Tìm bạn Phan Thi Cua


Trước học may ở bến Vân Ðồn, hãng Phan. Hiện bạn đang ở đâu?


 Nhận được tin nhắn xin liên lạc với Loan 602-449-9281 (Loan trước ở lô V, cư xá Vĩnh Hội, hãng Phan, Q4. Mong tin bạn rất nhiều.)

Vàng Ðen (Kỳ 1)


LTS –
“Vàng Ðen” là tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Dũng Tiến, được xây dựng trên những tư liệu cùng huyền thoại liên quan tới vùng “Tam Giác Vàng,” một trong những nguồn sản xuất và cung cấp thuốc phiện (“vàng đen”) lớn nhất thế giới. Ngoài việc viết văn, tác giả Nguyễn Dũng Tiến cũng là một trong những người Việt Nam đầu tiên có công gầy dựng vườn cây ăn trái cho người Việt ở xứ người. Ông hiện là chủ nhân vườn cây LA Mimosa Nursery, 6270 East Allston Street, Los Angeles, CA 90022-4546. Tel: (323)722-4543. Ðược sự cho phép của tác giả, Người Việt hân hạnh giới thiệu tiểu thuyết “Vàng Ðen” trên mục truyện dài của nhật báo Người Việt cũng như Người Việt Online.


 


TỰA


 


Tôi vẫn hình dung những tiểu thuyết gia là những nhà ảo thuật, hay hơn thế, những tay phù thủy. Tôi đã di chuyển bằng tàu biển, nhưng đó chỉ là con tàu chở hành khách, như tàu Athos 2, năm 1948, đi từ Sài Gòn đến Marseille mất 28 ngày.


 Nhưng chưa bao giờ tôi được di chuyển dưới đáy biển, chưa bao giờ được bay vòng trái đất bằng khinh khí cầu. Jules Verne, bằng những vung tay của ngòi bút, đã giúp tôi có được những phiêu lưu xúc cảm đó của tuổi nhỏ mà không bao giờ tôi lãng quên. Phù thủy Lan Khai đưa tôi lên rừng, phù thủy Lê Văn Trương dắt tôi đi tìm vàng. Phù thủy Tchya thật ghê gớm bắt tôi quỳ mọp trong kinh hoàng để hầu hạ một Thần Hổ. Phù thủy Nguyễn Tuân đưa tôi đi coi Chém Treo Ngành, cho tôi uống Chén Trà Trong Sương Sớm. Tôi không nói chắc các bạn cũng biết tôi có khuynh hướng thân thương với những tác phẩm văn xuôi có chủ đề kỳ thú. Tiểu thuyết Vàng Ðen của Nguyễn Dũng Tiến đến với tôi như một đoàn quân tiến vào một thành trì bỏ ngỏ.


Vàng Ðen lại nghiễm nhiên có một vị trí riêng trong tiểu thuyết Việt Nam đã có du đãng, có tướng cướp, có tay “ném bút chì” có người “bỉ vỏ.” Nhưng buôn bán các chất ma túy, những bạch phiến, hắc phiến và hồng phiến gọi chung là vàng đen là thế giới của phù thủy Nguyễn Dũng Tiến lần đầu tiên mang lại cho chúng ta một cách quy mô. Nhiều nhà phù thủy của chữ nghĩa văn xuôi quan tâm nhiều đến việc từ vùng ngoại ô của hư vô tạo ra những người, những vật, những tình yêu và thù hận. Người không giống ai, người tử tù đó, vật càng khác biệt, nét chữ kia, hương cuội nọ.


Nguyễn Dũng Tiến bằng những phất tay chữ nghĩa mang lại những người, những vật của thế giới vàng đen, lại còn rất bạo tay mở rộng những thế giới đó từ Vạn Tượng, đến Chiang Mai, từ Tam Giác Vàng sang Mỹ quốc. Tôi thích đề tài rất kỳ thú của Vàng Ðen, tôi càng thích những người và vật, những bi kịch đời, bi kịch người, bi kịch đầy ắp đam mê chất chứa trong đó. Tôi thích hơn nữa không gian mênh mông kia của tiểu thuyết. Người viết tiểu thuyết cách đây hai mươi năm có những vấn đề khác biệt với những ưu tư của người sáng tạo hồi đầu thế kỷ.


Nhân vật của tiểu thuyết là nhân vật ngôi thứ nhất hay nhân vật được nhìn ngắm trên căn bản tâm lý học ngôi thứ ba. Ðào sâu vào nội tâm, đi mãi đến tận cùng của nội quan, những tiểu thuyết của thập niên ba mươi với những Francois Mauriac, những André Maurois bị Sartre chất chính, thế ra tiểu thuyết gia là Thượng đế hay sao? Làm sao biết Lan nghĩ xong rồi lại biết Ngọc nghĩ.


Tiểu thuyết gia mô tả nhân vật bằng chính nội quan, coi như tâm lý ngôi thứ nhất, thì những nhân vật khác chỉ có thể mô tả phản ứng, ngôn ngữ và động tác, tâm lý ngôi ba. Có thể dùng tới nội quan trá hình như thư từ, nhật ký, nhưng không thể áp dụng nội quan cho hơn một nhân vật trong cùng một cuốn truyện. Nhưng một nền tiểu thuyết thuần túy ngôi ba, hoàn toàn phản ứng có làm mất đi một kích thước cần có của một tiểu thuyết hay không? Tiểu thuyết của những năm năm mươi và sáu mươi đối đầu với những thắc mắc, một truyện hay nhiều truyện, nhiều chuyện trong một truyện có làm mất thống nhất tính hay không, một chuyện trong một truyện có phảng phất bi kịch Hy Lạp đã xa xưa và tệ hơn, có giản lược cuộc đời vốn có hơn một truyện trong cùng một thời gian.


Nhưng vấn đề tôi chú ý đặc biệt trong số những khắc khoải mà các người làm tiểu thuyết hôm nay là vấn đề bút pháp, nhất là trong loại tiểu thuyết có những đề tài kỳ thú. Tay chơi thứ dữ loại Vàng Ðen phải có ngôn ngữ khác biệt với chú tiểu trên chùa Long Giáng, khác với Ðạt của tiểu thuyết Yêu, và giọng cười của tay chơi khi rút ra con sắt trắng không thể giống tiếng cười của ông Nghị Hách khi tìm thấy những quả táo tầu. Ngôn ngữ không phải chỉ là những mẩu đối thoại, mà còn gồm bút pháp của toàn bộ cuốn sách, từ ngôn ngữ chữ viết, ngôn ngữ phản ứng cho tới ngôn ngữ của những ngõ ngách tâm hồn mỗi nhân vật. Ngôn ngữ mở rộng đó của thế giới Vàng Ðen, đúng thế là ngôn ngữ đầy bạo động, đầy tuyệt vọng, đầy ma túy. Ðó là những ngón nghề riêng của bàn tay đầy nghệ thuật phất lên của phù thủy Nguyễn Dũng Tiến.


Nguyên Sa


Aug. 29. 1995


 


Kỳ 1


 


Cuối Xuân 1994.


Ánh sáng ban mai trải dài trên lớp mái vàng của hoàng cung Lào, phản chiếu lên những tia sáng chói chan, rồi len lén trải nhẹ trên thân một tượng Phật bằng vàng, thật lớn giữa vườn thượng uyển. Quanh quanh, tiếng chim líu lo hót làm tăng thêm cái thanh thản, êm đềm của một bình minh nơi thủ đô của xứ ngàn voi phục.


Nhưng cái thanh thản của một sớm mai không giúp được hoàng thân Souvano Xithôn, một trong những hoàng thân còn lại trên tước hiệu của vương quốc Lào, bớt phải vội vã.


Bên ngoài, dưới sân đoàn hộ vệ và người tài xế riêng của hoàng thân đang lăng xăng chuẩn bị đoàn xe trong một tư thế sẵn sàng khởi hành.


Thùng thình trong bộ quốc phục, sàrông xanh đậm với những sọc kim tuyến nhạt chạy ngang, một chiếc áo lụa trắng tinh, tóc rẽ ngôi thẳng tắp, hoàng thân vội vã bước đến bàn thờ lộ thiên trước mặt tượng Phật, xì xụp làm lễ thật nhanh với sự phụ giúp của một nhà sư già, đoạn thẳng bước ra đoàn xe đang chờ sẵn. Nhà sư già cùng lên xe, ngồi cạnh hoàng thân.


Từ ngày hoàng thân Souphanouvong qua đời, hoàng thân Souvano Xithôn phải lãnh phần kế vị chức cố vấn chính phủ.


Hôm nay hoàng thân phải tham dự lễ cắt băng khánh thành một cây cầu, dù đã có sự hiện diện của người thủ tướng Lào do cộng sản Pathet Lào đưa lên; Cây cầu nối liền biên giới Thái-Lào do chính phủ Úc Ðại Lợi thực hiện và trao tặng cho hai quốc gia để tăng thêm phần hữu nghị giữa ba nước. Trong lòng thật không muốn đi, nhưng buổi lễ bắt buộc phải có sự hiện diện của hoàng thân Xithôn, vì lần đầu tiên trong hai trăm năm, quốc vương Thái, hoàng hậu cùng hoàng thái tử sẽ từ tỉnh Nông Khai, qua cầu để đến Viên Chắn của xứ Lào.


“Quốc sư nghĩ sao về chiếc cầu?”

Trâu người


tuanddk


(Nguồn: vn360plus.yahoo.com/tuanddk)


 


Mùa Xuân tháng 2 năm Mậu Dần (1038), vua Lý Thái Tông cày tịch điền ở cửa Bố Hải. Bấy giờ, các quan tả hữu có người can rằng: “Ðó là việc của nông phu, bệ hạ cần gì làm thế?”










Nông dân Việt Nam kéo cày. (Hình: phunutoday.vn)


 Vua nói: “Trẫm không tự cày thì lấy gì làm xôi cúng, lấy gì cho thiên hạ noi theo?” Nói xong vua đẩy cày… Ðây là đoạn được chép trong Việt Sử Ký về chuyện các vị vua trong lịch sử phong kiến Việt Nam mặc áo nông dân cày tịch điền đầu năm. Một lần vua cày quả là hơn ngàn chiếu dụ. Mùng 7 Tết Nhâm Thìn, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cũng xắn quần cởi áo đi đường cày đầu tiên trong lễ Tịch Ðiền ở Ðọi Sơn, Nam Hà và tái khẳng định: “Dù bất cứ hoàn cảnh nào, nông nghiệp, nông dân, nông thôn vẫn là cơ sở vững chắc, là nền tảng cho sự phát triển kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước.”


Nhưng, thậm chí từ ngày mùng 6 Tết, ở một nơi nào đó, không cần trống dong cờ mở, không cần cờ phướn, lễ hội, thậm chí không cả trâu bò, những người nông dân đang kéo cày thay trâu, như lời bài hát truyền thống của ngành nông nghiệp về một thời “đôi vai xưa kéo cày thay trâu,” tưởng đã mãi là dĩ vãng.


Báo Tiền Phong mô tả cha con nông dân 47 tuổi Phạm Văn Kháng bừa khoảng ruộng nhỏ bằng cách buộc thừng vòng qua bụng và dùng tay trần để kéo bừa. “Nhà tôi không có trâu. Mà trong làng cũng chẳng còn ai nuôi trâu, bò để mượn. Khoảnh ruộng thì nhỏ, thuê máy bừa vừa tốn tiền, vừa hỏng bờ, nên hai bố con làm cho tiện,” người nông dân này nói.


Những chàng trai không có máy cày và những cô con gái cũng đang ra sức kéo chiếc bừa trên ruộng cạn – có lẽ là hình ảnh manh mún điển hình của nền nông nghiệp. Và sự khốn khổ của người nông dân.


Vậy mà chính những bàn tay trần nông dân đó đã làm nên một năm mà người đứng đầu chính phủ đã thốt lên, “Nông nghiệp đã đại thắng.” Sản lượng lúa cả năm ước đạt 42 triệu tấn quy thóc. Trong khi nền kinh tế nhập siêu thì nông nghiệp tạo nguồn ngoại tệ nhờ xuất siêu. Xuất khẩu gạo năm 2011 đạt tới 7.3 triệu tấn với kim ngạch hơn 3.5 tỷ USD. Nông nghiệp, năm thứ 4 liên tiếp là điểm tựa cho cả nền kinh tế, hoặc nói không hề ngoa như TS Lê Ðăng Doanh, “Nông dân đã cứu đất nước 1 lần nữa.”


Báo Nông Nghiệp, dẫn các nguồn Ðại Học Harvard, Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách Ðại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội và Viện Chính sách và Chiến lược PTNT nhận định, với 1,000 đồng kích cầu nông nghiệp sẽ kích thích sản xuất 1,622 đồng và 1% GDP = 1 triệu việc làm mới – những con số cao nhất so với việc kích cầu vào những lĩnh vực khác. Không chỉ đảm bảo an ninh lương thực cho toàn xã hội mà còn góp phần hạn chế đà lạm phát, nhập siêu.


Nhưng hình ảnh những người nông dân kéo cày thay trâu, lặp đi lặp lại suốt hàng chục năm và hoàn toàn không phải là cá biệt, cũng là hình ảnh tiêu biểu cho thấy “chiến thắng của nông nghiệp” là quá nhọc nhằn khi mồ hôi của nông dân đang phải bán quá rẻ.
Tỉ trọng đầu tư cho nông nghiệp trong tổng vốn đầu tư xã hội những năm qua vừa ít vừa đang ngày càng thấp đi. Nếu như 10 năm trước, năm 2000, đầu tư cho nông nghiệp là 13.85% , thì đến năm 2005 tỷ trọng này là 7.50%, năm 2008 hạ xuống còn 6.45% và 2009, đầu tư cho nông nghiệp chỉ còn 6.26% tổng đầu tư cho xã hội. Trong năm 2011, tổng vốn đầu tư cho ngành nông nghiệp cũng chỉ đáp ứng được 40% nhu cầu. Ðầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) còn thê thảm hơn. Trong 10 năm qua, đầu tư FDI vào nông nghiệp chỉ chiếm khoảng 2.3% FDI cả nước.


Riêng đối với nông dân, từ 1 tháng 1 năm nay, phần diện tích vượt hạn điền bắt đầu chịu mức thuế suất mới.


Nông dân cần những vị vua mặc áo nâu cày tịch điền đầu năm. Nhưng nông dân cũng cần những chính sách mang tính chất cởi trói và nông nghiệp cần những con số thực tế, để chí ít, số lãi 30% không phải là lãi ảo, hoặc đơn giản hơn, để những chàng trai, cô gái không phải cày thay trâu.


Một lần vua cầm cày hơn ngàn lần khuyến dụ. Nhưng chỉ cầm cày để quay camera thôi thì chưa đủ.

Ðọc Nguyễn Du, nhớ Nguyễn Khuyến


Nguyễn Hưng Quốc


(Nguồn: VOA)


 


Ðọc thơ chữ Hán của Nguyễn Du, thấy tâm trạng buồn rầu và cảm giác bế tắc của ông khi nghĩ về chuyện văn chương, tự dưng tôi nhớ đến Nguyễn Khuyến.










Từ Ðường nhà thi hào Nguyễn Khuyến. (Hình: baodatviet.vn)


Nguyễn Khuyến (1835-1909) ra đời sau khi Nguyễn Du đã mất được 15 năm. Cả hai đều trải qua những thời loạn lạc: với Nguyễn Du, loạn lạc xảy ra lúc còn trẻ; với Nguyễn Khuyến, lúc đã về già. Mức độ của cái gọi là loạn lạc ấy cũng khác: thời Nguyễn Du, đất nước thay chủ, từ Lê-Trịnh sang Nguyễn Tây Sơn và cuối cùng, Nguyễn Gia Miêu (quê gốc của các chúa và sau đó, của các vua Nguyễn, thuộc Tống Sơn, Thanh Hóa); thời Nguyễn Khuyến, không phải là chuyện thay đổi triều đại, mà là chuyện đánh mất chủ quyền: cả nước lọt vào tay thực dân Pháp. Cuối cùng, phạm vi của khái niệm loạn lạc cũng khác: thời Nguyễn Du, chỉ là loạn lạc về chính trị và xã hội; thời Nguyễn Khuyến, loạn lạc một cách toàn diện: không những chỉ trong lãnh vực chính trị hay xã hội mà còn cả trong lãnh vực văn hóa với sự thất thế của chữ Hán và sự lên ngôi của chữ quốc ngữ, từ đó, sự thay đổi trong hệ thống học đường và khoa cử, sự đảo lộn trong bảng giá trị đạo đức cũng như thẩm mỹ.


Cả hai, lúc còn trẻ, chắc chắn có rất nhiều tham vọng. Nguyễn Du thì sinh ra trong gia đình thế gia vọng tộc, lại nổi tiếng tài hoa về văn chương. Nguyễn Khuyến xuất thân trong một gia đình khiêm tốn hơn: cha chỉ đỗ tú tài, làm nghề dạy học và khá nghèo. Nhưng về khoa cử, ông lại hơn hẳn Nguyễn Du: Trong khi Nguyễn Du chỉ đỗ tam trường (tú tài), Nguyễn Khuyến lại thi đỗ cả ba kỳ thi Hương (1864), thi Hội (1871) và thi Ðình (1871); hơn nữa, ở cả ba cuộc thi, ông đều đỗ đầu; nổi tiếng cả nước với danh hiệu “Tam nguyên Yên Ðỗ.” Ðó là điều Nguyễn Khuyến rất tự hào. Trong bài “Di chúc,” có đoạn ông viết:


… Ðức thầy đã mỏng mòng mong


Tuổi thầy lại sống hơn ông cụ thầy.


Học chẳng có rằng hay chi cả;


Cưỡi đầu người kể đã ba phen…


Mà tự hào kể cũng phải. Nên nhớ trong cả lịch sử khoa cử bằng chữ Hán tại Việt Nam, kể từ khoa thi đầu tiên vào năm 1075 đến khoa thi cuối cùng vào năm 1918, tức hơn 800 năm, chỉ có cả thảy năm người đoạt được danh hiệu “tam nguyên” như thế: Ðào Sư Tích (đời Trần), Lê Quý Ðôn (1726-1784), Trần Bích San (1838-1877), Nguyễn Khuyến và Vũ Phạm Hàm (1864-1910).


Nhờ đỗ đạt cao, con đường làm quan của Nguyễn Khuyến khá thuận lợi, ít nhất là ở giai đoạn đầu. Hai năm sau khi đỗ khoa thi Hội và thi Ðình, ông được bổ làm Ðốc Học ở Thanh Hóa; năm sau, làm Án Sát Nghệ An, rồi mấy năm sau, được thăng làm Bố Chánh tỉnh Quảng Ngãi. Tuy nhiên, sau đó, hoạn lộ của ông bắt đầu bị trắc trở. Năm 1879, vì chuyện gì đó, ông bị đàn hặc và bị điều về Huế, làm Toản tu Quốc Tử Giám, không còn quyền lực gì cả. Năm năm sau, ông cáo quan, lúc mới 50 tuổi ta. Tổng cộng ông làm quan chỉ được 11 năm.


Có cảm tưởng phần lớn những bài thơ còn lại đến bây giờ của Nguyễn Khuyến đều được sáng tác sau khi ông về hưu. Khung cảnh là khung cảnh làng quê. Một số nhân vật xuất hiện trong thơ ông cũng là những người dân dã. Tâm trạng là tâm trạng của một người đứng ngoài công danh. Tuy nhiên, chính ở đây, chúng ta thấy có sự khác biệt sâu sắc giữa Nguyễn Du và Nguyễn Khuyến. Nguyễn Du hầu như lúc nào cũng phấp phỏng lo sợ, lúc nào cũng cô đơn và cô độc, lúc nào cũng thu mình lại, kín kẽ, giữ gìn, thậm chí có lúc phải đóng kịch: “Dị hương dưỡng chuyết sơ phòng tục / Loạn thế toàn sinh cửu úy nhân” (Ở đất khách, giả vụng về để phòng thói tục / gặp đời loạn vì muốn giữ thân nên luôn sợ người ta). Nguyễn Khuyến thì khác. Ông sống chan hòa với mọi người. Ông xem những người dân quê chung quanh như là bạn bè: “Chú Ðáo làng bên lên với tớ / Ông Từ xóm chợ lại cùng ta.” Ðiểm chung giữa Nguyễn Du và Nguyễn Khuyến là tâm trạng của họ khi nói đến chuyện văn chương: Nhìn đâu cả hai cũng đều thấy bế tắc.


Nguyễn Khuyến xem thời mình sống là một thời “mạt học”: “Mạt học văn chương nhập hạ tằng” (Văn chương trong buổi học vấn suy tàn, đã rơi xuống bậc dưới). Rơi xuống bậc dưới là bậc gì? Nó chỉ trên bậc ăn mày một chút: “Hạnh nhân nho đẳng vi tiên cái” (Cũng may nhà nho còn được xếp trên hạng ăn mày). Thì cũng chẳng có gì lạ. Ngày xưa, ngay một nhà thơ lớn như Ðào Tiềm cũng từng có lúc làm thơ xin ăn cơ mà: “Cổ nhân khất thực dĩ thành thi” Người xưa từng đã có thơ “xin ăn”). Biết thế, nhưng Nguyễn Khuyến không thể không trằn trọc tự hỏi: “Sách vở ích gì cho buổi ấy?” và có lúc ứa nước mắt: “Bút nghiễn trầm tư ưng hữu lệ” (Ngẫm nghĩ đến bút nghiên đáng tràn nước mắt).


Bây giờ chúng ta quen nhìn Nguyễn Khuyến như một trong những nhà thơ cổ điển lớn nhất của Việt Nam. Nhưng thuở sinh thời, không chắc Nguyễn Khuyến đã có được mấy tri kỷ. Không đăng trên báo và cũng không in thành sách, thơ ông chủ yếu được truyền tụng trong bạn bè và một số người quen. Nhiều lần, ông nói là ông không cần có nhiều người đọc: “Tạp cú bất tu nhân cộng hưởng” (Câu thơ vặt không cần mọi người thưởng thức) hoặc “Phóng ngâm hà tất vạn nhân truyền” (Thơ ngâm tràn, cần gì phải vạn người truyền tụng). Nhưng có nhắc đến là có ảm ảnh. Mà ám ảnh ấy chắc chắn là buồn.


Một điểm đáng chú ý là khi nhắc đến thơ, ít khi Nguyễn Khuyến nhắc đến đơn vị bài. Mà chỉ dừng lại ở đơn vị câu.


Lúc hứng uống thêm dăm chén rượu


Khi buồn ngâm láo một câu thơ.


(Ðại lão)


Rượu ngon nhắp giọng đưa vài chén


Bút mới xô tay thử một hàng.


(Khai bút)


Câu thơ nghĩ, đắn đo không viết


Viết đưa ai, ai biết mà đưa?


(Khóc Dương Khuê)


Ngoài những câu quen thuộc ở trên, Nguyễn Khuyến còn có câu thơ này tôi rất thích và cứ đọc đi đọc lại hoài trong đêm giao thừa vừa qua:


Trầm ngâm tọa đối hàn đăng chước


Nhất cú liên niên, hứng vị cùng.


(Ngồi lặng lẽ dưới bóng đèn, rót rượu uống


Ngâm một câu thơ kéo dài hai năm liền, hứng vẫn chưa cạn).


Ngâm thơ, ở ngay thời điểm giao thừa, từ phút trước sang phút sau đã là hai năm. Hình ảnh thật đẹp.


Một điểm nữa cũng cần lưu ý: Trước hình ảnh “ông đồ” trong thơ của Vũ Ðình Liên, Nguyễn Khuyến đã từng là người viết thuê câu đối để sống trong những ngày tết. Chắc chắn là ông viết rất nhiều. Bây giờ chỉ còn lại vài chục câu. Câu nào cũng hay. Với chúng, Nguyễn Khuyến được giới phê bình và nghiên cứu xem là người viết câu đối nhiều, mẫn tiệp, và thú vị nhất trong lịch sử văn học cổ điển Việt Nam, một lịch sử, ở đó, hầu như bất cứ người đi học nào cũng phải viết câu đối.


Trong bài thơ “Ðối trướng phát khách” (Bán hàng đối trướng), Nguyễn Khuyến kể về việc bán câu đối của mình như sau:


 


Sinh thục văn tự cách


Tân xuân hựu phát khách.


Nhất nguyên chí thập nguyên


Ða thiểu giá bình địch


Hữu khách lai mãi chi


Chỉ dĩ can lang bách


Ngã văn tuy bất giai


Khởi bất xứng tam mạch


Khách mãi giá hà liêm


Bất xứng ngã bất dịch


Trì lang khách thả quy


Bất thụ ngã bất thích


Khách khứ độc tư ta


Văn tự hà nhất ách.


 


(Một lối văn tự dở sống dở chín


Cứ đến năm mới lại đem ra bán.


Từ một đồng đến mười đồng,


Nhiều ít giá phải chăng.


Có một người khách đến mua,


Chỉ đưa có một trăm miếng cau khô.


Văn ta tuy chẳng hay


Há không đáng ba tiền?


Khách sao mua rẻ thế?


Không đáng giá thì ta không bán.


Thôi khách hãy mang cau về.


Không đắt hàng ta cũng không ngại!


Khách đi rồi ta than thở một mình:


“Văn tự mà cũng gặp khó khan đến thế!”)


 


Ðọc bài thơ trên, không thể không nhớ đến Tản Ðà (1888-1939). Là một nhà thơ nổi tiếng và tài hoa nhất của Việt Nam trong suốt mấy thập niên đầu của thế kỷ 20, kể từ sau cái chết của Tú Xương (1907) và Nguyễn Khuyến (1909) đến lúc phong trào Thơ Mới ra đời (1932), có lúc, do túng quẫn, Tản Ðà phải sống bằng nghề bói toán. Lời quảng cáo đăng báo cũng là một bài thơ:


Còn như đặt quẻ


Nhiều năm (5 đồng) ít có ba (3 đồng)


Nhiều ít tùy ở khách


Hậu bạc kể chi mà.


Từ Nguyễn Khuyến đến Tản Ðà, ngoài những thay đổi về văn hóa, bao gồm cả văn tự, khoa cử, ý thức hệ và cách sống, còn có hai thay đổi lớn khác ít được nhắc đến: xu hướng chuyên nghiệp hóa và thương mại hóa văn chương.


Khi nào có hứng sẽ bàn tiếp chuyện ấy.

Ðạo Luật Cấm Bạo Hành Chống Phụ Nữ


Cấp thẻ xanh cho nạn nhân


 


Carolyn Kim/Asian Pacific American Legal Center


Ðỗ Dzũng/Người Việt (chuyển ngữ)


 


Ðạo Luật Cấm Bạo Hành Chống Phụ Nữ (Violence Against Women Act-VAWA) là luật liên bang. Luật cho phép nạn nhân bạo hành gia đình được xin quy chế thường trú dân (thẻ xanh) mà không cần bảo trợ của người phối ngẫu (gây ra bạo hành).


Thông thường, một công dân hoặc thường trú nhân hợp pháp tại Mỹ phải “xin” thẻ xanh cho người phối ngẫu và con cái (nếu có). Một khi Sở Di Trú chấp thuận đơn xin, người phối ngẫu và con cái (còn gọi là người thụ hưởng) có đủ tiêu chuẩn để xin thẻ xanh.


Tuy nhiên, Ðạo Luật VAWA có một cách khác để người phối ngẫu xin thẻ xanh, nếu là nạn nhân của bạo hành gia đình. Theo luật này, người phối ngẫu bị bạo hành và con cái được “tự xin” thẻ xanh mà không cần sự giúp đỡ hoặc bảo lãnh của người bạo hành. Cách thức này rất quan trọng bởi vì nhiều người bạo hành có thể muốn kiểm soát tiến trình xin thẻ xanh và tình trạng di trú của nạn nhân như là một điều kiện “bắt chẹt” trong khi vẫn tiếp tục hành hạ người phối ngẫu. Khi “tự xin” thẻ xanh trong trường hợp này, theo Ðạo Luật VAWA, người phối ngẫu bị bạo hành không phải đóng một lệ phí nào cả.


Nên nhớ, nhiều vấn đề liên quan đến tự xin thẻ xanh theo Ðạo Luật VAWA rất phức tạp. Quý vị nên luôn luôn hỏi ý kiến một luật sư di trú kinh nghiệm trước khi điền đơn. Sau đây là một số câu trả lời thông dụng liên quan đến tự điền đơn VAWA. Tuy nhiên, thông tin này không thể được coi là sự thay thế cho những lời cố vấn pháp lý:


 


1. Những gì cần có để chứng minh cho trường hợp của tôi khi tự nộp đơn xin thẻ xanh theo Ðạo Luật VAWA?


A. Quý vị phải lập gia đình (hoặc là con cái) hợp pháp với một công dân hoặc thường trú nhân Hoa Kỳ. Nếu ly dị người phối ngẫu của mình vì bị bạo hành, quý vị phải tự nộp đơn VAWA trong vòng hai năm sau khi ly dị. Nếu người phối ngẫu vi phạm bạo hành qua đời, quý vị phải nộp đơn trong vòng hai năm sau ngày chết của người này.


B. Quý vị phải chứng minh mình lập gia đình thật sự, rằng quý vị và người phối ngẫu thật sự muốn có một cuộc sống vợ chồng suốt đời, chứ không phải lập gia đình để được vào Hoa Kỳ và để có thẻ xanh.


C. Trước đó, quý vị phải sống với người phối ngẫu tại Hoa Kỳ.


D. Quý vị phải là nạn nhân của tình trạng bạo hành, về thể xác và tâm sinh lý, do người phối ngẫu gây ra.


E. Quý vị là một người có “cá tính đạo đức tốt,” có nghĩa quý vị là người chưa bao giờ vi phạm tội ác. Tuy nhiên, luật di trú có nhiều phân loại định nghĩa về cá tính đạo đức tốt, và một luật sư có thể giúp quý vị xem có đạt tiêu chuẩn này hay không.


 


2. Làm sao tôi có thể chứng minh được những tiêu chuẩn này?


Giới chức Sở Di Trú sẽ xem xét từng bằng chứng khác nhau. Nói chung, quý vị sẽ phải nộp một bản sao giấy hôn thú, giấy khai sinh của bất cứ đứa con nào của hai người, giấy ly dị trước đó, chứng nhận tình trạng di trú của người vi phạm bạo hành, bằng chứng hai người sống chung, bản khai của quý vị mô tả chi tiết quan hệ với người phối ngẫu và vụ bạo hành, hình đám cưới của hai người, hình chụp các vết thương liên quan đến vụ bạo hành, báo cáo của cảnh sát, thư ủng hộ của những người biết quý vị và người phối ngẫu của quý vị, và tất cả các bằng chứng khác, tùy theo trường hợp của quý vị. Mỗi trường hợp mỗi khác, và không phải tất cả mọi bằng chứng kể trên có thể áp dụng vô trường hợp của quý vị.


Ngoài ra, không một bằng chứng nào có thể thay đổi tình trạng tự nộp đơn VAWA của quý vị. Nên nhớ, một luật sư có thể giúp quý vị quyết định loại bằng chứng nào là tốt nhất để sử dụng trong tiến trình tự nộp đơn.


 


3. Tôi có thể nộp đơn theo Ðạo Luật VAWA cho con riêng của tôi không?


Nếu con của quý vị dưới 21 tuổi, quý vị có thể bao gồm chúng trong đơn VAWA, ngay cả những đứa con này không phải là nạn nhân của tình trạng bạo hành.


 


4. Sau khi đơn của tôi được chấp thuận thì phải làm gì?


Như đã đề cập ở trên, quý vị có thể đủ tiêu chuẩn xin thẻ xanh. Ngoài ra, quý vị cũng có thể nộp đơn xin giấy đi làm (Employment Authorization Document). Với giấy này, quý vị được đi làm một cách hợp pháp tại Mỹ. Tùy theo nơi cư ngụ, quý vị có thể xin được một số trợ cấp của chính phủ.


 


5. Tôi có thể xin thẻ xanh ngay được không?


Ðiều này còn tùy.


Nếu người phối ngẫu vi phạm bạo hành là công dân Mỹ, quý vị được coi là một “người thân trực hệ” dựa theo luật di trú và quý vị có thể nộp đơn xin thẻ xanh ngay sau khi đơn VAWA được chấp thuận.


Nếu người phối ngẫu vi phạm bạo hành là thường trú nhân, quý vị sẽ được cho biết ngày ưu tiên (priority date) theo như đơn người phối ngẫu xin cho quý vị. Quý vị không thể nộp đơn xin thẻ xanh trước khi ngày ưu tiên có hiệu lực. Ðiều này có nghĩa là quý vị phải chờ theo thứ tự cho đến khi Sở Di Trú thông báo họ sẽ tiến hành xem xét hồ sơ theo ngày ưu tiên của quý vị. Tiến trình nộp đơn xin thẻ xanh bắt buộc người nộp đơn phải đóng lệ phí (không phải như đơn VAWA) và nên nhờ một luật sư làm đơn và cố vấn giùm.


 


6. Tôi sợ là người phối ngẫu của tôi biết tôi tự nộp đơn VAWA. Tôi phải làm gì đây?


Quý vị nên thu thập tất cả mọi giấy tờ hoặc bất cứ bằng chứng nào, nếu điều này có thể bảo đảm an toàn cho mình. Luôn luôn có cách khác để chứng minh quý vị đủ điều kiện theo Ðạo Luật VAWA. Ðây là lý do tại sao quý vị cần phải hỏi ý kiến luật sư. Một khi tự điền đơn, giới chức Sở Di Trú sẽ không được phép thông báo cho người phối ngẫu của quý vị là quý vị đã nộp đơn cũng như cung cấp bất cứ thông tin nào về đơn của quý vị.


 


7. Nếu người vi phạm bạo hành với tôi không phải là di dân hợp pháp?


Trong trường hợp này, quý vị chắc chắn không thể tự nộp đơn VAWA được. Tuy nhiên, quý vị có thể được hưởng một quyền lợi di trú khác, gọi là “U nonimmigrant status” (U visa) mà cuối cùng cũng giúp quý vị có thẻ xanh. Quý vị nên hỏi ý kiến một luật sư di trú nếu là nạn nhân của tình trạng bạo hành trong gia đình, đã báo cáo tội ác này với cơ quan công lực địa phương.


 


Lưu ý: Thông tin này không phải là một lời cố vấn luật pháp và không nên được dùng để thay thế như là một sự giúp đỡ hoặc hướng dẫn tương đương với một luật sư di trú kinh nghiệm hoặc một tổ chức cố vấn pháp lý.


Nếu cần giúp đỡ, xin quý vị gọi điện thoại tiếng Việt tại số 1-800-267-7395.


Trung Tâm Pháp Lý Người Mỹ Gốc Châu Á Thái Bình Dương (APALC) là một tổ chức bất vụ ủng hộ quyền công dân, cung cấp trợ giúp và giáo dục pháp lý, cũng như tạo thành một liên minh trong cộng đồng để gây ảnh hưởng tốt cho người Mỹ gốc Châu Á Thái Bình Dương, đồng thời góp phần tạo ra một xã hội hài hòa.

Nạn nhân bạo hành gia đình đề nghị cứu xét lệnh trục xuất


Jacqueline Dan, Esq./ Asian Pacific American Legal Center


Ðỗ Dzũng/Người Việt (chuyển ngữ)


 


Nhiều nạn nhân bạo hành gia đình đến Mỹ một cách hợp pháp, nhưng sau này bị mất quy chế di dân bởi vì họ là nạn nhân trong trường hợp quan hệ vợ chồng bị lạm dụng.Ðôi khi, nạn nhân bạo hành gia đình bị đưa ra trước tòa án di trú và nhận một quyết định trục xuất khỏi Hoa Kỳ. Một số nạn nhân có thể muốn ở lại Mỹ, không trình diện Sở Di Trú.


Nếu rơi vào trường hợp này, quý vị có thể điền một hồ sơ pháp lý gọi là “Motion to Reopen” (Ðề Nghị Cứu Xét) lệnh trục xuất để hợp pháp hóa tình trạng di trú của mình. Tuy nhiên, trước khi làm việc này, có một số chuyện quan trọng quý vị phải biết như sau:


1. Nếu điền một “Motion to Reopen” với tư cách là nạn nhân bạo hành gia đình, tôi cần phải chứng minh những gì trước tòa án?


Ðiều này còn tùy. Có ba cách nạn nhân bạo hành gia đình có thể hợp pháp hóa tình trạng di trú của mình qua việc điền “Motion to Reopen.” Ðó là tự xin theo luật VAWA (Violence Against Women Act), điền đơn xin hoãn trục xuất theo VAWA, hoặc điền đơn xin thị thực nhập cảnh “U-visa.”


 


2. Tôi cần những gì để chứng minh với tòa án khi đề nghị “Motion to Reopen,” nếu muốn tự xin theo luật VAWA?


Ðể đủ điều kiện tự xin điều chỉnh tình trạng di trú theo luật VAWA, quý vị phải chứng mình được bảy điều sau đây: (1) Quý vị lập gia đình với người gây ra bạo hành với mình, ngoại trừ trường hợp người đó qua đời hoặc ly dị quý vị trong vòng hai năm trước đó; (2) Người gây ra bạo hành với quý vị là công dẫn Mỹ hoặc là thường trú dân (có thẻ xanh); (3) Quý vị đang sống ở Mỹ, ngoại trừ trường người gây ra bạo hành với quý vị làm việc cho chính phủ Hoa Kỳ, hoặc vụ bạo hành xảy ra tại Mỹ; (4) Quý vị sống chung với người bạo hành trong quá khứ: (5) Quý vị bị đánh đập hoặc bị đối xử tàn bạo trong lúc sống cuộc sống hôn nhân; và (7) Quý vị kết hôn với người bạo hành là vì tình yêu, chứ không phải kết hôn để được vào Mỹ một cách hợp pháp.


 


3. Tôi cần những gì để chứng minh với tòa án khi đề nghị “Motion to Reopen,” nếu muốn điền đơn xin hoãn trục xuất theo VAWA?


Ðiều kiện để điền đơn xin hoãn trục xuất theo VAWA tương tự như trường hợp tự xin theo luật VAWA. Tuy nhiên, có sáu sự khác biệt quan trọng. Trước hết, một nạn nhân bạo hành gia đình có thể đã ly dị người bạo hành hơn hai năm. Thứ nhì, nạn nhân phải thực sự có mặt tại Mỹ trong ít nhất 3 năm trước khi điền đơn xin hoãn trục xuất. Thứ ba, nạn nhân phải là một người dân tốt trong thời gian 3 năm này. Thứ tư, nạn nhân không phải là người có một tội gì đó có thể bị cấm nhập cảnh hoặc bị trục xuất. Ðiều kiện này rất phức tạp và có thể nạn nhân phải hỏi ý kiến luật sư của mình. Thứ năm, nạn nhân phải chứng minh con cái hoặc cha mẹ của mình sẽ gặp khó khăn rất lớn nếu mình bị trục xuất. Thứ sáu, tòa án cảm thấy trường hợp của nạn nhân đặc biệt, xứng đáng được xem xét.


 


4. Tôi cần những gì để chứng minh với tòa án khi đề nghị “Motion to Reopen,” nếu muốn điền đơn xin thị thực nhập cảnh “U-visa?”


Nạn nhân bạo hành gia đình nộp đơn xin thị thực nhập cảnh “U-visa” phải chứng minh được là hợp tác với cơ quan công lực trong cuộc điều tra đối với người gây ra bạo hành với họ. Nhân viên công lực phải xác nhận rằng người bạo hành gây ra hậu quả nghiêm trọng đối với nạn nhân về mặt thể xác hoặc tinh thần.


 


5. Một chánh án tòa di trú đưa tôi quyết định trục xuất cách đây khá lâu. Liệu tôi có cơ hội đề nghị xem xét lại quyết định này không?


Có. Thông thường, một luật sư di trú nhận quyết định trục xuất chính thức của quý vị phải đề nghị “Motion to Reopen” trong vòng 90 ngày. Tuy nhiên, một di dân tìm cách ở lại Mỹ với tư cách nạn nhân bạo hành gia đình vẫn có thể điền đơn “Motion to Reopen” ngay cả sau 90 ngày, nếu nạn nhân này vẫn còn hiện diện tại Hoa Kỳ.


 


6. Nếu tôi đã điền “Motion to Reopen” cho trường hợp bị trục xuất của tôi và bị từ chối. Tôi có được điền “Motion to Reopen” vì tôi là nạn nhân bạo hành gia đình không?


Ðiều này còn tùy. Thông thường, một di dân nhận quyết định trục xuất chính thức vẫn có thể điền “Motion to Reopen.” Tuy nhiên, một di dân có thể điền “Motion to Reopen” để làm giảm nhẹ khó khăn của mình dựa trên căn bản của tình trạng bạo hành gia đình, ngay cả nếu di dân này đã điền một “Motion to Reopen” với lý do khác, ví dụ như tìm cách ở lại Hoa Kỳ.


 


7. Tôi sợ bị ly dị trong khi chờ tòa án di trú quyết định đơn xin “Motion to Reopen” của tôi. Liệu điền đơn xin “Motion to Reopen” có ngăn chặn tôi bị trục xuất?


Có. Nếu điền “Motion to Reopen” để ở lại Mỹ với tư cách là nạn nhân bạo hành gia đình, tòa sẽ tự động ngừng sự trục xuất của quý vị trong lúc quyết định cho phép hoặc từ chối “Motion to Reopen” cua quý vị. Ðiều này có nghĩa là quý vị không thể bị trục xuất trong khi tòa xem xét “Motion to Reopen” của mình để quyết định chấp thuận hay từ chối. Tuy nhiên, nếu tòa từ chối “Motion to Reopen” này, chính quyền Mỹ có thể trục xuất quý vị.


Nếu tòa chấp thuận “Motion to Reopen,” quý vị có thể đến tòa để giải thích trường hợp của mình. Trong khi trường hợp của quý vị được tòa xem xét, quý vị không thể bị trục xuất. Tuy nhiên, tòa vẫn có thể quyết định từ chối trường hợp của quý vị sau khi xem xét tất cả bằng chứng tại tòa. Nếu tòa từ chối, quý vị sẽ nhận một lệnh trục xuất khác, và chính phủ Mỹ tìm cách trục xuất quý vị.


 


Lưu ý:


Thông tin này không phải là một lời cố vấn luật pháp và không nên được dùng để thay thế như là một sự giúp đỡ hoặc hướng dẫn tương đương với một luật sư di trú kinh nghiệm hoặc một tổ chức cố vấn pháp lý.


Nếu cần giúp đỡ, xin quý vị gọi điện thoại tiếng Việt tại số 1-800-267-7395.


Trung Tâm Pháp Lý Người Mỹ Gốc Châu Á Thái Bình Dương (APALC) là một tổ chức bất vụ ủng hộ quyền công dân, cung cấp trợ giúp và giáo dục pháp lý, cũng như tạo thành một liên minh trong cộng đồng để gây ảnh hưởng tốt cho người Mỹ gốc Châu Á Thái Bình Dương, đồng thời góp phần tạo ra một xã hội hài hòa. APALC phối hợp làm việc với “Asian American Justice Center” tại Washington, DC, “Asian American Institute” tại Chicago và “Asian Law Caucus” tại San Francisco.

Đốc sự Hành chánh Nguyễn Mạnh Tùng

 

Cháu Phêrô Nguyễn Anh Tuấn

 

Phêrô Nguyễn Anh Tuấn

 

Chiến Hữu Phạm Vương Thục

 

Cụ Bà Quả Phụ Lê Nguyên Chân

 

Bà Maria Nguyễn Thị Điển

 

Tyler Diệp thôi ứng cử Dân biểu tiểu bang California



Ðỗ Dzũng/Người Việt


 


WESTMINSTER (NV) –Ứng cử viên quyên được nhiều tiền nhất tranh chức dân biểu tiểu bang California, Ðịa Hạt 72, vừa tuyên bố rút lui khỏi cuộc tranh cử vì “chiến lược không còn thuận lợi nữa.”









Nghị Viên Tyler Diệp vừa tuyên bố rút lui khỏi cuộc tranh cử dân biểu tiểu bang. (Hình: Người Việt)


Ông Tyler Diệp (Cộng Hòa), nghị viên Westminster kiêm ủy viên Ðặc Khu Vệ Sinh Midway City, nói với nhật báo Người Việt rằng: “Lý do tôi rút lui khỏi cuộc tranh cử này là vì chiến lược không còn thuận lợi nữa.”


“Mặc dù tôi là ứng cử viên gốc Việt đầu tiên tuyên bố ứng cử vào chức vụ này, bây giờ có thêm hai người gốc Việt khác nữa, thành ra có tới ba người,” ông Tyler Diệp giải thích thêm.


Hai ứng cử viên gốc Việt kia là Tiến Sĩ Phạm Kim Long (Cộng Hòa), ủy viên Hội Ðồng Giáo Dục Orange County, và ông Joe Ðỗ Vinh (Dân Chủ), ủy viên Ủy Ban Quy Hoạch Garden Grove.


Ông Tyler Diệp khẳng định: “Không phải là tôi sợ, nhưng tôi không muốn thấy sự tranh giành trong cộng đồng Việt Nam.”


Theo ông cho biết, cho tới cuối Tháng Giêng, ông gây quỹ được hơn $135,000, trong đó có hơn $129,000 tiền mặt. Ngoài ra, tổng cộng số tiền gây quỹ không phải là tiền mượn hoặc tiền của ủy ban ủng hộ ở Sacramento.


Nghị Viên Tyler Diệp cũng cho biết thêm ông muốn dành thời gian tập trung cho công việc của thành phố.


“Westminster hiện đang gặp nhiều khó khăn, nhất là về ngân sách. Vì thế, tôi muốn tập trung thời gian quý giá của mình cho thành phố,” ông Tyler Diệp nói tiếp.


Khi được hỏi có tin đồn là ông bị sức ép của đảng Cộng Hòa hay có thỏa thuận với một ứng cử viên nào đó, hoặc một ai đó, để rút lui, ông Tyler Diệp nói: “Ðây là quyết định cá nhân. Không ai hoặc tổ chức nào gây sức ép hoặc thỏa thuận với tôi cả.”


“Tất nhiên, khi tôi rút lui, số ứng cử viên sẽ ít đi một người, chắc chắn cục diện sẽ có thay đổi,” ông nói thêm.


Ông cho biết số tiền gây quỹ được sẽ được dùng cho cuộc tái tranh cử vào Hội Ðồng Thành Phố hoặc ủng hộ người khác.


“Theo luật, tôi có thể dùng tiền này để tái tranh cử chức nghị viên vào Tháng Mười Một này, hoặc ủng hộ các ứng cử viên khác,” Nghị Viên Tyler Diệp nói.


“Tôi biết một số người ủng hộ tôi sẽ thất vọng khi biết tôi rút lui, nhưng tôi sẽ giải thích với họ đây là quyết định thích hợp. Hy vọng họ sẽ hiểu và thông cảm,” nghị viên gốc Việt này nói.


“Sau hơn ba năm phục vụ ở Westminster với sự ủng hộ của quý vị, tôi kêu gọi mọi người tiếp tục ủng hộ tôi,” ông Tyler Diệp nói.


Ngoài hai chức vụ dân cử nêu trên, Nghị Viên Tyler Diệp cũng là ủy viên Hội Ðồng Quản Trị Sở Cứu Hỏa Orange County và cố vấn cao cấp cho bà Michelle Steel, phó chủ tịch Hội Ðồng Thuế California.


Ðịa Hạt 72 là địa hạt mới, do một ủy ban độc lập tiểu bang California vẽ lại ranh giới các địa hạt bầu cử hồi năm 2011, bao gồm một phần hoặc toàn bộ các thành phố Los Alamitos, Fountain Valley, Seal Beach, Huntington Beach, Westminster, Garden Grove, Santa Ana và Midway City.


 


––


Liên lạc tác giả: [email protected]

Ngân hàng Việt Nam e khốn đốn vì Liên Âu


VIỆT NAM (NV) –
Phúc trình mới nhất của công ty Moody’s xếp hạng tín dụng các đơn vị tài chính thế giới cho biết, Việt Nam cũng nằm trong số các quốc gia nguy cơ bị tác động bởi cuộc khủng hoảng tài chính tại Liên Âu.










Bơm thêm tiền vào thị trường: nguy cơ lạm phát phi mã tại Việt Nam. (Hình: Internet)


Phúc trình này được báo Dân Việt trích đăng cho rằng ngành ngân hàng Việt Nam cũng sẽ “cùng chung số phận” với hệ thống ngân hàng Úc, New Zealand, Nam Hàn… trong thời gian tới.


Giám đốc điều hành tổ hợp tài chính Moody, Stephen Long, cho rằng các ngân hàng Úc, New Zealand, Nam Hàn lâu nay phụ thuộc vào nguồn vốn vay của Liên Âu. Vì thế, chỉ cần lãi suất vốn vay tại Liên Âu nhích lên thì lập tức các ngân hàng Úc, New Zealand, Nam Hàn bị tác động tức thì.


Ông Stephen Long nói rằng hệ thống tài chính của Việt Nam lâu nay không mạnh, lại phụ thuộc vào các khoản vay ngoại tệ lãi suất thấp. Vì thế, theo ông Long thì một đe dọa nhỏ cũng có thể làm lung lay hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam vốn có nguồn dự trữ thanh khoản không nhiều.


Phúc trình của Moody của xác nhận rằng nguồn vốn ngoại tệ của các ngân hàng Úc và New Zealand hiện nay từ 16% đến 19% nhưng không tiết lộ số vốn vay ngoại tệ của Việt Nam.


Mặt khác theo báo Lao Ðộng, Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam hôm 6 tháng 2 cho biết đã “bơm” 2,000 tỉ đồng, tương đương với 100 triệu đô vào hệ thống ngân hàng Việt Nam thông qua việc mua lại 2,000 “chứng chỉ có giá.” Các chứng chỉ có giá này đã được phát hành có kỳ hạn 7 ngày và 14 ngày với lãi suất 14%/năm.


Báo Dân Việt cũng cho hay, Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam cũng đã buộc một số ngân hàng thương mại phải tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc để phòng ngừa nguy cơ thiếu hụt thanh khoản.


Các ngân hàng này được coi là “nguy hiểm” vì có tỉ lệ cho vay cao, gồm Ngân hàng Mê Kong; Phát triển nhà Ðồng bằng sông Cửu Long; Quỹ tín dụng Trung ương; Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam và Bưu điện Liên Việt. (PL)

Cựu tướng tiết lộ cưỡng chế đất: ‘Quân ta đánh quân mình’



 


HÀ NỘI (NV) – Ở Việt Nam từng có nhiều vụ cưỡng chế đất vì xung đột lợi ích dẫn đến việc dàn quân đánh nhau giữa hai địa phương nhưng dư luận không hay biết vì guồng máy thông tin đã bị bưng bít.










Cựu Tướng Nguyễn Quốc Thước. (Hình: Báo Giáo Dục Việt Nam)


Trung Tướng Nguyễn Quốc Thước, cựu tư lệnh Quân Khu IV đã nghỉ hưu, hiện đang là phó chủ tịch kiêm tổng thư ký của “Hội Cựu Chiến Binh Việt Nam,” tiết lộ như vậy trên báo VietnamNet hôm Thứ Hai, 6 tháng 2, 2012.


Cùng với Cựu Chủ tịch nước Lê Ðức Anh, Trung Tướng Nguyễn Quốc Thước là cựu tướng lãnh lên tiếng mạnh mẽ phản đối chính quyền thành phố Hải Phòng trong vụ “cưỡng chế” đất của gia đình ông Ðoàn Văn Vươn gây xôn xao dư luận trong thời gian qua.


Theo lời Trung Tướng Nguyễn Quốc Thước, “Những năm đầu thập kỷ 1990, ở Quân Khu IV cũng xảy ra nhiều vụ tranh chấp đất đai, có vụ nghiêm trọng đến mức chính quyền hai địa phương tổ chức dân quân dàn thế trận, xây dựng trận địa, hầm hào, chướng ngại để tranh chấp một vùng đất. Sự việc kéo dài nhưng chính quyền cấp trên không cương quyết xử lý, từ tranh chấp đã biến thành đấu súng giữa hai bên, gây ách tắc quốc lộ 1.”


Ông kể tiếp rằng, thường vụ tỉnh ủy (không thấy nêu trên mặt báo là tỉnh nào) đã yêu cầu ông mang thiết giáp tới “dẹp loạn.” Ông đã từ chối.


Ông hỏi lại là: “Ðưa quân đội ra để đánh ai? Nếu là địch thì không cần thiết giáp, chỉ 15 phút tôi có thể giải quyết xong, nhưng đây lại là dân và dân quân, Tư lệnh quân khu ra lệnh ‘quân ta đánh quân mình’ sao?”


Sau đó, ông đã cử đại diện không mang súng, vào điều đình với cả hai phe để cùng thu quân, không biến thành xung đột lớn.


Quân Khu IV gồm các tỉnh phía Bắc miền Trung kéo dài từ Thanh Hóa đến Thừa Thiên-Huế.


Năm 1997, người ta chỉ có nghe thấy có vụ người dân nổi loạn ở Thái Bình chống lại nhà cầm quyền tỉnh này quá tham nhũng, ức hiếp người dân. Như vậy những gì được ông Thước tiết lộ phải xảy ra trước biến cố Thái Bình nhưng không ai biết trừ những người chứng kiến, liên quan và những người địa phương.


Ngay như vụ Thái Bình, dư luận quốc tế chỉ biết đến một thời gian sau chứ không biết ngay khi nó xảy ra. Nhưng bây giờ, Internet khá phổ biến, lại có điện thoại di động thông minh, hình ảnh, tin tức, của bất cứ sự việc gì xảy ra ở Việt Nam cũng được người ta phóng lên Youtube, Facebook khó lòng che giấu.


Vụ việc đang diễn ra ở Tiên Lãng, nhà cầm quyền từ xã, huyện đến thành phố nói những lời dối trá với hy vọng che đậy sự thật. Tuy nhiên, các cuộc phỏng vấn nạn nhân, người dân địa phương lên tiếng, tài liệu, hình ảnh cụ thể liên quan đến vụ việc đã chứng minh ngược lại. (TN)

Cầu sập, phó chủ tịch huyện bảo ‘cầu cong’


GIA LAI (NV) –
Một chiếc cầu ở huyện Chư Pảh, tỉnh Gia Lai bị sập nhưng ông phó chủ tịch của huyện này lại nói với báo Pháp Luật Việt Nam rằng, “cầu tạo thành chữ V chứ không sập.”









Ông Nguyễn Ngọc Quang, phó chủ tịch huyện Chư Pảh: “Cầu tạo hình chữ V chứ không sập”! (Hình: Báo PLVN)


Báo Pháp Luật Việt Nam (PLVN) kể rằng: “…để tìm hiểu rõ hơn về nguyên nhân sập cầu và trách nhiệm của các cấp chính quyền, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Ngọc Quang, phó chủ tịch UBND huyện Chư Pảh. Ông Quang cho biết: ‘Theo nhận định khách quan, cầu sập là do mưa lũ tạo dòng lớn làm trống chân trụ giữa của cầu làm cầu tạo thành chữ V chứ không sập. Với lại cả hai cây cầu đều là vốn của tỉnh và trung ương nên huyện không quản lý.’”


Vẫn theo báo PLVN, “Khi được hỏi về nạn khai thác cát bừa bãi cách cầu chỉ chừng trăm mét có phải do huyện không quan tâm hay không, ông Quang cũng khẳng định là không có chuyện đó và cho rằng tất cả các cơ sở đó đều đã được tỉnh cấp giấy phép khai thác.”


Báo này nói rằng, “Như vậy, nạn khai thác cát bừa bãi và xe chở cát quá tải ở đây đã không được nhắc tới mặc dù đến lúc này những đống cát to đùng vẫn còn nằm bên bờ sông, một vài máy hút cát vẫn đang còn hoạt động không biết các cấp chính quyền nơi đây có biết?”


Trước lời phát biểu của ông phó chủ tịch huyện Chư Pảh, tỉnh Gia Lai, một độc giả của báo PLVN bình luận rằng: “Cây cầu bê tông sập như thế mà nói là ‘cầu tạo hình chữ V.’ Theo cách nói của ông phó chủ tịch huyện này thì dân có chết đói, hay bị lũ cuốn trôi chết đuối dưới suối, ông cũng lại bảo rằng: ‘Dân có chết đâu, họ chỉ có không thở nữa thôi mà!’” (KN)

Vì sao ‘không cờ, không lửa” tại Tượng Ðài Chiến Sĩ Việt Mỹ?



Hà Giang/Người Việt


 


WESTMINSTER (NV) – Trong dịp chào cờ đầu năm, ngày 1 Tháng Giêng, tại Tượng Ðài Chiến Sĩ Việt Mỹ, Westminster, mọi người ngạc nhiên, một số người sửng sốt, vì không có cờ Việt Mỹ trên kỳ đài, và ngọn lửa thiêng im lìm không cháy như thường lệ.









Thượng cờ VNCH và Hoa Kỳ tại một buổi lễ ở Tượng Ðài Chiến Sĩ Việt Mỹ, Westminster. (Hình: Ðỗ Dzũng/Người Việt)


Trong bài viết “Tượng Ðài Chiến Sĩ Việt Mỹ: Không cờ, không lửa thiêng vào đầu năm, đầu tháng,” được lưu truyền trên Internet mấy ngày qua, một người có tên Nguyễn Ð. Linh gọi đây là một “hiện tượng quái lạ khó hiểu, nhất là vào ngày lễ quan trọng đối với người Việt Nam và Hoa Kỳ,” và cho biết sự kiện này khiến hằng trăm người đến tham dự lễ chào quốc kỳ đặt nghi vấn.


Cũng theo bài viết, trong số đồng hương tham dự buổi lễ chào quốc kỳ đầu năm, có người “nóng ruột thắc mắc” gọi vào văn phòng thành phố Westminster để tìm hiểu sự việc, nhưng “không ai trả lời.”


Tác giả Huy Phương, trong bài “Tượng Ðài Chiến Sĩ Việt Mỹ hết tiền, nợ thành phố,” đăng trên nhật báo Người Việt ngày 6 Tháng Hai, cũng nhắc đến sự kiện không cờ không lửa này.


Ông nhấn mạnh: “Từ ngày tượng đài được khánh thành gần 9 năm về trước cho đến nay, chuyện này chưa bao giờ xẩy ra,” và cho biết theo lời ông Nguyễn Văn Giỏi, phó chủ tịch ngoại vụ của Ủy Ban Tượng Ðài Chiến Sĩ Việt Mỹ (UBTÐCSVM), thì “chuyện không cờ không lửa đã kéo dài từ Lễ Giáng Sinh 2011,” và ông Frank Fry, chủ tịch ủy ban kiêm nghị viên thành phố, là người chịu trách nhiệm liên lạc với thành phố, nhưng cho đến hơn một tháng nay, vẫn chưa được câu trả lời.


Bài viết của tác giả Huy Phương còn nhắc đến số tiền $22,750 mà UBTÐCSVM còn nợ thành phố Westminster, khiến độc giả không thể không tự hỏi có phải vì ủy ban hết tiền, mà thành phố cũng hết tiền, cho nên tượng đài mới lâm vào cảnh hương tàn khói lạnh.


 


Thành phố trả lời


 


Tiếp xúc với phóng viên nhật báo Người Việt qua điện thoại, Tiến Sĩ Marwan N. Youssef, giám đốc Sở Công Chánh, xác nhận là trong khoảng thời gian từ gần Giáng Sinh đến ngày 3 Tháng Giêng, cơ quan của ông đã kéo cờ xuống vì lý do an toàn công cộng.


Ông Youssef giải thích: “Cột cờ và dây kéo cờ tại tượng đài chỉ có thể chịu đựng được một sức gió tối đa nào đó.”


Và ông cho biết trong thời gian từ 23 Tháng Mười Hai, Nam California có những cơn gió lốc rất mạnh, do đó “chúng tôi phải quyết định kéo cả hai lá cờ xuống để khỏi hư hại cột cờ hay gây ra tai nạn.”


“Không chỉ cờ ở tượng đài, mà ở một vài nơi khác, tùy theo cấu trúc cũng bị kéo xuống.” Ông nói.


Trả lời câu hỏi tại sao mãi đến ngày 3 Tháng Giêng mới kéo cờ lên, ông Youssef nói rằng trong thời gian đó “hầu hết nhân viên của sở nghỉ phép” và đến ngày 3 Tháng Giêng mới trở lại làm việc và kéo cờ lên.


Cũng theo ông Youssef, vì lý do an toàn công cộng, để khỏi gây ra hỏa hoạn, ngọn lửa thiêng hễ khi gặp gió mạnh quá một tốc độ nào đó thì sẽ tự động tắt đi, và sau khi gió yên, phải có người ra thắp lại.


Ông Youssef khẳng định là trong thời khóa biểu làm việc của cơ quan ông, không hề có việc bớt bảo trì tượng đài vì lý do thiếu ngân sách, hay vì số nợ mà UBTÐCSVM còn thiếu thành phố.


 


Gánh nặng của thành phố


 


Ðược hỏi về số tiền $22,750 mà UBTÐCSVM còn thiếu thành phố, Nghị Viên Tyler Diệp cho biết theo tinh thần của hợp đồng giữa hai bên ký ngày 2 Tháng Tư, 2002, để được quyền ưu tiên sử dụng tượng đài trong những ngày Tết Âm Lịch, tưởng niệm 30 Tháng Tư, và Ngày Quân Lực VNCH 19 Tháng Sáu, UBTÐCSVM chịu trách nhiệm trả tiền bảo trì và gas, điện và nước cho tượng đài trong vòng ba năm đầu, sau đó quyền sử dụng cũng như trách nhiệm bảo trì mỗi năm sẽ được tính lại.


Cũng theo lời nghị viên gốc Việt này, lần cuối cùng ủy ban trả tiền cho thành phố là ngày 12 Tháng Tư, 2006. Từ đó đến nay, thành phố phải bỏ ra trung bình mỗi năm $7,200 cho tiền bảo trì sửa chữa và $12,000 cho tiền điện nước.


Nghị Viên Tyler Diệp giải thích thêm là theo tinh thần của hợp đồng này, khi UBTÐCSVM không đủ khả năng trả tiền bảo trì và điện nước thì hợp đồng bị hủy bỏ, và quyền ưu tiên sử dụng tượng đài của UBTÐCSVM bị mất đi.


“Trên thực tế, dù thành phố vẫn phải tài trợ việc bảo trì và điện nước cho tượng đài, nhưng vẫn dành quyền ưu tiên sử dụng cho ủy ban trong những ngày lễ trên.”


Trả lời câu hỏi là tại sao mỗi năm phải tốn gần $20,000 tiền bảo trì và điện nước, và UBTÐCSVM đã ngừng trả tiền thành phố từ ngày 12 Tháng Tư, 2006 mà chỉ nợ thành phố tổng cộng có $22,750, ông Tyler Diệp giải thích: “Từ khi thành phố cho rằng hợp đồng đã bị hủy bỏ, và hoàn toàn phải gánh vác trách nhiệm săn sóc cho tượng đài, chúng tôi không tính thêm nợ cho UBTÐCSVM nữa.”


“Tổng cộng số tiền thành phố phải trả chỉ cho việc bảo trì tượng đài từ ngày đó đến nay là hơn $100,000,” ông cho biết.


Ông Nguyễn Văn Giỏi nói rằng ông đã biết hiện nay cờ đã bay và lửa đã được thắp lại, nhưng “khi thấy cờ không bay và lửa tắt thì đồng hương phải thắc mắc,” và hiện nay “vẫn chờ lời giải thích của thành phố.”


 


––


Liên lạc tác giả: [email protected]

Cách chức chủ tịch và phó chủ tịch huyện Tiên Lãng

 


HẢI PHÒNG (NV) – Vụ cưỡng chế đất của gia đình ông Ðoàn Văn Vươn ở huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng vừa có thêm tình tiết mới khi chủ tịch và phó chủ tịch huyện Tiên Lãng cùng bị cách chức.









Buổi họp kiểm điểm và ra quyết định cách chức ông Lê Văn Hiền, chủ tịch huyện Tiên Lãng. (Hình: Báo Thanh Niên)


Truyền thông Việt Nam cho hay, quyết định này được đưa ra vào chiều 7 tháng 2 và được ký bởi ông Nguyễn Văn Thành, bí thư Thành Ủy Hải Phòng


Theo quyết định này, hai người đứng đầu huyện Tiên Lãng là chủ tịch Lê Văn Hiền và phó chủ tịch Nguyễn Văn Khanh bị cách chức ngay sau khi quyết định được ban hành.


Báo Thanh Niên trích lời ông Nguyễn Văn Thành, bí thư Thành Ủy Hải Phòng trong cuộc họp chiều 7 tháng 2 thừa nhận, “chính quyền huyện Tiên Lãng mắc đến 5 vấn đề sai phạm trong vụ cưỡng chế và thu hồi đất của gia đình nông dân Ðoàn Văn Vươn ở xã Vinh Quang, thuộc huyện Tiên Lãng.”


Báo Tuổi Trẻ nói rằng, “5 vấn đề được cho là sai phạm của chính quyền huyện Tiên Lãng bao gồm việc bỏ trống đất thu hồi; không lập hội đồng bồi thường; không ‘đối thoại’ với nông dân bị thu hồi đất; phá sập nhà dân sau vụ cưỡng chế và để mọi việc xảy ra vào dịp Tết, gây ảnh hưởng xấu trong dư luận.”


Ông Thành cũng cho biết, trưởng công an huyện Tiên Lãng là ông Lê Văn Mãi; bí thư đảng xã Vinh Quang Phạm Ðăng Hoan và chủ tịch xã Vinh Quang là ông Lê Thanh Liêm cũng bị kiểm điểm trong vụ này.


Báo Tuổi Trẻ cũng cho biết, cuộc họp thông báo vụ cách chức và kiểm điểm những người lãnh đạo cao nhất của huyện Tiên Lãng và xã Vinh Quang được tổ chức chỉ 3 ngày trước cuộc họp của Thủ Tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng.


Ðây là vụ cưỡng chế và thu hồi đất gây chấn động dư luận xảy ra hôm 5 tháng 1 vừa qua làm 6 công an, bộ đội bị thương và 4 nông dân của một gia đình bị bắt giam về tội “giết người và chống lệnh cưỡng chế.”


Báo Tuổi Trẻ cũng cho biết ông phó chủ tịch thành phố Hải Phòng Ðỗ Trung Thoại đã rút lại ý kiến nói rằng “chính người dân phá nhà của ông Vươn.”


Cũng tại cuộc họp ngày 7 tháng 2, ông bí thư thành ủy thành phố Hải Phòng Nguyễn Văn Thành cũng xác nhận đã yêu cầu công an Hải Phòng điều tra vụ phá hủy hai căn nhà của ông Ðoàn Văn Vươn ở đầm nuôi thủy sản và “khởi tố vụ án.” Hai căn nhà này gồm một căn nhà cấp 4 nằm trên phần đất bị cưỡng chế và một ngôi nhà hai tầng nằm ngoài diện tích đất bị cưỡng chế.


Theo báo Tiền Phong, chỉ một ngày sau vụ gia đình ông Ðoàn Văn Vươn chống lệnh cưỡng chế bằng cách gài mìn và dùng súng hoa cải bắn bị thương 4 công an và 2 bộ đội, cả hai ngôi nhà này bị phá hủy thành đống gạch vụn. Lực lượng cưỡng chế đã dùng xe máy xúc san bằng ngôi nhà gạch hai tầng và dùng búa phá sập ngôi nhà cấp 4.


Báo Tiền Phong cũng nói rằng bàn thờ và vật dụng trong nhà của ông Ðoàn Văn Vươn bị đốt cháy. Những người phá sập nhà không quên lấy đi một số vật dụng có giá trị.


Chiều ngày 6 tháng 2, cựu lãnh đạo cao cấp nhất của chính quyền Việt Nam sớm lên tiếng trong vụ cưỡng chế và thu hồi đất là cựu chủ tịch nước Lê Ðức Anh nói ông “đang chờ xem Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng sẽ xử lý vụ việc Tiên Lãng thế nào.”


Cựu chủ tịch nước Lê Ðức Anh cho rằng các cán bộ lãnh đạo cấp cao Việt Nam nên “vào cuộc và xử lý nghiêm minh, không để cán bộ đè đầu cưỡi cổ và làm những việc bất lợi cho dân.”










Nhà của ông Vươn bị đập, đốt phá. (Hình: Báo Thanh Niên)


Trong khi đó theo báo Dân Việt, nhiều nhân chứng trú ngụ tại xã Vinh Quang xác nhận rằng hai cán bộ lãnh đạo đứng đầu xã Vinh Quang có mặt trong vụ đập phá nhà ông Ðoàn Văn Vươn.


Một cư dân xã Vinh Quang tên Nguyễn Minh Võ 60 tuổi nói rằng ông rất bất ngờ khi nghe cán bộ đứng đầu xã Vinh Quang nói “chính người dân phá nhà của ông Quý và ông Vươn.”


Ông Võ cũng cho biết trong lúc diễn ra vụ cưỡng chế, đài phát thanh xã phát loa cấm người dân “ra khỏi khu vực đầm để tránh bom mìn.” Ông Võ cũng cho rằng chính quyền xã không xác định được chủ của chiếc xe máy ủi khổng lồ đi từ hướng xã Tiên Hưng tiến tới giật sập nhà của ông Ðoàn Văn Vươn là điều khó tin.


Trong khi chính quyền địa phương khẳng định không biết ai phá nhà ông Vươn thì chiều 7 tháng 2, một số người dân đã tố cáo chính lãnh đạo huyện Tiên Lãng và xã Vinh Quang đã thuê họ lái máy xúc phá nhà với giá 1.5 triệu đồng. (PL)

Ðại học Mỹ bán thuốc ngừa thai


SHIPPENSBURG, Pennsylvania (AP)
Sinh viên ở trường Shippensburg University ở tiểu bang Pennsylvania có thể mua thuốc ngừa thai bằng cách bỏ $25 vào máy đặt trong trường.









Thuốc ngừa thai Plan B One-Step phải có toa thuốc, dành riêng cho phụ nữ, có thể mua qua máy mà không cần đến toa tại trường Shippensburg University ở Pennsylvania. (Hình: Kevork Djansezian/Getty Images)


Trường Shippensburg nằm ở vùng thung lũng có cảnh sắc tuyệt đẹp Cumberland Valley thuộc rặng Appalachia, nơi có 8,300 sinh viên. Trung tâm Etter Health Center ở trong trường cung cấp thuốc ngừa thai Plan B One Step, kèm với bao cao su và đồ thử thai.


Phát ngôn viên nhà trường, ông Peter Gigliotti, nói bất kỳ sinh viên nào ở tuổi từ 17 trở lên đều có thể mua mà không cần phải có toa bác sĩ.


Máy bán thuốc ngừa thai được đặt trong trường theo yêu cầu của ban đại diện sinh viên. Việc thuốc viên ngừa thai bán bằng máy là chuyện hiếm thấy, nếu không muốn nói là chưa từng có từ trước đến nay.


Theo ông Gigliotti, ý tưởng này bắt đầu khi nhà trường thực hiện cuộc thăm dò về dịch vụ của trung tâm y tế cách đây vài năm, và 85% người được thăm dò ủng hộ việc bán thuốc Plan B bằng máy.


Khi bị hãm hiếp trong vòng 72 tiếng, bao cao su bị hư hay quên uống thuốc ngừa thai, thuốc ngừa Plan B có tác dụng hữu hiệu ngừa thai đến 89%. Hữu hiệu nhất trong vòng 24 tiếng. (TP)

Có dân chủ sẽ tôn trọng chức trách


Ngô Nhân Dụng


 


Nhiều khi lái xe vào xa lộ chúng ta thấy một tấm bảng bên lề đường viết chữ lớn: “Xa lộ này sẽ sửa chữa từ ngày… đến ngày… Xin lỗi sẽ làm phiền quý vị.” Người ta báo trước độ vài ba tháng trước khi công việc sửa đường bắt đầu. Có khi đang đi bộ thì thấy lề đường bị chặn lại, với một tấm bảng viết: “Cao ốc đang sửa. Nguy hiểm. Xin dùng lề đường bên kia.”


Người ngoại quốc đi qua các tấm bảng đó nếu tò mò sẽ hỏi: Sao mà lại tử tế thế nhỉ? Chắc là mấy nhà thầu xây cất họ làm những tấm bảng này. Nhưng tại sao họ tốt bụng như vậy? Chỉ cần ngăn lề đường không cho ai đi qua là đủ tránh không gây tai nạn nếu gạch ngói rớt xuống đầu bộ hành. Tại sao phải yết thị nhắc nhở người ta để không đi ẩu, tránh cho cả mấy anh hay đi liều? Cũng vậy, khi nào sửa chữa xa lộ thì sẽ báo tin từ xa cho người lái xe biết cũng được, cốt để họ tìm đường khác. Làm gì mà phải cẩn thận báo cho cả làng biết trước hàng ba tháng, nhắc mọi người chuẩn bị sớm hơn? Kết luận: Mấy nhà thầu ở đây thật là cẩn thận! Người ngoại quốc có thể khen: Con người sống ở đây rất tử tế.


Nhưng những hiện tượng trên không phải năm thì mười họa mới diễn ra; mà luôn luôn thấy, ở đâu cũng thấy. Cho nên không thể nghĩ là mấy vị nhà thầu vì tốt bụng tự ý làm ra các tấm bảng thông báo đó. Làm thêm một tấm bảng là tốn tiền. Nhiều người có thể tự nghĩ ra mình phải tử tế với đồng loại, dù phải tiêu thêm tiền. Nhưng khó tin là tất cả mọi người trong một nước đều nghĩ như thế. Vậy thì chỉ có một cách giải thích: Trong hợp đồng xây cất, sửa chữa, các nhà thầu đã cam kết phải viết những tấm bảng đó. Tức là phải có luật lệ bắt họ làm như vậy, không làm sẽ bị phạt, mà tiền phạt cao hơn chi phí dựng các tấm bảng. Luật có thể do thị xã, hay chính quyền cấp cao hơn đặt ra.


Trên đây chỉ kể ra hai thí dụ thôi. Thực ra chúng ta thấy rất nhiều trường hợp người ta phải niêm yết, báo trước cho công chúng biết mà đề phòng tai nạn. Như khi tắm biển, khi trèo núi, hay khi mua đồ chơi, quần áo cho trẻ em. Mua đồ về, gỡ ra khỏi cái bao ni lông, quý vị đọc thấy trên tấm bao viết: “Coi chừng! Không cho trẻ em chơi với cái bao này. Có thể chết ngạt.” Nếu không có luật lệ bảo vệ người tiêu thụ thì các nhà làm bao không ai muốn tốn tiền in thêm mấy hàng chữ đó.


Ðến đây thì chúng ta lại phải đặt câu hỏi: Cái gì xui khiến mấy công chức ngồi sau các bàn giấy nhà nước bày đặt ra các luật lệ nho nhỏ như vậy? Nên nhớ là mỗi lần nhà nước bày ra thêm một thứ luật là thường chỉ bị chửi; các nhà báo thường chửi to tiếng nhất! Thêm luật bắt người dân phải tuân theo tức là khiến người dân tốn tiền, hoặc tốn thời giờ, hoặc cả hai. Căn bản của chủ trương “Chính phủ nhỏ” là ông nhà nước đừng bày ra thêm nhiều luật lệ quá! Vì cứ thêm một đạo luật là lại phải tuyển thêm người lo việc thi hành, guồng máy hành chánh càng to phềnh lên. Cho nên quý vị công bộc nếu nghe theo quyền lợi của họ sẽ thích yên thân ngồi cạo giấy chứ “bới ra, thêm rách việc” làm gì!


Như vậy thì tại sao lại có những luật lệ bảo vệ người tiêu thụ; luật để tránh tai nạn hoặc phiền nhiễu cho người đi đường, người lái xe?


Chính là nhờ thể chế dân chủ.


Những thứ luật lệ trên do các đại biểu dân bầu đặt ra, ở cấp hội đồng thành phố hay cấp quốc hội cũng vậy. Những người này nắm quyền lập pháp.


Vậy cái gì khiến những đại biểu này lo làm ra những luật lệ bảo vệ người tiêu thụ; để từ các luật đó quý vị công chức sẽ ra lệnh các công ty bán bao plastic phải báo động đừng để trẻ em nghịch chơi vì sợ chết ngạt? Cái gì khiến các nghị viên thành phố phải làm luật bắt các nhà thầu phải báo trước cho người dân coi chừng kẹt đường khi sửa xa lộ? Câu trả lời dễ thấy ngay: Họ muốn được dân bầu! Trong một xã hội dân chủ tự do các đại biểu phải chiếm được lòng tin của người dân bỏ phiếu. Phải lo bảo vệ sự an toàn của người dân. Ðến kỳ tái tranh cử, còn đem các thành tích ra khoe. Nếu không làm hết sức mình, sẽ có những ứng cử viên đối lập vạch ra rằng: Trong hai năm qua, ông, bà ấy chẳng làm gì cho dân cả!


Một chế độ dân chủ cần tạo ra hai định chế. Một là tinh thần thượng tôn pháp luật; với những đạo luật giới hạn quyền của những người nắm quyền. Hai là những cơ chế giúp cho người cầm quyền phải làm theo chức trách của mình; cơ chế giản dị là các cuộc bầu cử định kỳ. Ðiều kiện thứ nhất là để đề phòng sự lạm quyền, mang tính chất tiêu cực. Ðiều kiện thứ hai có tính chất tích cực; nó khuyến khích các công bộc làm tròn chức trách.


Một bài trước trong mục này đã nói đến đặc tính thứ nhất. Chế độ Dân Chủ không hứa hẹn các điều tốt đẹp nhất; nhưng sẽ giúp bảo đảm không để những cái xấu, cái ác diễn ra mà hậu quả có khi không thể sửa chữa được (Như nhà soạn kịch Lưu Quang Vũ quá cố đã viết: Có những cái sai không thể sửa được! Một người bị giết rồi thì sửa cách nào?) Ðặc tính này có tính cách phòng ngừa, tiêu cực.


Nhưng chế độ dân chủ cũng đem lại những hậu quả tích cực: Nó khuyến khích người ta làm những việc tốt, dù thường dân, người cầm quyền, cho đến các công chức. Cứ bắt buộc phải làm cái tốt theo luật định, dần dần những người có trách nhiệm sẽ tạo được thói quen tốt. Nếu những người có quyền tôn trọng chức trách của họ, thì dân chúng cũng sẽ quen biết lo trách nhiệm của mình. Dần dà mọi người sẽ sống tử tế với nhau hơn.


Khái niệm chức trách (accountability) hiện nay không được nhắc tới nhiều trong các cuộc thảo luận vấn đề xây dựng dân chủ ở nước ta. Cần tìm hiểu và thảo luận nhiều hơn vì đó là một cột trụ để xây dựng dân chủ. Chức trách bao gồm những trách nhiệm (responsibilities) một người phải gánh lấy vì chức vụ hay vì vai trò của mình. Chức trách thường là trách nhiệm đối với mọi người, với cả xã hội chứ không riêng với một nhóm người nào. (Chữ Accountability, từ điển kinh tế ở Hồng Kông dịch là Chức Trách, người Trung Hoa ở lục địa và Ðài Loan thì dịch là Kinh Quản Trách Nhiệm. Chúng tôi dùng chữ Chức Trách, nghe gọn và ý nghĩa mạnh hơn).


Một hệ thống kinh tế mà không làm đúng chức trách thì ngay trong đời sống bình thường nó không mang lại hiệu quả, khi gặp biến sẽ gây khủng hoảng. Một số giám đốc ngân hàng không làm đúng chức trách khi đầu tư liều lĩnh, không làm ngân hàng thua lỗ mà còn gây khủng hoảng tài chánh; như đã xẩy ra năm 2007 ở Mỹ. Một hệ thống chính trị mà không có chức trách rõ ràng thì sinh ra hối mại quyền thế, tham nhũng, thối nát, bao che.


Một hệ thống xã hội mà những người có ảnh hưởng như cha mẹ, thầy giáo, các tu sĩ, giới chuyên nghiệp và các nhà kinh doanh, các nhà báo, nghệ sĩ nổi tiếng, vân vân, không hiểu chức trách của họ thì sẽ mất kỷ cương, phá hủy cả đạo lý. Thí dụ, mỗi giới chuyên gia phải tự đặt ra các quy tắc hành nghề để mỗi người thấy rõ chức trách của mình. Một ông thầy giáo làm bậy thì không những có lỗi với nạn nhân mà còn làm sai chức trách đối với học trò, với cả xã hội. Một hãng thầu để cầu bị sập làm chết người (trước khi cầu làm xong!) thì công ty thầu chịu trách nhiệm hay là ông nhà nước đã cho họ đứng thầu? Một xã hội chức trách không rõ thì những sai lầm sẽ tác hại mãi mãi, khó giữ gìn đạo lý.


Khi biến cố Ðoàn Văn Vươn xẩy ra, người ta mất cả tháng trời mới quyết định cất chức mấy người đi cướp mồ hôi nước mắt của một gia đình nông dân. Mà vẫn chưa thấy các thủ phạm bị truy tố! Tại sao lúng túng đồng đổ cho cốt, cốt đổ cho đồng? Vì không biết lấy luật lệ nào để truy tố, hay vì các phe phái cần thời gian để dàn xếp với nhau? Các “cấp trên” của ông chủ tịch huyện Tiên Lãng là những ai? Họ có trách nhiệm cá nhân hay là do “lỗi hệ thống?” Ai tạo ra cái hệ thống sinh đầy cường hào ác bá như vậy? Ông đại biểu quốc hội vùng này (Nguyễn Tấn Dũng ) làm gì trong suốt thời gian ba bốn năm trời khi âm mưu cướp đoạt được thi hành từng bước một, để đến nỗi sau cùng ông Ðoàn Văn Vươn túng thế phải làm liều? Chức trách của một đại biểu quốc hội để đâu? Báo chí trong nước vẫn chỉ gọi đây là một vụ “cưỡng chế,” tại sao không ai gọi thẳng tên là “cướp đoạt?” Chức trách của các nhà báo là gì?


Trong vụ Vinashin vỡ nợ sau khi vay mấy tỷ đô la; có ai hỏi: Chức trách được phân định thế nào? Chính quyền bảo đảm cho một công ty quốc doanh vay nợ tức là đem cả nước ra làm vật thế chấp, từ núi non rừng biển cho tới ruộng đồng cơ xưởng! Công ty vỡ nợ thì cả nước phải trả thay, bằng tiền công do sức lao động của sĩ, nông, công, thương, binh, không từ một ai. Chỉ sau mấy năm sử dụng tiền vay về, Vinashin đã không trả được nợ rồi! Mấy tỷ đồng đô la đã biến mất đi đâu nhanh thế? Cách chức, bỏ tù mấy tay to đầu thì cũng chưa trả lời được những câu hỏi này. Những tay to đầu nhất thì vẫn không ai đụng tới. Tất cả vì toàn thể hệ thống được tạo ra cố ý mơ hồ, không cho ai có chức trách rõ ràng! Ba mươi năm trước Lưu Quang Vũ đã đòi phải phân biệt “Tôi và Chúng Ta!”


Làm sao để đồng bào chúng ta luôn luôn tỉnh thức về chức trách? Mọi người trong xã hội phải có thói quen chỉ đích danh những tổ chức hoặc cá nhân, với những địa vị, chức vụ, và quyền hành mà xã hội trao cho họ, họ phải chịu trách nhiệm về những vấn đề liên can tới các chức vụ, địa vị và quyền hành đó. Muốn người dân tập được thói quen này, xã hội phải sống tự do dân chủ.


Tinh thần tôn trọng chức trách có thể tập được. Phải bắt đầu từ cấp cao nhất. Trên nguyên tắc, đứng cao nhất ở nước Việt Nam bây giờ là “Nhân Dân.” Nhưng nhân dân không có quyền gì cả. Ðó là vấn đề căn bản. Chỉ khi người dân có quyền tự do tuyển chọn những người chỉ huy công việc của một nước thì lúc đó mới tái lập được tinh thần tôn trọng chức trách. Một quốc gia tự do dân chủ tạo ra được tinh thần tôn trọng chức trách vì dân có quyền lật đổ những người cầm quyền bằng lá phiếu. Nước Miến Ðiện dám thử đi theo con đường đó, bao giờ đến nước ta?

Tin mới cập nhật