
Vụ Mường Nhé, Ðiện Biên: Tám người Hmong bị án tù
Khoảng 300 người Hmong tị nạn ở Thái Lan
HÀ NỘI (NV) –Nhà cầm quyền Việt Nam đã bỏ tù 8 người sắc tộc Hmong với cáo buộc “phá rối an ninh” qua việc tụ tập để làm áp lực với nhà cầm quyền để thành lập một “vương quốc Hmong” mà không nguồn tin độc lập nào có thể kiểm chứng sự thật tại chỗ khi chuyện xảy ra.
Những người Hmong bị lôi ra tòa án tỉnh Ðiện Biên ngày 13 tháng 3, 2012. (Hình: TTXVN)

“Ngày 13 tháng 3, Tòa án Nhân dân tỉnh Ðiện Biên đã mở phiên tòa sơ thẩm, xét xử 8 bị cáo về tội phá rối an ninh trong vụ tụ tập đông người, gây sức ép với chính quyền, yêu sách đòi thành lập ‘Vương quốc Mông,’ gây mất ổn định về tình hình an ninh trật tự tại bản Huổi Khon, xã Nậm Kè (huyện Mường Nhé, tỉnh Ðiện Biên) vào cuối tháng 4 đến đầu tháng 5, 2011.”
Thông Tấn Xã Việt Nam (TTXVN) loan tin như vậy hôm Thứ Tư và nói những người bị đưa ra tòa không phải là những kẻ “chủ mưu” và phần lớn lại “không biết chữ.”
Hai trong số 8 người nói trên bị kết án 30 tháng tù, còn 6 người kia mỗi người 24 tháng tù và đều bị 2 năm quản chế.
Hồi đầu năm ngoái, tin tức quốc tế đã rất sôi nổi khi tin tức vụ hàng ngàn người sắc tộc Hmong khắp nơi, gồm cả từ Tây nguyên đã kéo về ấp Huổi Khon chờ đón một đấng cứu thế xuất hiện, một lý do hoàn toàn thuần túy tôn giáo. Những tin tức sơ khởi nói rằng họ bị cấm sinh hoạt nên đã bắt giữ một số viên chức nhà cầm quyền địa phương làm con tin, dẫn đến cuộc đàn áp.
Trên nguyên tắc, chế độ Hà Nội không dùng quân đội để đàn áp dân. Nhưng một số nguồn tin quốc tế nói “nhà cầm quyền Hà Nội đã đưa cả trung đoàn gồm cả trực thăng và chiến xa tới trấn áp. Một số người đã bị bắn chết, hàng trăm người đã bị thương hoặc bị bắt trong khi hàng trăm người khác đã chạy trốn vào rừng vì sợ bị giết. Nhà cầm quyền Hà Nội chỉ nhìn nhận có một trẻ em chết bệnh và không hề xác nhận có bắt ai.”
Hiện không ai biết đích xác số người Hmong còn đang bị giam giữ cũng như số người còn trốn trong rừng là bao nhiêu. Nhưng có một số những người Hmong tham gia vào cuộc tụ tập ở Mường Nhé đã chạy trốn được tới Thái Lan và đang xin đi tị nạn chính trị ở một nước thứ ba.
“Có 48 gia đình với khoảng giữa 250 tới 300 người Hmong gồm cả người lớn và trẻ em đã chạy từ Mường Nhé sang Thái Lan xin tị nạn chính trị và tôn giáo.”
Ông Nguyễn Ðình Thắng, Giám đốc Ðiều Hành của tổ chức BPSOS có trụ sở ở Mỹ đã từng tới Thái Lan gặp người Hmong ở Mường Nhá chạy sang đây tị nạn trả lời phỏng vấn của báo Người Việt qua điện thoại hôm Thứ Tư, 14 tháng 3, 2012.
“Lý do của sự tụ tập của hàng ngàn người Hmong ở Huổi Khon, huyện Mường Nhé là hoàn toàn tôn giáo. Nhà cầm quyền đã cấm đạo, giật sập nhà của cả làng người Hmong nên họ đã biểu tình phản đối chứ không có chuyện lập vương quốc Hmong như nhà nước tuyên truyền.” Ông Thắng kể lại lời của những người Hmong đang tị nạn ở Thái Lan. Theo ông, có 3 người Hmong tuyên truyền về sự xuất hiện của Ðấng Cứu Thế nhưng không phải là lý do chính của cuộc biểu tình.
Những người Hmong chạy sang Thái Lan xin tị nạn vì làng của họ đã bị nhà cầm quyền phá hủy, không còn đất sống nên họ phải đi, ông Thắng cho hay. Nói họ kêu gọi thành lập vương quốc Hmong tự trị là “vu cáo, đánh lạc hướng,” theo ông Nguyễn Ðình Thắng.
TTXVN gọi cuộc tụ tập của người Hmong ở bản Huổi Khon là “nghe theo kẻ xấu, đến tụ tập dựng lán trại để cầu nguyện, đón vua Mông với mục đích thành lập vương quốc Mông.”
Bản tin này cáo buộc các người cầm đầu là Vàng A Ía và Thào A Lù nhưng không biết hai người này đã bị bắt hay chưa, hoặc đang ở đâu.
TTXVN nói hai người này “đã tuyên truyền kêu gọi mọi người dân tộc Mông phải đoàn kết, sẽ có vua Mông trong thời gian tháng 5, 2011, nên nhiều người bán hết tài sản đi tập trung cầu nguyện, góp tiền cho tổ chức, mục đích tập trung đông người gây sức ép với chính quyền nhân dân, đòi yêu sách cấp đất riêng để thành lập vương quốc Mông.”
Sau khi đã dẹp hoàn toàn được sự tụ tập của người Hmong, Hà Nội tổ chức một phái đoàn báo chí quốc tế chỉ đứng xa xa nhìn một khu vực hoang vu và gặp một số viên chức tỉnh Ðiện Biên để nghe tuyên truyền chứ không hề được gặp những người mà người ta muốn nghe kể sự thật.
Nhà cầm quyền Việt Nam “liên tục cấm các người kiểm chứng để xem sự thật đã diễn ra và họ chỉ cung cấp tin tức một chiều về diễn tiến vụ việc.” Phil Robertson, phó giám đốc Á Châu Vụ của Tổ chức Theo Dõi Nhân Quyền (Human Rights Watch) phát biểu: “Những vụ loan báo gần đây về những người tổ chức biểu tình đã gây xáo trộn an ninh trật tự đẻ ra rất nhiều câu hỏi, chẳng hạn như những người đó đã thật sự làm gì để đến nỗi phải bỏ tù.”
Vụ Mường Nhé là vụ nổi bật hồi năm ngoái với trên dưới 5 ngàn người Hmong tụ tập liên quan đến các sắc dân thiểu số.
Hồi năm 2001, hàng chục ngàn người Thượng ở Tây nguyên đã đồng loạt biểu tình để đòi tự do tôn giáo và đòi đất canh tác truyền thống đã bị nhà cầm quyền cướp đoạt mà không hề đền bù. Họ đã bị đàn áp khốc liệt nên hàng ngàn người đã chạy trốn vào rừng hoặc vượt biên sang Cambodia xin tị nạn chính trị. Nhà nguyện tư gia của người Thượng bị đốt cháy hay giật sập. Hàng chục người đã bị án tù nặng nề. Nhiều người còn cho biết họ bị ép buộc ký các tờ giấy bỏ đạo nếu không sẽ bị khủng bố tiếp tục.
Ngày Thứ Tư tuần trước, đã bỏ tù hai giáo dân Công Giáo trong một phiên xử ở Nghệ An chỉ vì những người này tích cục tham dự vào việc đấu tranh đòi tài sản cho giáo hội Công Giáo ở Quảng Bình. Bà Võ Thị Thu Thủy, 50 tuổi bị kết án 5 năm tù trong khi anh Nguyễn Văn Thanh, 28 tuổi bị kết án 3 năm.
Hồi tuần trước Ủy Ban Ngoại Giao Hạ Viện Hoa Kỳ đã thông qua dự luật Nhân Quyền Việt Nam, một bước cần thiết để đưa dự luật ra biểu quyết tại một phiên họp khoáng đại trước khi chuyển lên Thượng Viện. Ðạo luật nếu được ban hành cấm Hoa Kỳ viện trợ những khoản “không thuộc lãnh vực nhân đạo” cho Việt Nam cho tới khi nước này cải thiện nhân quyền. (TN)
Hàng trăm người đập phá nhà và trụ sở xã
HÀ NỘI (NV) –Hàng trăm người của một làng đã kéo đến đập phá cả nhà của chủ tịch xã cũng như trụ sở “Ủy ban Nhân dân” xã tại huyện ngoại thành Mê Linh, Hà Nội, hôm Thứ Hai vừa qua.

Hàng trăm người dân trong thôn Phú Mỹ kéo đến UBND xã Tự Lập phản đối việc ký giấy mời những thanh niên trong làng lên xã rồi đưa thẳng lên công an huyện Mê Linh làm việc. (Hình: Báo Giáo Dục Việt Nam)
Theo tin các báo Giáo Dục Việt Nam và Pháp Luật và Xã Hội, “Do bức xúc với ‘lệnh’ triệu tập thanh niên trong thôn Phú Mỹ của công an xã Tự Lập, dân kéo ra đập phá UBND xã và nhà chủ tịch xã…”
Các nguồn tin này cho hay khoảng 40 thanh niên của thôn Phú Mỹ đã bị công an xã gọi đi thẩm vấn, một số còn bị giải lên công an huyện Mê Linh để điều tra. Tin tức nói rằng nhiều người đã bị công an đánh đập tàn nhẫn trước khi thả ra.
Nguyên nhân của vụ việc, theo báo Giáo Dục Việt Nam, “Sự việc là do một vài thanh niên thôn Bạch Trữ sang quan hệ chơi bời đã xảy ra mâu thuẫn. Ngày 11 tháng 2 khi xảy ra xô xát một số đối tượng còn ném cả gạch đá vào nhà dân. Hiện đã có một số thanh niên Bạch Trữ phải đi viện do một số đối tượng dùng hung khí gì đó tấn công bất ngờ. Chúng tôi đã phối hợp với công an xã Tiến Thắng và công an huyện Mê Linh để xử lý vụ việc.” Trần Văn Hòa, trưởng công an xã Tự Lập nói.
Tuy nhiên, người dân ở thôn Phú Mỹ lại nói rằng con em của họ là nạn nhân của thanh niên thôn Bạch Trữ, xã Tiến Thắng. Vì có “mâu thuẫn” gì đó giữa thanh niên hai làng mà người ta thấy có câu nói như một đe dọa, “Người thôn Phú Mỹ qua Bạch Trữ cứ dưới 35 tuổi là chém…” Một số người ở thôn Phí Mỹ bị thương phải vào bệnh viện trị thương bị nghi là “do các đối tượng của thôn Bạch Trữ.”

Nhà riêng chủ tịch xã Tự Lập bị đập phá nghiêm trọng. (Hình: PLVN)
Nhưng công an lại chỉ bắt giữ một số đông đảo thanh niên ở thôn Phú Mỹ gây bất mãn cho người địa phương. Họ cho rằng “chính quyền xã Tự Lập và CA huyện Mê Linh phải bắt nhóm thanh niên côn đồ ở thôn Bạch Trữ (xã Tiến Thắng) vì có hành vi đánh người thì lại bắt những thanh niên trong thôn Phú Mỹ…?”
Vụ công an bắt nhiều người và đánh đập tra tấn đã trở nên “nóng” khi người dân rất bức xúc và đã đốt nhà chủ tịch xã và bao vây đập phá trụ sở UBND xã Tự Lập vào đêm 12 tháng 3 vừa qua,” theo báo GDVN.
Báo Pháp Luật Việt Nam thì kể: “Thấy con cháu mình bị bắt lên CA huyện mà không một lời giải thích, đến tối lại không thấy cho về nên hàng trăm người dân kéo đến UBND xã để đòi người. Bức xúc, nhiều người dân đã lao vào UBND xã đập phá đồ đạc công sở và tiếp tục kéo đến nhà riêng ông Dương Văn Nhạn, chủ tịch xã Tự Lập, đập phá hết đồ đạc, bàn ghế… và đốt ngôi nhà đang xây.”
Tờ Pháp Luật và Xã Hội kể lại lời ông Trần Văn Vấn, một người dân thôn Phú Mỹ nói: “Chúng tôi không đồng tình với cách làm việc của chính quyền địa phương, đặc biệt là ông Dương Văn Nhạn – Chủ tịch xã. Thanh niên 2 xã đánh nhau nhưng họ chỉ bắt mỗi thanh niên xã Tự Lập còn thanh niên xã Tiến Thắng thì không bắt ai.”

Máy móc, đồ đạc trong phòng UBND xã Tự Lập bị phá. (Hình: PLVN)
Ông này kể tiếp: “Ðêm qua, cháu Ðen học lớp 11, bị một nhóm thanh niên bên xã Tiến Thắng cầm dao, kiếm rượt đuổi chém may mà chạy được. Nó hiền lành ngoan ngoãn chứ có đánh ai bao giờ.”
Cho tới ngày Thứ Tư, một số người dân vẫn còn tụ tập bên ngoài trụ sở xã Tự Lập còn ông chủ tịch xã đã phải đưa gia đình đi lánh nạn. (TN)
Hành khách trên 75 tuổi đi máy bay sẽ không bị khám kỹ
WASHINGTON (Chicago Tribune) – Trước sự phẫn nộ của quần chúng về việc các hành khách cao niên đi máy bay bị khám xét quá đáng, một giới chức cho biết hôm Thứ Tư rằng cơ quan an ninh phi trường (TSA) sẽ đơn giản thủ tục khám xét đối với người từ 75 tuổi trở lên, tại phi trường quốc tế O’Hare.

Một nhân viên TSA xét một hành khách ở phi trường Phoenix, Arizona. O’Hare là phi trường đầu tiên thử áp dụng phương pháp khám xét đơn giản đối với hành khách tuổi 75 trở lên. (Hình: Jeff Topping/Getty Images)
Thủ tục khám xét mới bắt đầu được áp dụng thử vào ngày 19 Tháng Ba tại O’Hare và ba phi trường khác, theo đó cách khám xét tương tự như đối với trẻ em tuổi 12 trở xuống, áp dụng từ hồi năm ngoái.
Theo các giới chức, hành khách lớn tuổi không còn phải cởi giày và áo khoác mỏng mặc bên ngoài. Thay vì bị rà soát toàn thân từ trên xuống dưới khi chuông báo động reo, họ chỉ đi qua một máy rà khác lần thứ hai để kiểm soát lại một lần nữa. Tuy nhiên, sau trạm này mà chuông vẫn còn reo thì mới áp dụng phương pháp thông thường như đối với mọi hành khách khác.
Bà Kathleen Petrowsky, giám đốc an ninh của TSA tại phi trường O’Hare, cho biết sự thay đổi này là một phần của chính sách mới của TSA nhằm tập trung nhiều hơn vào những hành khách có nhiều khả nghi hơn.
Ngoài O’Hare, phương pháp kiểm soát mới sẽ được áp dụng thử ở phi trường Denver, Orlando và Portland. (TP)
Azerbaijan bắt 22 người tình nghi làm khủng bố cho Iran
BAKU, Azerbaijan (AP) –Cơ quan an ninh Azerbaijan hôm Thứ Tư cho biết họ vừa bắt giữ 22 người, bị cáo buộc được Iran mướn để tiến hành tấn công khủng bố các tòa đại sứ của Mỹ và Israel, cũng như các tổ chức và công ty có liên hệ với Tây phương.

Ðồ lưu niệm bằng gỗ có hình bin Laden, George W. Bush, Putin, bày bán trên lề đường thủ đô Baku, Azerbaijan. Chính quyền xứ này vừa bắt 22 người tình nghi được Iran mướn để tấn công khủng bố các tòa đại sứ của Mỹ và Israel. (Hình: Alexander Nemenov/AFP/Getty Images)
Tất cả người bị bắt đều có quốc tịch Azerbaijan, từng được lực lượng Vệ Binh Cách Mạng Iran huấn luyện. Không rõ cuộc bắt giữ xảy ra từ lúc nào.
Hồi Tháng Hai, Azerbaijan từng loan báo bắt giữ một nhóm tình nghi khủng bố khác, bị cho là làm việc cho cơ quan an ninh Iran. Vào Tháng Giêng, Azerbaijan cũng bắt hai người bị cho âm mưu sát hại hai giáo sư tại một trường Do Thái ở thủ đô Baku.
Năm 2007, Azerbaijan truy tố 15 người liên quan đến một mạng lưới gián điệp nối kết với Iran. Họ bị cáo buộc chuyển lậu tin tình báo về các hoạt động của Tây phương và Israel.
Chính quyền Israel tố cáo Iran có nhúng tay đến ba vụ khủng bố gần đây, ở Thái Lan, Ấn Ðộ và Georgia trong Tháng Hai. Iran phủ nhận tất cả. (TP)
500 người ứng cử tổng thống Ai Cập
CAIRO (AP) –Các giới chức Ủy Ban Bầu Cử Ai Cập cho biết gần 500 người xin đơn ứng cử tổng thống trong cuộc bầu cử dự tính vào hai ngày 23 và 24 Tháng Năm sắp tới.

Hai ứng cử viên tổng thống El-Sayyed Ahmed (trái) và Aboul Seoud Nourdeddine cưỡi xe mô tô sơn quốc kỳ Ai Cập, sau khi ghi danh ứng cử ở Cairo. (Hình: AP/Amr Nabil)
Các viên chức yêu cầu đừng tiết lộ danh tánh vì không được phép phổ biến tin tức cho các cơ quan truyền thông nói rằng tới ngày Thứ Tư, 14 Tháng Ba, đã có 472 đơn được phát ra.
Theo họ, ngoài một số nhân vật ít nhiều có tên tuổi và triển vọng tranh cử tích cực vận động từ một thời gian gần đây, hầu hết là những người chưa ai biết tới thuộc nhiều ngành nghề và hoạt động rất khác nhau từ ký giả, luật sư cho tới thẩm phán, giáo viên, thương gia.
Dù sao tình trạng ấy cũng thể hiện niềm phấn khởi chung trên toàn quốc đối với cuộc bầu cử tổng thống tự do lần đầu tiên sau khi Tổng Thống Hosni Mubarak bị lật đổ trong cuộc cách mạng năm ngoái.
Tình trạng an ninh tại Ai Cập hiện nay vẫn còn rất kém, nhiều vụ cướp bóc xảy ra ở khắp nơi. Tại miền Nam mới đây, cảnh sát chạm súng với một nhóm băng đảng đang bóc đường rầy xe lửa để lấy thép đem bán. Một số nhà hoạt động chính trị cho rằng hội đồng quân sự cầm quyền đã cố tình dung dưỡng xã hội vô trật tự nhằm chứng tỏ chỉ có quân đội đủ khả năng ổn định mọi sinh hoạt. Các tướng lãnh tuy nhiên vẫn cam kết sẽ trao trả quyền lực cho chính quyền dân sự sau cuộc bầu cử. (HC)
Santorum nay là đối thủ trực tiếp của Romney
BIRMINGHAM, Alabama (NYT) – Ứng cử viên tổng thống Ðảng Cộng Hòa, ông Rick Santorum, giành chiến thắng tại hai tiểu bang Alabama và Mississippi trong cuộc bầu cử sơ bộ hôm Thứ Ba, vượt qua lợi thế tài chánh của ông Mitt Romney và gốc gác miền Nam của ông Newt Gingrich, xác định rõ rệt rằng cuộc chạy đua để đại diện đảng Cộng Hòa là giữa Santorum và Romney.

Ứng cử viên Rick Santorum phát biểu trước ủng hộ viên tại Lafayette, Louisiana, sau khi biết kết quả bầu cử tối Thứ Ba. (Hình: Sean Gardner/Getty Images)
Chiến thắng của ông Santorum đưa vị thế ông lên cao hơn, trong khi nỗ lực của ông Mitt Romney nhằm khai thác sự chia rẽ của thành phần bảo thủ trong đảng không thành công và ông chỉ đứng hàng thứ ba ở hai tiểu bang này.
Ông Santorum nhân chiến thắng này cũng kêu gọi ông Newt Gingrich hãy bước ra khỏi cuộc đua. Tuy nhiên, ông Gingrich, người về sát nút ông Santorum ở cả Alabama và Mississippi, cương quyết sẽ đi tới cùng và khẳng định sẽ tranh đấu ngay tại đại hội đảng tại Tampa, tiểu bang Florida, vào Tháng Tám này.
“Các nỗ lực của thành phần truyền thông nhằm thuyết phục cả nước rằng ông Mitt Romney chắc chắn là ứng viên đại diện đã thất bại,” ông Gingrich tuyên bố trước thành phần ủng hộ ở Birmingham, tiểu bang Alabama. “Nếu là người dẫn đầu mà cứ về hạng ba thì chẳng phải là người dẫn đầu chút nào.”
Các chiến lược gia đảng Cộng Hòa ở hai tiểu bang này nói rằng ông Romney không được sự ủng hộ của thành phần bảo thủ ở các nơi trọng yếu, ngay cả những nơi mà giới lãnh đạo đảng hết lòng ủng hộ ông. Các cố vấn của ông Romney cho hay ông vẫn ở thế mạnh nhất để đạt được sự đề cử của đảng Cộng Hòa và sẽ tiếp tục đi tới để dành từng tiểu bang cho đến ngày đại hội đảng. (V.Giang)
Tìm bạn Nguyễn Thị Vân Anh
Nguyễn Thị Vân Anh và chồng là Nguyễn Hoàng Trí, lớp Ngữ Văn B, Ðại Học Sư Phạm Saigon. Trước ở đường Lý Thường Kiệt, Saigon. Vượt biên định cư tại Nam Cali. Nhận được tin xin liên lạc với Tuyết Mai 951-801-8645, email: [email protected]
Tìm bạn Nguyễn Cửu Long
Trước đây gia đình ở Houston, Texas. Ðọc được tin nhắn này xin liên lạc với Ðộ (626) 202-3420 hay email: [email protected]. Mong tin bạn lắm.
Tìm thi sĩ Kiều Mộng Hà
Trước ở Cần Thơ. Nghe bạn đã qua Mỹ. Ðặc san Y-Tế có đăng nhiều thơ của bạn. Nghe nói bạn ở San Bernardino, CA. Tôi có đến đó tìm và hỏi thăm thì được biết bạn đã dời xuống Texas từ lâu. Tôi hiện ở bang Florida. Rất mong tin bạn vì hơn 30 năm rồi không gặp. Xin liên lạc Lê Thị Bạch Tuyết qua email: [email protected]
Tìm bạn đồng nghiệp
-Anh Nguyễn Ngọc Tuân (Phòng Nhân Viên)
-Em Hân (Câu Lạc Bộ Hạ Sĩ Quan)
-Em Sự (Văn Phòng Giải Trí)
Trước đây là nhân viên Dân Chính thuộc Không Lực Hoa Kỳ ở Cam Ranh (12th US Air Forces, CamRanh Bay AFB). Ðã sang Mỹ. Nay ở đâu? Làm ơn liên lạc với Hoài-Việt qua email: [email protected] hoặc điện thoại: (858) 835-1861. Rất mong tin.
Vàng Ðen (Kỳ 36)
“Vàng Ðen” là tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Dũng Tiến, được xây dựng trên những tư liệu cùng huyền thoại liên quan tới vùng “Tam Giác Vàng,” một trong những nguồn sản xuất và cung cấp thuốc phiện (“vàng đen”) lớn nhất thế giới. Ngoài việc viết văn, tác giả Nguyễn Dũng Tiến cũng là một trong những người Việt Nam đầu tiên có công gầy dựng vườn cây ăn trái cho người Việt ở xứ người. Ông hiện là chủ nhân vườn cây LA Mimosa Nursery, 6270 East Allston Street, Los Angeles, CA 90022-4546. Tel: (323) 722-4543. Ðược sự cho phép của tác giả, Người Việt hân hạnh giới thiệu tiểu thuyết “Vàng Ðen” trên mục truyện dài của Nhật Báo Người Việt cũng như Người Việt Online.
Kỳ 36
Phong Sương tức uất người, hắn đã không chịu bắt tay mình lại còn chào mình bằng bà, dường như hắn chẳng để ý gì đến cách trang phục của mình cả, nhưng phải công nhận, hắn đẹp quá. Hắn chỉ lẳng lặng ngồi xuống sau khi cô Hai và Phong Sương đã ngồi hẳn. Nhờ cơn tức, Phong Sương lấy lại được chút bình tĩnh.
-Xin lỗi đã để hai ông phải chờ.
-Ồ, không có gì đâu cô Phong Sương, mình là người một nhà, ăn thua gì đâu. Ðược chờ người đẹp như cô, đến sáng mai tôi cũng chờ.
Người đàn ông lai Tầu, Sán, nói một hơi những câu thật sáo làm Phong Sương thất vọng hoàn toàn. Hắn lại tiếp ngay:
-Cô Hai nói, cô Lụa không xuống được, sao cô không cho chúng tôi biết trước?
-Ông Sán muốn biết để làm gì?
-Trời ơi, cô cũng biết thời giờ của chúng tôi là vàng bạc chớ.
-Cô tôi không đi được, bởi vậy tôi mới hiện diện ở đây.
-Chúng tôi có nhiều chuyện muốn nói cùng cô Lụa.
Cô Hai chen vào:
-Phong Sương đại diện cô Lụa.
Người đàn ông vẫn rền rĩ:
-Làm sao được, tôi làm ăn với cô Lụa, còn nhiều thứ phải nói lắm.
Phong Sương lạnh lùng đứng dậy.
-Hai ông muốn gặp riêng cá nhân bà Lụa, có lẽ hai ông phải lên trên Vạn Tượng để gặp. Nếu không có chuyện gì liên quan đến việc làm ăn, tôi xin phép được rút lui.
Thái độ lạnh lùng đứng dậy cùng những lời thật cứng cỏi của Phong Sương dường như chỉ là một tấm bình phong che đậy đôi đầu gối run rẩy. Hơn thế nữa, toàn thân như muốn nhũn ra khi hắn nói. Trời ơi, sao giọng hắn lại ấm thế.
-Thưa bà, xin bà đừng vội phiền lòng. Người bạn tôi hoàn toàn không có ý coi nhẹ thể diện của bà, nhưng đã nhiều năm qua, buôn bán, trao đổi cùng bà Lụa, nên tự nó đã biến thành một thói quen. Cá nhân tôi, tuyệt đối tôi không dám có ý nghĩ ấy. Sự chờ đợi gần hai tiếng đồng hồ của chúng tôi đã chứng tỏ điều ấy. Chứng tỏ chúng tôi rất thành thật trong việc làm ăn, cũng như tôn trọng quý bà. Xin bà bớt giận, đừng vội đi, vì chúng tôi còn chưa kịp nhận biết được mầu áo bà đang mặc lại là mầu tím đẹp như vậy.
Tên này quả ghê gớm, miệng lưỡi. Hắn lại còn dám kết tội mình không đúng hẹn, nhưng cuối cùng Phong Sương cũng chỉ còn biết riu ríu ngồi xuống ghế. Thấy không khí bớt phần căng thẳng, cô Hai khởi đầu lại câu chuyện:
-Ông Sán đã buôn bán chung với cô Lụa và cô cả hai chục năm nay, không có gì đáng tiếc xẩy ra. Vì cô Lụa muốn gặp ông Sán về chuyện gì đó, nên cô đã dàn xếp cho buổi chiều nay. Chính cô cũng không ngờ cô Lụa không đi và cháu đi thế. Cô tưởng…
Phong Sương đột ngột ngắt lời cô Hai:
-Cô ạ, nhân tiện cháu xác nhận lại một lần nữa với cô cùng các ông Sán và ông… thưa ông gì nhỉ, xin lỗi, lúc nẫy tôi chưa kịp nghe tên của ông.
-Tôi tên Phong, bà Phong Sương ạ.
-Cám ơn ông, tôi đã là người chính thức và trực tiếp điều hành cơ sở Revendre Opium. Cô Lụa của tôi đã về hưu. Do đó, kể từ nay, bất cứ chuyện gì, các ông có thể điều đình thẳng với tôi. Cuộc gặp gỡ chiều nay không ngoài mục đích thắt chặt thêm mối liên hệ làm ăn.
-Cô có thể bảo đảm được mọi chuyện sẽ như trước?
-Ông Sán muốn hỏi khoảng thời gian nào? Một năm trở về trước hay trong vòng một năm gần đây?
-Tôi đâu thấy có gì khác biệt giữa một năm với hai năm đâu?
-Có chứ, từ hơn một năm nay, ông đã kiểm soát hết thị trường Nam Việt và Nam Vang với một lượng thuốc lớn đến từ một nguồn cung cấp không phải của chúng tôi. Dĩ nhiên, sự khác biệt nằm tại đấy. Cô tôi đã có tuổi nên đã không muốn theo đuổi những việc bất bình thường như xưa nữa. Do đó, ông đã bước một bước hơi quá xa trong vòng một năm nay, điều đó làm nhẹ thể người cô của chúng tôi. Nhưng hiện giờ, tôi sẽ đặt lại vấn đề trước khi nó trở nên nghiêm trọng.
-Tôi hy vọng cô Lụa, cô Hai và cô hiểu giùm chúng tôi. Tôi là người làm ăn, thuần túy làm ăn, mặc dầu tôi rất quý mến cô Lụa, nhưng giá cả khác biệt quá trời, nên tôi phải…
-Phẩm chất đồng hạng?
-Dĩ nhiên là không.
-Tôi không muốn hàng giả trên thị trường, chúng tôi đã xuống tay cắt bỏ hẳn tận gốc những thứ giả đó.
-Cô muốn nói…
-Nguồn cung cấp hàng giả cho ông không còn nữa. Hiện giờ, tùy các ông còn muốn tiếp tục làm việc với chúng tôi nữa hay không?
Gã đàn ông tên Sán ngồi thừ người. Phong Sương lại tiếp tục:
-Chúng tôi đang cần thị trường Nam Việt và Cao Mên, do đó sự hiện diện riêng biệt của ông trong địa bàn ấy sẽ không làm chúng tôi thoải mái. Chúng tôi sẽ như bị một cái dằm nhỏ đâm phải tay. Ông Sán, ông sẽ làm gì khi bị dằm đâm?”
Quanh truyện Liêu Trai
Từ Tản Ðà, Ðào Trinh Nhất tới Phạm Lệ Oanh
Viên Linh
“Thuở nhỏ, tôi đã say mê đọc Liêu Trai Chí Dị qua các bản dịch của Tản Ðà và Ðào Trinh Nhất. Sau này lại đọc thêm nhiều truyện dịch giá trị của ông Nguyễn Hoạt. Với tài phiên dịch “mỗi người một vẻ” của các dịch giả này, Liêu Trai Chí Dị đã đem lại cho chúng ta những giây phút thích thú, phiêu diêu, trong khung cảnh kỳ bí, huyền ảo, đầy hồ ly yêu quái.” (Trần Trọng San*)

Nhà văn nhà thơ Kim Y Phạm Lệ Oanh (1902-1999), người dịch nhiều truyện Liêu Trai Chí Dị nhất, 98 truyện tính tới 1987, so với 51 truyện của Ðào Trinh Nhất, 35 truyện của Hiếu Chân Nguyễn Hoạt.
“Tôi đọc Liêu Trai từ cái tuổi chưa biết đến tên tác giả, cũng chưa biết thế nào là văn chương. Truyện của Bồ Tùng Linh từ thời xa xưa ấy đối với tôi là một thứ truyện kỳ lạ, nhưng mà tôi tin là có thật, một cách tự nhiên. Ma quỉ có thật, dù không ai thấy chúng. Hồ ly cũng có thật, dù không ai thấy chúng.” (Nguyễn Mạnh Côn*) “Tôi thích đọc Liêu Trai không phải vì chuyện ma quỉ ở trong đó… Người đọc Liêu Trai nên hiểu Liêu Trai dưới khía cạnh che đậy của tác giả là chống đối ngầm nhà Thanh. Có một truyện về cắt đuôi con chồn là ngụ ý cái đuôi sam của người Tầu thuở ấy vì Bồ Tùng Linh còn thương nhớ nhà Minh hơn nhà Thanh – là buổi ông đang sống.” (Vương Hồng Sển*)
Ba nhà văn nhà giáo tên tuổi kể trên đã viết như thế khi Tạp chí Thời Tập của tôi phỏng vấn các ông một câu duy nhất: “Nên hiểu truyện Liêu Trai như thế nào?” Bài phỏng vấn đã đăng báo từ tháng 2, 1974 tại Sài Gòn. Tới thuở ấy, ba dịch giả dịch Liêu Trai của Bồ Tùng Linh nổi tiếng nhất là Tản Ðà Nguyễn Khắc Hiếu, Ðào Trinh Nhất, và Hiếu Chân Nguyễn Hoạt. Người thích đọc loại truyện hồ ly diễm tuyệt, mà nhiều khi tả chân một cách tự nhiên, không khỏi có lần thắc mắc: nhà văn Bồ Tùng Linh trước sau viết được bao nhiêu truyện Liêu Trai, và ba dịch giả nói trên đã dịch được bao nhiêu truyện, và còn bao nhiêu truyện nữa chưa được dịch ra? Câu hỏi ấy độc giả chỉ tìm thấy khi đọc truyện Liêu Trai của dịch giả thứ tư, một nữ dịch giả, là Kim Y Phạm Lệ Oanh.
Kim Y Phạm Lệ Oanh (1902 – 8 tháng 3, 1999) người Thường Tín, Hà Ðông, sáng tác cùng thời với nữ sĩ Tương Phố, năm 1940 đã xuất bản cuốn tiểu thuyết Tình Lụy, và năm 1968 đã hoàn tất cuốn Tân Chinh Phụ Ngâm Khúc, tái bản tại hải ngoại năm 1984 trong Tuyển tập Tiếng Quyên của Tổ hợp Xuất bản Cành Nam. Bà là người đồng cảm với một nữ dịch giả Việt Nam từ thế kỷ XVIII, là Ðoàn Thị Ðiểm. Với nền nếp Nho phong của một đại gia đình sĩ phu nổi tiếng từ năm sáu thế kỷ trước ở Miền Bắc, Phạm Lệ Oanh viết văn làm thơ trong truyền thống ni sư Diệu Nhân đời nhà Lý, bà tinh thông Hán học và chữ Nôm, từng sống bằng nghề dịch tiểu thuyết kiếm hiệp Trung Hoa sang Việt ngữ trước 1975 tại Sài Gòn, ký nhiều bút hiệu khác nhau như Lão Sơn Nhân, Mộng Tiên. Năm 1965 bà đã dịch trọn bộ Thi Kinh Quốc Phong của Trung Hoa, mà học giả Nguyễn Ðăng Thục, nguyên khoa trưởng Văn Khoa Sài Gòn, đã nồng nhiệt viết lời giới thiệu: “Bạn tôi sẵn có hồn thơ, vốn dòng Nho phong, từ nhỏ đã được nghiêm phụ giảng dạy Hán học,… có cho tôi xem bản thảo dịch Kinh Thi Quốc phong ra quốc âm, chú thích đầy đủ, lời thơ nhẹ nhàng và sát nghĩa. Ðược lời ủy thác (viết lời giới thiệu), tôi không ngại vụng về, có mấy lời thô thiển giới thiệu cùng độc giả.”
Tác phẩm dịch thơ thì như thế, về truyện, Kim Y Phạm Lệ Oanh dự định sẽ dịch tất cả, dịch hết, bộ Liêu Trai Chí Dị của Bồ Tùng Linh. Năm 1962, ba tập đã xuất bản ở Sài Gòn, năm 1987 ở hải ngoại ái nữ của bà là nhà thơ Trương Anh Thụy đã cho tái bản. Trong lời nhà xuất bản (Tổ hợp Cành Nam), có kiểm kê như sau:
-Liêu Trai Chí Dị của Bồ Tùng Linh (1640-1715) in ra lần đầu năm 1776, gồm 431 truyện và chia thành tám tập (sau này có bản in thành 16 tập).
-1938, Tản Ðà đã xuất bản tại Hà Nội tập truyện dịch Liêu Trai Chí Dị đầu tiên, không rõ bao nhiêu truyện.
-1952 (?),Ðào Trinh Nhất cho phổ biến tập truyện dịch Liêu Trai thứ hai, do Bốn Phương xuất bản, gồm 51 truyện.
-1958, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt cho phổ biến bản dịch Liêu Trai thứ ba, do Cơ sở Báo chí và Xuất bản Tự Do ấn hành, gồm 35 truyện.
-1962, Kim Y Phạm Lệ Oanh (ký bút hiệu Mộng Tiên) cho phổ biến bản dịch Liêu Trai thứ tư, do Trường Sơn xuất bản, gồm 98 truyện. Bộ sau cùng này do Tổ hợp Cành Nam của Trương Anh Thụy và Nguyễn Ngọc Bích tái bản năm 1987, được chia làm 3 tập. Trong lời nhà xuất bản có viết: “Kim Y Phạm Lệ Oanh (trong khi) cho tái bản các truyện đã in từ Sài Gòn, và sẽ tiếp tục dịch nốt những truyện còn lại.” Nhưng dịch giả đã ra đi, mà độc giả của bà đã không được đọc hết các truyện Liêu Trai bà nói sẽ dịch hết.
Bà Kim Y Phạm Lệ Oanh và chồng, nhà thơ, họa sư Tá Chi Trương Cam Khải, là những gương mặt Nho phong nghệ sĩ được kính trọng tại vùng thủ đô Hoa Thịnh Ðốn trong ba thập niên cuối cùng của thế kỷ XX. Bà mất trong tháng này, mồng 8 tháng 3, năm 1999. Trong các tác phẩm của bà, có một cuốn sách cần thiết cho người đọc sách, là cuốn kinh số 1 trong Ngũ Kinh của Trung Hoa, là Kinh Thi (đứng trước các kinh Thư, Lễ, Nhạc và Kinh Xuân Thu). Trên mặt báo này, Người Việt số ra ngày 28 tháng 2, 1985, bản dịch Thi Kinh Quốc Phong của Kim Y đã được nhận định như sau: “Người dịch đã dùng thể ca dao Việt Nam để diễn dịch Quốc Phong của Trung Hoa. Mỗi bài đều có phần nguyên văn chữ Hán, phần phiên âm, dịch, chú thích, bình giải rất đầy đủ dễ hiểu; đồng thời còn là một tài liệu quí giá cho ngành khảo cứu nữa.”
Với cách làm việc đó, bản dịch Liêu Trai của bà Kim Y cũng có thêm chú thích, mỗi truyện có một tấm hình chính dẫn đầu, với phần chữ Hán trong tranh đầy đủ. Bà còn dịch cả hai mặt tấm bia mộ của Bồ Tùng Linh, và nhấn mạnh: bản dịch Liêu Trai của bà là dịch theo bản khắc “Thanh kha đình” khắc theo nguyên cảo của tác giả: không có chấm câu. Vấn đề dịch xưa nay vẫn quan trọng, và “dịch không phải là phản” như một lối nói hàm hồ, nếu người dịch là một cây bút nghiêm túc, và có một “văn hóa dịch” cho riêng mình, chẳng hạn lối dịch của nhà văn, nhà thơ Kim Y Phạm Lệ Oanh. Xin dùng bốn câu thơ cảm đề Liêu Trai của chính bà để kết thúc bài này:
Ðèn ai le lói canh chầy
Ngoài song lất phất mưa bay lạnh lùng.
Chuyện đời tai đã bưng bồng
Thì nghe ma kể nỗi lòng buồn vui.
(Tháng 3, 2012)
* Trích phần trả lời phỏng vấn của Viên Linh (báo Thời Tập Sài Gòn): Nên hiểu truyện Liêu Trai như thế nào?” Phần trả lời có kèm thêm bài vở về Bồ Tùng Linh, và bổ sung vài truyện dịch mới, đã đăng lại trên Khởi Hành số 72, tháng 10, 2002.
Giới thiệu sách ‘Việt Nam Trong Viễn Tượng Dân Chủ Toàn Cầu’
Tủ sách Tiếng Quê Hương ấn hành tại Mỹ vào cuối năm 2011
Ðoàn Thanh Liêm
Ðây là cuốn biên khảo thứ hai của tác giả Nguyễn Cao Quyền được xuất bản vào cuối năm 2011 vừa mới đây. Cuốn thứ nhất có nhan đề “Việt Nam Trong Chiến Tranh Tư Hữu” cũng do tủ sách Tiếng Quê Hương ấn hành tại Mỹ năm 2010.

Bìa sách “Việt Nam Trong Viễn Tượng Dân Chủ Hóa Toàn Cầu.” (Hình: Tủ sách Tiếng Quê Hương)
Với bút pháp thật sáng sủa gẫy gọn mạch lạc, nhà biên khảo Nguyễn Cao Quyền một lần nữa lại cống hiến cho công chúng bạn đọc một tác phẩm đặc sắc, gợi ra một hướng đi thật tươi sáng lạc quan mới mẻ cho dân tộc Việt nam chúng ta theo trào lưu của cuộc cách mạng dân chủ toàn cầu trong thế kỷ XXI hiện nay.
Sách dày 400 trang, khổ chữ 12 in trên giấy trắng phớt vàng được đóng gáy khá chắc chắn với bìa cứng. Trong vòng một tháng nay, tác giả đã có dịp trình bày những nét chính yếu về cuốn sách qua nhiều cuộc phỏng vấn trên các đài phát thanh và truyền hình tại vùng thủ đô Washington DC. Và sắp tới đây, vào ngày Thứ Bảy, 17 Tháng Ba năm 2012, đích thân tác giả sẽ có cuộc tiếp xúc với độc giả trong Buổi Ra Mắt Sách được các thân hữu tại địa phương vùng thủ đô cùng đứng ra tổ chức.
I. Vài nét về thân thế tác giả Nguyễn Cao Quyền
Ở vào tuổi 80, tuy sức khỏe thể chất suy kém, nhưng tinh thần vẫn còn minh mẫn tinh tường, tác giả Nguyễn Cao Quyền đã dành tất cả thời gian và năng lực cho việc nghiên cứu sưu khảo các tài liệu sách báo và nhất là thông tin trên mạng Internet – để có thể hoàn thành được tác phẩm có tầm vóc lớn lao như hai cuốn sách này. Từ trên hai chục năm nay, ông Quyền là một nhân vật quen thuộc của cộng đồng người Việt tỵ nạn tại vùng thủ đô Washington qua các chức vụ chủ tịch Ban Chấp Hành Cộng Ðồng và chủ tịch Khu Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị tại địa phương.
Ông Quyền đã từng tốt nghiệp các văn bằng Cử nhân Luật và Cao học Kinh tế tại Ðại học Luật khoa Saigon. Và đã phục vụ nhiều năm trong ngành Quân pháp với chức vụ cao nhất là Chánh thẩm Tòa án Quân sự Ðặc biệt. Rồi sau khi giải ngũ, thì ông gia nhập ngành Ngoại giao và đã giữ nhiệm vụ Cố vấn Ngoại giao tại nhiệm sở Paris. Sau năm 1975, ông Quyền phải đi ở tù cải tạo 10 năm và từ năm 1990, ông cùng gia đình đã tới định cư tại tiểu bang Maryland sát với thủ đô Washington.
Với tính tình ôn hòa nhã nhặn, ông Quyền được nhiều bà con bạn hữu quý mến và trong nhiều năm nay, ông được một số bằng hữu khích lệ và hỗ trợ cho công việc nghiên cứu sưu tầm rất công phu – để mà có thể trước tác biên soạn được những tác phẩm rất có giá trị, cụ thể như cuốn sách “ Việt Nam trong viễn tượng Dân chủ Toàn cầu” mà chúng tôi có hân hạnh được giới thiệu với quý bạn đọc trong bài viết này.
II. Những nét chính yếu của tác phẩm
Trước khi đi vào các chi tiết về nội dung tác phẩm, tôi xin bắt đầu bằng cách ghi tóm lược mấy nét chính yếu của cuốn sách thật quý báu này như sau:
1. Tầm nhìn xuyên suốt về bối cảnh toàn cầu vào thế kỷ XXI.
Với sở học uyên bác vững vàng sẵn có, tác giả lại còn dày công tham khảo cân nhắc trong nhiều năm tháng để có thể trình bày cho chúng ta một bối cảnh toàn cầu của trào lưu dân chủ và nhân quyền đang diễn ra sôi nổi trong thế giới hiện đại. Trong 4 phần của cuốn sách, tác giả đã dành ra 2 phần gồm tổng cộng 11 chương dài đến trên 150 trang với tiêu đề lần lượt là: “Nội dung của Dân chủ” (Phần I) và “Tự do và Nhân quyền” (Phần II).
Trong 2 phần này, đáng chú ý nhất là các chương 8 trình bày về “Chủ nghĩa Tự do Hiến định” (Constitutional Liberalism) và chương 11 trình bày về “Trào lưu Dân chủ Xã hội” (Social Democracy).
Tác giả cảnh giác về tình trạng thiếu tự do tại một số quốc gia như Peru, Pakistan, Belarus, Slovakia… mà theo ngôn từ của Fareed Zakaria nhà báo nổi danh gốc Ấn Ðộ, thì đó là những chế độ “Dân chủ phi Tự do” (Illiberal Democracies) (trang 147-150).
Mặt khác, các quốc gia ở Bắc Âu như Thụy Ðiển, Na Uy… đã xây dựng được một nền nếp Dân chủ Xã hội khá bền vững và hài hòa, trong đó mọi người dân đều được thụ hưởng một chế độ phúc lợi xã hội rất tiến bộ (trang 185-189).
2. Phản bác luận điệu của Trung Quốc về tính chất của “Những giá trị Á Châu thì khác biệt với tiêu chuẩn phổ quát về Nhân quyền của thế giới.”
Tác giả đã dành riêng trong phần III gồm 5 chương dài 80 trang với tiêu đề “Những giá trị Á Châu” để trình bày chi tiết về những chuyển biến trong hệ thống chính trị xã hội của Trung Quốc. Ðáng chú ý nhất là:
*Chương 12 bàn về khía cạnh Nhân quyền tại vùng Ðông Á Châu, điển hình là lập trường ngoan cố và phi lý của Trung Quốc (trang 197-209).
* Và chương 15 trình bày khái quát về “Linh bát Hiến chương” (Charter 08) do các thức giả tiến bộ và can đảm tại Trung Quốc (như Lưu Hiểu Ba người đoạt giải Hòa Bình Nobel năm 2010) cho công bố vào năm 2008, nhân dịp kỷ niệm năm thứ 60 của Bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (1948-2008) (trang 241-255).
3. Phần IV là chủ đề chính của tác phẩm nhan đề “Việt Nam trong Viễn tượng Dân chủ Toàn cầu.”
Phần IV và cũng là phần chót này gồm 7 chương trải dài trong gần 130 trang, trong đó có mấy chương đáng chú ý như:
Chương 18 với tiêu đề “Việt Nam : bài học của Ðặng Tiểu Bình và bước quy phục Thành Ðô” phơi bày rõ ràng sự quỵ lụy của lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam trước giới chức Cộng Sản Trung quốc trong cuộc gặp gỡ tại thủ phủ của tỉnh Tứ xuyên vào năm 1990 sau khi hệ thống cộng sản sụp đổ ở Ðông Âu (trang 299-307).
Và trong chương 22 với tiêu đề “Cộng Sản Việt Nam và vấn đề Ðồng hành với Dân tộc,” tác giả đã xác quyết rằng ngay từ đầu thập niên 1920, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã lựa chọn con đường Xã hội Chủ nghĩa theo mẫu hình Stalinít đầy những sắt máu bạo lực, thay vì con đường độc lập, dân chủ pháp trị và tự do hiến định của dân tộc. Rõ ràng là giới lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam đã trung thành với tổ chức Ðệ tam Quốc tế Comintern, chứ không hề phục vụ dân tộc Việt Nam. Và ông kêu gọi những người cộng sản nào mà còn có lương tâm trong sáng, thì phải dứt khoát tìm cách trở về lại với Dân tộc nhằm góp phần vào công cuộc cứu nguy Tổ quốc Việt Nam trước nạn xâm lăng cực kỳ nham hiểm của Trung Quốc hiện nay (trang 351-364).
III. Những mục đáng ghi nhớ nhất trong tác phẩm
Nói chung cuốn sách chứa đựng rất nhiều số liệu thông tin chính xác, mới mẻ nhất để minh họa cho các lập luận vững chắc của tác giả. Tài liệu này quả thật rất bổ ích cho những ai muốn tìm hiểu về hướng đi lên của Phong trào Dân chủ và Nhân quyền trong nhiều quốc gia tiến bộ trên thế giới ngày nay. Và rồi từ đó rút kinh nghiệm ứng dụng vào công cuộc xây dựng quê hương đất nước Việt Nam chúng ta trong thế kỷ XXI.
1. Về tài liệu tham khảo
Với sự thận trọng của một luật gia và nhà ngoại giao kỳ cựu, tác giả đã tham khảo nơi rất nhiều tài liệu sách báo mới mẻ và có giá trị khả tín của các tác giả Việt Nam, cũng như tác giả ngoại quốc – như được liệt kê vào những trang cuối của tác phẩm. Ðiển hình như: Cuốn “Chủ quyền Lãnh thổ và Bành trướng Trung Cộng” của Ủy ban Bảo vệ Sự Vẹn toàn Lãnh thổ, ấn hành năm 2011 – Cuốn “Human Rights and Chinese Values” của Michael C. Davies, xuẩt bản năm 1995 – Cuốn “Realizing Human Rights” của Samantha Power & Graham Allison, xb 2000 – Cuốn “Soft Power” của Joseph S. Nye JR, xb 2004.
Một ưu điểm khác nữa trong cuốn sách là tác giả đã ghi chú thêm bằng chữ đậm phía cuối một số trang về các nhân vật và sự kiện nổi bật để minh họa rõ ràng hơn cho từng vấn đề được nêu ra.
2. Vấn đề “Tách rời Nhà nước khỏi Xã hội Dân sự”
Tác giả chủ trương cần phải “tách rời Nhà nước khỏi Xã hội Dân sự, để Nhà nước không bao trùm và bóp nghẹt toàn bộ đời sống xã hội” (trang 225). Tiếp theo, ông còn ghi rõ: “Nhà nước phải công khai nhìn nhận Nhân quyền để bảo vệ sự độc lập của Xã hội Dân sự và Tự do của Cá nhân. Giáo Sư Tang Tsou, một học giả nổi tiếng gốc Trung Quốc đã đưa ra ý niệm “tái lập Xã hội dân sự – re-establishing Civil Society” và coi đó là bước đi căn bản để các chế độ độc tài có thể giải quyết những vấn đề kém phát triển và thiếu Dân chủ…” (trang 226).
3. Kinh nghiệm thành công của Chủ nghĩa Dân chủ Xã hội ở Âu Châu
Trong mục “Trào lưu Dân chủ Xã hội,” tác giả đã trình bày chi tiết về sự thành công của chủ nghĩa này ở Âu Châu từ thời kỳ sau Ðệ Nhị Thế Chiến. Xin trích một vài đoạn tiêu biểu như sau: “Bắc Âu từ lâu là thành trì của chủ nghĩa Dân chủ Xã hội và Thụy Ðiển là mẫu hình Dân chủ Xã hội cho thế giới nghiên cứu và noi theo.” (trang 187)
“Cuối thế kỷ XX, phần lớn các chính đảng Dân chủ Xã hội tại Âu Châu đã cầm quyền qua tranh cử. (trang 187)
“Những người Dân chủ Xã hội Âu Châu cho thấy con đường họ triển khai dựa trên bốn kinh nghiệm quý báu của nhân loại, đó là: nền chính trị Dân chủ Nghị viện – nền kinh tế theo chế độ Sở hữu Hỗn hợp – cơ chế Thị trường Xã hội – định chế Phúc lợi Toàn dân. Và họ đã thực hiện thành công sự hòa nhập giữa Tư bản chủ nghĩa và Xã hội chủ nghĩa, tạo dựng nên các xã hội hài hòa của chủ nghĩa Dân chủ Xã hội ở Tây Âu và Bắc Âu.” (trang 188)
IV. Ðể tóm lược lại:
Cuốn sách biên khảo này đưa ra rất nhiều luận điểm cũng như kinh nghiệm thực tiễn của nhiều quốc gia tiến bộ trong sứ mệnh kiến tạo cho dân tộc mình một xã hội công bằng tiến bộ và thịnh vượng – trong đó nhân phẩm và nhân quyền của mọi công dân đều được bảo vệ và tôn trọng đúng mức. Lý luận và kinh nghiệm thực tế như thế đó rõ ràng là có sức thuyết phục và khích lệ rất cao đối với những người đang dấn thân vào công cuộc xây dựng, phát triển và bảo vệ quốc gia dân tộc Việt nam chúng ta trong thế kỷ XXI hiện nay trước sự đe dọa xâm lăng cực kỳ nguy hiểm của Trung Quốc.
Các đề tài do tác giả Nguyễn Cao Quyền trình bày khá chi tiết mạch lạc trong cuốn sách giá trị này thiết tưởng có thể được sử dụng như là một tài liệu nghiên cứu tham khảo cho các khóa huấn luyện đào tạo dành riêng cho lớp người lãnh đạo tương lai của đất nước chúng ta trong các thập niên tới.
Cuốn sách này còn có thể dùng làm tài liệu tham khảo gợi ý cho những cuộc trao đổi thảo luận qua các seminar, các buổi hội thảo của các đoàn thể hiệp hội nhằm nâng cao trình độ kiến thức và lý luận cho các thành viên
Người viết xin trân trọng giới thiệu với quý bạn đọc tác phẩm thứ hai thật đặc sắc này của nhà biên khảo Nguyễn Cao Quyền.
Nhân tiện, tôi cũng xin được bày tỏ nơi đây lòng biết ơn chân thành đối với tác giả và ban chủ trương của Tủ sách Tiếng Quê Hương vì sự cống hiến thật quý báu này.
Ghi chú: Bạn đọc nào muốn mua sách này, thì có thể gửi thư về cho
Tủ sách Tiếng Quê Hương
PO Box 4653
Falls Church, VA 22044
Cảnh sát New York vẫn được tín nhiệm, dù do thám Hồi Giáo
NEW YORK (Reuters) –Mặc dầu bị nhiều chỉ trích của những tổ chức bênh vực dân quyền về chiến dịch do thám cộng đồng dân Hồi Giáo, cảnh sát New York vẫn được cử tri tín nhiệm về hoạt động phòng chống khủng bố.
Cảnh Sát Trưởng Ray Kelly của thành phố New York. (Hình: Spencer Platt/Getty Images)

Những thăm dò dư luận đưa ra hôm Thứ Ba cho thấy Cảnh Sát Trưởng Ray Kelly được 2/3 dân chúng thành phố New York tín nhiệm về phương cách ứng xử với dân Hồi Giáo.
Thăm dò dư luận của Quinnipiac University từ 6 đến 11 Tháng Ba, qua việc hỏi ý kiến 964 cử tri New York, cho thấy ông Kelly được 64% tán thành và 25% không tán thành.
Sở Cảnh Sát New York trong mấy tháng gần đây bị chú ý sau những tin tức cuối năm ngoái nói rằng đã được CIA trợ giúp thâu thập tin tình báo từ các giáo đường Hồi Giáo và khu xóm dân thiểu số.
Cũng theo thăm dò dư luận nêu trên, Sở Cảnh Sát New York được 63% cử tri tín nhiệm và 31% không tín nhiệm, riêng về hiệu quả chống khủng bố mức tín nhiệm lên tới 82% so với 14%.
Cảnh Sát Trưởng Kelly có mức tin cậy cao nhất, 71%, vào Tháng Năm, 2001, và thấp nhất, 52%, vào Tháng Giêng, 2007.
Maurice Carrol, giám đốc viện thăm dò của Quinnipiac University, nhận xét: “Dân chúng New York gạt qua những rắc rối của cảnh sát trong việc theo dõi cộng đồng Hồi Giáo và chỉ chú trọng đến hiệu năng đối phó với khủng bố.”
Tuy nhiên, theo một thăm dò dư luận khác của Baruch College, mặc dầu 81% tin là cảnh sát hành động hiệu quả trong công tác chống khủng bố, nhưng về chuyện “chú trọng nhắm tới người Hồi Giáo để phòng ngừa khủng bố” thì ý kiến phân đôi ngang nhau, 43% đồng ý và 44% không đồng ý. (HC)
Trung Quốc và thế giới qua TV Anh
Lê Mạnh Hùng
Chàng thanh niên Trung Quốc ngồi trong một căn phòng tối ám đầy những màn hình computer trông không có vẻ gì là một chiến binh đang ở tiền tuyến của một cuộc chiến toàn cầu mà sẽ quyết định tương lai chúng ta cả.
Nhưng cái vị tự nhận là “thủ lãnh” của tổ chức Red Hacker Alliance – một mạng lưới của những hacker người Hoa đầy tinh thần dân tộc – thì tin rằng đó chính là vai trò của mình. Khi được hỏi rằng có phải là đã có một cuộc chiến trong không gian ảo giữa Trung Quốc và phương Tây thì anh ta thản nhiên trả lời: “Tôi tin rằng đã có một cuộc chiến toàn diện.”
Ðó là đoạn mở đầu của một series chương trình về Trung Quốc vừa được bắt đầu chiếu trên Ðài Số 4 (Channel 4) của truyền hình Anh hôm Thứ Hai vừa qua trong đó sử gia Niall Ferguson thuật lại sự nổi lên của Trung Quốc và ý nghĩa của sự kiện này đối với thế giới.
Ferguson khám phá ra rằng hiện đang có một phong trào trong đó những thanh niên Trung Quốc phối hợp một tinh thần dân tộc cao độ với khả năng kỹ thuật và quyền lực kinh tế. Ðối với những người này việc chỉ trích của phương Tây đối với Trung Quốc dù là bất cứ chuyện gì đều là những “lời nói láo” chống Trung Quốc. Ðặc biệt là họ tức giận việc các phương tiện truyền thông phương Tây trình bày vụ đàn áp đẫm máu những người Tây Tạng năm 2008.
Một chàng thanh niên Trung Quốc có vẻ hiền lành nói với Ferguson: “Chúng tôi muốn đưa tiếng nói của chúng tôi ra thế giới. Trung Quốc cần phải tích cực hơn. Chính phủ của chúng tôi quá yếu!” Và Ferguson nhận định: “Ðó chính là cái chính phủ đã ra lệnh đàn áp sinh viên tại Thiên An Môn.”
Ferguson nhận xét: “Một trong những ảo tưởng lâu dài và làm cho chúng ta êm ấm là niềm tin rằng khi Trung Quốc trở nên hiện đại và giầu có thì họ sẽ như chúng ta và chấp nhận những giá trị của chúng ta.” Nhưng sự thật, theo Ferguson thì không phải như vậy. Và ông cho biết sự bùng nổ của tinh thần dân tộc chủ nghĩa tại Trung Quốc là một điều thật đáng sợ nhất là vào lúc mà đang có một sự chuyển nhượng quyền lực kinh tế và chính trị từ Tây sang Ðông.
Và không phải chỉ riêng giới trẻ mà thôi. Ferguson cũng tìm thấy ở trong những người Trung Quốc lớn tuổi một tình trạng hoài niệm gia tăng đối với Mao Trạch Ðông. Dưới con mắt của những người Tây phương, Mao bị kết hợp với tình trạng hỗn loạn và chết chóc của Cách Mạng Văn Hóa, nhưng đối với nhiều người Hoa, Mao là cha đẻ của nước Trung Quốc mới, hiện đại và giầu mạnh. Theo Ferguson, thái độ của những người Hoa là “nếu chúng tôi đã thành công về kinh tế, thì chúng tôi không cần phải khấu đầu về văn hóa với các anh.”
Ferguson cho là giới lãnh đạo Trung Quốc sẽ lợi dụng cái tinh thần dân tộc đó để củng cố địa vị của họ trong việc đối phó với những căng thẳng dự trù sẽ xảy ra trong tương lai. Những thách đố mà Trung Quốc phải đối phó rất lớn và là những thách đố mà phương Tây đã từng trải qua; một sự bùng nổ trong việc xây dựng nhà đất mà đang có dấu hiệu biến thành một tình trạng bong bóng có thể bể bất cứ lúc nào; những nhà máy bóc lột công nhân với số lương rẻ mạt và tình trạng làm việc tồi tệ; một dân số lão hóa và một tình trạng ô nhiễm môi sinh tồi tệ nhất thế giới (16 trong số 20 thành phố ô nhiễm nhất thế giới là ở Trung Quốc).
Mâu thuẫn quan trọng nhất có vẻ như là một phần năm dân số của địa cầu hiện đang sống trong một chế độ độc tài Cộng Sản với một nền kinh tế thuộc loại tư bản hoang dã – một mâu thuẫn mà nếu dựa trên cơ sở lịch sử phải làm cho đất nước này bị rã tan.
“Bóng ma của bạo loạn làm giới lãnh đạo kinh hoàng” Ferguson nhận xét, “Họ đứng trước thách đố phải làm sao đối phó được với một xã hội đầy động tính và đó là một vấn đề thật sự với những căng thẳng thật sự.” Thành ra lợi dụng tinh thần ái quốc là một phần của chiến lược nhằm ngăn chặn nguy cơ đó. Một mặt khác của chiến lược này là bành trướng ra nước ngoài.
Vì sao sự nổi lên này của Trung Quốc có tầm quan trọng đối với thế giới. Theo Ferguson thì có một sự tương tự đáng sợ của Trung Quốc hiện nay với nước Ðức cách đây một thế kỷ: cũng một hỗn hợp giữa một tinh thần dân tộc cao độ và một tham vọng bành trướng ra hải ngoại.
Trung Quốc hiện đã tiêu thụ đến hai phần năm sản lượng than, nhôm và đồng của thế giới. Và Trung Quốc đã quay sự chú ý của mình tới những lãnh thổ hải ngoại sản xuất ra những món hàng đó. Ði thăm một mỏ đồng của người Hoa tại Zambia, Phi Châu, Ferguson tự hỏi: “Phải chăng đây là bước đầu của một đế quốc mới?”
Chính sách của các nước phương Tây trong việc đối phó với Trung Quốc theo Ferguson thì đủ thứ, nhưng không nhất quán. Ông nói: “Ðối với Hoa Kỳ, chính sách đi từ đối kháng, đến ngăn chặn, đến đồng tiến hóa, đến đầu hàng. Vấn đề đối với chính quyền Obama hiện nay là họ cứ mỗi ngày có một chính sách khác nhau.”
Ferguson hy vọng rằng lịch sử sẽ không lập lại như vào lúc đầu thế kỷ thứ 20, “Cố nhiên là có kịch bản Ðức, với Trung Quốc càng ngày càng trở nên hung hăng. Nhưng tôi nghĩ rằng có một khả năng thấp cho chuyện này xảy ra, ít nhất rằng chúng ta đã học được từ lịch sử. Cả hai đều có rất nhiều mất mát nếu để nó xảy ra. Thành ra tôi tin rằng là sẽ tiếp tục tình trạng này với Trung Quốc tiếp tục tăng trưởng, thực hiện cải tổ thị trường và tuy rằng không có dân chủ nhưng sẽ có nhiều giới hạn hơn trong quyền lực của đảng Cộng Sản và một tình trạng tôn trọng luật pháp nhiều hơn.”
Ðó quả là một kết luận lạc quan đối với câu hỏi đáng sợ mà Ferguson kết thúc chương trình, “Liệu chúng ta có thể làm cho việc chuyển quyền lực từ Tây sang Ðông thực hiện một cách hòa bình hay không?” Ðáp án cho câu hỏi này sẽ quyết định không những sự phồn vinh của thế giới mà cả số phận tương lai của nó.
Tôi cũng như chiều, tôi mồ côi
Du Tử Lê, tùy bút
“làm sao em biết khi xa bạn,
tôi cũng như chiều, tôi mồ côi.”
(thơ dtl.)
Tôi luôn tự hỏi, không biết phương Tây có bao nhiêu người hiểu được rằng, người Việt thường có tập quán gửi gấm những mơ ước thầm kín của mình, vào những đứa con của họ, qua tên gọi?
.400.jpg?x11613)
Cao Lập. (Hình Quý Hòa – SGTT)
Mỗi danh từ Việt, tự thân đều minh bạch hay, ẩn tàng một ý nghĩa sâu xa nào đó. Ngay cả những đứa trẻ được cha mẹ chọn những tên gọi đơn giản, bình dị, hoặc theo vần tên của người vợ hay chồng, để bày tỏ lòng thương yêu, biết ơn người bạn đời của mình… Thì, chúng vẫn là những hy vọng, khao khát, bày tỏ, mặc nhiên đặt lên đôi vai nhỏ bé, mỏng manh của những đứa trẻ ngay tự thuở nằm nôi. (Mặc dù, thực tế rất thường, đã phũ phàng, đánh tráo những mơ ước thầm kín kia, bằng khá nhiều bẽ bàng, hờn tủi!)
Câu hỏi, càng lúc càng trở nên thao thiết hơn trong tôi, khi tình thân, cũng như những điều tôi nghe được về cuộc đời chông chênh, lênh đênh gập ghềnh, bất trắc của C. Lập, bạn tôi.
Tôi không biết khi song thân bạn tôi, đặt tên cho bạn tôi là Lập, chỉ hàm ý muốn đứa con trai họ, mai sau, có được một đời sống tự lập, độc lập? Hay họ còn thầm kín mơ ước khi trưởng thành, bạn tôi sẽ thiết lập được những khế ước cao cả, ý nghĩa với xã hội, đất nước?
Hẳn nhiên, đó là điều tôi không biết. Thậm chí, tôi nghĩ, có thể bạn tôi cũng không biết! Vì, hiếm khi những đứa con dám cất tiếng hỏi cặn kẽ mơ ước, ý nghĩa sâu xa mà, đấng sinh thành đã kín đáo đặt để lên vai chúng.
Ðiều duy nhất tôi biết, khi còn là sinh viên, rất sớm, bạn tôi đã có xu hướng tranh đấu cho quyền làm người, cho tự do, dân chủ một đất nước, bằng những cuộc xuống đường, biểu tình. Chính những tỏ bày này, cũng đã rất sớm, đưa bạn tôi vào vòng lao lý!
Sợi dây buộc chặt chúng tôi với nhau, là văn chương, nghệ thuật – Với những mơ mộng, lãng mạn chấp chới không chỉ trong ánh mắt mà, trong cả nụ cười của bạn tôi, mỗi khi chúng tôi có cơ hội gặp nhau. Nhưng chưa bao giờ bạn tôi kể tôi nghe, về những năm tháng tù tội ấy…
Làm như bạn tôi cho, đó là một công việc tự nhiên. Tựa mỗi con người, trước khi ra đời, đã được Thượng Ðế định sẵn cho họ một công việc. Một phần vụ. Dù lớn hay bé. Ðơn giản, nhẹ nhàng hay, khó khăn phức tạp. Nó là một thứ định mệnh khởi kiếp. Muốn hay không, con người khó thể né tránh. Thí dụ, bạn tôi có những người bạn viết nhạc như Phúc, như Sơn. Làm thơ như Thái, như Quân. Lại phim như Ðiền, như Dũng…
Tôi sẽ không biết mảng quá khứ bầm giập kể trên của C. Lập, nếu một người bạn chung của chúng tôi là Vỵ, không vô tình, hào hứng, phấn khích kể tôi nghe phần bóng tối thanh niên đó. Tôi cũng sẽ không hay biết một chút gì, về cái mà C. Lập cho rằng “nó cũng bình thường, cũng tự nhiên thôi…!” Nếu Thái không kể tôi nghe, những cuộc xuống đường, biểu tình đòi chủ quyền cho đất nước, của Thái, Ðằng, Lập… giữa Saigon hôm nay. Lãnh vực tôi hoàn toàn bù trớt!
Tôi không biết song thân bạn tôi nghĩ gì, cảm nhận gì, trước những việc làm của bạn tôi, mang tính thiết lập những khế ước cao cả, ý nghĩa với xã hội, đất nước? Nhưng tôi không hỏi và, sẽ không bao giờ hỏi bạn tôi, chuyện ấy.
Tôi luôn nghĩ, trong tình bạn, dù ở mức độ thân thiết nào, vẫn có những giới hạn, những vạch phấn ta nên dừng lại. Tôi muốn nói, trừ phi bạn tự ý tâm sự, phần riêng, tôi tôn trọng mơ ước song thân bạn tôi, đã sớm đặt lên đôi vai nhỏ bé, mỏng manh của bạn, từ thuở nằm nôi. Tôi tôn trọng xu hướng, như một thứ trách nhiệm, bạn tôi sớm nhận lãnh từ khao khát thầm kín của đấng sinh thành ra bạn.
Cũng vậy, chưa bao giờ C. Lập hỏi tôi về công việc tôi đã đeo đẳng gần hết đời mình. (Mặc dù đó không hề là mơ ước, khát khao thầm kín của thầy, me tôi, khi tôi được sinh ra. Nếu không muốn nói, ngược lại!)
Thật thế! Chưa bao giờ tôi hé lộ cho bạn biết, công việc, đúng hơn, đam mê phù phiếm từ thuở thơ dại của tôi, tới hôm nay; vốn là niềm kinh hoàng, nỗi hãi sợ tương tự một bất hạnh, một hình phạt ghê gớm mà, ông trời đã giáng xuống đời tôi, trong cảm nhận của mẹ tôi. Vẫn trong mắt nhìn của bà, trước khi biết tôi bị vướng vào cái nghiệp “chữ nghĩa vớ vẩn!” (cách nói quê mùa của mẹ tôi,) thì tôi, chính tôi, chứ không phải bà (?)đã sớm phải nhận lãnh một tai họa không thể to lớn hơn! Không thể bất hạnh hơn! Ðó là sự kiện thầy tôi mất, khi ông còn rất trẻ! Và tôi, chỉ mới lên ba!
C. Lập cũng chưa bao giờ hỏi tôi về mặt trái, của thế giới gọi là sinh hoạt văn học, nghệ thuật.
Mỗi lần có cơ hội gặp C. Lập, dù ở đâu, ngoài hay trong đất nước (Cali hay Saigon,) tôi chỉ thích được nhìn sâu, nhìn thấu phía sau ánh mắt tinh anh (thấp thoáng chút giễu cợt) và, nụ cười (cũng như tiếng cười) lúng liếng niềm vui của bạn – Kẻ thiết tha với đời sống. Ðắm đuối với lý tưởng (hạnh phúc?) cống hiến phần tim, óc mình cho bằng hữu. Ðám đông. Mọi người.
Cụ thể, tôi thích lắm, khi biết bạn tôi là người biến khu Bình Quới, Văn Thánh, thành hai quần-thể giải trí. Kết hợp được khá nhiều những nét tiêu biểu truyền thống văn hóa Việt.
Tôi cũng vui lắm (hãnh diện nữa,) khi biết bạn tôi, có nhiều năm là linh hồn của khu Chợ Hoa đường Nguyễn Huệ, mỗi dịp Xuân về.
Tôi cũng không che giấu hân hoan, khi biết liên tiếp mười năm qua, bạn tôi và bằng hữu, đã tổ chức ngày giỗ T. C. Sơn. Cho những người yêu ca khúc của tác giả này. Cho cả Saigon, một thời khuất, lấp.
Tôi cũng cảm kích lắm, khi biết bạn tôi, bằng vào tình yêu thiên nhiên, hoa cỏ, đã thiết lập những chuyến xe hoa/tang, cho những người bạn như Sơn, rồi Bảo Phúc, Huỳnh Phúc Ðiền, đến nơi an nghỉ cuối cùng của họ!…
Tôi biết, bạn tôi không viết văn, làm thơ. Bạn tôi cũng không soạn nhạc. Nhưng tôi nghĩ, bất cứ ai, một khi biết rõ C. Lập, đều có thể nói mà, không sợ quá lời rằng, đó là một người viết nhiều ca khúc tuyệt vời, không ca từ. Không nốt nhạc.
Bất cứ ai, một khi biết rõ C. Lập, theo tôi, đều có thể nói mà, không sợ quá lời rằng, đó là tác giả của những bài thơ… không chữ. Viết cho thiêng liêng, tình bạn.
Bây giờ là buổi chiều, nơi tôi ở. Bé đã chở T. đi công việc. Tôi, một mình, đứng trước hai chuồng chim do Thuần…“thiết kế” giùm, trên mảnh đất giữa vườn sau. Trước đây, vốn là căn nhà gỗ, trống. Nơi một trong bốn vách ván, trên, dưới mười năm trước, một buổi chiều, tôi đã nguệch ngoạc viết: “Làm sao em biết khi xa bạn / tôi cũng như chiều, tôi mồ côi.”
Nhớ lại này, dẫn độ tôi đối diện với sự thật rằng, tôi đã hết lâu rồi, những chiều lề đường Trương Ðịnh. Những sáng vỉa hè Lê Thánh Tôn. Những tối nhập nhoạng với Lập, Hãn, Minh, cùng những củ lạc, những hạt đậu phụng luộc mà, mỗi tẽ ra, lại thấy một chứa chan ánh mắt tinh anh (thấp thoáng chút giễu cợt) của bạn. Hay, một chớm khuya với Thắng, Dung, Hãn, Tuấn và, những ly café đá, góc đường Lê Anh Xuân – Ðối diện cây xăng nghỉ bán, lặng lẽ, âm thầm bốc hơi cùng Saigon, mờ, tỏ nỗi niềm mà trong mỗi hớp café, tôi lại thấy lúng liếng niềm vui của bạn, phút cuối.
Bây giờ, nơi tôi ở, chiều đã tắt hẳn. T. chưa về. vẫn đứng trước chuồng chim, phần riêng, trong nỗi nhớ bạn, tôi hiểu, thể tạng tôi không hợp lắm, với cách thế yêu đất nước của C. Lập. Nhưng tôi vẫn yêu (yêu lắm,) việc làm của bạn. Bởi vì, với tôi, tự thân đời sống bạn tôi, đã là một trường khúc:
– Bài thơ dài của một trong những người, thương yêu biết bao, đất nước mình!
Du Tử Lê
(Tháng 3, 2012)
Ðộng đất 6.8 Richter tại Nhật, không ai bị thương
TOKYO (AP) – Một loạt các trận động đất làm rung chuyển Tokyo và khu vực Ðông Nam nước Nhật vào chiều tối ngày Thứ Tư, nhưng may mắn không gây tổn thất vật chất hay sinh mạng ở nơi từng bị tàn phá dữ dội do thiên tai sóng thần hồi năm ngoái.

Một người đàn ông thả lồng đèn ở Natori, Nhật, hôm 11 Tháng Ba, tưởng niệm nạn nhân động đất năm ngoái. Nhật vừa bị một trận động đất khác hôm Thứ Tư, nhưng không ai thiệt mạng. (Hình: Daniel Berehulak/Getty Images)
Trận động đất mạnh nhất, xảy ra ngoài khơi đảo Hokkaido, đo được ở mức 6.8 Richter, gây ra thay đổi trong thủy triều khiến chính quyền địa phương dọc theo ven biển báo động sóng thần hoặc ra lệnh một số cộng đồng phải di tản.
Sóng cao khoảng 20cm (8 inches) được nhìn thấy tại cảng Hachinohe ở Aomori, nằm về phía Bắc nước Nhật, khoảng 1 giờ sau đó. Các thay đổi nhỏ hơn trong độ sóng cũng được báo cáo ở một số nơi quanh đảo Hokkaido và vùng Aomori.
Chấn động tại khu vực Tokyo đo được ở mức 6.1 Richter với tâm điểm nằm ngay ngoài khơi bờ biển Chiba, ở về phía Ðông Tokyo, tại độ sâu 10 km dưới mặt biển.
Thị trấn Otsuchi trong vùng Iwate, nơi có hơn 800 người thiệt mạng trong thiên tai sóng thần năm ngoái, ra lệnh cho dân sống dọc theo bờ biển phải di tản vào sâu hơn trong đất liền sau khi có động đất ở mức 6.8 Richter, theo lời giám đốc cơ quan phòng chống thiên tai địa phương, ông Shinichi Motoyama. Ông cũng cho biết là không có báo cáo thương tích hay thiệt hại tài sản nào.
Nhật vừa kỷ niệm một năm ngày xảy ra trận động đất hồi ngày 11 Tháng Ba, 2011 ở mức 9.0 Richter và sóng thần sau đó, khiến 19,000 người chết hay mất tích. (V.Giang)








