Tổ Đình Minh Đăng Quang tưởng niệm các anh hùng VNCH

SANTA ANA, California (NV) – Đại lễ cầu siêu, tưởng niệm các tiên đế, các bậc quốc trưởng, các tướng lãnh VNCH đã tuẫn tiết, quân dân cán chính đã hy sinh vì lý tưởng tự do, vừa được Tổ Đình Minh Đăng Quang, Santa Ana, long trọng tổ chức vào trưa Thứ Bảy, 29 Tháng Tư.

Tại đây, các vị lãnh đạo tinh thần tôn giáo tiếp nhận di ảnh của năm vị tướng lãnh đã tuẫn tiết vào ngày 30 Tháng Tư, 1975, gồm Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Thiếu Tướng Lê Văn Hưng, Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, và Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ, kính cẩn đặt lên bàn thờ tổ quốc.

Hòa Thượng Thích Minh Tuyên, viện chủ, trong lời cầu nguyện nói: “Hôm nay, ngày 29 Tháng Tư, ngày bi thương tang tóc của dòng giống Tiên Rồng, chúng ta tề tựu về đây cùng nhau dâng lễ cầu siêu để cúng dường, tưởng niệm, truy niệm và truy tán công đức vô lượng của các bậc anh hùng, anh thư liệt nữ, đã hy sinh xương máu để gìn giữ mảnh đất Việt Nam sơn hà gấm vóc.”

Sau thời kinh cầu siêu, mọi người kinh ngạc trước hình ảnh những giọt nến chảy dài thành ba sọc đỏ trên nền vàng của thân nến, thành lá cờ vàng ba sọc đỏ VNCH ngay trên bàn thờ trước linh vị những anh hùng tuẫn tiết.

Theo lời hòa thượng, đó chỉ là hiện tượng vật lý, nhưng dường như hồng ân chư Phật, các đấng cao cả, các bậc đại đế, anh hùng dân tộc, các pháp sư Khuông Việt, Vạn Hạnh, Pháp Thuận, tổ sư Minh Đăng Quang, và lịch đại tổ sư truyền pháp bảo quốc an dân đã ban phước cho mọi người, chư vị hương linh chiến sĩ VNCH đang về tổ đình.

Hòa thượng nói: “Về tâm linh, chúng tôi cảm nhận được sự có mặt của chư vị hoan hỷ về chứng giám, ủng hộ cho đại cuộc sẽ khởi động, trong nước và hải ngoại cùng nắm tay làm nên lịch sử, cứu nước cứu dân. Trong giờ phút thiêng liêng này, tôi tin tưởng rằng đây không phải sức người làm được, mà là ân điển, quyền năng, đó là cơ trời mà các đấng bề trên ban cho chúng ta.”

Hội thảo “Tuyên Ngôn của Liên Hiệp Hội Đồng Quốc Dân” tại Đại Nghĩa Đường. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Hội thảo “Tuyên Ngôn của Liên Hiệp Hội Đồng Quốc Dân” tại Đại Nghĩa Đường. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

“Thời cơ đã tới, chỉ còn một điểm nữa là phải đoàn kết lòng người, hòa hợp yêu thương, đó là điểm sống chết ngay lúc này,” hòa thượng nhấn mạnh.

Sau buổi cầu siêu và tưởng niệm, tại Đại Nghĩa Đường kế bên chánh điện, diễn ra buổi giới thiệu và hội thảo về dự thảo “Tuyên Ngôn của Liên Hiệp Hội Đồng Quốc Dân Việt Nam,” do ba tác giả là Tiến Sĩ Lê Phước Sang, Hòa Thượng Thích Minh Tuyên, và Đô Đốc Lâm Ngươn Tánh viết tại Little Saigon ngày 30 Tháng Tư, 2017.

Hòa Thượng Thích Minh Tuyên giới thiệu: “Đây là lần thứ sáu mọi người hội họp lại với nhau để thấy Phật Giáo và dân tộc là sự liên hệ hữu cơ luôn đi cùng dân tộc, cùng tồn tại trong cộng đồng dân tộc, cùng thăng trầm trong nỗi nhục vinh của dân tộc, và luôn đồng hành với lịch sử Đại Việt.”

Theo hòa thượng, tuyên ngôn này gồm có sáu chương và 48 điều là tâm huyết, tinh hoa, trí tuệ và kinh nghiệm từng trải của một Liên Minh Dân Tộc, được biên soạn ra với danh xưng Liên Hiệp Hội Đồng Quốc Dân Việt Nam.

Lời đầu trong bản tuyên ngôn viết: “Tổ quốc lâm nguy! Trước tình thế dầu sôi lửa bỏng này, để đáp lại nguyện vọng của nhân dân, cúng tôi gồm các thành phần dân tộc, tôn giáo, chính trị trong và ngoài nước cùng nhau hết lòng kết hợp trong Liên Hiệp Hội Đồng Quốc Dân Việt Nam.”

Buổi giới thiệu và thảo luận về bản tuyên ngôn được bàn thảo, được mọi người mổ xẻ từng chi tiết, có cả ông Nelson Garette, người Mỹ, và vợ là hoa hậu Huỳnh Nga, từ tiểu bang Alaska về dự, cũng phát biểu ý kiến đóng góp sôi nổi.

Ban tổ chức cũng cho biết đây mới là dự thảo, sẽ bổ sung những điều khoản hoàn chỉnh nữa và tuyên ngôn sẽ sớm ra mắt đồng bào.

Dân ngoại thành Sài Gòn bỏ việc, đua nhau làm ‘cò đất’

SÀI GÒN, Việt Nam (NV) – Giá nhà đất tại Sài Gòn tăng giá vun vút không những ở các vùng trung tâm thành phố, mà tại cả các vùng ven nên rất nhiều người đổ xô nhau đi làm “cò đất.”

Theo một bản tin của tờ Người Lao Động hôm Chủ Nhật, vào Tháng Tư, giá nhà, đất rao bán ở Sài Gòn liên tục “nhảy múa.” So với năm 2016, giá đất ở các huyện Nhà Bè, Cần Giờ, Bình Chánh, quận 12… tăng 150% đến 350%. Vì vậy, có rất nhiều người nhân cơ hội đã đứng ra làm “cò” để kiếm tiền.

Báo này kể câu chuyện ở xã Vĩnh Lộc B, huyện Bình Chánh. Khi thấy có người lạ đứng xem bảng quảng cáo môi giới bất động sản, hàng loạt người đang dựng xe ngồi chờ ở ngã ba Võ Văn Vân – Liên Ấp 123 liền chạy tới. “Em hỏi mua nhà đúng không? Qua bãi đất trống bên trường tiểu học Lại Hùng Cường, mọi người tư vấn cho,” một phụ nữ trong nhóm lên tiếng.

Trên đường đi, người ta thấy rất nhiều bàn nhựa, ghế nhựa bày ra đường, mỗi nơi có một cò đất đứng sẵn. Tại một quán nước giải khát cạnh trường học, ông Võ Ngọc Long (34 tuổi) giới thiệu: “Anh là người môi giới đất ở ấp 2, chị Hoa kế bên môi giới ấp 1 còn chị Liên, anh Hùng bên tay phải là môi giới đất nền ở xã Vĩnh Lộc A. Em muốn mua khu nào, giá bao nhiêu, tụi anh ‘bao’ được hết.”

Theo báo Người Lao Động, tình trạng phân lô, tách thửa, lấp đất nông nghiệp để “hóa phép” làm đất thổ cư ở vùng ven đang diễn ra rầm rộ. Báo này thuật lời một “cò đất” nổi tiếng ở huyện Bình Chánh cho hay, rất có thể đến khoảng Tháng Bảy, hàng loạt lô đất diện tích chừng 30-50 mét vuông sẽ được phân lô với giá từ 500 đến 800 triệu đồng.

Trong khi đó, ông Lê Hoàng Châu, chủ tịch Hiệp Hội Bất Động Sản Sài Gòn, cảnh báo nhà, đất ở Sài Gòn đang bị đẩy giá. Lý do là một số thông tin về dự án ở Củ Chi và xuất hiện một nhóm đứng ra đầu cơ đất nền. Vào năm 2007 và 2010, Sài Gòn từng xảy ra “bong bóng” bất động sản khiến nhiều người đổ nợ. Theo ông, người dân cần tỉnh táo để tránh mua nhà, đất với “giá ảo.” (TN)

Little Saigon thắp nến tưởng niệm Tháng Tư Đen

WESTMINSTER, California (NV) – Đêm Thứ Sáu, 28 Tháng Tư, đông đảo đại diện các hội đoàn, đoàn thể, các chính đảng và đồng hương đến tham dự đêm thắp nến tưởng niệm Tháng Tư Đen, do Cộng Đồng Việt Nam Nam California và nhiều đoàn thể khác đồng hợp tác tổ chức tại Tượng Đài Chiến Sĩ Việt-Mỹ, Westminster.

Bà Nguyễn Minh Nguyệt, trưởng ban tổ chức, nói với nhật báo Người Việt, “Đối với những người làm việc cho cộng đồng như chúng tôi thì đây là một ngày rất quan trọng, để tưởng niệm những anh hùng đã tử tiết ngay biến cố 30 Tháng Tư, và tưởng niệm các đồng bào đã tử nạn trên đường tìm tự do.”

Theo bà, hàng năm, cộng đồng có mời các đoàn thể đến cùng hợp tác tổ chức, bởi vì đây là ngày đánh dấu sự đau buồn chung của dân tộc Việt Nam. Vì thế, đêm nay, có 12 đoàn thể vừa là chính đảng vừa là dân sự cùng nhau tổ chức.

“Chương trình đêm nay gồm hai phần: Thứ nhất là Lễ Niệm Hương, truy điệu các anh linh anh hùng tử tiết. Thứ hai là văn nghệ đấu tranh, gồm những dòng nhạc tranh đấu cho quê hương và dân tộc để kêu gọi những đồng bào quốc nội hãy vùng lên để đòi quyền tự do, độc lập và hạnh phúc cho toàn dân tộc Việt Nam,” bà Minh Nguyệt cho biết thêm.

Điều hợp chương trình là ông Nguyễn Kim Bình và cô Uyển Nga.

Sau nghi thức khai mạc, ban tổ chức giới thiệu thành phần quan khách đến tham dự.

Trong phần phát biểu của mình, cựu Đại Tá Lê Khắc Lý, cựu chủ tịch Cộng Đồng Việt Nam Nam California, nêu lên nội dung vài cuốn sách của nhiều tác giả quốc tế và Việt Nam nói về cuộc chiến Việt Nam trước và sau 1975. Ông cũng nêu danh những vị tướng lãnh anh hùng của VNCH đã vị quốc vong thân.

“Việt Nam không thiếu anh hùng, và tương lai Việt Nam, chưa chắc Trung Cộng chiếm được, chúng tôi tin tưởng như vậy. Thành ra chúng ta hôm nay, một mặt kể cho giới trẻ và thế giới biết ý nghĩa của ngày 30 Tháng Tư, một mặt, chúng ta phải củng cố niềm tin là tương lai Việt Nam sẽ được sáng sủa,” ông khẳng định.

Sau nghi thức đặt vòng hoa là phần đọc văn tế tưởng niệm các anh linh anh hùng tử sĩ và đồng bào tử nạn trên đường tìm tự do, do Ban Tế Lễ Hội Cao Niên Á Mỹ và Hội Bà Triệu xướng lễ.

Trong chương trình, các quan khách và đồng hương đến niệm hương trước bàn thờ tổ quốc, tưởng niệm các vị tướng lãnh, và các chiến sĩ VNCH đã vị quốc vong thân.

Trước lễ thắp nếp, ban tổ chức cũng làm lễ vinh danh các anh hùng tử tiết sau ngày 30 Tháng Tư, 1975.

Đại diện các hội đoàn đặt vòng hoa tưởng niệm. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)
Đại diện các hội đoàn đặt vòng hoa tưởng niệm. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

Phát biểu tại buổi lễ, Thị Trưởng Westminster Tạ Đức Trí, nói, “Bốn mươi hai năm qua, tập thể người Việt tị nạn cộng sản đều ghi nhớ ngày này, đó là ngày đau thương của dân tộc, ngày đánh dấu hàng triệu đồng bào bỏ nước ra đi, và cũng là ngày để chúng ta tưởng nhớ sự hy sinh, tử tiết, oai hùng của quân, dân, cán, chính VNCH. Các vị ấy đã chọn cái chết để gìn giữ khí tiết, và để cho thế hệ của chúng tôi hiểu được giá trị của sự đấu tranh cho lý tưởng tự do như thế nào. Bốn mươi hai năm qua, cộng đồng người Việt vẫn giữ được căn cứ tị nạn tại xứ người. Thiết nghĩ, nếu một ngày chúng ta vẫn còn tranh đấu, thì ngày đó, chúng ta có quyền hy vọng để thấy đất nước Việt Nam sẽ có tự do, dân chủ và nhân quyền trong tương lai.”

Trong phần phát biểu của mình, Bác Sĩ Võ Đình Hữu, đại diện Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ, cho rằng, “Ngay bây giờ, nếu chúng ta không làm gì, trong tương lai, đất nước của chúng ta không mất về tay Tàu Cộng, thì cũng mất vì những thảm họa môi trường. Và trong những nguy cơ đó, những nguy hiểm đó, có một cơ duyên đã nổi lên là, chưa bao giờ ngay trong nước có hàng chục ngàn người đứng lên biểu tình đòi trong sạch môi trường và công lý. Và chưa bao giờ có những người Việt đứng lên bắt giữ công an, cán bộ Cộng Sản để đòi phải có sự thương thuyết.”

“Đã đến lúc chúng ta không còn sợ hãi nữa, đã đến lúc người Việt trong và ngoài nước không còn vô cảm nữa. Chúng ta phải dùng ngọn lửa đó, cơ duyên đó để đấu tranh, mà tôi nghĩ rằng, Lễ Quốc Hận năm nay, chúng ta đang có niềm tin là đất nước Việt Nam sẽ được sáng sủa hơn, vì sự đấu tranh mãnh liệt của đồng bào trong nước, hợp cùng người Việt hải ngoại đang hướng về quốc nội, qua những cuộc biểu tình liên tục ở nhiều nơi trên thế giới để đòi hỏi phải có một Việt Nam được tự do dân chủ thật sự, đồng thời cũng thoát sự xâm lăng của Trung Cộng,” bác sĩ nói thêm.

Dược Sĩ Nguyễn Đình Thức, đại diện Thượng Nghị Sĩ Janet Nguyễn, trao bằng tưởng lục cho ban tổ chức.

Ban Tù Ca Xuân Điềm, Hội Bà Triệu, và nhiều hội đoàn khác cũng tham gia vào lễ tưởng niệm bằng một chương trình văn nghệ đấu tranh đặc sắc.

Hà Tĩnh: Cưa đạn B40, em chết, anh bị thương nặng

HÀ TĨNH, Việt Nam (NV) – Hai anh em ruột cưa quả đạn B-40 bằng máy mài cưa, quả đạn nổ làm một người chết, một người bị thương nặng.

Một số báo tại Việt Nam cho hay, hai anh em ông Nguyễn Văn Lịnh (39 tuổi) và Nguyễn Văn Lượng (35 tuổi), cư dân xã Hà Linh, huyện Hương Khê, Hà Tĩnh, tìm thấy một quả đạn B-40 trong lúc đào đất làm hàng rào. Họ đã dùng máy cưa để cắt quả đạn nhưng chẳng may nó phát nổ.

Hậu quả, Nguyễn Văn Lượng thiệt mạng tại chỗ và người anh Nguyễn Văn Lịnh bị thương nặng được đưa tới bệnh viện cấp cứu.

Việc cưa bom, đạn con sót lại từ thời chiến tranh trước 1975 để lấy phế liệu kim loại và thuốc nổ đã từng làm chết rất nhiều người trước đây nhưng có người vẫn không sợ. Ước lượng còn cả trăm ngàn bom mìn và quả đạn đại bác, B-40, bom bi chưa nổ còn nằm rải rác trong lòng đất tại nhiều tỉnh tại Việt Nam. Chính phủ Mỹ từng tài trợ cho các chương trình rà phá bom mìn tại Việt Nam.

Theo tin tức, từ năm 1975 đến nay, riêng tại tỉnh Quảng Trị đã xảy ra hàng ngàn vụ tai nạn do bom, mìn, vật liệu nổ sót lại. Trong số 8,515 nạn nhân có đến 31% là trẻ em, 3,421 người thiệt mạng và bị thương hơn 5,000 người. (TN)

Tuổi trẻ Little Saigon hội thảo tưởng niệm Tháng Tư Đen

WESTMINSTER, California (NV) – Trưa hôm Thứ Bảy, 29 Tháng Tư, tuổi trẻ Việt Nam tại Little Saigon có một buổi hội thảo để tưởng niệm Tháng Tư Đen cùng đồng hương các giới tại hội trường thành phố Westminster.

Hơn 100 bạn trẻ và đồng hương tại Nam California đã có mặt tham dự.

Buổi hội thảo do Ban Liên Lạc Các Hội Đoàn Giới Trẻ tổ chức.

Anh Billy Lê, cựu chủ tịch Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam Nam California, cố vấn ban tổ chức, cho biết, “Ban tổ chức đã liên lạc và phối hợp được nhiều tổ chức trẻ trong cộng đồng người Việt ở Nam California, gồm có Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam Nam California, Gia Đình Phật Tử, Đoàn Thanh Niên Cao Đài, Đoàn Thanh Niên Phan Bội Châu, Liên Trường Trung Học Nam California, Giới Trẻ Công Giáo, và Việt Nam Young Marines, cùng nhau tổ chức buổi hội thảo này.”

Sau phần khai mạc và tưởng niệm những chiến sĩ và đồng bào đã hy sinh trong biến cố 30 Tháng Tư, 1975, anh Billy Lê ngỏ lời cảm tạ anh chị em trẻ và đồng hương đã đến tham dự, đồng thời giới thiệu một số quan khách và hội đoàn có mặt.

Ngay sau đó ban tổ chức đã chia người tham dự ra làm bốn tổ, có đủ thành phần trẻ tuổi lẫn cao tuổi để thực hiện cuộc hội thảo với hai mục đích, một là trao đổi về lịch sử Việt Nam và cuộc chiến tranh Việt Nam cùng biến cố 30 Tháng Tư, 1975; hai là hướng đi tương lai của giới trẻ cộng đồng người Việt hải ngoại.

Cả bốn tổ đều đã có ngay những phút sôi nổi. Giới lớn tuổi là những người phát biểu trước vì là những người đã trực tiếp trải qua trong giai đoạn lịch sử đau thương này. Tuổi trẻ tham dự hầu hết là các bạn sinh sau năm 1975, nên chỉ được nghe nói tới biến cố 30 Tháng Tư, 1975 từ các bậc phụ huynh của mình. Trong khi đó tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại đôi khi lại được nghe, được đọc các sách vở của phía CSVN len lỏi vào được các trường học ở Hoa Kỳ, nên đôi lúc cũng có phân vân. Do đó, các bạn trẻ tham dự trong bốn tổ đã lắng nghe chuyện kể của những nhân chứng thời cuộc một cách chăm chú.

Tổ thảo luận 2, có cựu Thiếu Tá Lê Đình Bảo phát biểu đầu tiên. Đề tài được ông Bảo trình bày là tình trạng các trại gọi là cải tạo của CSVN. Đó là những trại tù khổ sai để CSVN giam giữ hành hạ, trả thù các tầng lớp quân cán chính VNCH. Ông Bảo kể lại những cảnh địa ngục trong các trại cải tạo này không chỉ là vật chất, ăn uống thiếu thốn đói khát triền miên mà là về tinh thần luôn bị khủng bố và bị dằn vặt bởi những bêu riếu, phỉ báng của bọn quản giáo cai tù…

Hội thảo cũng có triển lãm hình ảnh Việt Nam trước và sau biến cố 30 Tháng Tư, 1975. (Hình: Nguyên Huy/Người Việt)
Hội thảo cũng có triển lãm hình ảnh Việt Nam trước và sau biến cố 30 Tháng Tư, 1975. (Hình: Nguyên Huy/Người Việt)

Ở một tổ khác, cựu chiến sĩ Thủy Quân Lục Chiến Nguyễn Phục Hưng nói về cuộc chiến tranh khốc liệt trước năm 1975. Cả một thế hệ thanh niên miền Nam đã tham gia vào cuộc chiến bảo vệ miền Nam tự do, không than tiếc tuổi trẻ, sẵn sàng hy sinh cho đất nước và dân tộc.

Các tổ khác, những người phát biểu đầu tiên đều là giới lớn tuổi đã từng trải qua giai đoạn lịch sử đau thương đó. Nhưng khi thoát được sự kềm kẹp của cộng sản, vượt thoát ra được hải ngoại đã lại cố gắng xây đắp được cho tương lai con cháu mà nay thế hệ trẻ đang làm rạng danh cộng đồng người Việt tại khắp nơi trên thế giới.

Đóng góp vào các câu chuyện của giới lớn tuổi, các bạn trẻ đã đặt ra nhiều câu hỏi và cùng nhau thảo luận rất sôi nổi.

Qua phần 2 của buổi thảo luận là hướng đi tương lai của tuổi trẻ Việt Nam trong cộng đồng người Việt hải ngoại, nhiều tiếng nói đã xác định được hướng đi của mình đối với đất nước và dân tộc khi tuổi trẻ trong nước đã dồn dập đứng lên tranh đấu với cường quyền để đòi hỏi tự do, dân chủ, nhân quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ.

Từ hơn 10 năm nay, Tổng Hội Sinh Viên và Đoàn Thanh Niên Phan Bội Châu thường đứng ra tổ chức những buổi hội thảo về Tháng Tư Đen và biến cố 30 Tháng Tư. Lúc đầu, chỉ quy tụ được dăm ba chục sinh viên học sinh nhưng sau, mỗi năm cứ đông dần lên và nay thì hội thảo về Tháng Tư Đen đã trở nên một sinh hoạt thu hút được đông đảo tuổi trẻ.

Về cuộc triển lãm trong buổi sinh hoạt này, ban tổ chức đã thu thập được khá nhiều hình ảnh tiêu biểu về Việt Nam vào ngày đau thương đó cũng như sự vươn lên của cộng đồng người Việt ở hải ngoại không chấp nhận cộng sản.

Những hình ảnh được trích từ báo chí tài liệu trong và ngoài nước được chia thành nhiều mục như về chiến tranh Việt Nam, về ngày Sài Gòn sụp đổ, về thuyền nhân, về các trại tiếp cư người tị nạn, về trại cải tạo, về Việt Nam dưới chế độ cộng sản ngày nay với những cuộc tranh đấu của người dân trong nước, nhất là tuổi trẻ Việt Nam đang làm lịch sử.

Một cựu quân nhân VNCH tham dự trong buổi hội thảo này nhận xét, “Trong những buổi tổ chức tưởng niệm Tháng Tư Đen, tôi nghĩ buổi hội thảo của các bạn trẻ này mang nhiều ý nghĩa hơn cả.”

Bị áp lực Trung Quốc, thượng đỉnh ASEAN lờ chuyện Biển Đông

MANILA, Philippines (NV) – Hội Nghị Thượng Đỉnh ASEAN đã kết thúc mà không ra nổi một bản tuyên bố chung, chỉ có chủ tịch luân phiên ra một bản tuyên bố lờ hẳn chuyện Bắc Kinh bá quyền bành trướng trên Biển Đông.

Sự chia rẽ của tổ chức liên kết 10 nước ASEAN thành một khối với chủ trương hợp tác giúp nhau phát triển kinh tế và an ninh hỗ tương nhưng lại thường không đồng thuận với nhau về nhiều vấn đề chính yếu.

Sự thất bại không ra nổi một bản tuyên bố chung vốn đã được nhìn thấy từ mấy năm gần đây khi Bắc Kinh ngồi sau hậu trường, giật dây các thành viên tay chân và áp lực quyết liệt với nước chủ nhà chống lại các đề nghị nêu đích danh Trung Quốc là nước vi phạm các cam kết quốc tế và xâm phạm chủ quyền của các nước thành viên ASEAN.

Khoảng 12 giờ sau khi hội nghị nói trên bế mạc, chủ tịch luân phiên tổ chức ASEAN, tức nước chủ nhà Philippines, phổ biến một bản tuyên bố không đề cập gì đến việc “bồi đắp đảo nhân tạo và quân sự hóa” đã được nêu ra trong bản tuyên bố kỳ họp thượng đỉnh năm ngoái.

Trước đó 6 giờ đồng hồ, khi bế mạc, không có bản tuyên bố chung nào được công bố theo thông lệ của các phiên họp thượng đỉnh. Một bản dự thảo tuyên bố chung của tổ chức ASEAN được các hãng thông tấn đọc được mấy ngày trước cũng có nhóm từ ngầm lên án dù không nêu đích danh thủ phạm là Trung Quốc.

Theo hãng tin Reuters, sự việc xảy ra như kể trên là hệ quả của nỗ lực từ Bắc Kinh và trực tiếp từ tòa đại sứ Trung Quốc tại Manila đã áp lực chính phủ Philippines phải tránh đưa vào nghị trình thảo luận những gì đề cập các hành động của Trung Quốc tại vùng biển đang tranh chấp giữa nhiều nước trong khu vực với Bắc Kinh.

Có bốn thành viên ASEAN được tiết lộ là lúc đầu muốn lập trường cứng rắn hơn nhưng sau lại đồng ý với lời lẽ hòa hoãn hơn.

Trung Quốc không phải là thành viên trong khối ASEAN nhưng luôn luôn nhạy cảm tới bất cứ vấn đề gì đề cập đến họ trong các văn bản tuyên bố. Việc họ ở sau hậu trường giật dây, thay đổi nội dung các bản tuyên bố của ASEAN từng được đề cập nhiều từ những năm qua.

Không những không đề cập gì tới hành động ngang ngược, trái với các thỏa thuận với ASEAN khi ký vào Bản Tuyên Bố Ứng Xử Trên Biển Đông từ năm 2002, bản tuyên bố của Philippines lại còn ghi nhận có sự “gia tăng hợp tác giữa ASEAN và Trung Quốc.” Bản tuyên bố lờ hẳn những từ ngữ như “căng thẳng” hay “leo thang hành động” ở trong dự thảo trước đó và cũng tương tự như tuyên bố năm ngoái khi họp ở thủ đô nước Lào.

Một nhà ngoại giao Philippines không thấy nêu tên cho hay việc Bắc Kinh vận động thay đổi nội dung một số bản tuyên bố để bảo vệ lợi ích của họ vốn là một thứ bí mật nhưng ai cũng biết.

Một trong những lý do chính dẫn đến một bản tuyên bố lời lẽ nhẹ nhàng hơn được cho rằng Phi không muốn bị Trung Quốc hiếp đáp thêm nhiều nữa trong chuyện tranh chấp biển đảo. Sau sự vận động từ Tổng Thống Rodrigo Duterte, Bắc Kinh đã đồng ý để ngư dân Phi quay lại khai thác tại ngư trường bãi đá ngầm Scarborough sau bốn năm bị xua đuổi. (TN)

Little Saigon: Đông đảo đồng hương tưởng niệm quốc hận

WESTMINSTER, California (NV) – Hàng trăm cựu chiến sĩ VNCH và Hoa Kỳ tập trung trước Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ, Westminster, sáng Chủ Nhật, 30 Tháng Tư, để cùng nhau tưởng niệm 42 năm quốc hận, tưởng niệm những chiến sĩ Việt-Mỹ đã hy sinh trong cuộc chiến Việt Nam.

Phía quan khách có đại diện các tôn giáo, các hội đoàn tranh đấu, và các hội đồng hương trong cộng đồng người Việt ở Nam California.

Đại diện cho ban tổ chức là bà Trần Thúy Phương, thuộc Hội Cựu Nữ Sinh Gia Long.

Ông Trần Mạnh Đôn, thuộc Ủy Ban Xây Dựng và Bảo Tồn Tượng Đài, trong phần mở đầu chương trình phát biểu: “Hôm nay chúng ta tưởng niệm 42 ngày quốc hận, nhớ đến sự hy sinh của các chiến sĩ Việt-Mỹ để bảo vệ cho nền tự do của Việt Nam Cộng Hòa. Trong biến cố Tháng Tư, 1975, CSVN cưỡng chiếm được miền Nam đưa miền Nam vào cảnh tang thương, mất nước như hiện nay. Tội ác của CSVN không kể xiết. Ngay sau khi cưỡng chiếm được miền Nam, nhà cầm quyền Cộng Sản lừa đảo gian tham, đào mồ cuốc mả những chiến sĩ VNCH đã hy sinh trong cuộc chiến, mở ra các trại tù khắp đất nước để giam giữ hàng trăm ngàn quân cán chính VNCH, bắt bớ lương dân, tiêu hủy sách báo miền Nam, đổi tiền lừa đảo, cướp nhà, cướp đất gây nên biết bao tang thương cho dân tộc và nay thì đã biến Việt Nam thành một bãi rác khổng lồ của Trung Cộng.”

“Biến cố 30 Tháng Tư, 1975 đã trở thành quốc hận cho người Việt tự do ở khắp nơi trên thế giới và cả ở trong nước. Tưởng niệm quốc hận cũng là nhớ đến biết bao công lao của người dân Việt miền Nam Việt Nam đã xây dựng một xã hội nhân bản, một đất nước có kỷ cương, một cuộc sống tốt lành cho mọi người dân. Chúng ta tưởng niệm quốc hận cũng là để nhắc nhở con cháu, những thế hệ tiếp nối, về những hy sinh của thế hệ cha anh, mong các thế hệ này còn lưu giữ cho đến khi cộng sản phải sụp đổ,” ông Đôn nói tiếp.

Cựu chiến binh Hoa Kỳ dâng hương trước bàn thờ tổ quốc và các anh hùng liệt sĩ tuẫn tiết trong ngày 30 Tháng Tư, 1975. (Hình: Nguyên Huy/Người Việt)
Cựu chiến binh Hoa Kỳ dâng hương trước bàn thờ tổ quốc và các anh hùng liệt sĩ tuẫn tiết trong ngày 30 Tháng Tư, 1975. (Hình: Nguyên Huy/Người Việt)

Tiếp lời ban tổ chức, ông Phạm Văn Long, đại diện cho các cựu chiến sĩ Chiến Tranh Chính Trị, bày tỏ: “Cưỡng chiếm được miền nam, CSVN đã thi hành ngay những chính sách bạo tàn, không chỉ với quân cán chính VNCH mà cả với người dân, đẩy hơn 3 triệu người dân vượt thoát Cộng Sản sống cuộc đời lưu vong. Nhưng hơn 3 triệu người dân ấy đã dựng lại được ngọn cờ vàng chính nghĩa khắp mọi nơi trên thế giới. Ngày hôm nay, người Việt khắp nơi đều có những buổi tưởng niệm quốc hận. Điều quan trọng là chúng ta đã nuôi dưỡng được các thế hệ con em thành đạt trong xã hội mới để nay cộng đồng người Việt hải ngoại có đủ sức mạnh để làm được những điều ích quốc lợi dân. Hy vọng lần quốc hận thứ 42 này, cộng đồng người Việt hải ngoại tăng gia được đoàn kết để hỗ trợ mạnh mẽ cho công cuộc tranh đấu của người dân trong nước đang bùng phát chống lại nhà cầm quyền Cộng Sản.”

Có mặt tại buổi lễ, Thị Trưởng Westminster Tạ Đức Trí chia sẻ: “Chúng ta mất miền Nam vào tay cộng Sản nhưng chúng ta không mất được tinh thần và ý chí tranh đấu chống Cộng Sản để đưa đất nước và dân tộc đến tự do, độc lập thật sự. Tinh thần ấy qua 42 năm không giảm sút mà còn lên cao hơn trước những biến chuyển thế giới và cuộc tranh đấu bền bỉ của người dân trong nước. Hy vọng một ngày không xa, đất nước và dân tộc Việt Nam sẽ có được tự do no ấm.”

Giám Sát Viên Andrew Đỗ, phó chủ tịch Hội Đồng Giám Sát Orange County, nhân dịp này cũng lên án thành phần phản chiến trong cuộc chiến Việt Nam và xin được bầy tỏ sự ngưỡng mộ đến QLVNCH, các chiến sĩ đồng minh Hoa Kỳ đã hy sinh để bảo vệ tư do cho Việt Nam và nhiều nơi trên thế giới.

Bảy hội đoàn người Việt đặt những vòng hoa tưởng niệm dưới chân tượng đài, gồm có vòng hoa của Ủy Ban Xây Dựng và Bảo Tồn Tượng Đài, Hội Ái Hữu Cựu SVSQ/CTCT, Hội Ái Hữu Cựu Tù Suối Máu, Hội Ái Hữu Cựu Nữ Sinh Gia Long, Hội Ái Hữu Cựu Luật Khoa Việt Nam, Giám Sát Viên Andrew Đỗ, và Hội Tây Sơn Bình Định.

Đóng góp vào lễ tưởng niệm quốc hận là ban Tù Ca Xuân Điềm, trình bày nhiều ca khúc tranh đấu.

Lấy cắp hình ảnh ‘nhạy cảm’ của nữ bệnh nhân, nam y tá bị bắt

NAPERVILLE, Illinois (NV) – Một nam điều dưỡng viên tại bệnh viện Northwestern Medicine Central DuPage vừa bị bắt về tội đánh cắp hơn 60 hình ảnh “cá nhân và nhạy cảm” cùng là sáu đoạn video từ điện thoại của một phụ nữ ở thành phố Naperville, Illinois, khi phải vào nơi này điều trị, và gửi các hình ảnh này vào điện thoại của anh.

Bản tin của tờ báo địa phương Chicago Tribune nói rằng Mark L. Luis, 33 tuổi, hôm Thứ Sáu bị truy tố tội hình sự về tội lấy các hình ảnh riêng tư cá nhân và xâm phạm máy móc điện toán mà không được phép, theo hồ sơ tại tòa ở DuPage County.

Phụ nữ trên vào bệnh viện hôm 12 Tháng Mười Một, và dùng mật mã mở máy của mình trước mặt Luis, là điều dưỡng viên có trách nhiệm săn sóc bệnh nhân này.

Do khi ở bệnh viện, nạn nhân không được giữ điện thoại nên người này phải gửi ở bàn trực.

Anh Luis bị cáo buộc là dùng mật mã mở máy ra rồi chuyển hình ảnh video của nạn nhân sang máy điện thoại cá nhân của anh, theo tờ Chicago Tribune.

Vụ này bị khám phá sau khi bệnh nhân về nhà và “sync” máy của mình vào iCloud, khám phá thấy hình và video bị gửi đến một số điện thoại lạ và điều này xảy ra khi người này không giữ máy trong tay.

Anh Luis bị giam ở nhà tù DuPage County với tiền thế chân tại ngoại hậu tra được ấn định là $150,000, tờ Chicago Tribune cho hay. (V.Giang)

Câu chuyện về hai chiếc hàng không mẫu hạm

Hải Quân Hoa Kỳ đứng đầu thế giới mà không quốc gia nào có thể sánh kịp, về số lượng cũng như tính năng của các hàng không mẫu hạm.

Từ 1922 đến nay, quân lực Mỹ sử dụng gần 70 hàng không mẫu hạm, nhưng chỉ còn 10 chiếc hiện dịch, tất cả đều vận hành bằng năng lượng nguyên tử, có lợi thế không phải tiếp nhiên liệu và có thể hoạt động vô thời hạn.

Nhưng có lẽ hai hàng không mẫu hạm được biết đến nhiều hơn hết qua các tin tức thời sự hàng đầu là USS Midway, trong chiến dịch Frequent Wind di tản người dân Việt Nam và binh sĩ Mỹ khỏi Sài Gòn năm 1975, và USS Carl Vinson, đang có mặt trong vùng biển Triều Tiên vì vụ khủng hoảng ở Bắc Hàn.

USS Carl Vinson (CVN-70) là chiếc thứ ba trong 10 hàng không mẫu hạm lớp Nimitz đang hoạt động trong Hải Quân Mỹ ngày nay. Theo cách gọi của hải quân, CV cho biết đó là loại hàng không mẫu hạm và N nghĩa là dùng năng lực nguyên tử.

Carl Vinson (1883-1981) là tên một dân biểu liên bang đảng Dân Chủ tiểu bang Georgia, đại diện tiểu bang này hơn 25 nhiệm kỳ (1914-1965), có nhiều công lao đóng góp cho quân lực Mỹ, đặc biệt là hải quân.

Hàng không mẫu hạm USS Carl Vinson, biệt danh “Gold Eagle,” bắt đầu phục vụ trong hải quân từ 1982, đặt căn cứ tại San Diego, California, và phần lớn hoạt động cho đến nay là ở Ấn Độ Dương.

USS Carl Vinson tham gia các chiến dịch Desert Strike (phóng hỏa tiễn bình phi đánh Iraq năm 1996), Iraqi Freedom (chiến tranh Iraq 2003-2011), Southern Watch (kiểm soát không phận Nam Iraq 1992-2003) và Enduring Freedom (chiến tranh Afghanistan).

Người ta chú ý đền tên Carl Vinson năm 2011 khi đang hoạt động trong vùng Ấn Độ Dương. Thi hài Osama bin Laden bị biệt kích SEAL hạ sát ở Pakistan do trực thằng đưa đến được thủy táng từ sân bay của hàng không mẫu hạm này.

Đầu Tháng Tư năm nay, giữa lúc tình thế căng thẳng do thái độ ngoan cố và khiêu khích của Bắc Hàn, Tổng Thống Donald Trump loan báo Mỹ sẽ đưa đến vùng này một “chiến đoàn” hùng hậu trong đó có hải đội hàng không mẫu hạm Carl Vinson cùng các chiến hạm phụ trợ. Nhưng liền sau đó có những tin tức cho biết “USS Carl Vinson không phải là đến vùng biển gần Triều Tiên và không biết đang đi đâu.” Chuyện trở thành rắc rối vì có những chỉ trích cho là Tổng Thống Donald Trump “tháu cáy” trong vụ này.

Trong buổi điều trần tại Ủy Ban Quốc Phòng Hạ Viện mới đây, Đô Đốc Harry B. Harris Jr., tư lệnh quân đội Mỹ vùng Thái Bình Dương, minh định: “Tôi chịu trách nhiệm về sự lộn xộn trong chuyện này.” Ông cho biết đã ra lệnh cho hàng không mẫu hạm USS Carl Vinson và ba chiến hạm trợ lực “hủy bỏ chuyến thăm Úc, và từ Singapore hướng về phía Bắc.” Nhưng bản thông cáo của Hạm Đội 3 (một thành phần trong quân đội Mỹ ở Thái Bình Dương) đưa ra không đúng lúc khiến người ta có cảm tưởng hải đội Carl Vinson chưa tiến về hướng Bắc ngay lập tức, mà còn đi về hướng Nam để tham dự một cuộc tập trận với Hải Quân Úc trong Ấn Độ Dương. Đô Đốc Harris nhận lỗi lầm “đã không loan báo tin tức thỏa đáng cho báo chí và truyền thông” để gây ra những sự hoài nghi.

Tuần này, quả thực hải đội Carl Vinson đã hướng về phía Bắc và đang tập trận với hai chiến hạm Nhật trong vùng biển Philippines. Đô Đốc Harris xác nhận, hải đội sẽ tiếp tục đi hướng Bắc về phía bán đảo Triều Tiên, nhưng ông không nói rõ bao giờ đến đó, theo dự đoán có thể cuối tuần hay đầu tuần tới. Một dân biểu đặt câu hỏi vói đô đốc: “Ông nói đây là một thể hiện sự đoàn kết với đồng minh Nam Hàn và răn đe Bắc Hàn nếu họ định sử dụng sức mạnh. Vậy ngay bây giờ, từ vùng biển Philippines các máy bay chiến đấu trên tàu Carl Vinson phải mất bao nhiêu lâu mới đến Bắc Hàn?” Đô Đốc Harris đáp: “Chừng hai giờ,” nghĩa là trong tầm oanh kích.

Người ta cho rằng biện pháp đương đầu cứng rắn của Tổng Thống Donald Trump có thể đưa đến chiến tranh lớn, nếu Hải Quân Mỹ mở cuộc tấn công vào Bắc Hàn. Nhưng theo các giới am hiểu về quân sự, bằng những máy bay của Carl Vinson, cùng hỏa tiễn bình phi Tomahawk trên tuần dương hạm Lake Champlain và hai khu trục hạm Wayne E. Meyer, Michael Murphy, hải đội này chưa đủ cho một cuộc tấn công như vậy, mà còn cần thêm máy bay oanh tạc tầm xa như B-52, B1 và B-2 và những lực lượng khác.

Tuy nhiên, Đô Đốc Harris cũng bác bỏ những tin tức cho là hải đội Carl Vinson không đủ khả năng tự vệ chống hỏa tiễn Bắc Hàn. Theo ông, Bắc Hàn chưa có hỏa tiễn đạn đạo chống chiến hạm, hơn nữa, hải đội Carl Vinson và những chiến hạm khác của Mỹ có mặt ở biển Nhật Bản vả biển Đông Hải có thừa khả năng để bắn hạ hỏa tiễn địch nếu có.

Ông Harris cho biết thêm là hàng không mẫu hạm USS Ronald Reagan (CVN-76) đã sửa chữa xong và sẽ tập dượt tại vùng biển Okinawa tuần này. Ngoài ra, tiềm thủy đĩnh nguyên tử phóng hỏa tiễn USS Michigan cũng đến thăm cảng Busan ở Nam Hàn. Hai khu trục hạm khác thuộc Hạm Đội 7 đang tập trận với Nhật ở vùng biển phía Đông Triều Tiên và với Nam Hàn trên biển Hoàng Hải, Tây Triều Tiên.

Mặc dù sự hiện diện của lực lượng hải quân hùng hậu như thế trong vùng Tây Thái Bình Dương hiện nay, nhiều phân tích gia tin rằng, Mỹ chỉ muốn biểu dương lực lượng để làm áp lực theo kiểu cách gọi là “ngoại giao pháo thuyền” quen thuộc từ thế kỷ 19 và vẫn còn được áp dụng trong nhiều trường hợp gần đây. Nhưng với một lãnh tụ khó dự đoán như ông Kim Jong Un trong chế độ đầy bí ẩn của Bắc Hàn, không thể biết biện pháp răn đe này có hiệu quả thế nào và nếu có chuyện bất ngờ gì xảy ra thì phải đối phó ra sao. Đó là thắc mắc của tương lai, có thể là tương lai không xa.

Trở về quá khứ 42 năm trước, như đã đề cập ở trên, USS Midway là hàng không mẫu hạm được nói đến nhiều vào thời điểm cuối Tháng Tư. Lúc đó, Tháng Tư, 1975, USS Midway không có sứ mạng chiến đấu mà được giao nhiệm vụ trợ giúp một số người di tản khỏi Việt Nam và đã góp phần chính trong chiến dịch Operation Frequent Wind mà mọi người đều đã biết nhiều qua sách báo về sau này.

Ngày 19 Tháng Tư, 1975 khi bộ đội Bắc Việt đã tiến chiếm 2/3 lãnh thổ miền Nam Việt Nam, USS Midway và bốn hàng không mẫu hạm lớn nhỏ khác thuộc Hạm Đội 7 như USS Coral Sea, USS Hancock, USS Enterprise, và USS Okinawa được triển khai tới Biển Đông. Hai chiếc trong số này chỉ có nhiệm vụ trợ lực, kiểm soát không phận khi tiến hành cuộc di tản.

USS Midway (CV-41) là hàng không mẫu hạm phục vụ lâu dài nhất trong Hải Quân Mỹ. Được hạ thủy năm 1945, khi Thế Chiến 2 vừa kết thúc, hàng không mẫu hạm này có trọng tải 45,000 tấn, lớn nhất vào thời đó. Sau nhiều lần tu sửa, trong tải của USS Midway được nâng lên tới 65,000 tấn, và được giải nhiệm năm 1992. Một trong những cải tiến quan trọng nhất của USS Midway là vào năm 1955, sân bay được làm xiên để máy bay có thể cất cánh và hạ cánh trên hai đường khác nhau như trên tất cả các hàng không mẫu hạm kiểu mới sau này.

USS Midway đã tham gia vào nhiều chiến dịch trong Hạm Đội 6 ở Địa Trung Hải và sau đó trong Hạm Đội 7 ở Thái Bình Dương, bao gồm chiến tranh Triều Tiên và Việt Nam với hai lần chiến đấu ở Việt Nam, năm 1965 và năm 1972. Tại Trung Đông, USS Midway tham gia cuộc chiến vùng Vịnh năm 1991 và sứ mạng cuối cùng là Operation Fiery Vigil, di tản 20,000 quân nhân Mỹ và gia đình khỏi căn cứ Không Kuân Clark được trả lại cho Philippines.

Trước khi thi hành chiến dịch Operation Frequent Wind năm 1975, hàng không mẫu hạm Midway để lại phân nửa lực lượng máy bay chiến đấu ở căn cứ Subic Bay, Philippines, rồi đến Thái Lan nhận thêm 10 trực thăng vận tải loại lớn CH-53 và HH-53. Trong hai ngày cuối Tháng Tư, 1975, các trực thăng này đã nhiều lần bay tới Sài Gòn để chở người di tản tập trung bên ngoài phi trường Tân Sơn Nhứt và tòa đại sứ Mỹ.

Tên USS Midway sẽ còn tồn tại mãi mãi vì từ Tháng Giêng, 2004, USS Midway thả neo vĩnh viễn tại cầu tàu ở cảng San Diego, California, trở thành viện bảo tàng. Hàng ngày, công chúng có thể đến đây mua vé lên tàu đi xem toàn thể các nơi trên chiến hạm, những nơi mà trong 40 năm khoảng 200,000 sĩ quan, thủy thủ và phi công từng sống và làm việc. Trên sân bay và khoang chứa cũng có những loại máy bay từng hoạt động trên hàng không mẫu hạm, từ các máy bay chiến đấu cánh quạt thời sau Thế Chiến 2 cho đến A-1 Skyraider, F-8 Crusader, và A-4 Skyhawk trong chiến tranh Việt Nam.

Kỹ thuật rượt đuổi của xe cảnh sát

Kỳ trước, chuyên mục này đề cập chuyện một chiếc xe cảnh sát được trang bị “tận răng” như thế nào. Kỳ này xin được bàn chuyện xe cảnh sát rượt đuổi xe vi phạm giao thông ra sao.

Ai cũng biết là dân Mỹ (và nhiều người trên thế giới nữa) rất khoái xem những cảnh rượt đuổi xe trên phim ảnh. Những tiếng động cơ gầm rú với tốc độ trên 100 mph. Những tiếng động ken két do thắng gấp khi xe chuyển hướng, hay quay đầu 180 độ trong nháy mắt. Xem phim xong, có nhiều người bỗng dưng muốn làm… anh hùng cảnh sát!

Tuy nhiên, thực ra đó chỉ là “món giải trí hưng phấn” dành cho người Mỹ, những người thường xuyên phải ngồi trước tay lái hàng giờ trên xa lộ kẹt xe, với tốc độ rùa bò nhàm chán. Mơ mộng chút cho vui vậy thôi! Chứ trên thực tế, chuyện cảnh sát rượt đuổi không đơn giản chỉ là những cảnh hấp dẫn như trong phim. Nó được thực hiện một cách thận trọng hơn nhiều lần.

Lý do cũng dễ hiểu, cảnh sát Mỹ làm cái gì cũng sợ ảnh hưởng đến dân, cho dù đó là việc truy đuổi tội phạm. Cảnh sát Mỹ lo lắng là có căn cứ. Một thống kê cho thấy từ năm 1979 đến năm 2013, có hơn 5,000 người chết trong các cuộc truy đuổi của cảnh sát trên toàn nước Mỹ. Và hơn nửa trong số tử vong này lại là những người vô can, không có liên quan đến cuộc truy đuổi.

Vì thế, những cảnh sát viên của các thành phố được lệnh tránh tối đa các cuộc truy đuổi không cần thiết. Thường chỉ khi nào gặp những kẻ tình nghi thực sự nguy hiểm, cảnh sát mới thực hiện công việc nguy hiểm này.

Cảnh sát cũng được huấn luyện rất kỹ tại các trường huấn luyện có bãi tập về kỹ thuật rượt đuổi xe (Emergency Vehicle Operations Course – EVOC). Công việc rượt đuổi đòi hỏi một sự tập trung cao độ vào đường xá và xe cộ chung quanh. Do đó, cảnh sát phải thực hiện công việc này một cách thuần thục như phản xạ tự nhiên vậy.

Để thực hiện các cuộc rượt đuổi, cảnh sát được trang bị những gì? Đầu tiên, và dĩ nhiên, là… xe cảnh sát. Trong bài viết tuần trước, chúng ta đã biết xe cảnh sát được thiết kế đặc biệt về độ bền, độ an toàn để thực hiện việc rượt đuổi đường trường.

Cảnh sát còn sử dụng thêm nhiều trang thiết bị nữa để khống chế chiếc xe bị đuổi. Trang bị thường thấy nhất là dây đinh, đặt ngang trên đường để làm nổ bánh xe kẻ bị rượt. Một phương pháp khác nữa để làm giảm tốc và ngăn chặn xe bị đuổi mà chúng ta hay thấy trên phim đó là chặn ngang đường bằng nhiều xe cảnh sát, bằng rào chắn… Vậy mà trong phim, vẫn có kẻ vượt qua những rào cản này. Thiệt là… hồi hộp, gay cấn!

Còn một thiết bị tinh vi hơn nữa để làm tê liệt hệ thống điện của xe, có tên gọi High Speed Avoidance Using Laser Technology (HALT, tạm dịch: Kỹ Thuật Chống Chạy Nhanh Bằng Tia Laser). Thiết bị này cho phép cảnh sát cắt nguồn cung cấp xăng cho động cơ xe bằng tia laser. Tuy nhiên, nó chỉ có tác dụng đối với những xe đời mới, có sử dụng microchip trong hệ thống điều khiển.

Công việc rượt đuổi của cảnh sát sẽ dễ dàng hơn với sự tham gia của trực thăng cảnh sát. Với thiết bị hồng ngoại và camera chuyên dùng ban đêm, trực thăng cảnh sát có thể theo dõi xe bị truy đuổi vào ban đêm, và ngay khi nó chui vào đường hầm.

Cảnh sát phải tỉnh táo, để ra những quyết định tức thời nhưng chính xác. Lúc nào cần bắt đầu, lúc nào cần chấm dứt truy đuổi.

Giả sử như một cảnh sát đang tuần tra trên xa lộ, thì thấy một chiếc xe vượt qua mình với tốc độ quá giới hạn. Anh ta bắt đầu tăng tốc, và bám đuôi chiếc xe này, nhưng chưa bật đèn chớp và hụ còi. Anh ta dùng radio để kiểm tra biển số xe, kiểm tra chiếc xe này đang có điều gì bất thường hay không. Sau khi đã xác định rõ, cảnh sát bắt đầu bật đèn chớp, hú còi, yêu cầu chiếc xe này phải ngừng lại do chạy quá tốc độ.

Lại giả sử tiếp, chiếc xe này không chịu dừng, mà lại tăng tốc để tìm cách trốn thoát. Lúc này, cảnh sát phải quyết định là có nên bắt đầu cuộc rượt đuổi hay không? Có nhiều nhân tố để ra quyết định. Nếu chiếc xe này chưa có tiền án, thì có thể việc rượt đuổi không được khuyến khích. Nhưng nếu báo cáo cho thấy chiếc xe đã bị trộm, hay đang được một tên cướp có vũ trang sử dụng, thì rõ ràng đây là một mối đe dọa cho người dân. Chiếc xe này phải bị bắt dừng lại.

Người cảnh sát còn phải cân nhắc về tình trạng xe cộ trên xa lộ trong thời điểm đó. Giả sử người lái xe là một kẻ trốn thuế. Người này có thể không gây nguy hại cho cộng đồng, nhưng cũng cần bị bắt giữ. Nếu đường xá lúc đó không đông đúc, thời tiết bình thường, việc đuổi bắt có thể chấp nhận được. Nhưng nếu hôm đó là một ngày mưa, đường xá kẹt xe, hoặc đang là giờ tan trường tại khu vực trường học, thì người cảnh sát không nên rượt đuổi, vì có quá nhiều rủi ro.

Những luật lệ, quy định liên quan đến việc rượt đuổi của sở cảnh sát của những thành phố khác nhau cũng khác nhau. Thí dụ, thành phố Des Moines ở tiểu bang Iowa quy định chỉ có tối đa ba xe cảnh sát tham gia một cuộc rượt đuổi. Và một cảnh sát muốn rượt đuổi phải có sự đồng ý của cấp chỉ huy. Còn ở Washington, DC, một cuộc rượt đuổi chỉ được phép trong trường hợp nếu kẻ tình nghi tẩu thoát có thể gây nguy hiểm đặc biệt cho người khác.

Ngoài việc sử dụng dây đinh, chặn đường như đã nhắc ở trên, cảnh sát còn thường sử dụng một kỹ thuật nữa để buộc kẻ đào tẩu dừng lại, có tên gọi là Pursuit Intervention Technique (PIT, tạm dịch: Kỹ Thuật Can Thiệp Khi Rượt Đuổi). Trong kỹ thuật này, xe cảnh sát sẽ húc vào bên hông phía sau của xe đào tẩu, ngay phía sau bánh sau. Động tác này sẽ làm cho xe bị đụng lạc tay lái, xoay vòng. Kỹ thuật này chỉ được thực hiện khi đường đã trống xe cộ và người đi bộ, để tránh gây thương vong cho những người không liên quan.

Rất ít khi cảnh sát tìm cách bắn vào bánh xe, hay vào xe của kẻ tình nghi, vì rủi ro bắn trật mục tiêu nhưng trúng người chung quanh là cao. Đây sẽ là giải pháp sau cùng.

Làm cảnh sát Mỹ khó như vậy đó. Hiểu được những gì xảy ra trong một cuộc rượt đuổi, chúng ta sẽ thông cảm hơn với cảnh sát trong cái nghề nguy hiểm và đầy trách nhiệm của họ. Xin hãy bớt bực tức, và mỉm cười… chấp nhận khi bị cảnh sát chặn lại, và đưa một giấy phạt vì chạy quá tốc độ…

Dân luật: Đáo tụng đình

Luật Sư LyLy Nguyễn chuyên về Luật Khánh Tận Chương 7, 11, 13 cho cá nhân và cơ sở thương mại, xóa hết các loại nợ, tranh tụng trước Tòa Khánh Tận và khai phá sản hủy bỏ nợ thuế. Về Hoạch Định Tài Sản, Luật Sư LyLy chuyên thảo di chúc và tín mục (trust), ủy quyền điều hành tất cả tài sản, dặn dò săn sóc y tế khi bất lực và hoạch định kế nghiệp. Về Luật Thuế, Luật Sư LyLy đại diện cho thân chủ trường hợp bị kiểm thuế, xin ngưng tịch thâu tài sản vì thiếu thuế, đại diện biện hộ trước Tòa Án Thuế và điều đình xin giảm nợ thuế. Về Luật Thương Mại, Luật Sư LyLy giúp thành lập công ty và tổ hợp hùn hạp. Ngoài ra Luật Sư LyLy còn rất giàu kinh nghiệm về thuế lợi tức cá nhân, thuế trả nhân công, thuế mua bán và thuế tài sản ở hai cấp liên bang và tiểu bang. Luật Sư LyLy Nguyễn được chứng nhận hành nghề tại Supreme Court of California, United States District Court, United States Court of Appeals for the Ninth Circuit và United States Tax Court. Nếu cần tham khảo riêng xin liên lạc với Luật Sư LyLy Nguyễn tại văn phòng ở 10221 Slater Avenue, Suite 216, Fountain Valley, California 92708. Điện thoại: (714) 531-7080. website: www.lylylaw.com

Xưa kia mỗi khi hai người xích mích bất đồng với nhau mà không giải quyết được thì đem nhau “đáo tụng đình” hay nói nôm na là đi kiện. Ở thôn quê Việt Nam thời trước quan nha thì xa, “phép vua thua lệ làng,” phiên tòa diễn ra ở sân đình làng do ông lý trưởng làm “chánh án” dưới sự chủ tọa của cụ tiên chỉ, đôi bên thưa kiện được gọi ra đó để xử nên có thành ngữ “đáo tụng đình” ám chỉ chuyện tranh tụng kiện cáo. Chúng ta thử chứng kiến hoạt cảnh một vụ kiện điển hình với người đi kiện tên Ninh. Ninh lễ phép chắp tay vái hai vị lý trưởng và tiên chỉ rồi trình rằng con chó của kẻ hàng xóm là Nang cắn què chân con nghé mới đẻ được một tuần. Ninh kêu nài xin được “đèn trời soi xét” đền bù thiệt hại. Sau khi nghe Ninh thưa thốt đến lượt Nang được gọi ra trình bày đầu đuôi sự tình. Nang gãi đầu gãi tai thưa lên lý trưởng là mình bị oan vì thằng con của Ninh leo rào sang vườn nhà hái trộm ổi bị con chó rượt nên thằng nhỏ cuống lên chạy trốn vào chuồng trâu nấp sau con nghé. Con chó cứ thế nhào tới thằng nhỏ làm cho con nghé hoảng sợ bung ra khỏi chuồng bị cái then cài cửa rớt trúng chân bị thương thành què chứ thực sự Nang không cố ý xua chó cắn nghé. Lý trưởng sau khi nghe đôi bên trình bày tự sự bèn ghé tai thầm thì hội ý với cụ tiên chỉ trước khi quyết định xem có nên bắt Nang bồi thường cho Ninh hay không rồi sau đó mới tuyên bố kết quả.

Hoạt cảnh trên cho chúng ta ý niệm về thủ tục tố tụng, đó là một thủ tục do chính quyền đứng ra phân xử để giải quyết một cuộc tranh chấp giữa hai bên dân sự bằng một kết quả công bình thỏa đáng. Hai bên trình bày lý lẽ trước một thẩm phán (chánh án) do chính phủ ủy quyền để ngồi nghe cả hai nêu ra sự kiện rồi giải quyết bằng một quyết định, bên nào thắng kiện thì được tòa ra lệnh cho bên thua bồi thường. Câu chuyện Ninh Nang chỉ là một câu chuyện vui để quí độc giả có khái niệm về tố tụng kiện thưa. Dĩ nhiên xử án trong bối cảnh một làng quê Việt Nam thời đại phong kiến xa xưa thì hoàn toàn khác với xử án ở Hoa Kỳ là một xứ dân chủ có nền văn minh tân tiến, nhưng cả hai có căn bản giống nhau theo đó tố tụng là một thủ tục do chính quyền đảm nhiệm phân xử một cuộc tranh chấp song phương, có thể giữa hai cá nhân, giữa hai tập thể, giữa một cá nhân với một tập thể hay ngược lại. Đôi bên đem vấn đề bất đồng không hòa giải được với nhau ra tranh cãi trước một thẩm phán do chính phủ ủy thác quyền giải quyết. Tuy nhiên nguyên đơn tức là người đứng kiện không bắt buộc phải đi kiện mà có thể dàn xếp hòa giải khỏi đem ra tòa vì theo tâm lý chung phần đông mọi người không muốn dính dáng đến “ba tòa ông lớn” sợ gặp nhiều phiền phức, thí dụ như Ninh nghĩ nếu đưa Nang “đáo tụng đình” chắc gì đã thắng nhiều khi thua còn phải bị phạt vạ. Thay vào đó nếu Ninh nhỏ nhẹ điều đình phải trái với Nang không chừng anh chàng này sẵn sàng chịu bồi thường vì con chó của hắn là nguyên nhân gây ra thương tích cho con nghé. Một lý do khác nữa hẳn nhiên kiện tụng mất nhiều thì giờ và tốn công tốn của. Thời nay dân chúng rất ngại thưa kiện, chỉ trừ phi bất đắc dĩ lắm mới phải dính dáng đến tòa án dù rằng trong cuộc sống hàng ngày họ bị nhiều đụng chạm bất mãn với người khác. Trước sự tình này phần đông thường nhẫn nhịn bỏ qua vì ra tòa ngoài việc tốn kém tiền án phí và tiền trả luật sư lại mất nhiều thì giờ mà còn kết thù kết oán với đối phương, do đó việc kiện thưa ra tòa chỉ dành cho những vụ tối quan trọng có mức thiệt hại đáng kể đo lường được bằng cả tính chất xã hội lẫn tiền tài.

Hoa Kỳ vốn là một nước chịu ảnh hưởng của luật Anh Quốc theo đó tố tụng là một thủ tục xử một cuộc tranh cãi song phương, trước tòa án cả hai bên đều cố tranh dành lợi thế, bên nguyên đơn phải quyết định có nên đem sự việc ra tòa kiện hay không, nếu ra tòa thì phải đưa ra lý lẽ thế nào. Phía bị kiện thì ra tòa là một cơ hội để cãi lại, đưa ra sự kiện minh oan cùng bằng cớ. Nhiệm vụ của vị chánh án là nghe lập luận đôi bên rồi quyết định kết quả cho một bên thắng. Ngày nay hệ thống tư pháp tuy phức tạp hơn nhiều nhưng căn bản tố tụng dân sự vẫn là thủ tục phân xử hai bên đối phương. Trong một vụ kiện luật sư cả hai phía đều giữ vai trò chính yếu vì luật sư sẽ là người định đoạt thưa kiện hay chống lại đối phương là ai, kiện lúc nào và kiện ở đâu, dựa theo luật nào mà cãi, điều tra sự việc ra sao, cần đưa những nhân chứng và bằng chứng nào. Vị chánh án sẽ là trọng tài giám sát các luật sư trong việc theo đúng luật lệ và thủ tục tố tụng, nhưng quan trọng hơn hết là quyết định kết quả vụ án hoặc giám sát việc lấy quyết định của bồi thẩm đoàn cho kết quả vụ án. Tuy nhiên trong thực tế không bao giờ thấy có một vụ án phân xử hai bên đối phương đúng theo mẫu mực tố tụng thuần túy như vụ xử “Ninh Nang.” Đặc biệt trong những năm sau này khi số lượng các vụ án càng tăng gấp bội thì các thẩm phán có khuynh hướng xử qua loa mau cho xong bằng cách thu hẹp vấn đề hay khuyến khích đôi bên dàn xếp với nhau đỡ phải đưa ra xử chính thức cho khỏi mất công tốn sức.

Tố tụng luôn luôn liên quan đến cả hai việc truy tìm sự kiện và áp dụng luật lệ. Khi ông lý trưởng nghe Ninh thưa rằng Nang để chó cắn què chân nghé của mình thì câu chuyện chưa chấm dứt ở đây. Nang cãi lại rằng không ai xua chó tấn công con nghé mà vì con chó thấy thằng nhỏ ăn cắp ổi nên rượt theo. Chính vì thằng nhỏ nấp trốn sau con nghé nên con vật này mới hoảng sợ vùng chạy làm cho thanh gỗ then cửa chuồng rớt xuống trúng chân. Ông lý trưởng phải quyết định xem Nang có xua chó sang để cắn con nghé không, hay vì con chó làm đúng bổn phận của kẻ giữ nhà rượt kẻ xâm nhập, truy nã đến tận chuồng trâu của Ninh khiến cho con nghé xông ra cửa chuồng làm rớt cái then vào chân. Những diễn tiến này diễn ra đúng như lớp lang theo thủ tục xử các vụ tố tụng ngày nay.

Tố tụng theo dân luật không những chỉ là một thủ tục của chính quyền trong việc giải quyết tranh chấp đôi bên kiện thưa nhau. Nếu Ninh đi qua nhà Nang mà bị Nang xua chó ra cắn thì Nang chắc chắn sẽ bị phạt và bồi thường tiền thuốc thang cho Ninh, vì vụ án đó được liệt vào loại tố tụng dân sự. Nhưng ông lý trưởng cũng có thể kết tội Nang cố tình muốn mưu sát Ninh nên thả chó ra cắn gây thương tích nặng thì đó là tội hình sự, Nang có thể bị kết tội nhẹ thì bị đánh đòn, còn nặng thì bị nhốt rồi giải lên ngục thất ở huyện. Trong một cuộc tranh chấp song phương giữa dân sự với nhau mà tòa án chỉ có nhiệm vụ đứng ra phân xử quyết định phải trái thì đó là tố tụng dân sự. Ngược lại nếu chính phủ đứng ra truy tố một bị can bằng cách phạt tiền, bỏ tù hay nặng nhất là kết án tử hình thì đó là thủ tục xử hình sự. Ngày nay để tránh việc ai cũng đem nhau ra tòa thưa kiện khiến tòa không đủ khả năng xử nổi tất cả mọi vụ nên lập pháp đã nghĩ ra nhiều luật để giải quyết mọi vụ thưa kiện. Bộ luật chính liên hệ đến tố tụng dân sự gọi là dân luật (civil procedure) dùng để điều hành và hướng dẫn thủ tục tố tụng từng buớc một từ đầu đến cuối.

Tuần tới chúng tôi tiếp tục phần tìm hiểu về chi tiết thủ tục xử kiện cùng giải thích tại sao chúng ta cần đến dân luật và luật tố tụng. Cũng như thường lệ, người viết xin xác nhận nội dung của những loạt bài tìm hiểu luật pháp này chỉ hoàn toàn được xử dụng với tính cách thông tin (information) để giúp quí độc giả một vài kiến thức tổng quát căn bản về luật pháp Hoa Kỳ mà thôi, và không thể coi như sự liên hệ của luật sư với thân chủ (attorney-client relationship). Do đó nếu có vấn đề liên hệ đến luật, quí độc giả vẫn cần phải thảo luận với một luật sư chuyên môn về trường hợp của quí vị.

Nếu cần tham khảo riêng xin liên lạc với LyLy Nguyễn, Esq. tại văn phòng chính ở địa chỉ 10221 Slater Avenue, Suite 216, Fountain Valley, CA 92708, Điện thoại: (714) 531-7080, website:lylylaw.com.

Thân Hữu Nguyễn Đình Phú

10583370-14P-NguyenDinhPhu.eps

Thủy Quân Lục Chiến Mỹ trở lại chiến trường Helmand, Afghanistan

HELMAND, Afghanistan (NV) – Các binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến Mỹ mới đây đã quay lại tỉnh Helmand, nơi được coi là cứ địa của thành phần Taliban ở Afghanistan, và từng xảy ra các trận đánh đẫm máu, để giúp huấn luyện lực lượng chính phủ, hiện đang gặp khó khăn đương cự với phiến quân.

Nhiều người trong số khoảng 300 binh sĩ TQLC trở lại Helmand từng phục vụ ở chiến trường này trước đây, nơi có chừng 1,000 lính đồng minh, phần lớn là Mỹ và Anh, thiệt mạng khi chiến đấu chống Taliban.

Khi TQLC Mỹ rút khỏi nơi này năm 2014 và chuyển giao căn cứ rộng lớn cho quân đội Afghanistan, họ không bao giờ nghĩ rằng sẽ quay trở lại.

Sự kiện họ phải quay trở lại cho thấy quân chính phủ Kabul đang gặp khó khăn và không thể tự chiến đấu một mình.

Đa số các quân nhân TQLC cho hay họ muốn trở lại nơi này vì muốn những gì họ từng đầu tư không bị lãng phí.

Nhiều nơi tại tỉnh Helmand hiện do phiến quân Taliban kiểm soát. Quân đội chính phủ Afghanistan tại đây gặp nhiều khó khăn vì khả năng lãnh đạo của cấp chỉ huy và cũng vì tệ trạng tham nhũng lính ma cùng là bán võ khí đạn dược cho địch quân.

Hồi Tháng Ba, tư lệnh quân đoàn 215 của quân đội chính phủ ở Helmand bị bắt, chỉ một năm sau khi ông được gửi tới để tiêu diệt tình trạng tham nhũng và chấn chỉnh kỷ luật ở đơn vị này. (V.Giang)

Thân Hữu Nguyễn Đình Phú

10583369-14P-NguyenDinhPhu.eps

Anh Võ Văn Truyện

10583469-14P-VoVanTruyen

Công hữu tư dụng đất đai

Chế độ sở hữu và cách thức quản lý đất đai luôn là mối bận tâm của mọi chính thể trên thế giới từ xưa đến nay. Luật lệ điền thổ ở Việt Nam thời phong kiến có thể nói khá hoàn chỉnh và đặc sắc, nhất là giai đoạn hậu Lê và Nguyễn. Nhìn chung, cho đến năm 1954 đất đai tại Việt Nam vừa thuộc tư hữu, vừa thuộc công hữu. Sở hữu tư nhân đối với đất đai là điều bình thường trong hệ thống pháp lý trên thế giới, Việt Nam cũng không là ngoại lệ.

Sơ lược lịch sử

Nhiều quy tắc luật pháp đời nhà Lê (thường được gọi chung là Luật Hồng Đức) về điền thổ đã để lại dấu ấn sâu đậm trong pháp chế sử Việt Nam đến mức dù năm tháng qua đi, các triều đại lần lượt thay đổi, sự áp dụng không còn mang tính ràng buộc trên phương diện pháp lý nữa, song chúng vẫn tiếp tục lưu truyền dưới dạng tập quán xã hội, được người dân viện dẫn một cách mặc nhiên trong các thỏa thuận hoặc giao dịch liên quan đến đất đai.

Dưới thời Pháp thuộc, chính quyền thuộc địa đã khảo cứu và áp dụng nhiều giải pháp khoa học vào việc quản lý điền thổ, giúp tạo nên sự ổn định xã hội và phát triển kinh tế trong thời gian dài. Một trong những thành tựu pháp lý đáng kể của các luật gia Pháp tại Việt Nam, bên cạnh các bộ dân luật Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ, chính là Sắc Lệnh Điền Thổ ngày 21 Tháng Bảy, 1925.

Tuy nhiên, mâu thuẫn kinh tế giữa địa chủ và nông dân luôn âm ỷ và không hóa giải được theo thời gian. Trong bộ sách đồ sộ Tư Bản Luận của mình, Karl Marx đã phát hiện và lý giải rằng mâu thuẫn đó chính là động lực chuyển hóa hình thái kinh tế-xã hội từ quân chủ phong kiến sang tư bản chủ nghĩa. Luôn xem chủ nghĩa Marx-Lenin là hệ tư tưởng của mình, đảng Cộng Sản Việt Nam đã lợi dụng mâu thuẫn giữa địa chủ và nông dân để thu hút và biến giới nông dân thành lực lượng cách mạng chủ yếu, dưới khẩu hiệu “người cày có ruộng” hoặc “ruộng đất cho dân cày,” nghe có vẻ như là lời kêu gọi giành lấy ruộng đất từ địa chủ để chia lại cho nông dân.

Sau Cách Mạng Tháng Tám, 1945, chính quyền của ông Hồ Chí Minh cũng duy trì hiệu lực của Sắc Lệnh Điền Thổ 1925 thêm một thời gian cho đến khi người cộng sản tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp vào cuối năm 1946. Tuy nhiên, sau Hiệp Định Genève 1954, một chính sách đất đai hoàn toàn mới dựa trên nền tảng của học thuyết kinh tế-chính trị Marx-Lenin dần hình thành và áp dụng từ năm 1955 ở miền Bắc và từ năm 1975 ở miền Nam.

Theo chính sách ấy, chế độ tư hữu đất đai hoàn toàn chấm dứt và thay vào đó là định chế “quyền sử dụng đất,” xuất phát từ khái niệm “sở hữu toàn dân.” Đây là một quan niệm kỳ lạ về quyền tài sản chỉ có ở các nước thuộc khối Liên Xô cũ, nay vẫn tồn tại ở Trung Quốc và Việt Nam.

Công hữu tư dụng

Điều 53 Hiến pháp 2013 của Việt Nam quy định rằng đất đai là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Trong số các loại tài sản công, đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, mà nhà nước có quyền thu hồi từ những tổ chức, cá nhân đang sử dụng nhằm mục đích phát triển kinh tế-xã hội, theo Điều 54 của Hiến Pháp 2013.

Có thể nói, sở hữu toàn dân là một quan niệm chính trị bay bổng về kinh tế của người cộng sản, nhưng được lồng ghép một cách cưỡng bức vào khung pháp lý thông thường về quyền sở hữu tài sản. Hậu quả ra sao có thể tạm ví von bằng hình ảnh cuộc giao hoan giữa thần tiên và người thường, nhưng tiếc thay lại sản sinh cho đời một quái vật, thay vì thánh nhân như mong đợi.

Đất đai là một thực thể pháp lý, còn ông chủ “toàn dân” trên giấy tờ của nó chưa bao giờ là một chủ thể pháp lý, xét cả về công pháp lẫn tư pháp. Vật sở hữu thì cụ thể, chủ sở hữu lại mơ hồ, thậm chí không tồn tại, nên sở hữu toàn dân thực chất chỉ là một hư quyền. Trong khi đó, bên đại diện của “toàn dân” là nhà nước, một thực thể chính trị và chủ thể công pháp hiện hữu cả trên thực tế lẫn pháp lý, bằng hệ thống chính quyền của mình. Do đó, nhà nước CHXHCN Việt Nam với thực quyền sở hữu đất đai nghiễm nhiên trở thành giai cấp đại địa chủ duy nhất và lớn nhất trên toàn lãnh thổ Việt Nam.

Theo định chế quyền sử dụng đất, người sử dụng được luật pháp công nhận đầy đủ các quyền tương tự quyền sở hữu các tài sản thông thường khác, bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt (chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế, v.v…). Tuy nhiên, sự định đoạt trong khuôn khổ quyền sử dụng đất không phải là một quyền trọn vẹn như bản chất pháp lý vốn có của nó, mà trái lại tùy thuộc vào quyết định tối hậu của nhà nước, người quản lý hiến định của toàn bộ đất đai trên lãnh thổ quốc gia.

Tuy nắm trong tay quyền sử dụng đất, người nông dân lại không toàn quyền định đoạt lợi ích từ mảnh đất của chính mình trên thực tế. Họ khác gì các tá điền thời phong kiến? Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, suy cho cùng chính là Tô Tá Khế, tức hợp đồng thuê đất canh tác dài hạn, mà tá điền phải ký kết với địa chủ và trả tiền thuê đất dưới hình thức địa tô (mà giờ đây trá hình dưới tên gọi “tiền sử dụng đất”).

Do vậy, có thể kết luận rằng tình trạng pháp lý của đất đai ở Việt Nam hiện nay là “công hữu tư dụng,” theo đó nhà nước nắm trong tay quyền sở hữu trên thực tế, còn nông dân chỉ được giao đất để sử dụng cho đến khi chính quyền địa phương quyết định thu hồi có bồi thường dưới danh nghĩa “vì mục đích phát triển kinh tế-xã hội.”

Hệ lụy của sở hữu toàn dân

Định chế quyền sử dụng đất buộc toàn bộ đất đai thuộc quyền tư hữu dưới các chính thể cũ phải đăng ký lại. Thủ tục đăng ký đó tuy nhiên vô cùng phức tạp, không những kém hiệu quả và thiếu ổn định, mà còn gây tốn kém về tiền bạc, thời gian và công sức cho người có quyền lợi liên quan. Ngoài ra còn phải kể đến cả sự nhiêu khê và nạn nhũng nhiễu khi người dân muốn chuyển nhượng đất.

Quan niệm về quyền sử dụng đất luôn giả định rằng việc sử dụng một mảnh đất nào đó là do nhà nước giao cho nhằm thực hiện một mục đích cụ thể, như canh tác nông nghiệp hay xây nhà xưởng. Hành động bán mảnh đất được hiểu là người sử dụng không còn nhu cầu sử dụng nữa, nên bước đầu tiên cần làm là trả lại mảnh đất đó cho nhà nước, để chính nhà nước giao lại quyền sử dụng đất cho người mua.

Như vậy, thay vì giao dịch mua bán được tiến hành trực tiếp giữa chủ đất và người mua, người ta phải thực hiện nhiều thủ tục vòng vo đầy phiền toái. Các dự án sản xuất công nghiệp hoặc kinh doanh địa ốc thậm chí còn nhiêu khê hơn nữa, vì bên mua còn phải tiến hành thêm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất, nếu mảnh đất trước đó dùng cho canh tác nông nghiệp.

Nghiêm trọng hơn là việc các quan chức địa phương nắm trong tay đặc quyền quy hoạch sử dụng đất, thường lạm dụng quyền hành cấp đất để ưu đãi các nhóm lợi ích và nhận hối lộ, trong khi việc bồi thường di dời cho nông dân lại không thỏa đáng. Điều đó ngày càng trầm trọng và đã tạo nên bất mãn xã hội ngày càng sâu rộng. Sự kiện Dương Nội, Tiên Lãng hay Đồng Tâm là những ví dụ không bao giờ kể hết về phong trào dân oan và xung đột đất đai khắp cả nước.

Giải pháp

Quyền tư hữu tài sản là một quyền pháp lý tự nhiên mà con người được hưởng theo luật tự nhiên (droit naturel). Luật tự nhiên là các quy luật mặc nhiên chi phối cuộc sống cá nhân và đời sống xã hội, mà từ khi hiện hữu con người đã phải chấp nhận và tuân hành. Muốn xã hội phát triển bình thường và ổn định, thì luật thực tại (droit positif), vốn là sản phẩm của tư duy con người, phải thuận theo lẽ trời đất, tức luật tự nhiên. Những hệ lụy của sở hữu toàn dân, một khái niệm thuần túy chính trị, như nêu trên đều bắt nguồn từ nguyên nhân sâu xa là luật thực tại trái với luật tự nhiên.

Trong nền kinh tế kế hoạch tập trung được xây dựng trên nền tảng lý luận Marx-Lenin, tư duy chính trị thắng thế nên sở hữu toàn dân đối với đất đai không tạo ra nhiều vấn đề nan giải cho xã hội, vì khi ấy nền kinh tế được hoạch định đơn giản và mọi bất đồng có thể giải tỏa bằng mệnh lệnh hành chính từ nhà nước.

Tuy nhiên, khi nền kinh tế được cải cách theo hướng thị trường, yếu tố thị trường ngày càng chi phối sự phát triển, thì tư duy pháp lý tất yếu trở nên thắng thế và đòi hỏi phải xem xét lại tính phù hợp của khái niệm sở hữu toàn dân đối với đất đai. Cưỡng lại yêu cầu này khiến động lực phát triển kinh tế bị triệt tiêu và ổn định xã hội bị đe dọa, như mọi người đều thấy rõ.

Do vậy, đã đến lúc phải từ bỏ khái niệm sở hữu toàn dân về đất đai lỗi thời, và chấp nhận sửa đổi Hiến pháp để tư hữu hóa các loại đất dùng vào mục đích dân sinh và kinh tế. Vấn đề cốt lõi ở đây vẫn là liệu nhà cầm quyền dám từ bỏ tư duy lỗi thời, không còn thích hợp nữa hay không. Nếu không xã hội sẽ ngày càng bất ổn thêm, mà điều đó thì hoàn toàn bất lợi cho chính đảng cầm quyền, chứ không ai khác.

Phạm Bình Minh đi Mỹ: Thành công hay thất bại?

Chuyến công du liên hoàn “Trung trước, Mỹ sau” của ông Phạm Bình Minh, phó thủ tướng kiêm ngoại trưởng, vào Tháng Tư năm nay rốt cuộc tiếp nhận được cái gì?

Hai “thành tích”

Tại Bắc Kinh, ông Minh có cuộc tiếp xúc với những nhân vật trong Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Nhưng cũng như kết quả chuyến công du của Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng đi Trung Quốc vào Tháng Giêng, hầu hết các trao đổi vẫn chỉ là lời nói xã giao “ấm tình đồng chí” nhưng không có giải pháp cụ thể nào, đặc biệt là giải pháp về tiền theo cách “hỗ trợ tín dụng để chế độ Việt Nam ổn định chính trị.”

Còn tại Washington, DC, ông Minh cũng được gặp những quan chức cấp cao, trong đó đặc biệt là ngoại trưởng và cố vấn an ninh quốc gia. Thành quả lớn nhất và có vẻ bất ngờ nhất là chính cố vấn an ninh quốc gia, chứ không phải giới ngoại giao của Mỹ, trao cho ông Minh bức thư của Tổng Thống Donald Trump mời Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc thăm Mỹ. Động thái này diễn ra ngay sau khi Phó Tổng Thống Mike Pence thông báo tại Indonesia rằng ông Trump sẽ dự hội nghị APEC tại Việt Nam vào Tháng Mười Một. Đó là một kết quả lớn mà theo một chuyên gia phân tích chính trị của Mỹ, điều này khiến giới lãnh đạo Việt Nam hưng phấn và hy vọng hẳn lên, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang phải chịu quá nhiều sức ép về quá nhiều phương diện từ kinh tế, quốc phòng và xã hội.

Một kết quả khác, tuy không được rõ nét như kết quả trên, nhưng cũng có thể được xem là “kết quả” trong chuyến đi của ông Minh: báo đảng Việt Nam tường thuật “Hoa Kỳ ủng hộ việc Việt Nam tiếp tục được hưởng các nguồn vốn vay ưu đãi IDA của Ngân Hàng Thế Giới (WB) phù hợp với điều kiện của Việt Nam trong giai đoạn tới cũng như các hoạt động hợp tác trong khuôn khổ APEC.”

Cần nhắc lại, IDA là một định chế tài chính của WB cho vay tín dụng lại suất ưu đãi dành cho các nước nghèo trên thế giới. Nhiều năm trước, trong khi luôn tìm nhiều cách để trưng bày thành tích “hóa rồng” và GDP lên đến 7-9% hàng năm cùng thu nhập đầu người lên đến vài ba ngàn đô la, giới lãnh đạo Việt Nam lại hành động ngược lại khi miệt mài xin tín dụng và viện trợ không hoàn lại. Lý lẽ đưa ra: Việt Nam là một quốc gia… vẫn còn nghèo.

Nhưng đến cuối năm 2015, với những thành tích tăng trưởng mà Việt Nam tự khoác lên mình, WB đã quyết định chấm dứt các chương trình cho vay ODA ưu đãi và bắt buộc Việt Nam phải tốt nghiệp IDA, nghĩa là sẽ phải vay tín dụng của WB với lãi suất cao hơn cùng thời gian ân hạn giảm đi. Đến lúc này, một hiện tượng lạ xảy ra: “Học sinh” Việt Nam tìm cách để được “lưu ban,” tức muốn được kéo dài thời gian vay ưu đãi IDA càng lâu càng tốt.

Tuy nhiên, đó là tất cả cho chuyến đi Mỹ của ông Phạm Bình Minh.

Sau tất cả, đã không có bất kỳ một hơi hướng hay manh mối nào về Hiệp Định Thương Mại Song Phương Việt-Mỹ (BTA).

BTA đâu rồi?

Sau chuyến đi Mỹ của ông Phạm Bình Minh, những tờ báo đảng tường thuật chi tiết nhất về những nội dung đã được mang ra bàn thảo Việt-Mỹ đã không một lời nhắc đến bản hiệp định mà giới lãnh đạo Việt Nam đang mong đợi, và hẳn là mong muốn hơn bao giờ hết.

Cần nhắc lại, chuyến công du Hoa Kỳ của ông Phạm Bình Minh được giới phân tích chính trị Hoa kỳ thông tin là một chuyến đi dọn đường cho cuộc thăm viếng Hoa Kỳ tiếp theo của Thủ Tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc.

Lại có nhiều dấu hiệu cho thấy nhu cầu và mối quan tâm đầu tiên và trên hết của Việt Nam vẫn là thương mại song phương với Hoa Kỳ, sau đó mới là những chủ đề về “xoay trục sang Châu Á – Thái Bình Dương” và “giao lưu” quân sự – quốc phòng Việt-Mỹ ở khu vực Biển Đông. Nhu cầu và mối quan tâm ấy ồn ã hẳn lên từ sau khi Hiệp Định Đối Tác Kinh Tế Xuyên Thái Bình Dương (TPP) hầu như tan vỡ kể từ Tháng Mười Một, 2016 – khi Tổng Thống Trump tuyên bố đoạn tuyệt với hiệp định này, cũng chấm dứt luôn công sức cùng hy vọng kéo dài suốt sáu năm đàm phán của Việt Nam.

Sau 15 năm thực hiện BTA mà đã khiến phi mã giá trị giao thương Việt-Mỹ đến hàng trăm lần, giờ đây, chính quyền của Tổng Thống Trump đang tiến hành rà soát lại toàn bộ BTA này. Việc rà soát này xuất phát từ lời lên án của ông Trump về 16 quốc gia có thương mại song phương “gây hại” cho kinh tế Hoa Kỳ, trong đó có Việt Nam.

Một hệ quả rất không mong đợi đối với Việt Nam là nếu Mỹ “siết” các điều kiện thương mại như đánh thuế xuyên biên giới, dựng đứng hàng rào kiểm nghiệm chất lượng đối với hàng hóa Việt Nam mà trước đó cá basa, tôm, gạo đã trở thành “nạn nhân,” đồng thời ngưng trệ BTA hoặc làm cho hiệp định này trở nên khó khăn hơn nhiều so với 15 năm trước đó, giá trị xuất siêu hàng năm của Việt Nam vào Hoa Kỳ sẽ tụt hẳn.

Trong khi đó, một nguồn “ngoại lực” khác là kiều hối về Việt Nam cũng đang sụt mạnh đến hơn $4 tỷ trong năm 2016 so với năm 2015, báo hiệu một chu kỳ khó tránh thoát về suy giảm tình cảm của “kiều bào ta” đối với chế độ cầm quyền, càng khiến chân đứng của chế độ này dễ bị vỡ vụn hơn bao giờ hết.

Nhưng muốn có được BTA lại không hề dễ dàng. Một BTA với Việt Nam được không chỉ do hành pháp mà còn là do Quốc Hội Hoa Kỳ quyết định.

Còn nhớ vào năm 2015, chỉ riêng định chế quyền đàm phán nhanh (TPA) nằm trong TPP mà chính quyền của Tổng Thống Barack Obama đã phải trình ra hai viện của Quốc Hội Mỹ và đã phải bỏ phiếu đến nghẹt thở 3-4 lần mới thông qua được. Còn nay, trong bối cảnh hàng hóa nước ngoài đang có xu thế tràn ngập nước Mỹ và khiến sụt giảm giá trị xuất siêu của Mỹ, đồng thời làm tăng tỷ lệ thất nghiệp tại nước này, chắc hẳn ông Trump sẽ không thể nhiệt tình đối với BTA cho Việt Nam mà không có những điều kiện đặc biệt kèm theo. Lối suy nghĩ và cách thức hành xử của ông Trump chắc chắn sẽ ảnh hưởng tới nhiều thượng nghị sĩ đảng Cộng Hòa và cả đảng Dân Chủ trong Quốc Hội Mỹ khi nhìn thấy bản dự thảo BTA trước mặt.

Trong lúc đó, nhóm dân biểu quan tâm đến Việt Nam trong nhóm Vietnam Caucus đang trở nên hùng mạnh và ngày càng có tiếng nói mạnh mẽ trong Quốc Hội Hoa Kỳ. Dân Biểu Alan Lowenthal (Dân Chủ-California) là một trong những nhân vật như vậy. Vào đầu Tháng Tư, sau việc phía Việt Nam nêu ra một lời đánh tiếng để Thủ Tướng Phúc “sẵn sàng đi thăm Mỹ,” ông Lowenthal đã nói thẳng với Đài Á Châu Tự Do: “Tôi khẳng định với ngài đại sứ (Ted Osius) rằng Việt Nam muốn tăng cường mối quan hệ thương mại và ký kết BTA thì phải trả tự do cho tất cả tù nhân lương tâm. Nếu họ không làm thế thì không thể có BTA. Tùy thuộc vào chính phủ Việt Nam thôi! Đây là thông điệp của tôi chuyển đến chính phủ Việt Nam.”

Thế nhưng giới lãnh đạo Việt Nam có làm gì để cải thiện nhân quyền?

Còn EVFTA?

Cho tới nay, vẫn chưa hiện ra bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy giới lãnh đạo Việt Nam chịu nhân nhượng bất kỳ nội dung nào trong “gói cải thiện nhân quyền” mà người Mỹ, một lần nữa trong không biết bao nhiêu lần, đặt lại. Thậm chí Luật Về Hội và Luật Biểu Tình – những quyền căn bản quá thiết thân của người dân mà Hiến Pháp Việt Nam từ năm 1992 hứa hẹn nhưng đã bị giới lãnh đạo Việt Nam nuốt lời suốt một phần tư thế kỷ qua, vào Tháng Tư năm nay bị Bộ Công An, chính phủ của ông Nguyễn Xuân Phúc, cùng Quốc Hội của bà Nguyễn Thị Kim Ngân rút khỏi chương trình bỏ phiếu thông qua luật năm 2017 và cả năm 2018.

Hãy đề cập đôi chút về chuyến công du ba nước Châu Âu là Thụy Điển, Hungary, và Czech của Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân vào Tháng Tư năm nay.

Chuyến đi mang một mục đích đặc biệt là “thúc đẩy quốc hội ba nước ủng hộ việc ký chính thức, phê chuẩn Hiệp Định Thương Mại Tự Do Việt Nam-EU (EVFTA).”

Đáng lý ra, trách nhiệm vận động các nước thành viên thông qua EVFTA là của Nghị Viện Châu Âu. Nhưng hẳn do tình thế đã biến diễn như thể “nước đã đến chân,” giới chóp bu Việt Nam không thể ngồi rung đùi chờ đợi Châu Âu thông qua EVFTA như cách người Mỹ đã mang BTA đến tận miệng cho Việt Nam 16 năm trước, hay Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (WTO) đặc cách xét cho Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức này vào năm 2007. Mọi chuyện đã trở nên khó khăn hơn rất nhiều, đặc biệt sau khi TPP hầu như tan vỡ.

Một cách nào đó, chủ tịch quốc hội Việt Nam đã làm thay công việc vận động của Nghị Viện Châu Âu. Cũng có thể hiểu một cách nào đó, Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng phải làm mọi cách để tìm ra một hiệp định thương mại thay thế cho TPP chết yểu, cũng là cách để ông có được thành tích mang lợi ích kinh tế về cho đảng và do đó sẽ kéo dài tuổi thọ tổng bí thư của ông. Rất có thể đó là lý do chính yếu mà ông Trọng “đẩy” bà Ngân đi Châu Âu vận động EVFTA với tư cách “kênh quốc hội,” bất chấp chính thể Việt Nam vẫn hoàn toàn không quan tâm và càng không hề tôn trọng nhân quyền theo yêu cầu của EU.

Nhưng khác hẳn với quan điểm nhẹ nhàng những năm trước về nhân quyền Việt Nam, từ sau khi bị một số tổ chức nhân quyền quốc tế thẳng thắn phê phán, EU bắt đầu chuyển sang thái độ mạnh mẽ hơn trong việc đòi hỏi chính quyền Việt Nam phải cải thiện nhân quyền. EVFTA chính là một bằng chứng khi hiệp định này lần đầu tiên đã gắn điều kiện Việt Nam phải cải thiện nhân quyền với lộ trình triển khai các điều ước thương mại.

Kết quả đáng thất vọng đối với phái đoàn của bà Nguyễn Thị Kim Ngân là sau các cuộc làm việc ở Châu Âu, không có bất cứ một khoản viện trợ không hoàn lại nào được phía chủ nhà thông báo dành cho Việt Nam. Ngay cả Thụy Điển – vốn được Việt Nam hy vọng nhất về “tình cảm rất đặc biệt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ” – cũng không còn tỏ ra hào phóng như thường biếu một số tiền viện trợ không hoàn lại vào những lần giới lãnh đạo Việt Nam thăm Thụy Điển những năm trước. Thậm chí, lãnh đạo Quốc Hội Thụy Điển cũng không hứa hẹn bất kỳ điều gì liên quan đến viện trợ không hoàn lại trong thời gian tới cho Việt Nam. Hẳn quốc gia này vẫn chưa thể quên việc họ đã bắt buộc phải ngừng vô thời hạn các khoản viện trợ ODA cho Việt Nam vào năm 2013 sau khi phát hiện hàng loạt gian dối của quan chức Việt. Sau đó cả Bộ Ngoại Giao Úc và vài quốc gia khác cũng bắt đầu cắt giảm viện trợ.

Trong khi không nhận được khoản viện trợ nào, đoàn “quốc tế vận” của bà Kim Ngân cũng không có được văn bản cam kết nào của quốc hội ba quốc gia này là “sẽ thúc đẩy để Liên Âu sớm phê chuẩn EVFTA.” Tất cả chỉ là nói miệng theo lối xã giao mà chẳng có gì chắc chắn!

Muốn EVFTA được thông qua, phải có sự thống nhất của quốc hội thuộc 27 nước thành viên. Sự đồng thuận giữa các nước EU lại tương đối cao về vấn đề nhân quyền. Chỉ cần vài nước không thông qua thì EVFTA sẽ bị khựng lại.

Cho tới Tháng Tư, Việt Nam vẫn chưa có được manh mối đáng hy vọng nào cho cả EVFTA lẫn BTA. Tương lai gần rất dễ nhận ra là nếu không có những cải thiện đáng kể nào về nhân quyền từ giới lãnh đạo Việt Nam, chuyến đi Mỹ sắp tới của Thủ Tướng Phúc sẽ trở nên công cốc.

Nam Hàn: Mỹ xác nhận sẽ trả chi phí hệ thống THAAD

SEOUL, Nam Hàn (NV) – Chính phủ Nam Hàn cho hay phía Mỹ khẳng định rằng sẽ trả chi phí bố trí hệ thống phòng thủ chống hỏa tiễn THAAD, chỉ ít ngày sau khi Tổng Thống Donald Trump nói rằng Seoul phải trả số tiền $1 tỷ cho hệ thống bảo vệ Nam Hàn chống hỏa tiễn từ Bắc Hàn.

Trong cuộc điện đàm hôm Chủ Nhật, ông H.R. McMaster, cố vấn an ninh Tòa Bạch Ốc, khẳng định với ông Kim Kwan Jin, nhân vật đồng trách vụ phía Nam Hàn, rằng mối quan hệ đồng minh với Nam Hàn là ưu tiên hàng đầu của Mỹ ở vùng Á Châu-Thái Bình Dương, theo văn phòng tổng thống Nam Hàn.

Cuộc thảo luận diễn ra tiếp theo sau một vụ phóng hỏa tiễn mới của Bắc Hàn hôm Thứ Bảy, vốn theo Washington và Seoul là không thành công, nhưng cũng bị thế giới lên án.

Tổng Thống Donald Trump, khi được hỏi là có bình luận gì về việc Bình Nhưỡng phóng hỏa tiễn, cho biết là “rồi sẽ biết,” nhưng không cho biết chi tiết nào khác.

Trong cuộc phỏng vấn dành cho Reuters hôm Thứ Năm, ông Trump nói ông muốn Seoul trả tiền cho hệ thống THAAD.

Hôm sau đó, phía Nam Hàn đáp trả rằng Washington phải trả số tiền đó, theo như thỏa thuận đã có từ trước.

Trong một hình thức biểu dương lực lượng khác, hải đội Mỹ do hàng không mẫu hạm USS Carl Vinson chỉ huy khi đến vùng biển gần bán đảo Triều Tiên đã có cuộc tập trận với Hải Quân Nam Hàn vào chiều tối ngày Thứ Bảy.

Chiếc Carl Vinson trước đó cũng có cuộc thao dượt với Hải Quân Nhật. (V.Giang)

Garden Grove dự trù có Đài Tưởng Niệm Tháng Tư Đen

GARDEN GROVE, California (NV) – Nhân dịp tưởng niệm ngày 30 Tháng Tư năm nay, ông Phát Bùi, phó thị trưởng Garden Grove kiêm chủ tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Nam California, công bố dự án Đài Tưởng Niệm Tháng Tư Đen mà ông cho biết ông là tác giả. Dự án sẽ không dùng đến ngân sách của thành phố.

Cũng theo ông ủy ban xây dựng tượng đài gồm có hai tổ chức bất vụ lợi và đều đặt văn phòng ở Garden Grove. Đó là Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Nam California và Tập Thể Chiến Sĩ Miền Tây Nam Hoa Kỳ. Ngoài ra, còn có sự tham gia của Vietnam Veterans of America – Chapter 785, một tổ chức cựu chiến binh Hoa Kỳ từng tham chiến ở Việt Nam.

Mục đích

Về mục đı́ch của dự án, ông nói: “Chúng tôi đề nghị dự án này để tưởng nhớ biến cố Tháng Tư Đen, và để tưởng nhớ đến những thảm trạng từ Tháng Ba gẫy súng cho đến hậu 30 Tháng Tư. Hàng triệu người liều chết bỏ nước ra đi, hàng trăm ngàn người bỏ mı̀nh trong rừng sâu biển cả, vài trăm ngàn quân nhân bị cầm tù, nhiều người chết trong trại tù cải tạo…”

“Và cũng để ghi ơn sự chiến đấu anh dũng của hơn một triệu quân nhân VNCH và nửa triệu quân đội đồng minh từ 1954 đến 1975 qua các trận Hamburger Hills, Mậu Thân, Quảng Trị, Mùa Hè Đỏ Lửa, Đại Lộ Kinh Hoàng, An Lộc, v.v…” ông nói thêm.

Ông Phát Bùi và mô hình đài tưởng niệm. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)
Ông Phát Bùi và mô hình đài tưởng niệm. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)

Đài Tưởng Niệm Tháng Tư Đen khác Tượng Đài Chiến Sĩ Việt-Mỹ

Vị phó thị trưởng giải thích: “Tượng Đài Chiến Sĩ Việt-Mỹ tại Westminster là để ghi ơn các chiến sı̃ Hoa Kỳ và Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà. Trọng tâm của tượng đài này là người lính Hoa Kỳ và người lính VNCH.”

“Trong khi đó, Đài Tưởng Niệm Tháng Tư Đen tưởng nhớ đến thảm trạng của người Việt tị nạn Cộng Sản. Trọng tâm của đài tưởng niệm này là khối người Việt tị nạn khắp nơi trên thế giới. Lịch sử người Việt tị nạn Cộng Sản bắt đầu từ cuộc chiến Việt Nam; và Tháng Tư Đen là khởi điểm của người Việt tị nạn trên thế giới. Vı̀ thế, một số những nét tiêu biểu của chiến tranh Việt Nam được ghi lại trên các tường đá cẩm thạch mầu đen,” ông nói thêm.

Dự án và kiến trúc

Ông Phát kể rằng dự án Đài Tưởng Niệm Tháng Tư Đen được đưa ông đệ trı̀nh lên hội đồng thành phố vào buổi họp ngày 25 Tháng Mười, 2016, nhưng hội đồng đồng ý để sau cuộc bầu cử Tháng Mười Một, tân hội đồng thành phố sẽ quyết định về bản dự thảo, và đề nghị ủy ban xây dựng làm việc với nhân viên để kiện toàn dự án trước khi đệ trı̀nh cho thành phố.

Nghị Viên Thu-Hà Nguyễn, Garden Grove, nói với nhật báo Người Việt rằng: “Tại thời điểm của buổi họp ấy, một số nghị viên không muốn bỏ phiếu, vì nghĩ rằng không công bằng cho những nghị viên được đắc cử sau. Vì thế, hội đồng lúc ấy quyết định chờ sau ngày bầu cử rồi sẽ tính.”

Mô hình bức tường bên trái, mặt ngoài. (Hình: Nghị Viên Phát Bùi cung cấp)
Mô hình bức tường bên trái, mặt ngoài. (Hình: Phát Bùi cung cấp)

Ông Phát nói thêm về đài tưởng niệm: “Nói đến biến cố Tháng Tư Đen, điều nổi bật và là điển hı̀nh bi thảm cho các gia đı̀nh của người Việt quốc gia là sự tuẫn tiết của năm vị tướng VNCH, thà chết không đầu hàng giặc, và tuẫn tiết để tạ lỗi với quân dân. Vı̀ lý do đó, trọng tâm của Đài Tưởng Niệm Tháng Tư Đen là hı̀nh tượng nổi của năm người này trên bức tường đá cẩm thạch đen, dài 40 ft, cao 10 ft.”

“Điểm cao nhất của đài tưởng niệm là cây đuốc cao 20 ft với ngọn lửa thiêng (eternal flame). Bên trái của năm vị tướng là các chi tiết lịch sử về ‘Tháng Ba Gẫy Súng’ và ‘Tháng Tư Đen’ cùng với danh sách tiêu biểu của những anh hùng tử sı̃ đã hy sinh trong Tháng Tư Đen. Phần chı́nh là 45 tướng lãnh và binh sı̃ chiến đấu trong ngày cuối cùng và tuẫn tiết theo mệnh nước. Bên phải của năm vị tướng là chi tiết các trại tù cải tạo mà gần 400,000 chiến sı̃ VNCH bị cầm tù trong nhiều năm tháng,” ông nói.

Mô hình bức tường bên phải, mặt trong. (Hình: Nghị Viên Phát Bùi cung cấp)
Mô hình bức tường bên phải, mặt trong. (Hình: Phát Bùi cung cấp)

Ông cho biết chi tiết về bức tường đen bên trái, mặt trong ghi lại các đơn vị quân lực VNCH và đồng minh chiến đấu cho miền Nam Việt Nam. Danh vị 43 cư dân thành phố Garden Grove và cũng là các chiến binh Hoa Kỳ tử trận tại Việt Nam cũng như thống kê các binh sı̃ Hoa Kỳ và VNCH tử trận mỗi năm từ 1960 đến 1975. Mặt ngoài ghi lại các chiến trận lớn trong chiến tranh Việt Nam.

Bức tường đen bên phải, mặt trong, cũng theo lời kể, ghi lại cuộc tị nạn vı̃ đại của thuyền nhân (Boat People) từ năm 1978 đến 1985, cùng bản đồ và danh sách các trại tị nạn tại Đông Nam Á. Mặt ngoài ghi lại chi tiết ba đợt tị nạn chı́nh, gồm “Di tản Freequent Wind -1975,” “Thuyền Nhân, H.O.,” và “Những Người Bị Bỏ Quên (The Forgotten Ones).”

Một kiosk ngoài trời, với màn ảnh lớn và Internet, sẽ được trang bị để người dân có thể tı̀m hiểu thêm nhiều dữ kiện về Tháng Tư Đen, chiến tranh Việt Nam, tiểu sử các vị tướng tuẫn tiết, thảm cảnh người Việt tị nạn, v.v…

Ông cho biết nguồn điện cho đài tưởng niệm sẽ được cung cấp bằng năng lượng mặt trời.

“Công Ty Southwest Sun Solar hứa bảo trợ $20,000 cho chi phı́ thiết kế hệ thống điện Solar Power. Ngòai ra, để bảo vệ cho đài tưởng niệm, một hệ thống máy ảnh ‘video security monitoring’ sẽ được trang bị để theo dõi và bảo vệ suốt 24 tiếng ngày và đêm,” ông Phát nói.

Chi phí

“Dự trù cho công trı̀nh kiến trúc và xây dựng, chúng tôi tính vào khoảng $500,000 cho tới $600,000 (tuỳ theo vật liệu). Chúng tôi cũng dự trù một quỹ dự trữ (Reserved Trust Funds) dành cho các sửa chữa lớn, thı́ dụ như sửa chữa các hệ thống điện solar mỗi 20 năm. Tiền lời của quỹ này sẽ được sử dụng cho chi phı́ tu bổ nhẹ hàng năm… như sơn phết, rửa và đánh bóng đá cẩm thạch, thay bóng đèn, bảo trı̀ kiosk, v.v…” ông giải thích.

Thực hiện

Công trình thực hiện sẽ trải qua nhiều giai đoạn, như lãnh hội ý kiến của cộng đồng, thiết kế và lên kế hoạch, cơ quan trách nhiệm duyệt, và đưa ra trước hội đồng thành phố để chuẩn thuận. Hiện nay, theo dự trù, dự án sẽ có giấy phép vào đầu năm 2018.

“Chúng tôi sẽ có một ủy ban chịu trách nhiệm giám sát, gây quỹ, xin giấy phép, và khởi công. Mọi chi thu về tài chánh sẽ được công khai và minh bạch. Tôi kêu gọi đồng hương hợp tác và đóng góp những ý kiến xây dựng, để con cháu chúng ta và mọi người có được một nơi xứng đáng để tưởng nhớ lịch sử oai hùng và hãnh diện của người Việt Nam ở hải ngoại,” phó thị trưởng Garden Grove kêu gọi.

Mọi chi tiết, liên lạc ông Phát Bùi qua email: [email protected].

Liên lạc tác giả: [email protected]

Đứng Thẳng Làm Người (Kỳ 146)

1,474 ngày trong nhà tù Cộng Sản Việt Nam

-Tôi nhớ là có văn bản mà. Tôi cam đoan với chị Tần là có văn bản. -Đặng Minh Quang nói.

-Tôi không tin, nói có sách, mách có chứng, có thì đưa ra. Cộng Sản dối trá, lừa gạt qua nhiều rồi, nói suông với tôi là không được. -Tôi nói.

-Tôi sẽ tìm văn bản đưa chị xem. -Đặng Minh Quang nói.

-Bao giờ cán bộ Quang sẽ đưa, cho tôi ngày giờ cụ thể? Tôi không chờ dây dưa ngày này sang ngày khác. Khi nào người nhà tôi đến đây thăm gặp tôi sẽ bảo người nhà tôi làm đơn kiện. -Tôi nói.

-Tuần sau đi chị Tần. -Đặng Minh Quang nói.

Tôi thấy rõ ràng hắn ta có ý định hẹn lần hẹn lửa chớ không có ý thành thật. Tôi truy tới nơi tới chốn luôn:

-Tuần sau cụ thể là ngày nào, giờ nào, cán bộ nói rõ ràng đi.

Hắn ra vẻ suy nghĩ, chậm rãi nói:

-Hôm nay cuối tuần rồi, mai mốt tôi nghỉ, Thứ Hai chào cờ, sinh hoạt tập thể, Thứ Ba (bla… bla…), Thứ Tư (bla… bla…), thôi Thứ Năm đi, chiều Thứ Năm, cũng giờ này.

-Tôi nhất trí, tôi sẵn sàng chờ cán bộ đến thời gian đó. Nếu không thì đừng trách sao tôi không nói trước. -Tôi nói.

Đặng Minh Quang đứng dậy, nói:

-Thôi chị vào đi, tôi đi công việc.

Nói xong, Quang đứng dậy đi. Tôi cũng đứng dậy đi qua phòng bệnh chị Mai Thị Dung kể cho chị Dung nghe diễn biến chuyện tôi đấu khẩu với Đặng Minh Quang. Chúng tôi đồng ý cho hay không là chuyện của chúng nó, đòi là chuyện của mình, bắt buộc nó phải trả lời, nếu nó không cho mình gọi điện thoại là chúng nó tự lột mặt nạ chúng nó. Ở trong tù này phải xác định rõ mỗi ngày là một cuộc chiến đấu, nếu ta không chiến đấu chúng sẽ được nước làm tới, càng ngày càng áp chế ta nhiều hơn, đó là thủ đoạn cũ mèm của chúng từ xưa đến nay như vậy rồi.

Tôi hỏi chị Dung tháng này gia đình chị thăm gặp chưa? Chị nói chưa. Tôi bèn dặn chị gặp chồng là anh Võ Văn Bửu nói với anh Bửu gọi điện thoại cho con Tú em tôi kêu nó mua cho tôi những thứ này, thứ này để tôi xài hằng ngày. Khi tôi sắp thăm gặp thì cũng cho chị Dung hay để chị Dung cần xài cái gì nói với con Tú nó nói lại với anh Bửu. Phải như vậy mới được, chớ chờ gia đình mình vô gặp mới nói, rồi đến tháng sau mới đem vô, thì một món đồ cần xài phải chờ đến hai tháng trời mới có. Chỉ có chị Dung tuy là bịnh tật trầm trọng, sức khỏe yếu đi phải có người dìu, nhưng lại là người tinh thần mạnh mẽ, nhờ cậy giúp đỡ lẫn nhau được mà thôi. Tôi không có quần áo dài, chị Dung tìm trong số đồ cũ của chị cho tôi một bộ màu nâu bông trắng đã cũ. Bộ đồ này không có giá trị tiền bạc, nhưng sau này tôi vẫn đem theo khi bay snag Mỹ, để kỷ niệm tình cảm của người bạn tù bất khuất Mai Thị Dung.

Qua đến đầu tuần sau thì bọn công an trại giam chuyển tôi xuống đất khu phía sau phòng giam của đội 2, ở chung với chị Dương Thị Tròn và chuyển chị Trần Thị Thúy ngược lên phòng giam cũ của tôi. Lần này, bọn chúng rút kinh nghiệm khi dẫn tôi xuống phòng dưới thì cho con Thùy đi theo chỉ chỗ tôi nằm đối diện cửa ra vào phòng giam, cách vách tường phía trên ba người và đúng hai mét vuông hẳn hoi. Đây thuộc loại chỗ VIP trong phòng giam, không quá gần ti vi đỡ ồn ào, cũng không quá xa để không nghe thấy tiếng, ban ngày gió từ ngoài cửa chính thổi vô mát hơn các vị trí khác. Biết điều như vậy đỡ phải nghe chửi.

Cái phòng này nhốt chung hơn bốn mươi nữ tù nhân. Tuy nhiên, ban ngày thì mọi người đi cải tạo hết, còn lại có mỗi mình tôi, chị Dương Thị Tròn và chị Hoa (Hoa mi nơ, dân quận 4 bán ma túy chuyên nghiệp ở Sài Gòn) làm trực sinh.

Ngày đầu tiên tôi mới vô phòng này, con Nguyễn Thị Quý quê Quảng Nam là đứa “hai phai” giả nam đến cà khịa với tôi. Nó cứ hạch sách rằng tại sao ai cũng nằm có ba viên gạch (sáu tấc) mà tôi đến năm viên, quá bức xúc. Tôi trả lời nó đây là quy định chung như vậy, muốn đòi thì ra gặp công an mà đòi, tôi không giải quyết được cho nó. Nó cứ đứng đó cù nhây cù nhằng, tôi không thèm nói gì tơi nó, lo lau dọn chỗ nằm chỗ nằm của mình cho sạch sẽ để tối còn ngủ.

Một chị khoảng hơn năm mươi cũng dân “hai-phai,” tướng tá cao lớn, nghe ai cũng kêu là “cậu Hậu” (sau này tôi biết chị tên Nguyễn Thị Hậu nhà ở quận 4) chạy lại kéo Nguyễn Thị Quý đi chỗ khác. Qua hôm sau, chị Hậu nói nhỏ với tôi:

-Con Quý này nó muốn gây chuyện đó, ở đây nó sợ có mỗi mình tui thôi vì nó đánh không lại tui. Ra ngoài đội nó muốn chửi ai con đĩ là nó chửi, không ai dám nói gì nó hết. Nó đang nuôi con bồ mới của nó ở đây tên Út, tiền bạc dư dã phong bì cho cán bộ. Nó can tội giết người, án hai chục năm, mới vừa vô xét giảm đó. Hồi trước nó ghen chém con bồ nó chết.

-Cám ơn cậu, em hổng có sợ nó đâu. Nó muốn chơi em chiều. -Tôi nói.

(Còn tiếp)

Tin mới cập nhật