Nguyễn Ngọc Bội


Quỳnh Hoa


 


cánh chim em đã vào mây


mà âm buồn vẫn vang đầy hồn ta


khi về nhặt cánh quỳnh hoa


chợt nghe tình ảo vỡ òa trong tâm


với tay níu tiếng ru thầm


bóng chim xưa đã mù tăm cuối trời


tìm trong ta cánh sao rơi


em ngàn xa vẫn một đời tơ vương.


* Nguyễn Ngọc Bội


(Nguồn:[email protected])

Thơ Thi San


Dáng xưa


 


Sâm thương mừng mắt thơ ngây


Nghiêng thề tóc liễu nửa mày trăng ngoan


Màn đêm buông rủ cành lan


Ôm trăng gọi gió mê man giấc vàng


Cuốn mây thần chú bàng hoàng


Giờ em trở giấc trăng tàn ngậm sương


Thôi quên quên kiếp vô thường


Quên đời chất ngất quên đường xa xăm


Mơ em tròn giấc trăng rằm


Khói vờn hương tỏa sương đằm mái Tây


Ðèn khuya trang sách còn dầy


Ngón măng cuộn tóc cuốn vây mộng đời


Nao nao dòng cuộn bờ vai


Ðêm hè chợt mát cánh tay ngọc ngà


Dậu thưa hờ hững song xa


Ðèn đường héo úa sương òa tâm tư


Cây bao dong đỏ mắt chờ


Ngẩn ngơ khói thuốc thẩn thơ ngõ buồn


Thì thào lá rủ mưa nguồn


Mù khơi chớp biển sóng cồn bãi xa


Lang thang đếm cát Ngân Hà


Ðếm sao vụng dại ngón ngà ăn năn


Sông dài sóng lớp lăn tăn


Ðời hay mình tự cách ngăn nghìn trùng


Mỏi mòn sao vẫn ngại ngùng


Gặp đây tư lự phím chùng sâm thương


Sáng thu chờ chuyến đến trường


Dòng xe cuồn cuộn mờ sương phố dài


Tròn ngây thơ đọng bờ vai


Cây ôm cổ mộ bia đài xanh rêu


* Thi San


 


Chênh chếch sao mai


 


Heo may hiu hắt lán lều


Áo em pha ráng mây chiều mênh mông


Hanh vàng vắng lạnh mắt trong


Xôn xao bóng núi dài sông tóc chờ


Quanh đây thu đấy hững hờ


Giăng giăng áo trắng quạnh bờ lau thưa


Cuốn tròn thu ủ cơn mơ


Ngoài song thánh thót trắng mờ Ngân giang


Sáng buồn gương lược ngỡ ngàng


Tóc mây đánh đổi hàng hàng tuyết sương


Bâng khuâng lá đổ bên tường


Giọt buồn lất phất thấm hàng đá rêu


Biển xưa trăng tạnh vạc kêu


Ðường xưa quạnh quẽ nắng xiêu lối về


Ðào nguyên từ khóa rèm the


Rừng xưa đổ lá bốn bề quạnh hiu


Bồng bềnh sương ủ bóng chiều


Vòng tay khoanh gối để dìu mộng mơ


Thần hôn chim giục thẫn thờ


Lênh đênh sóng nhạc ngăn thưa mộng đời


Dệt thơ cũng chỉ những lời


Nhớ thương thì cũng một trời hư không


Thì thôi để đấy giấc nồng


Mờ sao chênh chếch đắm giòng sương mai


Sóng mơ róc rách nguồn đời


Gợn giòng vô thức không lời trần gian.


* Thi San



 

Giới thiệu sách mới: Nhà giáo, một thời nhếch nhác

 


Tác giả: Nhật Tiến


Nhà xuất bản: Huyền Trân, 2012


290 trang, $15.00


L/l: Phương Ðỗ, 9882 Reading Ave.


Garden Grove, CA 92844, USA


 


Tên thật là Bùi Nhật Tiến, tác giả vốn là một nhà giáo tại miền Nam Việt Nam trước 1975. Và từ năm 1959 đến nay, ông đã cho xuất bản độ 26 tác phẩm.



Về nội dung của cuốn sách này, chúng ta hãy nghe chính tác giả cho biết lý do khiến ông viết, trong Lời Nói Ðầu, như sau:


“…Cứ theo lẽ thông thường, thì khi bước qua tuổi 70 để chuẩn bị đi vào cõi 80, con người ta dẫu có khỏe mạnh cách nào thì năng lực hoạt động cũng bị sút giảm đi rất nhiều, nhất lại là công việc của một người sáng tác.


Cũng thuộc lớp tuổi nói trên, về phần tôi trong mấy năm trở lại đây, tôi đã dự tính tự cho phép mình ngưng việc viết lách. Bởi viết thêm nữa làm gì, khi mà điều mình muốn viết, muốn nói thì cũng đã có nhiều cây viết ở cả trong lẫn ngoài nước viết ra, nói ra rồi, mà có khi những bài viết ấy lại còn chuyên chở đầy đủ hơn những điều mình suy nghĩ.


Thế rồi nghiễm nhiên, từ vị trí người của viết, tôi đã dành nhiều thì giờ để đọc hơn là thì giờ ngồi loay hoay với ngòi bút. Tôi đã đọc chăm chỉ, đọc miệt mài những gì tôi thích hay cần đọc, với một lòng biết ơn các tác giả, những người đã cho tôi được thưởng ngoạn các công trình tim óc của họ…


… Trải gần 4 năm trầy trợt dưới một mái nhà trường XHCN, tôi phát giác ra rằng ở đấy người ta không những không được trang bị điều gì tốt đẹp thêm cho nhận thức của nhà giáo, mà tệ hơn, lại còn không cho phép các thầy các cô thực hiện trọn vẹn vai trò của một nhà giáo đúng nghĩa. Bởi vì, một nhà giáo đúng nghĩa thì không dối trá với học trò ngay trên bục giảng hay ngay trong bài giảng của mình. Nhà giáo đúng nghĩa cũng không thể tiếp tay với nhà trường để xô đẩy học sinh vào những vùng trời mê muội như lôi kéo, dụ dỗ, nhồi nhét vào đầu óc non nớt của chúng những thứ không nhằm phục vụ cho tương lai của chúng cũng như tương lai của đất nước mà chỉ nhằm phục vụ cho những ý đồ đen tối của guồng máy đang cai trị.


Những ai đã từng đi dạy học thì hẳn đều đã quen thuộc với vấn đề lương tâm và tinh thần trách nhiệm của một nhà giáo. Hành trang của một nhà giáo, tuy vốn đã nặng nề, nhưng khi mang thêm những vấn đề kể trên thì sẽ còn nặng nề thêm nữa.


… Sau cùng, kỳ lạ thay, tôi bỗng phát hiện ra rằng nỗi niềm thao thức kể trên lại không xuất phát từ lãnh vực văn chương mà lại từ một lãnh vực mà tôi đã không còn dính líu gì tới trong nhiều năm qua. Ðó là nghề gõ đầu trẻ, cái nghề chỉ chuyên gắn bó với phấn trắng, bảng đen và những đám học trò mà tâm hồn còn trong veo của lứa tuổi đang vô tư trước ngưỡng cửa vào đời.


Và tôi nghĩ rằng, chính những thứ hành trang này (mà tôi đã gác bỏ từ nhiều chục năm qua), nay đã bất ngờ trở lại để dằn vặt tâm hồn tôi trong nhiều đêm dài mất ngủ…


Nói một cách cụ thể, nếu coi tâm hồn của những trẻ thơ như là một tờ giấy trắng, thì cũng đã có một số người trong đám nhà giáo chúng tôi sau 30 tháng 4-1975, cũng đã từng bôi đen lên những tờ giấy đó bằng những bài giảng phải tuân theo sát sạt những “pháp lệnh” của nhà nước…


Như thế, chúng ta chưa có một cuốn hồi ký nào của một nhà giáo viết về sinh hoạt của thầy trò sau tháng 4-1975, dưới mái nhà trường XHCN…


Ước vọng của người viết là mong mỏi rồi ra còn có nhiều đồng nghiệp đã từng kinh qua những khoảng thời gian đó, sẽ ngồi viết lại hay góp phần phổ biến những trang sách cùng loại, để bức tranh khắc họa về ngành giáo dục Việt Nam sẽ mang một nội dung phong phú hơn, những sai lầm gây tổn hại lớn lao cho đất nước do những đầu óc thiển cận hẹp hòi trong quá khứ sẽ được nói lên rõ ràng hơn, và những thông điệp gửi gấm lại cho thế hệ đi sau sẽ mang được nhiều tâm huyết và được loan truyền rộng rãi hơn. Ðược như vậy hẳn chúng ta sẽ vô cùng hoan hỉ vì đã cùng nhau hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp hoàn tất trách nhiệm cuối cùng của những nhà giáo trước khi buông xuôi hai tay về chốn vĩnh hằng.”


* Hà Châu

Khi đàn én trở về

 


Toàn Như


 


Một con én không làm nên Mùa Xuân. Ðiều ấy quá đúng cả về nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Nhưng khi có cả một đàn én bay về thì chắc chắn đó là Mùa Xuân đã đến.


  



Ðối với người Việt thì Mùa Xuân bắt đầu từ ngày Tết Nguyên Ðán, nhưng ở Nam California, những ngày Tết vẫn còn khá lạnh như những ngày Mùa Ðông. Chỉ mới từ Tháng Ba, trời mới bớt lạnh, tương đối mát mẻ, và Mùa Xuân mới thực sự bắt đầu với những đàn chim én bay lượn đây đó báo hiệu Mùa Xuân đã trở về.


Những đàn chim én báo hiệu Mùa Xuân thì ở đâu cũng có, nhưng khi đàn én với hàng ngàn con bay về thì có lẽ là một hiện tượng độc đáo của quận Cam. Hàng năm, cứ vào khoảng ngày 19 Tháng Ba, ngày Lễ Thánh Joseph, một đàn chim én cả hàng ngàn con đã vượt qua hàng ngàn dặm, khoảng 6,000 miles, từ xứ Á Căn Ðình xa xôi ở Nam Mỹ để bay về đây trốn Mùa Ðông lạnh giá ở Nam bán cầu. Chúng bay về làm tổ tại một tu viện cổ ở San Juan Capistrano, một thành phố nhỏ của quận Cam, cách Little Saigon khoảng gần 30 dặm về hướng Nam. Chúng về đây làm tổ và sống ở đây đến hết Mùa Xuân và Mùa Hè cho đến khoảng cuối Tháng Mười, ngày Lễ Thánh Juan (Day of San Juan, 23/10) chúng lại bay về lại Á Căn Ðình, Nam Mỹ, để lại tránh những ngày lạnh giá Thu Ðông của miền Nam California.


Ðây quả là một hiện tượng kỳ thú đã làm cho tu viện cổ San Juan Capistrano trở thành nổi tiếng thu hút nhiều du khách đến viếng trong dịp này. Tu viện này được xây dựng từ năm 1776 và nó đã từng bị hư hại nặng sau một trận động đất vào năm 1812, mặc dù vậy hình như nó chưa bao giờ được tu bổ lại một cách hoàn chỉnh. Người ta vẫn không hiểu nguyên do nào đã làm cho đàn chim én này đã chọn tu viện San Juan Capistrano làm tổ. Phải chăng vì chúng cảm thấy được an toàn bên trong những bức tường cổ kính của tu viện? Ðể bảo tồn một hiện tượng độc đáo có một không hai này, chính thành phố Capistrano đã thông qua một nghị quyết cấm hủy hoại các tổ én này. Về việc đàn én đến tu viện Capistrano làm tổ có người giải thích rằng, do tu viện tọa lạc ở gần hai con sông nên vùng đất quanh đó luôn ẩm thấp trở thành một môi trường thuận tiện cho các loài côn trùng sinh sôi nảy nở làm nguồn thức ăn dồi dào cho đàn chim én hội tụ trở về. Nhưng những năm gần đây, do sự phát triển đô thị tại địa phương đã làm giảm đi đáng kể số lượng côn trùng nên số lượng chim én bay về Capistrano cũng đã giảm đi vì một số đã bay đi nơi khác. Vào Tháng Ba năm 2010, người ta đã thấy hàng ngàn con chim én đã bay về làm tổ tại câu lạc bộ Vellano Country Club ở Chino Hills, cách xa San Juan Capistrano khoảng 50 dặm về hướng Bắc. Không biết đàn chim én này có liên hệ gì đến đàn én ở San Juan Capistrano hay không?


Tuy số lượng chim én đã giảm đi so với những năm trước nhưng không vì thế mà San Juan Capistrano mất đi sự thu hút chú ý của du khách và dân chúng trong vùng, nhất là cư dân quận Cam. Hàng năm cứ vào dịp này, rất nhiều người từ khắp nơi đã tìm đến San Juan Capistrano để được chứng kiến sự trở về của đàn chim én. Vào đúng ngày Lễ Thánh Joseph 19 Tháng Ba, tiếng chuông trong ngôi nhà thờ cổ đã vang lên ròn rã báo hiệu đàn chim én đang trở về. Người ta tổ chức lễ hội để đón mừng sự trở về của đàn chim én một cách trang trọng như đón một người thân. Có cả diễn hành mang tên Chim Én (The Annual Swallow’s Day Parade) được tổ chức hàng năm vào ngày 26 Tháng Ba.


Muốn đi xem đàn chim én ở tu viện San Juan Capistrano, từ Little Saigon, phải đi qua nhiều xa lộ mới tới, cho nên nếu không cẩn thận rất dễ bị lạc đường. Trước hết là phải dùng xa lộ xuyên bang I-405 S đi về hướng Nam, rồi nhập vào xa lộ CA 73 S (Nam) hướng về San Diego, sau đó lại chuyển tiếp vào xa lộ xuyên bang I-5 S (Nam), rồi lại nhập vào xa lộ Ortega Highway CA 74 bằng cách exit 82 hướng về San Juan Capistrano (rẽ phải) [đây là đoạn dễ bị lạc nhất]. Cho nên để tránh bị lạc, xin mách các bạn nên sử dụng máy hướng dẫn chỉ đường (navigator) tìm đến địa chỉ tu viện ở số 31520 Camino Capistrano, San Juan.

Tiếng sáo mùa anh đào trổ lá

 


Dazai Osamu


Quỳnh Chi chuyển ngữ.


 


Bà cụ ấy kể rằng…


Cứ mỗi độ hoa anh đào tàn rụng rồi cây anh đào ra lá, tôi thường nhớ lại chuyện xảy ra cách đây đã ba mươi lăm năm trước, khi cha tôi còn sống.



 


 Cả gia đình tôi – tuy nói là cả gia đình nhưng lúc ấy mẹ tôi đã qua đời từ bảy năm trước, lúc tôi mười ba tuổi – chỉ còn lại ba người, gồm cha tôi với tôi và cô em gái. Năm tôi mười tám tuổi, em gái tôi mười sáu, cha tôi được bổ làm hiệu trưởng một trường trung học, ở một thành phố cổ kính có khoảng hai vạn dân trong tỉnh Shimane nằm trên bờ biển Nhật Bản. Vì không thuê được ngôi nhà nào đàng hoàng, chúng tôi đành thuê hai căn phòng ở sân sau, trong khuôn viên một ngôi chùa dựng lẻ loi cách xa thành phố, gần chân núi, và ở đấy khoảng sáu năm, đến khi cha tôi phải thuyên chuyển về trường trung học Matsue. Tôi lập gia đình là vào khoảng sau khi tới Matsue, vào Mùa Thu năm tôi hai mươi bốn tuổi. Thời bấy giờ lấy chồng vào tuổi ấy là đã ế muộn.


Phải chi mà em gái tôi khỏe mạnh thì tôi cũng đỡ nặng lòng được phần nào, nhưng em gái tôi chẳng giống tôi, em rất đẹp, mái tóc thật dài, giỏi giang khả ái, chỉ có điều là ốm yếu quá. Em đã qua đời sau khi gia đình tôi dọn tới thành phố cổ kính ấy, vào mùa xuân năm thứ hai ở đây, năm tôi hai mươi và em tôi mười tám tuổi.


Chuyện xảy ra vào khoảng thời gian ấy.


Từ trước đó ít lâu, em gái tôi đã có vẻ sẽ không qua khỏi được cơn bệnh. Bệnh lao thận là một bệnh nan y, khi biết được thì cả hai trái thận đã bị hỏng hết. Bác sĩ cũng đã cho cha tôi biết rõ rằng người bệnh chỉ còn cầm cự được trong vòng một trăm ngày nữa. Nghe đâu đã vô phương cứu chữa.


Một tháng, rồi hai tháng trôi qua, chẳng mấy chốc sẽ đến gần ngày thứ một trăm, chúng tôi chỉ còn biết bó tay trơ mắt nhìn. Em gái tôi vẫn không hay biết gì cả, có vẻ hơi khỏe, tuy rằng suốt ngày nằm liệt giường, thế nhưng em vẫn vui vẻ ca hát, cười đùa, vòi vĩnh với tôi, khiến tôi càng thấy lòng nặng trĩu, đau xót như thể có kim châm khắp người, và tưởng chừng như muốn phát điên lên được khi nghĩ đến một điều chắc chắn sẽ phải đến, là chỉ trong vài mươi hôm nữa thôi, em sẽ lìa đời. Tháng Ba, Tháng Tư, Tháng Năm… Vâng, vào giữa Tháng Năm, tôi không thể quên được ngày hôm ấy.


Khắp đồng đất núi đồi phủ màu xanh của lá non, trời ấm áp đến độ muốn cởi trần ra tắm nắng. Màu lá xanh mơn mởn rực rỡ đến chói cả mắt, tôi một mình nghĩ ngợi miên man, một tay để vào giữa đai áo obi quấn quanh bụng, cúi gầm mặt xuống, lầm lũi bước theo những con đường đất, vừa đi vừa nghĩ tới nghĩ lui đủ điều, nhưng tất cả đều bế tắc không có lối thoát làm tôi muốn nghẹn thở. Tôi bước đi mà lòng nặng trĩu muộn phiền.


Thùng! Thùng!


Từ dưới đáy sâu thẳm của địa tầng Mùa Xuân, dường như từ lớp đất đã có từ hằng chục ngàn tỉ năm trước, đang vọng về không ngớt những tiếng dội nặng nề kinh hoàng như tiếng trống dữ dội vang lên từ đáy địa ngục. Tôi không hiểu những tiếng động khủng khiếp đó là tiếng gì, và thực sự tưởng chừng mình sắp mất trí. Tôi đã đứng sững lại như chôn chân một chỗ, rồi đột nhiên ngã quỵ xuống, ngồi bệt trên đồng cỏ mà bật khóc nức nở.


Về sau, tôi mới biết rằng những âm thanh khủng khiếp lạ lùng đó chính là tiếng súng đại bác bắn đi từ các chiến hạm Nhật Bản trong trận đại chiến trên biển. Lúc ấy đúng là lúc đang diễn ra đợt tấn công ồ ạt nhằm tiêu diệt hạm đội Ban Tích của Nga (*), dưới sự chỉ huy của đề đốc Togo. Năm nay lại sắp đến ngày kỷ niệm này của hải quân. Tiếng súng đại bác ấy chắc hẳn đã vang dội khắp thành phố cổ kính trên bờ biển, mọi người chắc đã hoảng loạn tưởng chừng dưới gầm trời này không còn chỗ dung thân. Nhưng lúc ấy tôi nào hay biết gì đâu, chỉ lo nghĩ chuyện của em gái đến gần như muốn phát cuồng, đã tưởng những tiếng động ấy là tiếng trống từ địa ngục vọng về báo điềm chẳng lành, đã ở trên đồng cỏ mà ôm mặt khóc ròng mãi đến lúc chiều sắp tàn, mới đứng lên quay về chùa, thẫn thờ như người mất hồn.


– Chị ơi…


Em tôi gọi. Lúc ấy, em tôi đã kiệt sức, gầy xơ xác, có vẻ như cũng đã lờ mờ hiểu ra rằng mình chẳng còn sống được bao lâu. Em không còn kiếm chuyện vòi vĩnh tôi những điều vô lý như trước, khiến tôi càng thêm đau lòng.


– Chị ơi, lá thư này đến từ bao giờ thế ạ?


Tôi giật mình, buồng tim đau nhói, và cảm thấy rõ là mặt mình đang tái hẳn đi.


– Thư đến từ bao giờ thế hả chị?


Em tôi có vẻ như hồn nhiên, hỏi.


Tôi vội chấn chỉnh tinh thần trở lại, đáp:


– Vừa mới đến lúc nãy, lúc em đang ngủ. Vừa nãy em đang ngủ mà cười đấy. Chị bèn lén nhét bức thư xuống dưới gối cho em. Em không biết gì cả à?


– Vâng, em không biết gì cả chị ạ.


Em như sáng rực lên trong căn phòng mờ tối lúc bóng chiều đang ập xuống, nhoẻn miệng cười xinh.


– Chị ơi, em đọc thư này rồi. Lạ quá. Em không biết người này là ai cả chị ạ.


Làm sao lại có chuyện không biết chứ. Tôi biết người gửi thư đó là một người đàn ông tên M.T. Tôi biết mà. Không, tôi chưa gặp người này bao giờ, nhưng mới năm sáu hôm trước, khi dọn tủ cho em, tôi đã tìm thấy trong góc ngăn kéo một bó thư được buộc lại bằng sợi ruy băng, giấu ở trong ấy. Tuy biết là không nên, nhưng tôi đã cởi ruy băng và lén đọc hết. Có độ ba mươi bức thư, tất cả đều là thư của M.T. Thật ra, ngoài bì thư không hề ghi tên M.T. Nhưng trong thư thì có ghi rõ tên người ấy. Còn ngoài phong bì, ở chỗ tên người gửi, có ghi tên nhiều người con gái. Mà tất cả đều là tên các bạn gái của em tôi. Cho dù có nằm mơ, cả tôi lẫn cha tôi đều không thể ngờ rằng em gái tôi đã thư từ qua lại với bạn trai nhiều đến thế này.


Chắc hẳn là người tên M.T. ấy đã cẩn thận hỏi em tôi, để biết được bao nhiêu là tên các bạn gái của em, rồi lấy tên của hết người này đến người kia mà gửi thư cho em tôi. Tôi phải thầm phục cho sự táo bạo của tuổi trẻ, và đã sợ run bắn cả người lên, khi nghĩ nếu cha tôi hay được thì không biết sự thể sẽ ra sao. Tuy nhiên, tuần tự đọc theo ngày tháng của các bức thư ấy, tôi thấy lòng mình cũng mỗi lúc một lâng lâng rộn rã, thỉnh thoảng tôi còn bật cười khúc khích một mình vì thấy thật đáng yêu, và cuối cùng như thấy cả một khung trời bao la vừa mở ra quanh mình.


Lúc ấy tôi mới tròn hai mươi tuổi, với biết bao nỗi niềm trăn trở thầm kín không sao nói được nên lời của người thiếu nữ. Như một dòng suối cuồn cuộn chảy trong khe núi, tôi đã đọc ngấu nghiến những bức thư ấy, chừng ba mươi bức, cho đến bức thư cuối cùng viết vào Mùa Thu năm ấy, thì bất giác tôi đã đứng bật lên. Cảm giác như có sét đánh ngang tai chắc hẳn là như thế. Tôi giật bắn cả người suýt bổ ngửa. Tình cảm giữa em gái tôi và người kia không còn là một mối tình diễm tuyệt, mà sau đó đã thành ra nhơ nhớp. Tôi đã đốt những lá thư ấy, đốt hết không còn một bức nào. Vì M.T. là một thi sĩ nghèo nàn sống trong thành phố cổ kính ấy, khi biết em gái tôi bị bệnh hắn đã hèn hạ bỏ rơi em, thản nhiên viết cho em thật tàn nhẫn rằng “Thôi, chúng ta hãy quên nhau đi”, để rồi sau đó, hắn không còn viết cho em tôi một bức thư nào nữa. Nếu tôi cứ im lặng suốt đời không hé một lời nào, em gái tôi sẽ từ giã cõi đời như một cô gái xinh đẹp thơ ngây mãi mãi. Nếu tôi chôn chặt vào đáy lòng mình nỗi khổ đau này thì sẽ không một ai hay biết. Nhưng nay tôi đã biết rõ sự thực và hơn nữa vì thương em, tôi đã tưởng tượng ra không biết bao điều, lòng tôi cũng tràn ngập một cảm giác vừa ngọt ngào cay đắng, vừa đau đớn xót xa. Nỗi đau thương này chính là địa ngục trần gian mà chỉ những người con gái đến tuổi dậy thì mới hiểu được. Tôi đã đau khổ một mình như thể chính tôi đã rơi vào cảnh ngộ bẽ bàng ấy. Lúc ấy, quả thật là tôi cũng hơi không được bình thường.


– Chị ơi, chị đọc thử xem. Thư viết gì mà em chẳng hiểu gì cả.


Tôi bỗng thấy em giả dối đến dễ ghét.


– Chị đọc được à?


Tôi khẽ hỏi, lúng túng đỡ lấy bức thư từ tay em gái mà tay tôi run lẩy bẩy. Tôi không cần mở ra đọc, cũng đã biết rõ từng câu trong bức thư này. Nhưng tôi phải làm ra vẻ thản nhiên mà đọc. Thư viết như sau. Tôi chẳng cần nhìn kỹ vào bức thư, cất tiếng đọc:


“Hôm nay, tôi viết thư này để xin em tha lỗi. Sở dĩ mãi cho đến hôm nay tôi đã không gửi thư cho em, tất cả đều vì tôi đã không có đủ tự tin. Tôi nghèo và bất tài. Chỉ cho một mình em thôi, tôi cũng chẳng làm được gì. Tôi giận cho sự bất lực chẳng làm được gì của chính mình, mà chẳng có gì ngoài những lời, chỉ có những lời, những lời không chút giả dối, chỉ có lời nói để chứng minh cho tình tôi đối với em. Tôi không thể quên em một ngày nào, dù ngay cả trong mơ. Nhưng rồi tôi cũng chẳng làm gì được cho em. Tôi khổ vì thế, nên tôi đã nghĩ đến chuyện chia tay với em. Em càng khổ và tình tôi dành cho em càng sâu nặng, tôi lại càng chẳng dám lại gần em. Em có thấu hiểu cho chăng? Tôi nói không chút ngụy biện che giấu điều gì. Tôi đã nghĩ rằng phải làm như thế mới đúng. Thế nhưng nay tôi mới biết rằng mình đã lầm. Rõ ràng là tôi đã sai lầm.


Tôi xin lỗi em. Vì rốt cuộc đó chỉ vì sở dục của riêng mình, chỉ vì tôi muốn tỏ ra với em rằng tôi là một con người thật vẹn toàn.


Lâu nay tôi vẫn tin rằng chúng ta bất lực đến đáng buồn, chẳng làm được gì cả, vì vậy cách xử sự khiêm tốn đẹp đẽ chân thật nhất là trao gửi cho nhau những lời nói chân thành, nên cố gắng thực hiện tất cả những gì trong khả năng của mình. Dù một việc nhỏ nhoi nhất cũng quý. Tôi tin rằng nếu có thể gửi tặng không chút ngượng ngùng dù chỉ một bông hoa cỏ ngàn phương, đó cũng là một thái độ can đảm, là nam nhi chi chí.


Tôi sẽ không chạy trốn nữa. Tôi yêu em. Ngày ngày tôi sẽ làm thơ gửi đến em, và ngày ngày tôi sẽ đến bên bức tường rào nhà em để huýt sáo cho em nghe. Ngay ngày mai, lúc 6 giờ tối, tôi sẽ huýt sáo một khúc quân hành để tặng em. Tôi huýt sáo giỏi lắm nhé. Lúc này đây, sức tôi chỉ làm được có thế thôi. Em đừng cười tôi. À mà không, em cứ cười đi. Em hãy khỏe lên. Tôi tin chắc là Chúa vẫn âu yếm nhìn chúng ta từ đâu đó. Cả em và tôi đều là những đứa con yêu của Người. Chắc chắc rồi chúng ta sẽ có được một cuộc hôn nhân đẹp đẽ.


Tôi đợi đã từ lâu


Năm nay hoa đào nở


Nghe nói màu trắng xóa


Nào hay hoa đỏ hồng


Thôi, tôi đi học đây. Mọi chuyện rồi sẽ suôn sẻ. Hẹn ngày mai nhé. M.T.”


– Chị ơi, em biết…


Em cất giọng trong trẻo thì thầm:


– Em cảm ơn chị. Thư này, chị viết phải không.


Tôi xấu hổ quá, chỉ muốn xé vụn lá thư ấy thành trăm ngàn mảnh, tưởng chừng như muốn vò đầu bứt tóc mình. Có lẽ tâm trạng bứt rứt đứng ngồi không yên là như thế này. Tôi đã viết bức thư ấy thực. Biết được em gái mình đang đau khổ, tôi đã nghĩ cách từ nay cho đến ngày em tôi chết, ngày ngày tôi sẽ bắt chước nét chữ của M.T. để viết thư, dù vụng về cũng cố làm cho được bài thơ theo thể waka, và định đến 6 giờ tối sẽ lẻn ra ngoài bức tường rào mà huýt sáo.


Thật là xấu hổ. Tôi xấu hổ quá, vì đã viết một bài thơ thật vụng về. Sự thể quá bất ngờ nên tôi đã không sao đáp lại lời em được.


– Chị ơi, chị đừng lo, không sao đâu.


Em gái tôi có vẻ thản nhiên lạ lùng, và mỉm cười đẹp đến thánh thiện.


– Chị ơi, chị đã thấy bó thư buộc ruy băng màu xanh lục phải không? Ðấy chỉ là thư giả vờ thôi chị ạ. Mùa Thu năm kia, em buồn quá nên đã tự mình viết những bức thư ấy, viết tên mình vào chỗ người nhận, rồi đem đi gửi. Chị đừng cười em nhé.


Tuổi Xuân thật là quý chị ạ. Từ khi bị bệnh em mới hiểu rõ như thế. Ai lại tự mình viết thư cho mình, sao mà tội lỗi, thảm hại và ngu ngốc thế. Phải chi mà em đã được thực sự giao du với một người con trai ở ngoài đời. Em muốn được ôm thật chặt vào lòng. Chị ạ, cho đến giờ, em chưa từng nói chuyện với người con trai nào, nói gì tới có người yêu. Chị cũng thế phải không? Chị ơi, chị em mình nhầm rồi. Mình đã ngoan ngoãn quá. Ôi, em không muốn chết. Em thấy tội nghiệp cho đôi tay, cho những ngón tay, và mái tóc mình. Em không muốn chết, chị ơi, em không muốn chết!


Lòng ngổn ngang với biết bao tình cảm vừa buồn, vừa sợ, vừa vui, vừa ngượng, tôi chẳng còn biết mình đang như thế nào nữa, chỉ còn biết áp má mình vào gò má gầy guộc của em gái, mặc cho nước mắt ràn rụa.


Tôi khẽ ôm em vào lòng. Ðúng lúc ấy tôi nghe thấy có tiếng huýt sáo, thật nhỏ và mơ hồ, nhưng đúng là tiếng huýt sáo khúc quân hành.


Em gái tôi cũng lắng tai nghe. Tôi ngước nhìn đồng hồ thì thấy lúc đó đúng 6 giờ. Nỗi kinh hãi không sao tả xiết khiến chúng tôi cứ ôm chặt lấy nhau, không dám cử động, tai lắng nghe khúc quân hành lạ lùng vẳng lại từ sau vòm lá anh đào trong vườn.


Có Chúa. Chắc hẳn là có Chúa. Lúc ấy tôi đã tin như thế. Em tôi đã qua đời sau đó ba hôm. Bác sĩ cũng lắc đầu lấy làm lạ. Có lẽ vì em tôi đã qua đời thật nhẹ nhàng và nhanh chóng quá. Nhưng tôi thì lúc đó tôi không lấy gì làm lạ, vì tin rằng tất cả đều theo ý Chúa.


Nhưng giờ đây, thật là xẩu hổ vì ngày càng có tuổi, càng dễ tối mắt lại bởi vật dục. Có lẽ vì không còn vững lòng tin vào Chúa như xưa nữa, nên tôi đã đem lòng ngờ vực rằng tiếng huýt sáo ấy không chừng là của cha tôi. Có lúc tôi đã nghĩ rằng, có thể đó là cha tôi, khi đi làm về, ở phòng bên cạnh đã nghe trộm được câu chuyện của hai chị em tôi, nên người mủi lòng thương cho đứa con gái của người mà đã đóng kịch cũng nên. Phải chăng đây là màn kịch duy nhất trong đời cha tôi, tính tình vốn rất nghiêm khắc.


Nhưng không lẽ thật sự là như thế thật sao? Nếu cha tôi còn sống thì tôi còn có thể hỏi cho ra nhẽ. Nhưng cha tôi đã qua đời, tính đến nay đã mười lăm năm rồi. Không, có lẽ đó là Chúa đã động lòng thương.


Tôi muốn tin như thế cho lòng được thanh thản. Thế nhưng càng ngày càng có tuổi, lại càng dễ tối mắt lại vì vật dục, lòng tin vào Chúa cũng lung lay dần, tôi cũng biết rằng mình nghĩ thế là có tội…


* Dazai Osamu


* Quỳnh Chi chuyển ngữ theo nguyên tác Hazakura to mateki (1939) của Dazai Osamu


Tokyo, ngày 20 tháng 7, 2008


(Nguồn: Chim Việt Cành Nam [http://chimviet.free.fr], qua Thư viện Sáng tạo)

Thơ Trần Vấn Lệ


Ðêm Trăng tùy bút


 


Trời trong không gợn chút mây nào


Mặt Nguyệt như vừa mới được lau


Một cặp nhân tình đi dạo phố


Ðường Xuân… Chắc nghĩ chuyện ngày sau?


 


Ðôi khi tôi thấy hai người dừng


Họ ngước lên trời ngó bóng trăng


Rồi chụm đầu nhau cười khúc khích


Chắc câu chuyện vẫn chuyện Mùa Xuân?


 


Ôi Mùa Xuân đẹp, trăng Xuân đẹp


Người homeless già nhả khói bay


Có nghĩ đời mình như khói đó


Ngày mai tươi sáng tự đêm nay?


 


Ôi Mùa Xuân đẹp, ngôi nhà đẹp


Bông giấy một giàn đang nở hoa


Một chiếc xe trăng lồng bóng lộng


Nằm im chắc nhớ quãng đường xa?


 


Ðêm trăng vẫn có người đơn chiếc


Xe bus vừa ngừng, xe bus đi


Cô gái một mình không kẻ đón


Ðưa tay vén tóc, lối trăng về…


 


Ðêm trăng này ở quê nhà nhỉ


Mộ Mẹ mồ Cha cỏ chắc tươi?


Tiếng dế hết chưa lời thống thiết


Gọi đi, nghe thử tiếng bên trời…


 


Ðêm trăng, tôi tựa hành lang gió


Gió thoảng, không nhiều như đêm qua


Trăng cũng sáng hơn trăng tối trước


Giữa trời đẹp quá: Một Bông Hoa!


 


Ước chi gọi được ai là Nguyệt


Ôm riết vầng trăng hả dạ lòng…


Rồi nhắc lại câu thơ khởi nhập:


“Ðêm nay trời đẹp bóng trăng trong”.


 


 


Vĩnh biệt



Bác Sĩ Hoàng Văn Ðức


 


Từ nay mãi mãi chẳng còn nhau…


Như một con sông chẳng có cầu


Người ở bên kia bờ Vĩnh Cửu


Người bên nay đứng ngó trăng sao!


 


Trăng sao nay lặn rồi mai hiện


Người đã xa người áo gió bay


Tóc bạc tóc xanh màu sẽ nhạt


Cỏ sương lạnh buốt mỗi bàn tay…


 


Bàn tay từng ấm thời thương mến


Một chuỗi Mân Côi đếm một mình!


Trăm Lẻ Tám hồi Kinh mặc niệm


Thôi thì cũng thỏa chuyện Tâm Linh!


 


Người đi, tôi khóc theo từng bước


Nước mắt khô còn máu của tim…


Tôi sống mỏi mòn như thế đó


Một ngày nào đó… mỏi mòn quên!


San José, 10 tháng 3, 2012


* Trần Vấn Lệ

Tôi đi vận động Quốc Hội hôm 6 tháng 3


hơi hỗn độn nhưng vui


 


Tâm Việt


 


Trong bài trước, tôi đã kể chuyện đi vào Tòa Bạch Ốc hôm Thứ Hai, 5 tháng 3, 2012. Ðánh giá buổi gặp gỡ đó, có người cho rằng ta chỉ nên coi đó như là một vụ chạm ngõ, chưa phải là một đám hỏi và đặc biệt không thể coi đó là một đám cưới.


Chính ông Quintan Wiktorowicz hôm đó cũng đã định nghĩa rõ ràng: Tòa Bạch Ốc và người Mỹ gốc Việt chúng ta mới ở giai đoạn sơ giao, lần đầu gặp nhau, tìm hiểu về nhau; phải qua giai đoạn này rồi mới có thể lên đến được giai đoạn “engagement” (“bắt tay làm việc”), hay nói theo lối ví von trên, mới tới giai đoạn làm đám hỏi; và cuối cùng thì mới đến nấc cao nhất, giai đoạn “partnership” (coi nhau như đối tác). Tùy theo kỳ vọng của chúng ta có thiết thực hay không trước khi bước vào phòng họp hôm đó, chúng ta sẽ đánh giá buổi họp là thành công hay thất bại. Nếu chúng ta nghĩ là sau khi chúng ta ra đã quân rầm rộ (khoảng 120 nghìn chữ ký vào thỉnh nguyện thư tính đến hôm 5 tháng 3) thì Tòa Bạch Ốc phải ôm chầm lấy chúng ta thì chắc chắn chúng ta phải thất vọng song đó là lỗi ta hay lỗi người?


 


Qui mô quá lớn


 


Trong khoảng 500 người có dịp tham gia vào cuộc vận động hành lang hôm Thứ Ba, 6 tháng 3, phải nói là gần như tuyệt đại đa số đã không có kinh nghiệm đi vận động hành lang ở xứ này. Ðến ngay một nhà báo lão thành như anh Vũ Ánh trên show của Ðỗ Dzũng cũng phải công nhận đây là lần đầu anh tham gia một cuộc vận động hành lang ở Quốc Hội Hoa kỳ.


Cộng thêm vào đó con số người tham gia quá lớn, mà phần lớn không quen thuộc với các tòa nhà văn phòng Quốc Hội, dù là bên Hạ Viện hay Thượng Viện, đặt ra nhiều vấn đề nhiêu khê về chia các phái đoàn (khoảng 40 phái đoàn) và giữ cho các phái đoàn (trung bình khoảng 15 người một phái đoàn) khỏi lạc nhau, là cả một vấn đề.


Tuy chiều Chủ Nhật, 3 tháng 3, đã có briefing trước ở Marriott Courtyard về cách tham gia vào một cuộc vận động hành lang và nhiều chỉ dẫn cho người mới Washington lần đầu để làm công việc này, song đêm hôm sau, ở nhà hàng Thần Tài, việc phân chia phái đoàn cũng vẫn lấy gần hết đêm mới tạm gọi là xong. Mặc dầu ai đến cũng tràn đầy thiện chí song không phải là ai cũng dầy dặn kinh nghiệm ở Washington và nhất là đi vận động hành lang trên Quốc Hội. Ngay đến một người địa phương như nhà văn nhà thơ Nguyễn Thị Thanh Bình cũng bị lạc lên lạc xuống khi đi từ phòng này sang phòng khác, nhất là nếu lại là phải sang một bin đinh khác. Chưa kể người đi nhanh, người đi chậm, người thích la cà… Thậm chí có người trưởng phái đoàn đã đến văn phòng có hẹn rồi mà quay lại, chả thấy phái đoàn của mình đâu cả.


Con số hơn 500 người tham gia đã gây ùn tắc ngay ở cửa tòa nhà văn phòng Hạ Viện Rayburn. Số người rồng rắn đã làm cho chính nhiều nhân viên Quốc Hội không đi qua chỗ kiểm soát an ninh được kịp thời để vào làm việc. Cảnh sát lúc đầu còn chia phía người Việt đi sang một bên để cho những người khác có thể vào ở một bên. Nhưng thế vẫn chưa giải quyết được vấn đề, Cảnh sát lại phải hô hoán số đông người Việt đi sang một cửa khác của bin đinh. Việc chia đoàn người Việt này sang hai ba ngõ đã góp phần trực tiếp vào chuyện các phái đoàn bị tách ra: như phái đoàn do tôi dẫn đầu, hơn một nửa đã vào được bên trong cửa nhìn ra đường Independence Avenue thì chúng tôi được lệnh đi sang cửa nách ở bên hông bin đinh. Vào được bin đinh, tôi gặp Dân Biểu Cao Quang Ánh, ông hỏi: “Chú có quen bên Thượng Viện không?” “Có,” tôi trả lời. “Thế chú có thể dẫn phái đoàn sang bên đó, gặp một thượng nghị sĩ ở bin đinh Hart không?” “Ðược, nhưng là mấy giờ?” “10 giờ.” “10 giờ thì chỉ còn có mấy phút nữa mà hiện phái đoàn của tôi còn đang tan tác 2, 3 nơi thì làm sao sang bên ấy kịp? Vả, cách nào sang bên ấy giờ này? Traffic ngoài đường tệ lắm!” “Chú có thể đi tàu hầm của Quốc Hội ở dưới đất!”


“Ðây sang đó mất bao lâu?” “Chừng 20 phút.” “Thế thì làm sao mà sang kịp.”


Cuối cùng, chúng tôi đành phải bỏ cuộc, lỡ hẹn với văn phòng bên Thượng Viện. Bởi khi tìm ra phái đoàn của tôi thì cũng đã đến giờ phải gặp một văn phòng thứ 2 ở Hạ Viện rồi. Ðang đi dọc một hành lang thì có vài ba chị chặn lại hỏi: “Chúng cháu đi vào phái đoàn của bác được không?” “Thế là sao? Phái đoàn các chị đâu?” “Cháu mới đến, không biết phái đoàn nào của mình,” một chị trả lời. Một em khác lại nói, “Cháu có phái đoàn nhưng lạc mất rồi, bây giờ cháu đi theo bác nhé!” Nghĩa là loạn xì ngầu nhưng vui đáo để. Không ít người lắc đầu song được cái may là ai tinh thần cũng cao nên cũng xí xóa cho nhau cả.


         


Mấy văn phòng chính


 


Vì Quốc Hội Mỹ có tới 535 văn phòng (435 văn phòng dân biểu và 100 văn phòng thượng nghị sĩ) nên dễ hiểu là các toán truyền thanh, truyền hình cũng như báo chí (như Người Việt, với hai ký giả Ðỗ Dzũng và Vũ Ánh) tập trung đi vào văn phòng của những nhân vật có uy tín nhất trong vấn đề nhân quyền ở VN. Tỷ như văn phòng TNS John McCain, TNS Jim Webb, TNS John Kerry (một phái đoàn hùng hậu từ Massachusetts đi vào văn phòng ông này với GS Nguyễn Thanh Trang), TNS John Cornyn, người đang đệ trình Dự luật S. 1051 về Nhân quyền VN trên Thượng Viện, còn ở Hạ Viện thì là văn phòng các dân biểu trong Hội nhóm Nhân quyền (Human Rights Caucus) hay trong Vietnam Caucus.


Như khi vào văn phòng Dân Biểu Ed Royce, phái đoàn đã được đón nhận với hai cánh tay mở rộng. Ông hoàn toàn đồng ý với nội dung Thỉnh Nguyện Thư và khen cộng đồng VN đã biết huy động sức mạnh phi thường của 130,000 chữ ký (tính đến hôm đó). Ông còn hứa sẽ tổ chức điều trần về trường hợp Việt Khang.


Phái đoàn vào văn phòng Dân Biểu Dana Rohrabacher (Cộng Hòa, Cali) cũng được đón tiếp rất niềm nở. Khi nghe nói đến trường hợp Việt Khang, ông bảo: “Quý vị có bài hát của Việt Khang ở đây không?” Thì may quá, một chị đưa ra ngay cái CD với hai bài hát của Việt Khang, “VN tôi đâu?” và “Anh là ai?” cùng với lời Anh của hai bài hát đó. Ông Rohrabacher bảo tôi sẽ về nghe và sẽ tìm cách phổ biến câu chuyện Việt Khang trên báo chí Hoa Kỳ.


Nhưng cũng có một vài trường hợp khá bất ngờ. Như trường hợp vào văn phòng Dân Biểu Ileana Ros Lehtinen (Cộng Hòa, Florida), chẳng hạn. Bà không những ủng hộ chúng ta, bà còn nói: “Tôi gốc Cuba nên tôi biết là ở một nước như Cuba hay Việt Nam thì có ở tù ra thì cũng chỉ là đi từ một nhà tù nhỏ ra một nhà tù lớn mà thôi. Vì thế nên ngày mai, tôi sẽ đưa Dự luật Nhân quyền VN H.R. 1410 của Dân Biểu Chris Smith ra Ủy Ban Ngoại Giao Hạ Viện để cho ủy ban thông qua và đưa sang khoáng đại Hạ Viện biểu quyết.” Và bà đã làm như bà nói. Ngày hôm sau, 7 tháng 6, Dự luật H.R. 1410 đã thông qua Ủy Ban Ngoại Giao Hạ Viện một cách dễ dàng.”


 


Tên Việt Khang đã vang lên trong phòng hội lớn của Hạ Viện


 


Nghe và phẫn nộ về trường hợp Việt Khang, nữ Dân Biểu Susan Davis ngay ngày hôm sau (7 tháng 3) đã ra phòng hội lớn của Hạ Viện kêu gọi Hoa Kỳ phải can thiệp và đòi hỏi thả ngay Việt Khang vì anh không làm gì hơn là nói lên cõi lòng của anh qua hai bài hát tuyệt vời.


Cũng tương tự, qua ngày hôm sau nữa, 8 tháng 3, ngày Phụ Nữ Quốc Tế, bà Dân Biểu Loretta Sanchez cũng đứng trước phòng hội lớn của Hạ Viện lên án Hà Nội và đòi thả ngay lập tức ba phụ nữ VN tiêu biểu: Bùi Thị Minh Hằng, Ðỗ Thị Minh Hạnh và Phạm Thanh Nghiên. Minh Hằng là người đàn bà đã cứng rắn kêu gọi chống Trung Cộng rồi đã bị công an đưa vào một trung tâm phục hồi nhân phẩm, Minh Hạnh là cô bé mới hăm mấy tuổi mà đã dám đứng ra tổ chức lao động VN biểu tình đòi quyền của người lao động để rồi bị tuyên án 7 năm tù, còn Phạm Thanh Nghiên lại còn chỉ tọa kháng tại nhà với biểu ngữ “Hoàng Sa Trường Sa là của VN.”


Gần như cùng một lúc, hai bà Dân Biểu Loretta Sanchez (Dân Chủ) và Zoe Lofgren (Dân Chủ), một người ở Bắc Cali, một người ở Nam Cali, cũng ký chung một lá thư gởi cho bà Tổng Trưởng Ngoại Giao Hillary Clinton kêu gọi Hoa Kỳ can thiệp mạnh mẽ để đòi hỏi Hà Nội phải thả các tù nhân lương tâm.


Riêng phái đoàn chúng tôi, tính đến cuối ngày 6 tháng 3, thì đi thăm viếng được 7 văn phòng Hạ Viện ở trong hai tòa nhà Rayburn và Longworth. Mệt rã rời nhưng không thể không nói là không vui. Như trường hợp văn phòng cuối cùng phái đoàn chúng tôi đến thăm, văn phòng của Dân Biểu Brad Sherman (khu vực Los Angeles). Ông hỏi: “Quý vị có ai là cử tri của tôi không?” Hơi đáng tiếc là vì phái đoàn chúng tôi toàn người Georgia, Utah và Virginia, nhưng rồi ông ta cũng nói: “Không sao! Tôi ủng hộ tất cả các dự luật về nhân quyền VN. Ðây nhé, tôi vừa viết một lá thư tường trình cho cử tri của tôi về vấn đề này: tôi ủng hộ Dự luật H.R. 1410, tôi cũng ủng hộ Dự luật H.R. 156 của Dân Biểu Ed Royce về chuyện chế tài những quan chức vi phạm nhân quyền ở VN hay Dự luật khác của ông ta về Tự do trên Mạng (Internet Freedom), tôi cũng ủng hộ luôn hai dự luật của bà Loretta Sanchez về nhân quyền VN. Ðấy, tôi hoàn toàn đồng ý với các bạn.” Nói xong, ông lôi phái đoàn vào văn phòng ông để chụp ảnh lưu niệm. Ðến khi có anh Hiệp ở Georgia tặng ông một cái khăn quàng cổ màu cờ VN (vàng ba sọc đỏ), ông rất lấy làm thích thú. Ông nói, “Thế thì quý vị lại phải chụp cùng với tôi với cái phu la này chứ!”

Khóa Huấn Luyện Báo Chí Thiểu số

 


Thực tập báo chí


 


Mai Hoàng


 


Sau 4 tuần lễ học lý thuyết căn bản về 4 bộ môn báo chí của khóa Huấn Luyện Báo Chí Thiểu số (Minority Media Training) và hai ngày đi thăm viếng các cơ sở báo chí trong vùng Song Thành (Twin City), các học viên đã tự thực hiện và sắp hoàn tất các dự án thực tập.










Thầy giáo Sean Ley đang hướng dẫn cách tạo website.


Các học viên khóa học được chia làm 4 nhóm để tự thực hiện các sản phẩm trước khi tốt nghiệp. 4 học viên làm chương trình phát thanh, 5 học viên thực hiện show truyền hình, 12 học viên kiến tạo một web site và 8 học viên làm một trang báo.


Mọi tham dự viên rất lấy làm vui vẻ vì đã hiểu được các phần căn bản của nghề báo và nhất là tự tay mình làm ra các sản phẩm ưng ý. Học viên Nguyễn Hiếu cho biết: “Hiếu thích làm web và video từ lâu, lớp học này giúp Hiếu mở mang kiến thức rất nhiều.” Một học viên khác là ca sĩ Thế Vinh thì cho rằng: “Chỉ 10 tuần mà kiến thức học hỏi và thực tập quá ư đầy đủ.”










Học viên đang thực hiện show truyền hình.


Ðược biết những sản phẩm làm được của các học viên sẽ đem trình chiếu trong buổi lễ tốt nghiệp và tối Thứ Bảy, ngày 31 tháng 3 năm 2012 tại nhà hàng Mai Village của thành phố St. Paul, Minnesota.

Giới thiệu Thương mại: Spectrum Travel



 


Mai Hoàng


 


Ðây là một cơ sở lo về du lịch, bán vé máy bay lâu đời nhất ở Minnesota. Công ty Spectrum Travel đã và đang giúp nhiều đồng hương Việt rất hữu hiệu những dịch vụ thuộc về du lịch.


Thật vậy trên 20 năm, Spectrum Travel lúc nào cũng “bảo đảm đi đến nơi về đến chốn” và luôn luôn ân cần niềm nở với khách hàng. Ông Thiện Nguyễn, giám đốc điều hành cơ sở thì nhắn nhủ khách hàng, “Hãy mua vé với nơi bạn biết, với người bạn tin.”


Những đặc điểm của Spectrum Travel thì rất nhiều chẳng hạn như:


– Nhân viên bán vé kinh nghiệm lâu năm.


– Ðại lý duy nhất có hợp đồng với các hãng hàng không quốc tế.


– Ðịnh giá rẻ và chính xác với hệ thống được quyền in vé tại chỗ.


– Chụp hình làm Visa, Passport, Re-entry Permit.


– Nhận thay đổi hộ chiếu Việt Nam và chứng nhận công hàm độc thân.


– Có giá rẻ mỗi ngày đi các nơi. Ðặc biệt Việt Nam.


Giờ mở cửa: Thứ 2-Thứ Sáu: 9AM-6PM,


Thứ Bảy: 10AM-4PM


Chủ Nhật: theo hẹn


Ðịa điểm: SPECTRUM TRAVEL


2718 Nicollet Ave. Suite 103


Minneapolis, MN 55408


612-821-1040


Toll Free: 1-888-550-7190

Tin mới cập nhật