Thu giữ hàng chục ngàn áo ngực ‘made in China’


VIỆT NAM (NV) –
Hàng triệu phụ nữ Việt Nam đang xài loại áo ngực rẻ tiền của Trung Quốc tiếp tục hoang mang vì thông tin dồn dập cho thấy “chất lạ” độn trong áo là loại hóa chất có thể gây ung thư.










Chất lạ trong áo ngực phụ nữ bị tịch thu vì nghi gây ung thư. (Hình: Internet)


Báo mạng VTC News mới đây tiết lộ tin cho biết, các viên thuốc và loại nước lỏng đặt bên trong hàng trăm ngàn chiếc áo nịt ngực phụ nữ nhập cảng từ Trung Quốc là một loại “dầu khoáng,” được gọi là “mineral oil.”


Một trong các nhà sản xuất sản phẩm này, công ty Zhaoqing Elerf, tọa lạc tại tỉnh Quảng Ðông, Trung Quốc chính thức xác nhận rằng chất lỏng đó là “dầu khoáng,” được chứa trong một cái túi nhựa dẻo TPU “chất lượng cao.” Nguồn tin này còn nói các hạt nhỏ bên trong là “hạt trai nhân tạo đã được hoạt hóa, giúp máu ở ngực chạy đều.”


Nhà sản xuất Trung Quốc còn khẳng định rằng những hạt và dung dịch này không độc, cũng không làm hại da của người sử dụng. Mặt khác, theo họ, hai loại hóa chất này giúp khử mùi hôi, diệt khuẩn… và còn có tác dụng “tăng kích thước vòng một” của quý bà.


Tuy nhiên, theo VTC News, dầu khoáng là loại dung dịch không màu, không mùi, một loại phụ phẩm của dầu mỏ được tổ chức Y Tế Thế Giới đưa vào danh sách các chất gây ung thư. VTC News còn nói, không thể coi các loại hóa chất như thế là vô hại đối với sức khỏe con người.


Trong khi hàng triệu quý bà ở Việt Nam có sử dụng áo ngực Trung Quốc đang hoang mang, việc xác định lợi hay hại của loại áo ngực có chứa dung dịch và loại hạt “lạ” nói trên vẫn chưa đi tới đâu. Ông Hoàng Ðại Nghĩa, đội trưởng đội Chống Hàng Giả thuộc Chi Cục Quản Lý Thị Trường Hà Nội cho biết đã gửi “chất lạ” đến Viện Khoa Học Kỹ Thuật Hình Sự của Bộ Công An để thẩm định rằng “hại hay không hại,” chứ chưa nói đến việc “lợi hay không lợi.” Ông phó viện trưởng viện này hứa hẹn sẽ cho biết kết quả rõ ràng trong vài ngày tới.


Làn sóng hoang mang vì tin đồn áo ngực gây ung thư từ Trung Quốc tràn về làm sôi động thị trường suốt mấy ngày qua. “Chất lạ” trong áo ngực của quý bà được phát giác đầu tiên tại Ðà Nẵng khiến quý bà đua nhau “rạch áo” để tìm chất lạ gây ung thư. Con sóng hoảng loạn sau đó lan đến Hà Nội, ở các chợ Ngã Tư Sở, Hà Ðông, Thành Công… xuống dần các thành phố Cần Thơ, tỉnh lỵ Thanh Hóa…


Nhiều lời tố cáo ly kỳ diễn ra chung quanh chiếc áo ngực phụ nữ khắp Việt Nam trong tuần lễ qua. Có người cho biết còn tìm ra nhiều cục sắt màu đen, nhỏ, có sức hút như nam châm rất kỳ lạ trong áo ngực của mình.


Hôm 30 tháng 10 vừa qua, Chi Cục Quản Lý Thị Trường Sài Gòn mở cuộc bố ráp và tịch thu 11,000 chiếc áo nịt ngực Trung Quốc tại các chợ An Ðông, Bình Tây, Tân Bình…


Sáng sớm ngày 6 tháng 11, Quản Lý Thị Trường Hà Nội phục kích bắt được hai chiếc xe vận tải chở đầy áo ngực phụ nữ cũng của Trung Quốc sản xuất đang chuẩn bị nhập kho ở khu vực chợ Ninh Hiệp, huyện Gia Lâm, Hà Nội.


Hơn 60 bao đựng toàn áo nịt ngực phụ nữ bị tịch thu vì chủ hàng không xuất trình được giấy tờ cho biết nguồn gốc lô hàng đang gây chấn động dư luận. (PL)

Cóp bài không được, đánh bạn dập mũi


LÀO CAI (NV) –
Những cú đá “song phi,” túm tóc, tát tai bạn học cùng lớp của hai nữ sinh một trường trung học được tung lên mạng như một lời thách thức đã làm bàng hoàng các nhà đạo đức và xã hội học ở Việt Nam.










Hình ảnh hai cô đánh một cô vì không cho “cóp” bài được tung lên Youtue. (Hình: báo Lao Ðộng)


Hình ảnh này cho thấy, bạo lực học đường không chỉ diễn ra thường xuyên tại các trường trung học Việt Nam, mà còn bộc lộ tính chất thô bạo, dã man hơn người ta tưởng.


Vụ tung chiêu độc để hạ gục bạn học cùng lớp của hai nữ sinh trường nữ trung học Lào Cai số 2 được tung lên Youtube hôm 2 tháng 11 dài khoảng 2 phút. Các cô này đều còn đang ở trong lớp, mặc nguyên bộ đồng phục của trường. Cô nữ sinh nạn nhân bị hai cô kia đấm đá vào đầu, vào mặt, vào mông… túi bụi kèm với những lời chửi bới thô tục, nặng nề.


Theo báo Lào Cai online, điều đáng báo động là cuộc đánh nhau diễn ra trước mắt một đám đông học sinh của trường nhưng tất cả đều “bình chân như vại.” Không ai can thiệp, cản ngăn. Thay vào đó, họ còn cổ vũ, hô hào để kích động hai bạn kia “đánh bạo hơn, đá mạnh hơn” cô bạn học của mình vì đã có hành động “làm cho chúng ghét.”


Cũng may, khi cô gái nạn nhân vùng chạy ra khỏi lớp thì hai cô kia không thèm rượt theo, coi như “bao nhiêu đó cũng đủ để răn đe rồi.”


Theo báo Lào Cai, cô học sinh bị bạn học hành hung vì không cho bạn “cọp” bài trong lớp. Ông hiệu trưởng trường trung học Lào Cai số 2 xác nhận đó là các nữ sinh lớp 10A4 của trường ông.


Cuộc điều tra diễn ra sau đó nói rằng vụ hai cô đánh một cô một cách dã man, không thương tiếc diễn ra chiều ngày 2 tháng 11, trong giờ làm bài kiểm tra môn văn. Nạn nhân là cô Chấu Thị Th. ngồi ở bàn trên còn hai nữ sinh kia tên Vũ Thị Vân A. và Phạm Thị Huyền T. ngồi ở bàn dưới.


Hai cô Vân A. và Huyền T. nói nhỏ, bảo Th. để lộ bài làm cho cả hai “cóp.” Th. không làm theo và không ngờ đến cuối giờ học, bị Vân A. và Huyền T. nhảy xổ đến túm tóc, đấm đá túi bụi trước mặt của hàng chục học sinh khác trong lớp học. Trận đánh “hội đồng” khiến Th. bị bể mũi, máu tuôn xối xả.


Cuộc điều tra của trường trung học Lào Cai số 2 còn tiết lộ tên tuổi của cô học sinh cùng lớp của nạn nhân, người đã quay phim và sau đó tung lên Youtube cho mọi người xem và để “ai muốn nghĩ sao thì nghĩ.” Cô học sinh này dĩ nhiên cũng bị phạt về tội “đưa phim xấu lên mạng làm ô nhục thanh danh của nữ sinh trường Lào Cai số 2.” (PL)

Hàng trăm tài xế taxi ở Nha Trang đình công, đòi lương


VIỆT NAM (NV) –
Sắp đến cuối năm mà lương lại “chập chờn,” khoảng 300 tài xế taxi Mai Linh chi nhánh Nha Trang đồng loạt bãi công sáng ngày 6 tháng 11.









Tài xế taxi Mai Linh đậu xe dài dài trước công trường để tham dự cuộc bãi công đòi lương. (Hình: báo Lao Ðộng)


Theo báo Lao Ðộng, đại diện tài xế taxi Mai Linh tham dự cuộc bãi công sáng ngày nói trên đưa yêu sách đòi người lãnh đạo công ty phải trả đủ lương tháng 9 và tháng 10 của họ. Người đại diện này cho biết đã một tuần lễ đầu của tháng 11 trôi qua mà công ty vẫn chưa phát lương hai tháng trước, chưa kể các khoản bảo hiểm y tế, bảo hiểm sức khỏe, v.v…


Sáng 6 tháng 11, ít nhất 300 tài xế taxi Mai Linh Nam Trung Bộ và Tây Nguyên đang hoạt động tại thành phố Nha Trang không chịu đi vào lộ trình hàng ngày. Họ quy tụ tại công trường lớn nhất Nha Trang để tham dự cuộc bãi công. Người đại diện công nhân còn cho biết đã phải chịu đựng cảnh lãnh lương “cà giật” từ nhiều tháng nay.


Ông này nói: “Cuộc sống khó khăn, thiếu thốn; làm việc vất vả mà cứ bị nợ lương hoài, chúng tôi rất khổ sở. Chúng tôi đã nhiều lần đệ đơn đòi lương đúng theo hợp đồng làm việc nhưng giám đốc công ty vẫn cứ phớt lờ, không thèm giải thích lý do chậm trả lương.”


Cũng theo báo Lao Ðộng, đáng nói là công ty thu tiền bảo hiểm xã hội từ lương của công nhân nhưng giữ lại làm quỹ riêng. Vì vậy, khi đau ốm hoặc xin nghỉ việc thì không ai chi tiền trợ cấp, các tài xế taxi Mai Linh phải móc tiền túi ra trả.


Ðại diện công nhân còn cho biết, công ty Mai Linh Nam Trung Bộ và Tây Nguyên hiện đang nợ quỹ bảo hiểm xã hội trên 4.2 tỉ đồng, tương đương 200,000 đô. Ông này cho rằng công ty đã “ém” số tiền đóng bảo hiểm xã hội khổng lồ nói trên của công nhân để bỏ túi riêng, khiến anh chị em nhân viên bị thiệt hại nặng nề.


Cũng theo báo Lao Ðộng, ông Dương Xuân Minh, giám đốc công ty Mai Linh Nam Trung Bộ và Tây Nguyên thú nhận đang nợ khoảng 500 triệu đồng, tương đương $25,000 tiền lương tháng 9 và tháng 10 của nhân viên công ty. Theo ông Dương Xuân Minh, việc kinh doanh trì trệ khiến công ty bị lỗ nặng nên không có tiền trả lương.


Dư luận e rằng tình hình bi đát này kéo dài, có thể làm tê liệt hoạt động của công ty Mai Linh Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.


Trước đó, vào giữa năm 2012, một cuộc lãn công quy mô đã diễn ra tại công ty may thêu Mạnh Tiến, tọa lạc tại phường Tân Thới Nhất, quận 12, Sài Gòn. Hàng trăm công nhân đã đồng loạt bãi công cũng nhằm mục đích đòi trả lương đúng thời hạn.


Theo dư luận, tình hình chậm trả lương năm nay lại diễn ra sớm hơn hai tháng so với năm rồi.


Ðầu năm 2012, vụ đình công đòi trả lương đúng hạn đầu tiên diễn ra ngày 10 tháng 1 tại công ty Galant Ocean Việt Nam, tọa lạc tại khu kỹ nghệ Suối Dầu. Cuộc đình công này quy tụ trên 400 công nhân. Họ đe dọa “chỉ trở lại làm việc khi nào ông chủ công ty người Ðài Loan cho biết rõ ràng thời gian trả lương tháng 1…”


Phản ứng mạnh mẽ và quyết liệt của 400 công nhân đã buộc chủ Ðài Loan phải lập tức đáp ứng để việc sản xuất không bị gián đoạn.


Trong tình hình kinh doanh bết bát của khu vực kinh tế và dịch vụ hiện nay, người ta e rằng bất ổn xã hội tại Việt Nam sẽ diễn ra sớm và tồi tệ hơn năm rồi. (PL)

Công nhân bắn đồng nghiệp, 1 chết, 3 bị thương


FRESNO, California –
Một công nhân ở Fresno, tiểu bang California, vào lúc 8 giờ 27 sáng Thứ Ba, dùng súng bắn bạn đồng sở. CNN loan tin, có một người chết và ba bị thương.










Một phụ nữ vô danh được cảnh sát hộ tống vào xe, sau khi nghe tin xảy ra vụ nổ súng bên trong trại làm thịt gà Apple Valley Farms ở Fresno. (Hình: AP/Gary Kazanjian)


Nhân viên công lực cho biết địa điểm có tên là Apple Valley Farms, nơi chuyên sản xuất thực phẩm cho thú vật.


Nghi can được tìm thấy ở bên ngoài, với một vết thương vì đạn ở trên đầu. Ngoài ra cảnh sát cũng phát giác một phụ nữ 32 tuổi bị thương nặng do trúng đạn ở vùng dưới lưng. Hai nạn nhân khác ở trong tình trạng nguy kịch được tìm thấy ở bên trong khu làm việc, gồm một người đàn ông 34 tuổi, bị thương ở đầu, mà theo lời cảnh sát, đã chết ngay tại hiện trường, còn người kia là một người đàn ông khác, 28 tuổi, bị bắn trúng cổ.


Cảnh sát cho biết, nghi can tên là Lawrence Jones, 42 tuổi, từng làm việc tại Apple Valley Farms được 14 tháng. Theo bạn đồng sở, khi ông Jones vào làm việc lúc buổi sáng “ông trông có vẻ khác thường.” Khoảng ba tiếng rưỡi sau, đương sự rút súng lục ra và bắn vào bốn người đồng nghiệp, rồi quay súng tự bắn mình.


Theo cảnh sát, có cả thảy 30 người tại chỗ làm lúc xảy ra vụ bắn. Nguyên nhân chưa được rõ. (TP)

Những suy nghĩ về một đêm nhạc…



Ðức Tuấn/Người Việt


LA MIRADA (NV) –Cuộc vui nào cũng đến lúc tàn, lần sum họp nào chẳng đến lúc phải chia tay, đó là hình ảnh cuối cùng khi khán giả lần lượt ra về trong quyến luyến cùng với các anh chị em ca nghệ sĩ có mặt trong đêm nhạc thính phòng “Thu Quyến Rũ” do nhóm DUK music thực hiện tại hí viện La Mirada Performing Arts Center, 14900 La Mirada Blvd., La Mirada, California.



Chương trình được mở màn gần như đúng giờ quy định, bắt đầu là một nghĩa cử làm cảm động khán giả ngồi phía dưới với ngọn nến lung linh để tưởng niệm nhạc sĩ vừa qua đời không lâu: Trần Trịnh, ngay sau đó là ca khúc nổi tiếng của ông đã được nhắc lại qua phần trình bày của ca sĩ trẻ Nguyễn Hoàng Anh Thư, và đó cũng là bài hát duy nhất ngoài phần biên tập chính của đêm nhạc.


Ðúng theo sự giới thiệu trước đã được đăng trên flyer và poster của buổi ca nhạc thính phòng “Thu Quyến Rũ,” các ca sĩ như Lệ Thu, Vũ Khanh, Quang Tuấn, Nguyễn Hoàng Anh Thư, Chu Minh Quân, Bích Vân, Phạm Tuấn Ngọc và đặc biệt là ca sĩ Ðoàn Chính (con trai trưởng của nhạc sĩ Ðoàn Chuẩn), tất cả đều góp mặt với từng phần trình diễn của mỗi người.


Chương trình được chia làm hai phần: phần đầu gồm các tiếng hát Nguyễn Hoàng Anh Thư, Bích Vân, Phạm Tuấn Ngọc, Lệ Thu.


Giữa chương trình thay vì là phần giải lao đã được nối tiếp liên tục với phần tâm tình của ca sĩ Ðoàn Chính hầu chuyện cùng khán giả phía dưới.


Phần hai của đêm nhạc được bắt đầu với ca khúc Lá Thư qua tiếng hát tenor cao của ca sĩ Ðoàn Chính, và tiếp theo đó với 4 ca khúc mới của nhạc sĩ Ðoàn Chuẩn lần đầu tiên được trình làng: Khuôn Mặt Em (sáng tác 1987) do Quang Tuấn trình bày, Ðường Thơm Hoa Sữa Gọi (sáng tác 1988) với tiếng hát Bích Vân, Màu Nắng Có Bao Giờ Phai Ðâu (sáng tác 1989) với Chu Minh Quân… Dương Lam Thanh, Một Gói Nho Khô, Một Cánh Pensee qua tiếng hát Anh Thư.


Quả thật cả 4 ca khúc đều rất mới với khán giả, “cảm giác được tận hưởng bất cứ điều gì đó của lần đầu tiên thật đúng là có một chút sung sướng và hạnh phúc nữa chứ…” MC Uyển Diễm nói như thế.


Chu Minh Quân là khuôn mặt trẻ, sáng và đặc biệt đêm nay tiếng hát của anh đã khẳng định nội công thâm hậu và mang lại kết quả tốt đẹp sau những tháng ngày tập luyện chăm chỉ…


Quang Tuấn thì khỏi nói rồi, khán giả rất hài lòng với giọng hát và cách chuyển tải từng bài nhạc của anh…


Vũ Khanh, giọng hát và cả cung cách duyên dáng, là cuối chương trình nhưng có lẽ chính anh là nguyên nhân để giữ khách ngồi lại đến lúc cuối cùng khép màn, “Tôi chờ đợi phần biểu diễn của ca sĩ Vũ Khanh suốt mấy giờ đồng hồ và thật đáng ‘đồng tiền bát gạo’ cho sự chờ đợi ấy của tôi,” bác Loan Trần, cư dân của Westminster chia sẻ cảm tưởng.


Lệ Thu: “Ngay sau đêm nhạc này chị sẽ bay đi Philadelphia hát, ngày mai về sau đó sẽ bay tiếp đi nước ngoài một thời gian một hai tháng mới trở lại Mỹ.” Mặc dù trông chị có vẻ “hurry” nhưng hình như chị vẫn kềm chế được sự nóng lòng vì phải chờ đợi hơi lâu đến lượt mình khi ngồi đợi phía đằng sau sân khấu, tuy vậy khi bước ra ngoài sân khấu chị đã rất vui vẻ, đồng thời thể hiện được thành công hai ca khúc Lá Ðổ Muôn Chiều và Tà Áo Xanh (Dang Dở), được biết bài Tà Áo Xanh cũng chính là bài nhạc đầu tiên chị trình bày khi bắt đầu sự nghiệp ca hát.


Nguyễn Hoàng Anh Thư, người con gái nhìn có vẻ “thương em mong manh như một cành lan” nhưng sự thật cô tiềm ẩn một nội lực rất cao, chất giọng thật “quyến rũ” trong đêm nhạc “Thu Quyến Rũ” và đã làm “ngây ngất người qua lại”… chinh phục được ngay cả đến vị khán giả 87 tuổi khó tính nhất đến tham dự đêm nhạc tối nay.



Bích Vân, người ca sĩ có khuôn mặt khá xinh, chất giọng cao vút khi lên đến cao trào nhưng cũng lắng đọng khi vào đoạn thấp nhất của bài hát… “Ðường Thơm Hoa Sữa Gọi” là bài hát chứng minh được giọng hát đẹp, khả năng tuyệt vời của người thiếu nữ nhìn “nhỏ con” nhưng “trông vậy mà hổng phải vậy.” MC Việt Dzũng đã một lần nói như thế khi bình luận về chất giọng của người ca sĩ này.


Ðoàn Chính, anh là vai chính của chương trình đêm nay, người con trai trưởng của nhạc sĩ Ðoàn Chuẩn thay mặt bố để gửi đến khán gỉa đang ngồi phía dưới những dòng nhạc tình cho mùa Thu, tình yêu và nỗi khắc khoải đợi chờ… Chất giọng tenor đã là mọi người như nín thở để chờ anh đưa sang sông trên chiếc đò nhỏ bằng ca khúc Lá Thư, và những cảm nghĩ, tình cảm có lúc đã xúc động khi nói về cha mình của người ca sĩ đó chính là dấu ấn đậm nét ghi lại trong lòng khán giả đêm nay.


Phần còn lại của chương trình là 7 ca khúc của nhạc sĩ Ðoàn Chuẩn, những bài hát rất nhẹ nhàng, êm ả như khu vườn mùa Thu với đầy lá vàng rơi lót thành chiếc thảm trông đẹp tuyệt vời.


MC Việt Dzũng, mặc dù rất mệt mỏi vì nhiều đêm lo lắng cho chương trình, nhưng buổi tối hôm nay anh vẫn làm tròn vai trò của mình, người ta thích cách dẫn chuyện của người nhạc sĩ, ca sĩ và nhà báo này vì anh vẫn có lối nói đùa duyên dáng, nhẹ nhàng dễ gây cảm tình từ khán giả.



Với nhiều lần kinh nghiệm dẫn chương trình từ các đêm nhạc nhỏ đến hoành tráng, MC Uyển Diễm đêm nay thật sự đã làm giới thưởng ngoạn hài lòng qua lối giới thiệu khá tinh tế của cô, dĩ nhiên nhắc đến Uyển Diễm không thể nào không lướt sơ một chút vẻ đẹp lãng mạn của các tà áo dài tha thướt mà người con gái ấy đã biết cách chọn lựa cho mình. “Những chiếc áo dài của cô Uyển Diễm đêm nay đẹp lắm!” một khán giả giấu tên khen ngợi.


Ban nhạc là linh hồn của cả chương trình, nhưng dường như đêm nay họ đã có phần chểnh mảng khiến cho khán giả phía dưới cảm nhận được sự lỏng lẻo, như phần trình bày của ca sĩ Ðoàn Chính, ngay câu đầu tiên của bài hát Lá Thư, giữa người ca sĩ và ban nhạc đã đi sai tone, và khán giả nhận ra ngay sự sai sót này “dường như ban nhạc thiếu một chút gì đó,” bác Hoàng Trần, khán giả đến từ Irvine nói…


Tháng Mười Một, quận Cam đầy dẫy các buổi trình diễn ca nhạc từ lớn đến nhỏ, có lẽ chính vì vậy số khách đến tham dự chương trình nhạc thính phòng “Thu Quyến Rũ” còn khiêm tốn lắm… Nhà tổ chức dĩ nhiên không mang về được lợi nhuận tài chánh như họ muốn, nhưng trong những lời tâm tình với phóng viên Người Việt, MC Việt Dzũng cho biết anh chỉ muốn giới thiệu những tài năng trẻ, mới, đồng thời anh muốn mượn sân chơi này để giữ lại nét đẹp của văn hóa Việt Nam chúng ta tại hải ngoại…


Thiết tưởng với ý nghĩ đó chẳng phải là một cử chỉ đẹp của người làm công tác văn hóa nghệ thuật sao?

Câu Lạc Bộ Văn Hóa với đêm nhạc ‘Sài Gòn By Night’


WESTMINSTER (NV) –
“Năm người đi khắp thế gian” đó là hình ảnh của năm người nghệ sĩ của nhóm “Sài Gòn By Night” đã từng mang nhạc cụ đi lưu diễn khắp nơi trên nhiều tiểu bang trên khắp nước Mỹ năm 1987.










(Hình: Lý Kiến Trúc cung cấp)


Trưa Thứ Hai, nhà báo Lý Kiến Trúc, trưởng ban tổ chức có cuộc tiếp xúc với phóng viên nhật báo Người Việt về đêm diễn “tái xuất giang hồ” của nhóm “Sài Gòn By Night” sẽ được mở màn lúc 8:00 tối ngày Thứ Năm, 22 Tháng Mười Một, tại Câu Lạc Bộ Văn Hóa, 9325 Bolsa Ave., Westminster, CA 92683.


“Ban nhạc Sài Gòn By Night được thành lập từ năm 1984, và đã từng đi lưu diễn rất nhiều tiểu bang cùng với các ca nghệ sĩ người Trung Hoa và Ðài Loan nổi tiếng,” nghệ sĩ Lê Quang Anh, trưởng nhóm Sài Gòn By Night giới thiệu ban nhạc của ông.


Theo nghệ sĩ Thanh Hùng tất cả những nhạc công góp mặt trong ban nhạc Sài Gòn By Night đều là những nghệ sĩ chơi đàn, thổi kèn lão luyện từ trước năm 1975 trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa cũng như phục vụ cho quân đội Hoa Kỳ trong thời gian họ lưu trú tại Việt Nam.


“Mục đích của đêm Sài Gòn By Night là đêm hội ngộ ‘tái xuất giang hồ’ của ban nhạc này tại quận Cam,” nhà báo Lý Kiến Trúc, chủ nhân tiệm ăn chay Zen nói với chúng tôi như thế.


Ðược biết ban nhạc Sài Gòn By Night gồm có 5 nghệ sĩ như Lê Quang Anh (kèn), Thanh Hùng (kèn), Châu Hiệp (guitar), Quốc Thái (trống), Quốc Hùng (bass).


“Sự sáng tạo của ban nhạc chúng tôi bảo đảm bạn sẽ không tìm thấy ở bất cứ ban nhạc nào khác cả, bởi vậy đó là một trong vài lý do để giới thưởng ngoạn hiện nay vẫn nhắc nhở đến tên tuổi của ban nhạc chúng tôi, và họ sẵn lòng đến tham dự, nghe chúng tôi đàn hát!!!” ông Lê Quang Anh, trưởng ban nhạc nói.


Vâng, sự sáng tạo mà nghệ sĩ Quang Anh nhắc đến đó là lối viết những ca khúc mới, hòa âm những ca khúc nổi tiếng theo một phong cách lạ, “xào nấu” những bản nhạc mới “làm sao để đánh đúng theo thị hiếu của khách yêu âm nhạc, nghệ thuật,” ông Quang Anh tâm tình như thế.


Ông nói thêm đối với những ca khúc ngoại quốc hay Việt Nam bất tử , ban nhạc Sài Gòn By Night vẫn “chơi” lại, nhưng mang lại cho khán giả “đĩa thức ăn” rất khác lạ, trong đó có sự kết hợp ăn ý của các loại kèn, với đàn guitar, đôi khi còn có tiếng đàn piano du dương và trống là nhạc cụ hỗ trợ đề tạo nên một không gian âm nhạc thật lãng mạn, trữ tình.


Ðược biết ngoài 5 nghệ sĩ lão luyện như đã kể trên còn có sự đóng góp của một vài anh chị em ca sĩ địa phương như Connie Kim, Lan Anh, Hải Âu, Mạnh Ðức.


MC: Yến Sơn.


Ðặc biệt khách được mời để trình diễn phần độc tấu kèn saxophone: nhạc sĩ Phạm Gia Cổn.


Câu hỏi: “Ngày tổ chức rơi đúng vào dịp lễ Tạ Ơn, cũng là ngày tất cả mọi người đều trở về với gia đình để quay quần, sum họp, thế thì phải có sự đặc biệt hay lý do nào để khán giả có thể rời bỏ những cuộc vui tổ chức trong gia đình họ mà đến để nghe phần trình diễn của ban nhạc sài Gòn By Night?”


Sau một chút suy nghĩ, nhạc sĩ Quang Anh trả lời: “Dĩ nhiên đêm biểu diễn của chúng tôi sẽ có rất nhiều những tiết mục đặc sắc, ngoạn mục, chỉ nội sự kết hợp ăn ý giữa các cây kèn Saxophone Tenor và Saxophone Alto cũng đủ tạo nên một không khí âm nhạc vỡ òa trong tiềm thức người nghe…”


Theo lời ban tổ chức sẽ không có bán vé.


Liên lạc ban tổ chức để giữ chỗ: (714) 331-8393. (Ð.T.)

Hội H.O. Cứu Trợ TPB&QP/VNCH


Hội H.O. Cứu Trợ TPB&QP/VNCH


(Disabled Veterans and Widows Relief Association)


A Non-Profit Corporation – No. 3141107 EIN: 26-4499492


P.O. Box 25554, Santa Ana, CA 92799


Phone: (714) 539-3545, (714) 371-7967


Email: [email protected]; [email protected]


Website: http://www.camonanhtb.com


Chi phiếu xin đề: Hội H.O. Cứu Trợ TPB&QPVNCH


 


Hải ngoại không quên tình chiến sĩ


Ðồng hương nhớ mãi nghĩa thương binh


 


Danh sách ân nhân gửi tiền đến hội:


(Tính đến ngày 28 tháng 10, 2012)


 


Diên Dương Âu, Lancaster, PA $50


Bà Sáu (ÔB Lê Quang Minh), Garden Grove, CA $600 (để giúp hằng năm 5 TPB&QP)


Hội Ái Hữu K6 SQTB Thủ Ðức c/o Tam H. Vi, Garden Grove, CA $100


Anh Nguyễn c/o V. Nguyễn, San Leandro, CA $100


Hung M. Nguyễn & Chi D. Vũ, Richmond, TX $500


Tony & Rebecca Dương, Lake Forest, CA $100


Ðẹp T. Nguyễn, Wichita, KS $100


Trịnh Trác, Hayward, CA $100


Dinh T. Lê, Anaheim, CA $50


My H. Phan, Garden Grove, CA $20


Lam Trương, Torrance, CA $25


Thu Hằng Ðoàn, Alameda, CA $20


Hung Kim Huỳnh, Garden Grove, CA $40


Vị ẩn danh, Montreal, QB, CAN $250 (để giúp hằng năm 2 TPB, $120/người)


 


Danh sách mạnh thường quân ủng hộ ÐNH “Cám Ơn Anh” Kỳ 6:


 


Thao Lâm, Santa Ana, CA $100


Nguyễn Phan, Orange, CA $100


Le Hai Thai, Placentia, CA $100


Hieu Lâm, Garden Grove, CA $100


Lê Cung (Nga Tuy Thieu), Santa Ana, CA $100


Nhan Huỳnh, Westminster, CA $100


Tam T. Nguyễn, Westminster, CA $100


Mieng Ðào, Santa Ana, CA $100


My Cong Phan, Simi Valley, CA $100


Phu Nguyễn, Kansas City, MO $100


Huon Nguyễn, Palmdale, CA $300


Tri Nguyễn, San Jose, CA $100


Lương Kim Uyen, Fresno, CA $700 ($200 + $500)


Dung Nguyễn, San Jose, CA $100


Thu Anh Nguyễn, San Jose, CA $200


Viet X. Phan, San Jose, CA $100


Tuu V. Trần (Tran Sewing Co.), Fountain Valley, CA $100


Cam Le, Tustin, CA $100


Hao Phạm, Carson, CA $200


Loan Nguyễn, Alexandria, VA $100


Bich Nguyễn, Orlando, FL $100


Huong Nguyễn, Berlin, CT $200


Mai T. Dung, Norcross, GA $100


Huỳnh Hong Vũ. Allston, MA $100


De V. Lê, Syracuse, NY $200


Vo Linda (An Trần & Noel Trần), Garden Grove, CA $100


Tuyết Ðinh, Gilbert, AZ $200


Ðức Văn Nguyễn, Seattle, WA $100


Hong Nhung Nguyễn, Duluth, GA $100


Don Ngô, Haltom City, TX $100


Lan Phạm, Garden Grove, CA $100


Ngô Thinh & Lê Kim Chi, Garden Grove, CA $100


Phương Nhi Nguyễn & Tai Nguyễn, Garden Grove, CA $150 ($100 + $50)


Bao Quoc Phạm, Westminster, CA $100


Sam Nguyễn, Greenwood, IN $100


Nhieu Lê, Reseda, CA $100


Gia đình Phật tử Chúc Quy (Phu Trần), San Jose, CA $70


Thịnh Nguyễn, Falls Church, VA $100


Peter Kim Nguyễn, Saint Paul, MN $100


Ha Nguyễn, Saint Paul, MN $200


Tu Ðào, Huntington Beach, CA $100


Andy Bùi, Cathedral City, CA $100


Thai V. Nguyễn, Redlands, CA $100


Ðào Giang, Philadelphia, PA $100


Sanh Nguyễn, Santa Ana, CA $100


Anthony Vương & Diana Vương, Garden Grove, CA $100


Tammy Ðinh, Glendale, CA $100


Bong Nguyễn, Portland, OR $100


Tong Võ, Portland, OR $100


Lương Trần, San Lorenzo, CA $100


Phước Nguyễn, Fresno, CA $100


Nguyễn Bá Nha, Tacoma, WA $100


Vinh V. Lê, Chelmsford, MA $100


Tươi V. Huỳnh, Davie, FL $100


Truc Văn Nguyễn, San Jose, CA $100


Kinh V. Nguyễn, The Woodlands, TX $100


Lan Nguyễn (K27 SVSQ Trừ Bị Thủ Ðức), San Diego, CA $250 ($100,$100,$50)


Dat Danh Ðào, Anaheim, CA $100


Tình Thương Family (Aline Van Hoàng), Garden Grove, CA $100


 


Danh sách TPB/VNCH đã được giúp đỡ:


 


Phan Văn Cần, Bà Rịa-Vũng Tàu, B2 ÐPQ Sq:261.773. Gãy chân trái.


Phạm Nhỏ, Bà Rịa-Vũng Tàu, B2 ÐPQ Sq:200.934. Cụt chân trái.


Nguyễn Văn Tiếng, Bà Rịa-Vũng Tàu, HS1 ÐPQ Sq:185.944. Gãy tay phải.


Trần Tỷ, Saigon, B2 TQLC Sq:134.818. Gãy chân phải.


Nguyễn Văn Ngân, Saigon, B2 CLQ Sq:326.118. Gãy chân phải.


Nguyễn Văn Trai, Saigon, HS CLQ Sq:119.013. Mù mắt phải.


Lê Văn Nho, Tiền Giang, ??? Gãy tay trái.


Ðoàn Hữu Tài, Saigon, ChU Sq:148.928. Cụt chân phải.


Nguyễn Văn Tiến, Saigon, B2 CLQ Sq:159.365. Cụt chân trái.


Phan Văn Chơn, Bến Tre, Sq:198.454. Cụt chân phải.


Nguyễn Văn Tấn, Long An, Sq:711.492. Cụt chân phải.


Nguyễn Văn Hưng, Long An, Sq:761.96?. Cụt tay trái.


Ðặng Văn Em, Tiền Giang, Sq:768.419. Mù mắt phải, mờ mắt trái.


Nguyễn Văn Chinh, Bến Tre, Sq:139.61?. Cụt chân phải.


Huỳnh Thanh Bằng, Bến Tre, Sq:67?.873. Cụt chân phải.


Nguyễn Văn Ðức, Tiền Giang, Sq:142.853. Cụt chân trái.


Nguyễn Văn Xe, Tiền Giang, Sq:000.42?. Cụt chân trái.


Nguyễn Văn Kiệt, Tiền Giang, Sq:001.403. Cụt chân trái.


Trần Văn Cầm, Long An, Sq:340.125. Cụt chân phải.


Bùi Văn Cự. Long An. Sq:804.124. Liệt chân trái.


Pêng Yuma, (Mên Sóc), Tiền Giang, Sq:66?.423. Gãy chân phải.


Vưu Danh Hạt,Tiền Giang, Sq:169. 3??. Liệt chân phải.


Lê Quang Trạch, Tiền Giang, Sq:403.915. Bị thương ở toàn thân.


Cao Văn Hai, Tiền Giang, Sq:450.759. Cụt chân trái. Cụt Ệ bàn chân phải.


Nguyễn Văn Hiệp, Bến Tre, Sq: 409.905. Cụt chân trái.


Lê Phước Tân, Tiền Giang, Sq: 004.065. Cụt chân trái.


Trần Hữu Trí, Bến Tre, Sq: 113.408. Gãy chân trái.


Quang Văn Miên, Bến Tre, Sq: 194.769. Cụt chân trái. Mù mắt phải.


Lê Tấn Tài, Bến Tre, Sq: 170.669. Cụt chân phải.


Huỳnh Văn Khỏe, Bến Tre, Sq: 198.032. Cụt chân trái. Gãy bàn tay phải.


Võ Văn Chặt, Bến Tre, Sq:778.911. Cụt chân trái.


Lê Văn Thành, Long An, Sq:118.384. Mù mắt phải. Bị thương ở đầu.


Trần Văn Niêm, Tiền Giang, Sq:001.495. Cụt chân trái.


Nguyễn Văn Bốn, Tiền Giang, Sq:102.673. Cụt chân trái.


Nguyễn Ngọc Anh, Tiền Giang, Sq:??0.068. Cụt chân trái.


Huỳnh Chơi, Khánh Hòa, Sq:400.686.???


Ðặng Minh Luân, Khánh Hòa, Sq:400.768. Gãy chân phải.


Phạm Mạnh, Ninh Thuận, Sq:357.729. Liệt bán thân trái. Bị thương ở sọ.


Nguyễn Lợi, Khánh Hòa, Sq:477.87?.???


Nguyễn Nhung, Khánh Hòa, Sq:201.803.Teo chân phải, tay co quắp.


Tạ Văn Tạnh, Bình Thuận, Sq:408.686. Cụt chân trái.


Nguyễn Ngọc, Bình Ðịnh, Sq:301.436. Cụt bàn chân trái.


Nguyễn Văn, Khánh Hòa, Sq:200.221. Cụt chân trái.


 


Danh sách QP/VNCH đã được giúp đỡ:


 


Trần Thị Tám, Bình Thuận, Quả phụ Cố B1 Nguyễn Tôn. Tử trận năm 1970.


Huỳnh Thị Chín, Bình Thuận, Quả phụ Cố B1 Phan Sẻ. Tử trận năm 1969.


Nguyễn Thị Huệ, Saigon, Quả phụ Cố ÐU Trần Văn Lợi. Tử trận năm 19??


Lê Thị Phi, Vĩnh Long, Quả phụ Cố TS1 Nguyễn Văn Sói. Tử trận năm 1967.


Lê Thị Công, Ðồng Nai, Quả phụ Cố HS1 Nguyễn Thiêng. Tử trận năm 1967.


Nguyễn Thị Mum, Vĩnh Long, Quả phụ Cố HS1 Lê Văn Ðiền. Tử trận năm 1969.


Nguyễn Thị Danh, Saigon, Quả phụ Cố NQ Phạm Minh Châu. Tử trận năm 1974.


Mai Thị Tỵ, Dalat, Quả phụ Cố HS1 Nguyễn Lâu. Tử trận năm 1970.


Thái Thị Phấn, Vĩnh Long, Quả phụ Cố HS1 Nguyễn Văn Dốc. Tử trận năm 1973.


Nguyễn Thị Mua, Long An, Tổ phụ Cố NQ Phạm Văn Hai. Tử trận năm 1970.


Phạm Thị Ðiện, Ðồng Nai, Quả phụ Cố TS1 Nguyễn Như Trương. Tử trận năm 1961.


Trần Thị Phần, Trà Vinh, Quả phụ Cố B2 Bùi Văn Ðạo. Tử trận năm 1973.


Nguyễn Thị Thanh, Thừa Thiên, Quả phụ Cố HS Phan Văn Kim. Tử trận năm 1972.


Phan Thị Ðễ, Vĩnh Long, Quả phụ Cố TS Lý Phi. Tử trận năm 1965.


Hứa Thị Thơ, Ðà Nẵng, Quả phụ Cố ThS Nguyễn Văn Nhơn. Tử trận năm 1974.


Trương Thị Kiến, Bà Rịa-Vũng Tàu, Tổ phụ Cố B2 Nguyễn Văn Chử. Tử trận năm 1972.


Huỳnh Thị Hiếu, Phú Yên, Tổ phụ Cố NQ Võ Lang. Tử trận năm 19 68.


Ðỗ Thị Phương (Sáu), Bình Ðịnh, Quả phụ Cố B2 Nguyễn Minh Sơn. Tử trận năm 19 71.


Nguyễn (Ðinh) Thị Nữ, Ðà Nẵng, Quả phụ Cố ThS1 Huỳnh A. Tử trận năm 19 72.


Phạm Thị Kim Oanh, Ðà Nẵng, Con Cố HS Phạm Văn Hườn. Tử trận năm 19 74.


Nguyễn Thị Tuyết, Saigon, Quả phụ Cố TrTá Cao Tấn Hạp. Từ trần năm 1978.


Nguyễn Thị Nhân, Ðồng Tháp, Quả phụ Cố NQ Nguyễn Hữu Phước. Tử trận năm 1968.


Mai Thị Xuân Hương, Phú Yên, Quả phụ Cố B1 Trần Hữu Lý. Tử trận năm 1973.


Ðinh Thị Thê, Ðồng Nai, Quả phụ Cố TS1 Bùi Như Bích. Tử trận năm 1970.


Hoàng Thị Minh Diệu, Thừa Thiên, Quả phụ Cố TrU Hoàng Ðình Ðệ. Tử trận năm 1967.


Nguyễn Thị Gái, Huế, Quả phụ Cố HS Lê Văn Ðộ. Tử trận năm 1970.


Nguyễn Thị Ðơ, Thừa Thiên, Quả phụ Cố HS1 Trương Chồn. Tử trận năm 19??


Phan Thị Hai, Thừa Thiên, Quả phụ Cố B1 Võ Văn Toàn. Tử trận năm 1968.


Nguyễn Thị Ngưu, Bà Rịa-Vũng Tàu, Tổ phụ Cố NQ Phạm Văn Nam. Tử trận năm 197?


Hà Thị Luyện, Bà Rịa-Vũng Tàu, Quả phụ Cố HS Nguyễn Văn Quên. Từ trần năm 1979.


Trần Thị Ân, Bà Rịa-Vũng Tàu, Quả phụ Cố NQ Nguyễn Văn Tư. Tử trận năm 1972.


Châu Thị Kê, Thừa Thiên, Quả phụ Cố TS Lê Hoành. Tử trận năm 1973.


Võ Thị Thanh, Khánh Hòa, Quả phụ Cố TU Phạm Mèo. Tử trận năm 1973.


Nguyễn Thị Mai, Ðà Nẵng, Quả phụ Cố TS1 Trần Lợi. Tử trận năm 1972.


Trần Thị Nga, Ðà Nẵng, Quả phụ Cố HS1 Nguyễn Dần. Tử trận năm 1965.


Ngô Thị Xự, Thừa Thiên, Quả phụ Cố TS Trần Văn Lành. Tử trận năm 1969.


Dương Mỹ Dung, Cà Mau, Quả phụ Cố TU Phạm Hiếu Nghĩa. Tử trận năm 1967.


Trần Thị Tạo, Long An, Quả phụ Cố B2 Phan Thanh Xuân. Tử trận năm 1965.


Nguyễn Thị Vân, Khánh Hòa, Quả phụ Cố HS Nguyễn Chiến. Tử trận năm 1972.


Phạm Thị Tư, Vĩnh Long, Quả phụ Cố B1 Chung Văn Mười. Tử trận năm 1972.


Nguyễn Thị Mỹ, Bà Rịa-Vũng Tàu, Quả phụ Cố NQ Lê Quan Tịnh. Tử trận năm 1974.

Phi vụ Tống Lệ Chân

 


Nguyễn Văn Ba


(cánh thép)


 


“Tống Lệ Chân,” mới nghe qua, như tên người con gái Trung Hoa, có nhan sắc đẹp tuyệt vời, tài danh nổi bật, được ghi trong sử sách lưu truyền cho hậu thế! Tôi không biết mỹ danh đó có từ lúc nào, xuất xứ từ đâu? Nhưng nó đã chiếm một vị trí chiến lược vô cùng quan trọng trong mùa Hè đỏ lửa 1972.


Nhiều sư đoàn chánh quy Bắc Việt được yểm trợ bởi chiến xa và đại pháo hạng nặng, ồ ạt tiến sang từ biên giới Campuchia và Hạ Lào, theo đường mòn Hồ Chí Minh, với mưu đồ đánh chiếm hai tỉnh Bình Long và Phước Long để thành lập chánh phủ gọi là “Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam,” gây hậu thuẫn quốc tế và đặt áp lực nặng nề cho chính phủ Việt Nam Cộng Hòa tại Sàigòn.


Tống Lệ Chân là một địa danh, hay đúng hơn là một ngọn đồi chiến lược, khoảng hơn năm dặm về hướng Tây Nam của thành phố An Lộc. Ngọn đồi này nhờ nằm ở một địa thế cao, được trấn giữ bởi một tiểu đoàn Biệt Ðộng Quân Việt Nam Cộng Hòa rất tinh nhuệ, nên nó chính là tai và mắt, không những cho thành phố An Lộc mà ngay cho chính thủ đô Sàigòn, vì nó kiểm soát được sự vận chuyển của bộ đội Bắc Việt và cơ giới chiến tranh, về hướng Tây Bắc Sàigòn, đưa quân vào Bình Dương, Lái Thiêu và Biên Hòa, nơi đặt Bộ Tư lệnh Vùng III Chiến Thuật. Vì lý do chiến thuật và toàn bộ chiến lược xâm chiếm miền Nam, nên ngọn đồi Tống Lệ Chân là cây gai nhọn nhức nhối trong nách, cộng sản phải nhổ nó đi bằng mọi giá.


Từ một ngọn đồi hiền lành, xung quanh bao bọc bởi rừng xanh bát ngát, dưới chân đồi một con suối uốn khúc quanh co, tô đậm nét như một bức tranh thủy mạc. Nếu không có trận chiến vừa qua, cũng chẳng có ai cần biết nó, như Ben Hét, Ðức Cơ, Dakpek, Dakto, v.v…


Những địa danh thật xa lạ với mọi người dân thị thành, nhưng bỗng chốc, nó trở thành những danh xưng được nhắc nhở thường xuyên qua những trận đánh hãi hùng, khiếp đảm, hàng ngày trên báo chí, đài phát thanh, màn ảnh truyền hình, đã làm chấn động lương tâm thế giới.


Ðã lâu lắm rồi, những vết tích tàn phá của chiến tranh trong trí nhớ gần như đi vào quên lãng. Nhưng chiều hôm nay nó được hâm nóng và sống lại trong tôi, vì tình cờ đã gặp lại những chiến hữu cùng một đơn vị sau hơn hai mươi năm dài đằng đẵng cách biệt.


Người hùng “Tống Lệ Chân,” Ðại Úy Lê Văn Cầu, phi tuần trưởng của Phi Ðoàn 237 Chinook, tôi không dùng đại danh hay ca tụng anh để lấy lòng, nhưng sự thật đã xảy ra cách đây trên hai thập niên vừa qua. Vẫn dáng người gầy gầy như ngày nào, nhưng không bao giờ thiếu nụ cười cởi mở, buông thả trên gương mặt để đón chào anh em chiến hữu.


Gặp lại anh trong bữa tiệc họp mặt tại thành phố San Jose, California, với một số anh em cựu Lôi Thanh như: Nguyễn Mai, Trần Duy Tôn, Lưu Thế Ngọc, Nguyễn Văn Tiên, Nguyễn Vũ, Nguyễn Văn Mai (Ðà Nẵng), cùng hai phu nhân của hai anh Vũ và Mai. Thật sung sướng và hãnh diện, tôi được may mắn gặp lại anh em đã có một thời chiến đấu vào sinh ra tử có nhau, chia sẻ từ bịch gạo sấy, lon thịt heo ba lát, cùng ngồi ăn trưa dưới bụng tàu, trong những buổi trưa Hè nắng cháy của vùng hỏa tuyến Tây Ninh.


Bây giờ gặp lại các anh em ở vùng đất xa lạ này, chúng ta tuy có già thêm đôi chút, cuộc sống nhiều thay đổi hơn xưa, tuy vậy tình anh em vẫn nồng nàn, ấm áp như thuở nào.


Tôn vẫn tính nào tật nấy, hào hoa quá mức, Ngọc ăn chơi công tử, Vũ vẫn hoạt bát trẻ trung, Mai cứ ngỡ là tài tử Henry Chúc, Tiên mới sang nên còn nhiều ưu tư bỡ ngỡ. Niên trưởng Mai cựu phi đoàn trưởng Ðà Nẵng, mới về hưu ở hãng IBM, trông đạo mạo như cụ non, cần nhiều chất tươi để để tóc bớt rụng!


Chúng tôi chia nhau chén tới chén lui, chén qua chén lại, từ ba giờ trưa mãi đến gần bảy giờ chiều, vì có nhiều anh em phải đi đám cưới chiều hôm đó nên chúng tôi tạm chia tay nhau, và hẹn sẽ gặp lại ở vũ trường Mini vào lúc chín giờ ba mươi tối. Niên trưởng Mai đưa tôi về để thăm gia đình anh chị. Còn “chú Tư Cầu” về nhà rước vợ con sẽ tới sau.


Thật hạnh phúc và sung sướng không ai bằng, “chú Tư Cầu” được thím Tư vừa trẻ, vừa đẹp, về để giúp chú “nâng cằm sửa mũi…” và tặng cho chú hai cháu thật ngoan hiền, kháu khỉnh dễ thương. Lúc này niên trưởng Mai, có lẽ muốn dành sức lực để phục vụ bà xã tối nay, nên xin vào nghỉ lưng một tí, còn tôi với “chú Tư Cầu” ngồi lai rai nhậu tiếp dài dài, kể chuyện trên trời dưới biển, rồi đến chuyện hành quân ly kỳ, hấp dẫn của một thời “Dốc Sỏi” Biên Hòa.


Tôi biết Cầu từ ngày thành lập đệ nhất Phi Ðoàn Chinook Lôi Thanh 237, vào giữa khoảng năm 1970-1971, anh thuộc vào nhóm sĩ quan hoa tiêu trẻ, mới ra trường, chưa vợ con, rất hăng say hoạt động trong mọi công tác. Còn chúng tôi, lúc đó không đến nỗi già lắm, tuy nhiên đối với anh em thì được xếp vào lớp “lão làng.”


Vào khoảng mùa Hè năm 1972, chiến trận ở Vùng III Chiến Thuật càng ngày càng trở nên khốc liệt hơn, thành phố An Lộc chịu đựng hàng ngàn quả đạn pháo ngày đêm, nhà cửa, phố xá nát tan từng mảnh vụn, dân chúng đã bồng bế, dẫn dắt nhau, bỏ hết tài sản theo quốc lộ chạy về hướng Chơn Thành, về gần Sàigòn.


Tiền đồn Tống Lệ Chân được tử thủ bởi khoảng một tiểu đoàn Biệt Ðộng Quân, đã bị cô lập nhiều tuần bởi cả trung đoàn chính quy Bắc Việt, đang rình rập sát dưới chân đồi, trực thăng tải thương và tiếp tế bị hỏa tiễn tầm nhiệt SA-7 và súng phòng không đe dọa trầm trọng, không thể đáp được trong ban ngày, phi cơ vận tải C-130 thả dù thực phẩm, thuốc men, phần lớn đều bị gió đưa ra ngoài, vào vùng kiểm soát của địch.


Việt Cộng thường xuyên pháo kích, đại pháo cày nát gần trọc hết ngọn đồi, những chiến sĩ Mũ Nâu gan lì của Việt Nam Cộng Hòa, núp trong những giao thông hào, sâu trong lòng đất như những con rắn độc, đã oai hùng, mãnh liệt đốn ngã những đợt tấn công biển người của Việt Cộng. Trung Tá Ngôn, chỉ huy trưởng tiền đồn kêu gọi Không Quân cho trực thăng đưa quân vào tăng viện và chuyển bớt thương binh về bệnh viện để ông rảnh tay chiến đấu.


Lệnh từ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đưa xuống chuẩn tướng tư lệnh Sư Ðoàn 3 Không Quân, yêu cầu cho trực thăng Chinook CH-47 – Phi đoàn 237 – thi hành phi vụ cảm tử này. Lôi Thanh I, phi đoàn trưởng, Phi Ðoàn 237 nhận được mật lệnh, ông cho mở một cuộc họp kín, với sự có mặt đầy đủ một số anh em phi hành đã có nhiều kinh nghiệm chiến trận, để chọn người tình nguyện. Sau khi Lôi Thanh I tuyên bố lý do và cho biết mật lệnh, không khí trong phòng họp lúc đó trở nên cực kỳ im lặng, nặng nề và khó thở, không ai có một lời thêm bớt hay bình luận gì cả.


Tôi nhìn tất cả các anh em hoa tiêu và anh em hạ sĩ quan phi hành lòng chùng xuống, mắt mờ đi, tâm não hoàn toàn như tê dại, tự nhủ thầm:


“Người ta sắp bắt chúng tôi làm vật tế thần.”


Thật ra tất cả anh em chúng tôi không phải là những người sợ chết hay muốn tránh né những phi vụ hiểm nguy, nhưng cái bực tức không nói lên được lúc đó là cấp chỉ huy đã không hiểu khả năng kỹ thuật cơ giới của một chiếc Chinook, hay vì sợ trách nhiệm nên sử dụng chúng tôi một cách sai lầm?… Cũng không thể dựa vào các yếu tố chiến tranh chính trị hay tâm lý chiến thuật nào khác để bào chữa cho phi vụ, vì nó có thể thực hiện được bằng trực thăng loại nhỏ UH-1, chở mỗi lần mười quân nhân và chọn thời gian đáp trong năm lần khác nhau. Loại trực thăng UH-1 được chế tạo dùng trong chiến thuật đạt yếu tố bất ngờ trong lòng địch, như chiến thuật “Diều Hâu,” nó có khả năng xoay trở rất nhanh nhẹn, chỉ cần một thời gian, trong khảng năm giây đồng hồ, là có thể đổ được quân và đem được thương binh lên dễ dàng.


Ta có thể ước đoán tông số thời gian kể như nguy hiểm nhất, từ lúc vào bãi đáp cho đến khi rời khỏi vị trí một cách tương đối an toàn, chỉ tốn vào khoảng hai mươi giây đồng hồ là tối đa. So với một chiếc Chinook CH-47, thật to lớn kềnh càng, chở năm chục binh sĩ, khi hạ cánh với một tốc độ rất chậm, vào một tiền đồn trên đồi, không chỗ ẩn núp, diện tích bãi đáp không lớn hơn khuôn viên một căn nhà, xung quanh triền đồi toàn là quân chính quy Bắc Việt, núp dưới giao thông hào chằng chịt, với những đại liên phòng không tối tân của Nga Xô và Tiệp Khắc, hỏa tiễn SA-7, súng cối 82 ly, và đại pháo 122 ly, đã lấy tọa độ bãi đáp chính xác.


Tôi giả sử binh lính Việt Cộng có mù mắt, điếc tai, ngủ gục hết cả lũ, tính theo thời gian nhanh nhất, khi tàu giảm tốc độ vào cận tiến để chuẩn bị đáp an toàn cho năm mươi quân nhân chạy ra phía cửa sau đuôi và chờ khiêng thương binh đưa vào, xong xuôi cất cánh, ra tới vị trí tương đối an toàn, ít ra cũng phải mất hết khoảng hai trăm giây đồng hồ. Nếu ta thử so sánh thời gian nguy hiểm trên vùng với chiếc phản lực cơ F-5, khi chúi xuống thả bom, xong kéo lên rời vị trí, chỉ trong tích tắc vài giây đồng hồ mà đôi khi còn bị bắn hạ bởi SA-7 hay đạn phòng không một cách dễ dàng, còn chiếc Chinook, to lớn gấp hai, ba lần, xoay trở rất chậm chạp, hai bên hông tàu mang cả chục ngàn lít xăng JP-4, chỉ cần một phát súng nhỏ, nhạy lửa là nó trở thành một cây đuốc khổng lồ, soi đường cho thần chết, không những thiêu mạng phi hành đoàn mà nó còn đốt cháy năm mươi quân nhân ngồi phía sau nữa.


Trong phạm vi bài này, tôi không có ý gián tiếp chỉ trích cá nhân bất cứ một cấp chỉ huy thừa hành nào cả, vì tôi biết lệnh từ trên tối cao đưa xuống, tôi chỉ đưa ra những dẫn chứng sai lầm về sự sử dụng kỹ thuật tác chiến cơ giới. Nhưng quân đội, lệnh là phải thi hành, nếu may mắn còn sống sót không tật nguyền hoặc sứt tay, gãy gọng là điều đáng mừng, phước đức ông bà để lại.


Một phút im lặng nghẹt thở trôi qua, như dò xét sự phản ứng của tất cả đoàn viên phi hành. Lôi Thanh I cho biết rằng đây là lệnh của thượng cấp đưa xuống, nếu không có người tình nguyện ông sẽ chỉ định người để thi hành phi vụ tối quan trọng này. Thời gian chậm chạp như muốn ngừng lại, tôi lên tiếng hỏi để biết nhiệm vụ chính của phi vụ dùng vào công việc gì?… Mặc dù tôi là trưởng phòng hành quân của Phi Ðoàn lúc đó, nhưng ông ta cũng từ chối, cốt ý để bảo toàn bí mật cho bãi đáp. Khi Lôi Thanh I vừa dứt lời, tôi nhận thấy Ðại Úy Lê Văn Cầu, phi đội trưởng Phi Ðội 1 ngồi bên ghế trái của tôi, đưa tay lên xin tình nguyện, tiếp theo là Ðại Úy Huỳnh Bá Hùng, phi đội trưởng Phi Ðội 2 cũng đưa tay tình nguyện. Bây giờ cần một cơ phi, xạ thủ và áp tải. Thượng Sĩ Nguyễn Văn Tranh, Trung Sĩ Nguyễn Văn Hoàng cũng đưa tay tình nguyện. Tôi nhớ cũng còn nhiều anh em sĩ quan và hạ sĩ quan khác nữa cũng xin tình nguyện, nhưng sau cùng chỉ chọn được phi hành đoàn có đầy đủ khả năng như sau: Trưởng phi cơ cho phi vụ Ðại Úy Cầu, hoa tiêu phụ Ðại Úy Hùng, cơ phi Thượng Sĩ Tranh, xạ thủ Trung Sĩ Hoàng và áp tải viên, tôi rất tiếc là không còn nhớ rõ tên anh.


Phiên họp kết thúc vào khoảng bốn giờ chiều, để bảo toàn bí mật phi vụ, lệnh phi đoàn cấm trại 100% cho tới khi nào công tác thi hành xong. Tôi đưa các anh em trong phi hành đoàn tình nguyện vào khu quán ăn của cư xá hạ sĩ quan trong căn cứ Không Quân để dùng cơm chiều.


Bảy giờ chiều ngày 26 tháng 12, 1972, phi cơ được lệnh cất cánh từ phi trường Biên Hòa, liên lạc với C&C qua tần số vô tuyến FM, để đáp vào An Lộc nghe thuyết trình và nhận lệnh từ đơn vị bạn.


Trời cuối tháng vào mùa lễ Noel nên có vẻ tối sớm hơn thường lệ, những tia nắng hanh vàng đã bắt đầu nhạt dần, ở phía bên kia đầu phi đạo, sân bay đã vắng người qua lại, chỉ còn mình tôi lẻ loi đang ngồi đây để tiễn đưa anh em.


Trong trận thế chiến vừa qua, phi đội Thần Phong cảm tử của Nhật Hoàng trước khi cất cánh ra trận, được vinh dự đứng trước hàng quân uống cạn ly rượu “Sakê” hâm nóng, trao tặng từ một tướng lãnh cao cấp để rồi bay vào tử địa. Còn các anh bây giờ được ai tiễn, ai đưa? Hàng quân vinh dự nào đứng dàn chào để tiễn biệt các anh? Tôi biết các anh cũng chẳng cần những thứ rườm rà, màu mè đó, nhưng với ý chí và lòng dạ sắt son nguyện dâng hiến đời mình cho quê mẹ Việt Nam, nên các anh đã hy sinh tình nguyện chấp nhận phi vụ, đáp vào một nơi được gọi là “địa ngục trần gian.”


Phi cơ đã mất hút, chìm vào bóng hoàng hôn về hướng Tây Bắt chân trời. Tôi lặng lẽ lái xe trở về phòng Hành quân Phi đoàn để theo dõi tin tức phi vụ, lòng lâm râm khấn vái cầu nguyện cho các anh đi được bình an…


Trách nhiệm phi vụ các anh chia đều cho nhau, Ðại Úy Cầu chỉ huy toàn diện, cũng như lo phần bay và điều khiển các cơ phận phi cơ. Ðại Úy Hùng lo phần vô tuyến, truyền tin liên lạc với C&C và đơn vị bạn, cũng như kiểm soát bản đồ, hướng bay và tọa độ hành quân, các anh em cơ phi, xạ thủ và áp tải giữ an ninh phía trong tàu và đồng thời kiểm soát, báo cáo các vị trí phòng không, SA-7 của Việt Cộng từ dưới bắn lên, để phi cơ tránh né cùng lúc sử dụng hỏa lực tối đa của hai khẩu đại liên, gắn hai bên thân tàu để làm áp lực địch.


Kim đồng hồ chỉ hơn tám giờ tối, phi cơ đã đến vùng chỉ định, bên ngoài chỉ còn lại là một màu đen, xung quanh là rừng núi âm u của đêm sau ngày Chúa Giáng sinh. Thành phố An Lộc hoàn toàn như một bóng ma trong đêm, không còn một ngọn đèn đường nào đứng vững hay được cháy sáng để ghi nhận là vị trí của một khu phố. Ngọn đồi Tống Lệ Chân cách đó không xa lắm, nghe tiếng phi cơ bèn chớp đèn hiệu, không liên lạc được với C&C hai anh cứ ngỡ đó là thành phố An Lộc, nên cho phi cơ bay thẳng vào hướng có ánh đèn hiệu.


Một phút sau, những tia chớp sáng không ngừng của đại liên phòng không từ dưới đất bắn lên như pháo bông ngày Tết, các anh mới nhận ra là đang bay hơi chệch về hướng Tống Lệ Chân. Ðại Úy Cầu bình tĩnh kéo nhanh cần lái về phía phải cho con tàu lướt nhanh ra khỏi tầm hỏa lực địch, cũng trong lúc đó Thượng Sĩ Tranh báo cáo nhìn thấy đèn hiệu về hướng một giờ cách đó không xa lắm. Sau khi quan sát thật kỹ và liên lạc được với quân bạn, Ðại Úy Hùng OK, đưa ngón tay cái lên trời đồng ý cho Ðại Úy Cầu chuẩn bị cho phi cơ đáp xuống phía Nam của An Lộc.


Sau khi kiểm soát lại phi cơ, mọi sự đều an toàn, anh em phi hành đoàn được đưa vào Bộ Chỉ Huy Hành Quân tiền phương để nghe thuyết trình phi vụ. Sĩ quan tình báo cho biết quân chính quy Bắc Việt được trang bị với đại liên phòng không đủ loại đang ẩn núp dưới các hầm hố xung quanh chân đồi, tin cũng cho biết thêm là chúng cũng có thể đã được trang bị hỏa tiễn tầm nhiệt SA-7 để chống lại các loại phi cơ chiến đấu của Không Lực Việt Nam Cộng Hòa. Nhiệm vụ chính của phi vụ là chở năm chục lính Biệt Ðộng Quân để tăng viện và thay thế những người ở quá lâu trong đó, đồng thời rước về một số thương binh, phi vụ rất giản dị có thế thôi, nếu ở một vị trí nào khác thì công việc không có gì quan trọng hay đáng nói cả.


Giờ hẹn tại bãi đáp là đúng 12 giờ khuya. Trung Tá Ngôn, tiểu đoàn trưởng Biệt Ðộng Quân phải chuẩn bị sẵn sàng tại bãi đáp, đèn hiệu phải đặt dưới hầm trú ẩn để Việt Cộng khỏi nhìn thấy.


Phi hành đoàn họp nhau để bàn về kỹ thuật đáp và phân chia công việc cho mọi người. Tàu sẽ chở năm chục quân nhân với trang bị vũ khí đầy đủ, là một việc khó khăn cho hoa tiêu điều khiển phi cơ để tránh né đạn phòng không vì quá nặng nề, không xoay xở nhanh chóng được. Nếu bay sát ngọn cây với tốc độ thật nhanh, đột ngột từ phía chân đồi nhảy lên thẳng bãi đáp quá nhỏ, xung quanh là ụ súng của tiền đồn, thì là một chuyện không thể thực hiện được nhất là về ban đêm như tối hôm nay, chỉ có loại phi cơ nhỏ một cánh quạt như UH-1 hay H-34 là có thể thực hiện được lối bay nguy hiểm tránh phòng không này; như vậy chỉ còn lại một giải pháp cuối cùng là kỹ thuật đáp 360 độ. Cầu và Hùng đều đồng ý với lối bay này tuy nó rất là nguy hiểm, vì sẽ làm mồi cho súng phòng không, nhưng còn có cơ hội sống sót nhiều hơn là kỹ thuật bay “nhảy bổ” vào lúc ban đêm.


Ðúng 11 giờ 45 khuya, trời bên ngoài tối om như mực, năm mươi quân nhân Biệt Ðộng đã ngồi yên lặng trong lòng tàu. Ðại Úy Cầu cho quay máy chuẩn bị cất cánh, âm thanh phản lực của hai động cơ gắn phía sau hòa lẫn với tiếng cánh quạt quay đều trong gió, nghe như tiếng rống phẫn nộ của rừng xanh vang lên trong đêm khuya tĩnh mịch. Ðại Úy Hùng kiểm soát lại các tần số liên lạc với C&C và các danh hiệu đơn vị lần cuối, Thượng Sĩ Tranh báo cáo cho trưởng phi cơ tình trạng tàu tốt sẵn sàng cất cánh.


Hơn 11 giờ 50, C&C cho lệnh cất cánh lấy cao độ khoảng hai ngàn bộ, trực chỉ hướng Tây Nam vào thẳng Tống Lệ Chân. Ðại Úy Cầu ra lệnh cho Trung Sĩ Hoàng lên đạn hai khẩu đại liên để sẵn sàng tác xạ. Ðèn Navigation bên ngoài phi cơ đã tắt, chiếc phi cơ hiên ngang như một dũng tướng ngày xưa đơn thương độc mã tiến vào trận địa.


Ðại Úy Hùng chỉ về phía trước mặt đèn báo hiệu bãi đáp đã nhấp nháy dưới hầm, tiền đồn Tống Lệ Chân gần kề trước mặt.


– OK! “Pitch down”!


Toàn thân phi cơ như hụp xuống khỏi mặt nước, xoay tròn thật gắt 360 độ về phía trái như muốn vỡ tung, hết sức khó chịu vì sức rơi lúc đáp quá nhanh từ trên cao độ.


“Rầm… Rầm…!!!”


Nhiều khối lửa to lớn đang chớp nhoáng phía dưới, chúng đang pháo kích vào bãi đáp. Ðịa ngục trần gian bắt đầu cơn bão lửa! Ðạn phòng không dưới chân đồi đã tập trung giăng chằng chịt cả màn đêm, những viên đạn đỏ tươi như màu máu vọt lên đan vào nhau thành những tia sáng như hình rẻ quạt quét cả trọn vùng trời, nhắm về hướng phi cơ đang lơ lửng xoay tròn giữa không gian; vì trời quá tối nên nhiều trái sáng được địch quân bắn lên để cho chúng dễ dàng nhận diện phi cơ.


Dưới sức sáng nhân tạo của các trái hỏa châu, con tàu thật lẻ loi đơn độc không thể dấu mình trong màn đêm được nữa, đã gánh chịu hàng trăm viên đạn của loài quỷ đỏ hung hăng ghim vào thân xác như một con đại bàng bị tên trúng vào tử huyệt, nhưng oai hùng dang cánh thản nhiên đáp trên đầu địch.


Ðại Úy Hùng không còn liên lạc qua tần số vô tuyến với C&C được nữa, cơ phận phát điện bị trúng đạn phát hỏa, hệ thống thủy điều bị bể ống hoàn toàn ngưng hoạt động, cần lái bị “locked” chặt cứng không còn điều khiển được. Ðại Úy Cầu như tê dại nhìn thẳng phía trước, dùng hết sức còn lại với phản ứng tự nhiên của mình, cố điều khiển để cho con tàu rơi từ trên cao hơn 30 bộ xuống bãi đáp. Thân phi cơ chạm mạnh trên đất nhảy dựng trở lên, uốn mình như con khủng long hung hăng giãy chết, những cánh quạt phía trước chặt mạnh vào ụ súng của tiền đồn tan nát văng từng mảnh vụn. Lửa khói đã cuồn cuộn cháy ở phía sau đuôi, đạn súng cối, hỏa tiễn địch quân liên tiếp pháo vào, những chuỗi dài nối tiếp nhau chớp sáng của tạc đạn nổ long trời, cát bụi tung bay mù mịt cả bốn bề.


Con tàu sau vài giây đồng hồ mới chịu đứng yên, chấp nhận ngày cuối cùng của đời mãnh long trên ngọn đồi xa lạ này. Lửa đã cháy dữ dội hơn, một số Biệt Ðộng Quân còn sống sót chạy tràn ngập ra phía trước phòng lái, tìm cách thoát ra ngoài. Ðại Úy Cầu cảm thấy đau đớn nhức nhối ở gót chân mặt nhưng vì sự sống còn, anh cố gắng lết ra từ phía bên trái cửa sổ phi cơ. Bên ghế phải Ðại Úy Hùng đang bị buộc chặt vì dây an toàn bị gãy chốt, ghì chặt anh vào thành ghế với áo giáp, súng đạn mang lỉnh kỉnh bên hông, lại bị lính Biệt Ðộng Quân chen lấn thoát thân đè chặt anh xuống ghế, lửa đã cháy sát bên lưng, sức nóng hừng hực của cả ngàn lít dầu JP-4 táp vào mặt, anh cảm thấy gần như tuyệt vọng.


Trong lúc đó một anh lính Biệt Ðộng sau cùng vừa trèo lên để chui ra thì bị một mảnh đạn pháo kích trúng vào đầu bị thương ngã người lại phía sau, tay anh lính níu chặt lấy chiếc gối nệm phía sau lưng Ðại Úy Hùng để khỏi ngã quỵ xuống sàn tàu, chiếc gối sút ra văng xuống theo tay anh lính. Nhờ cơ hội may mắn hiếm hoi này, Ðại Úy Hùng lòn mình thoát ra được từ phía lỗ trống trên nóc phòng lái. Trung Sĩ Hoàng nhờ Trời, Phật che chở nên chui ra ngoài được an toàn trước khi phi cơ phát nổ.


Tất cả những anh em thoát chết đều cố gắng bò nhanh xuống hầm trú ẩn gần đó, đạn pháo vẫn tiếp tục rú lên trong gió gây ra những âm thanh thật kỳ dị nghe như tiếng ma tru, quỷ rống rợn cả người. Lửa cháy phi cơ soi sáng cả góc trời, có lẽ giờ phút đó dưới chân đồi trong các hang hóc chằng chịt, loài quỷ đỏ đang ăn mừng nhảy múa bên các vong linh oan hồn mà chúng vừa mới sát hại.


Trung Tá Ngôn cho anh em Biệt Ðộng Quân ra khiêng Ðại Úy Cầu vào băng bó, kiểm điểm quân số phi hành đoàn không thấy Thượng Sĩ Tranh, mọi người nghĩ rằng anh đã chết. Sáng hôm sau mọi việc tương đối yên lặng, anh em lần mò bò ra phi cơ để lấy xác vì có rất nhiều quân nhân Biệt Ðộng đã bị súng phòng không của Việt Cộng bắn chết trong lúc đáp, cũng như bị thương chạy ra ngoài không được bị chết cháy trong tàu. Phi hành đoàn nhận diện được dấu tích của Thượng Sĩ Tranh mặc dầu đã bị cháy tan biến, nhưng thẻ bài kim loại và súng đạn anh mang theo, cho biết rằng anh đang đứng gần cửa phía sau thân tàu, có thể anh bị đạn phòng không chết trước khi đáp. Ðại Úy Hùng thu nhận cẩn thận tất cả thân xác còn lại của anh chờ ngày mang về để mai táng.


Khoảng ba ngày sau, phi hành đoàn được báo là sẽ có một phi hành đoàn UH-1 vào rước về, mọi người thức suốt đêm chờ đợi sau cùng được báo là phi vụ cứu cấp bị lộ nên bãi bỏ, không thể nào rước các anh ra được. Những giờ phút ở đây thật dài vô tận, những giấc ngủ chập chờn, tử thần luôn luôn rình rập, ranh giới giữa sự sống và chết gần như lẫn lộn không giới tuyến rõ rệt. Các anh lính Mũ Nâu anh hùng chiến đấu thật cô đơn, cam khổ, đạn pháo địch ngày đêm từng chập không ngơi nghỉ, tiếng trống, tiếng loa của loài quỷ đỏ vẫn hò hét, kêu gào dưới triền núi vọng lên như tiếng khóc than từ địa ngục. Những anh lính Biệt Ðộng Việt Nam Cộng Hòa ngày đêm kìm chặt tay súng, núp sâu dưới lòng đất sẵn sàng đứng lên để đập vỡ cái mưu toan của chúng muốn biến nơi này thành mồ chôn tập thể.


Vào khoảng chín giờ tối của đêm thứ năm, Trung Tá Ngôn cho phi hành đoàn biết lệnh mật từ Bộ Chỉ Huy Hành Quân Không Quân là sẽ có người vào rước anh em trong giờ giao thừa của đầu năm Dương lịch. Mọi trách nhiệm và kế hoạch di tản được chuẩn bị đầy đủ. Trung Sĩ Hoàng sẽ cõng Ðại Úy Cầu bị thương chân không đi được, Ðại Úy Hùng sẽ ôm xác Thượng Sĩ Tranh cố gắng chạy nhanh ra tàu.


Bây giờ là 23 giờ 55 đêm 31 tháng 12, 1972, chỉ còn năm phút nữa là một năm mới sẽ ra đời. Trong những giây phút thiêng liêng này ở các quốc gia khác, người ta đang hạnh phúc sung sướng bên những ly sâm-banh sùi bọt, những lời chúc an lành, những nụ hôn ấm cúng, những dạ hội, những vũ điệu, những bài ca gần như bất tận trong đêm nay. Còn tại nơi đây, nơi một quốc gia nhỏ bé, một tiền đồn heo hút nằm giữa rừng hoang vắng, nơi mà những căm thù được dựng lên bằng những suy luận vô lý của hai ý thức hệ ngoại lai.


Hỡi những người Việt Nam da vàng máu đỏ, tại sao?… Và tại sao?…


Tiếng động cơ trực thăng đã bắt đầu nghe rõ từ hướng Ðông Bắc, như một thiên thần từ trời cao đang ngang nhiên tiến vào chiến tuyến giữa đêm trừ tịch để cứu người lâm nạn. Ðạn lửa phòng không nổ ròn như pháo Tết, hỏa tiễn ì ầm rơi vào bãi đáp. Cộng Sản đang làm lễ đăng quang để tiếp rước thiên thần đang giáng thế. Thật bình tĩnh với nụ cười ngạo mạn, Trung Úy Phát tự “Phát Sứt,” đã nhiều lần vào sinh ra tử khéo léo đặt con tàu vào bãi đáp một cách dễ dàng, bên ghế trái, hoa tiêu phụ là Trung Úy Bằng, một cựu Biệt Ðộng Quân Biên Phòng, một người anh hùng luôn luôn đặt nặng trách nhiệm và bổn phận của Tổ Quốc giao phó trước sự sống còn của đời mình.


Ðạn pháo kích vẫn tiếp tục rơi tới tấp, những cái chớp nhoáng, lập lòe gây ra một thứ ánh sáng cực kỳ man rợ. Trung Sĩ Hoàng hết sức khó khăn vất vả mới đưa được Ðại Úy Cầu lên tàu. Ðại Úy Hùng nhất quyết ôm chặt tro xác của Thượng Sĩ Tranh lần mò chạy theo sau. Phi hành đoàn đã lên tàu đầy đủ. Trung Úy Bằng đưa ngón tay lên trời ra dấu cho trưởng phi cơ Trung Úy Phát sẵn sàng cất cánh. Như một con chiến mã thật hiên ngang nhảy vọt lên không trung, chỉ trong tích tắc sau đó đã lặng lẽ biến mình trong màn đêm dày đặc


Xin giã biệt Tống Lệ Chân, giã biệt những anh hùng Mũ Nâu Biệt Ðộng. Qua tần số radio của đài phát thanh Sàigòn, chuông kiểng nhà thờ đã rộn rã khua lên từng hồi để chào đón một năm mới vừa ra đời.


Các anh: Cầu, Hùng, Hoàng và vong linh của Thượng Sĩ Tranh, cũng như phi hành đoàn UH-1 cấp cứu, anh Phát, anh Bằng… Hôm nay tôi viết bài này để nhắc nhở những thành tích oanh liệt, can trường của các anh. Các anh là những anh hùng của Không Quân nói riêng và của Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa nói chung. Vì vận nước không may các anh đã chia tay nhau mỗi người mỗi nẻo khắp nơi trên thế giới, nhưng “tinh thần Tống Lệ Chân” của trên hai mươi ba năm về trước các anh đã thể hiện được tình huynh đệ chi binh, quên thân mình để cứu giúp đồng đội, chiến hữu. Tôi cầu nguyện và chúc lành các anh em gặp được nhiều may mắn và hạnh phúc trong quãng đời còn lại.


Riêng Thượng Sĩ Tranh, tôi xin thành tâm khấn vái và cầu nguyện cho vong linh anh được yên lãnh trong thế giới vĩnh cửu, hãy vui trong giấc ngủ bình yên…


Nguyễn Văn Ba


Cựu Lôi Thanh II/Phi Ðoàn 237

Nhà sơn lại dễ bán


Cái nóng tàn bạo của mùa Hè cuối cùng đã trôi qua và nhiều chủ nhà đang sử dụng thời gian này để thực hiện những dự án sửa sang nhà cửa.










(Hình: AP)


Sân nhà được thu dọn ngăn nắp. Một lớp bổi mới được trải lên các thảm hoa. Các ống máng được khai thông để chuẩn bị đối phó với mưa, tuyết, và băng đá kéo dài trong mùa Ðông. Ðó có thể là một thời gian bận rộn, nhất là đối với các chủ nhà đang dự tính bán nhà.


Theo Realty Times, hầu hết nhà cửa đều cần vài loại sửa chữa nào đó hoặc những cải tiến trước khi chúng được liệt kê trên thị trường nhà bán. Mọi thứ, từ sự hao mòn hàng ngày đến những căn bếp lỗi thời đều có thể làm cho người mua quay lưng đi. Trong khi số nhà bán trên thị trường đã giảm bớt trong những tháng gần đây, người mua biết rằng nhiều người bán sẽ đứng trước sự cạnh tranh gay gắt để bán nhà và bán được nhà với giá đã liệt kê.


Người bán phải làm mọi thứ mà họ có thể làm để hấp dẫn một người mua. Màu sắc có một khả năng đặc biệt để ảnh hưởng đến tâm trạng. Người bán cũng sẽ sung sướng khi biết rằng màu sắc có thể ảnh hưởng đến tâm trạng của những người có thể mua căn nhà của họ!


Màu sắc có thể được sử dụng tại nhiều nơi: những bức tường, sàn nhà, và việc dàn cảnh.


Trước hết, bạn hãy xem xét màu sắc của những bức tường bên trong nhà và trần nhà. Người mua muốn những màu tươi, sạch sẽ, phù hợp với kiểu dáng của một căn nhà. Màu trung tính là điểm then chốt, nhưng có một điều ngoắt ngoéo. Màu trung tính có thể có nghĩa những màu từ màu xám đến màu vàng đến màu nâu. Màu nào thích hợp nhất cho căn nhà của bạn?


Tất cả đều tùy thuộc vào kiểu dáng kiến trúc. Những căn nhà truyền thống sẽ thích hợp với những bức tường có màu ấm. Những nhà ở vùng quê hoặc cạnh bãi biển có thể lợi dụng những thớ thiên nhiên (màu nâu đất) đi cùng với những màu xanh dương hoặc xanh lá cây.


Hãy tiếp tục chủ điểm của bạn cho tất cả những sửa sang của bạn. Nếu bạn chọn chủ điểm là bãi biển trong phòng khách của bạn, khi đó đừng chọn giải pháp sửa sang nhà bếp của bạn với loại đá phiến màu sậm, nặng nề. Ðó là một sự xung đột mà người mua sẽ lưu ý. Thay vào đó, hãy xem xét những lựa chọn trong phạm vi ngân sách của bạn. Ðồ gốm và sành sứ là những lựa chọn phù hợp với túi tiền và có thể được cung cấp màu kem và màu trắng trung tính. Nếu bạn có ngân sách lớn hơn bạn có thể sử dụng cẩm thạch và những loại đá vôi (limestone hoặc travertine).


Trong khi những lựa chọn trong việc lát sàn thay đổi tùy theo các chủ nhà, màu sắc được ưa chuộng hiện nay để lát sàn vẫn là những màu nâu vừa phải của ván ép tổng hợp và gỗ cứng. Nếu bạn dự tính bán lại căn nhà của bạn vào một lúc nào đó, bạn nên tránh những màu thật sáng hoặc thật tối. Loại sàn có màu sắc trung dung ít có triển vọng làm người mua quay đi.


Cuối cùng, bạn dùng màu sắc để dàn cảnh căn nhà. Với bức tường có màu trung tính làm nền, bạn hãy làm nổi bật căn phòng với một hoặc hai màu mà bạn lựa chọn. Phối hợp những màu này theo nhiều kiểu khác nhau. Những bức hình với những đường sọc hoặc hoa có thể làm người xem dừng lại khi được thực hiện theo chủ đề về màu sắc.


Ðiểm then chốt về màu sắc và việc bán nhà là làm cho căn nhà của bạn hấp dẫn thật nhiều người mua. Trung thành với những màu trung tính phù hợp với một chủ điểm thiết kế là một đường lối chắc chắn để tạo cảm tưởng tốt đối với người mua.

Hiệp Hội Ðịa c California lạc quan cho năm 2013

Hình:


ND-121106-NhaBan


Nếu thị trường nhà đất của California là một dấu hiệu cho thấy chiều hướng hồi phục của thị trường nhà đất trên toàn quốc, và thường là như vậy, thì mọi chuyện đang có dấu lạc quan. (Hình: AP)


 


 


 


Theo Realty Times, Hiệp Hội Ðịa Ốc California (CAR: California Association of Realtors) mới đây báo cáo rằng những vụ mua bán trên thị trường nhà đất California sẽ tăng 1.3% trong năm 2013, trong khi giá nhà ở giữa (median price) sẽ tăng nhiều hơn, khoảng 5.7%.


“Thị trường đã cải thiện một cách vừa phải trong năm vừa qua, và chúng tôi hy vọng điều đó sẽ tiếp tục qua năm 2013,” theo lời chủ tịch của CAR, ông LeFrancis Arnold.


Ông Arnold nói: “Những vụ mua bán sẽ còn cao hơn nữa nếu số nhà bán bớt bị kềm hãm trên những thị trường bị chi phối bởi loại nhà do ngân hàng làm chủ (REO: Real Estate Owned), đặc biệt trong vùng Central Valley (vùng đồng bằng ở miền Trung California) và Inland Empire (vùng nội địa ở miền Nam California, phía Ðông Los Angeles), nơi số nhà bán bị thiếu hụt trầm trọng. Những vụ mua bán sẽ mạnh hơn trong những vùng có giá nhà cao hơn, nơi có nhiều nhà có trị giá cao hơn số tiền mà chủ nhà còn nợ và có vẻ như có nhiều nhà bán hơn.”


Theo bản “Tiên Ðoán Thị Trường Nhà năm 2013” của CAR, những vụ mua bán nhà tại California sẽ tăng trong năm thứ ba liên tiếp và giá ở giữa sẽ tăng trong năm thứ nhì liên tiếp.


Mức tăng 1.3% cho năm 2013 không thấm gì với mức tăng được trông đợi cho năm 2012 là 5.1%. Giá nhà tăng 5.7%, lên tới một giá ở giữa là $335,000 trong năm 2013, tiếp theo một mức tăng được dự trù là 10.9%, lên tới $317,000 trong năm nay.


Giá ở giữa vẫn không sánh được với mức cao gần $595,000 vào Tháng Năm 2007, nhưng giá đó giúp nhiều người đủ khả năng mua nhà.


“Khả năng mua nhà chưa bao giờ mạnh hơn – với lãi suất thấp kỷ lục và giá nhà thuận lợi, kết hợp lại để tạo một cơ hội một thế hệ mới có một lần, để mua một căn nhà ở California,” ông Arnold nói.


Sự tăng trưởng kinh tế đang hỗ trợ sự hồi phục địa ốc của tiểu bang.


CAR tiên đoán một tỉ lệ phát triển việc làm là 1.6% ở California, giữa lúc tỉ lệ thất nghiệp của tiểu bang giảm còn 9.9% trong năm 2013, so với 11.7% trong năm 2011 và 10.7% trong năm 2012.


California đã thêm 300,000 việc làm kể từ Tháng Tám 2011 đến Tháng Tám 2013 với Stockton, San Francisco và San Jose cho thấy những gia tăng lớn nhất. Lãnh vực tuyển dụng về chuyên môn và kinh doanh, kể cả ngành kỹ thuật ở Silicon Valley, là động cơ tạo việc làm lớn lao, theo báo cáo của Hội Ðịa Ốc California.


Hiệp Hội Ðịa Ốc California, thường có khuynh hướng bảo thủ, tiên đoán lãi suất thế chấp nhà sẽ nhích lên tới 4% trong năm 2013, mặc dù có lời loan báo mới đây của Quỹ Dự Trữ Liên Bang là sẽ duy trì lãi suất ở mức thấp với $40 tỉ hàng tháng mua thêm các chứng khoán được bảo đảm bằng tiền thế chấp nhà.


“Ðộng lực của thị trường địa ốc, đã khởi sự vào đầu năm nay sẽ tiếp tục qua năm 2013,” theo lời phó chủ tịch kiêm kinh tế gia trưởng của CAR, bà Leslie Appleton-Young.


“Nhu cầu bị đè nén của những người mua nhà lần đầu sẽ cạnh tranh với những nhà đầu tư và những đề nghị trả hoàn toàn bằng tiền mặt đối với các bất động sản giá thấp, trong khi những căn nhà được nhiều người trả giá và việc trả giá cao để tranh mua sẽ thường xảy ra đối với những căn nhà có mức giá trung bình tới giá cao,” bà Appleton-Young tiên đoán.


Bà cũng nói: “Những hành động của các chủ nhà chìm dưới nước sẽ đóng một vai trò quan trọng trong số lượng nhà bán vào năm tới, với giá nhà gia tăng khiến vài người bất động trong khi những người khác xúc tiến việc rao bán căn nhà của họ.”


Thành phần các gia đình có equity âm (trị giá căn nhà thấp hơn số tiền mà họ còn nợ) giảm từ 35% trong năm 2009 còn 29% trong năm 2012.


Nhưng bà Appleton-Young cảnh cáo rằng không có gì chắc chắn. Những tiên đoán về địa ốc tại California được căn cứ vào những chiều hướng mới đây và các chu kỳ lịch sử có thể bị gián đoạn bởi nhiều yếu tố.


“Những lá bài gây bất ngờ cho năm 2013 bao gồm các chính sách về tiền tệ và nhà đất của liên bang, tình hình tài chánh của chính quyền tiểu bang và địa phương, số cung về nhà đất, và hành động của những chủ nhà chìm dưới nước – chưa kể tới sức mạnh của sự hồi phục kinh tế nói chung,” bà Appleton-Young nói.

Thơ Quách Như N.

 


Thử tưởng tượng


 


Thử tưởng tượng anh không đang hiện hữu


Em bước vào vùng trống rỗng không gian


Em dám chứ vì không thêm chẳng bớt


Nhánh cỏ anh may ra có chút hồn


 


Thử tưởng tượng thời gian quay ngược lại


Em gặp anh ở một cõi mơ hồ


Em dám chứ cùng ngửa tay hứng mộng


Mộng, thật – thơ, người; người mộng trong thơ


 


Thử tưởng tượng anh chẳng là thi sĩ


Nhưng ôm thơ chạy khắp quả địa cầu


Thử tưởng tượng em làm sao đuổi kịp


Sao níu cùng run rẩy một chiêm bao


 


Thử tưởng tượng nếu anh sa địa ngục


Sao biết em đang ở chốn thiên đường?


Em tội lỗi tầng sâu hơn một bực


Vĩnh viễn mình chẳng thể gặp nhau đâu


24 tháng 6, 2011


(Nguồn: [email protected])

Thơ Phương Nam


Thơ Phương Nam


 


Khóc cùng em


(Riêng tặng Phương Uyên)


 


Cô gái 20 tuổi đầu chỉ biết một điều duy nhất


Yêu nước và căm ghét ngoại xâm


Một điều thật nhỏ trong triệu triệu người dân Việt


Nhưng lạ kỳ… hầu như ai cũng đều câm lặng


Triệu đôi mắt thờ ơ trong linh hồn vô cảm


Ai cũng cho em là phản động


Phản bội tổ quốc


Phản bội xã hội chủ nghĩa, đảng, bác


vân vân và vân vân…


Cái tội chụp vào đầu một tâm hồn trong trắng


Và trong lao tù em tự hỏi


Yêu nước là gì và nghĩa là sao?


Chắc em quên đi những bài học thời khăn quàng đỏ


Hay quên 5 điều dạy của bác


Của những bọn người lớn không chút lương tri


Suốt một đời tung hô ca ngợi


Của hàng ngàn đảng viên đeo mặt nạ đội lốt người


Mang chủ nghĩa sáng ngời đi lùng mưu lợi


Bọn liếm gót giặc tàu


Rước ngoại xâm về dày xéo tổ tiên…


Lịch sử Việt Nam em bàng hoàng tự hỏi


Yêu nước là gì và nghĩa là sao ?


Em khóc ngất nhìn khoảng không nín lặng


……


Phương Uyên em hãy đem những dòng nước mắt


Biến nó thành thác đổ


Rác rưởi sẽ tuôn trôi


Lũ dòi bọ ký sinh đỏ rực sẽ trở màu tím ngắt


Nước mắt em sẽ cuốn phăng ngàn dối trá bao che


Những giáo điều nhơ nhớp


Như sóng Bạch Ðằng Giang


dậy hồn thiêng sông núi


 


Và em hãy tin có những người bên cạnh


Sẽ cùng khóc với em


Ðể cùng em sẽ có một ngày


Ðược trở về bên dòng sông ngọt lịm quê hương…


(Cali đầu Thu 2012)

Thơ Luân Hoán

 


(Bài tặng nữ sinh Ðà Nẵng)


 


Nữ sinh Ðà Nẵng ngày xưa


hơn nửa hoa hậu, còn thừa… hoa khôi


cũng nhờ có đám chúng tôi


những thằng bay bướm sáng ngời mày râu


 


em đi, lững thững theo hầu


em đứng, lấp ló trước sau canh chừng


vòng eo thơm cùng cánh lưng


bàn tay gót guốc ngập ngừng dáng thơ


môi trầm hương, mắt nai tơ


nữ sinh Ðà Nẵng: ngàn sao đêm, ngày


 


tài hoa tầm cỡ tôi đây


cũng đành quanh quẩn cầu may trông chừng


riết rồi đành yêu lung tung


những Hà, những Phú, những Quân, những Hồng…


 


đêm nằm giường chiếu mênh mông


gác tay tưởng tượng vòng vòng cho vui


có ma nào biết tới tôi


ngoài đôi ba chữ tới lui…


thất tình


tặng em bằng “chạy” nhật trình


giấu tên vì sợ là mình dở hơi


 


yêu em như giỡn vậy thôi


thưa em áo trắng một thời nữ sinh


xoay qua xoay lại, giật mình


năm mươi năm vẫn còn mình bên ta


 


nữ sinh không có tuổi già


nhắm mắt thấy rõ vẫn là hôm qua

Thơ Hạc Thành Hoa

 


Chia tay với núi


 


Sáng nay người thức dậy rồi


Núi còn ngái ngủ giữa trời mờ sương


Rồi mai trong cõi vô thường


Giữa người với núi biết còn gặp nhau


Sáng nay trời lạnh mưa mau


Hình như núi cũng bạc màu sáng nay.


(4-9-2012)


____________


 


Về lại đồng bằng


 


Giờ không còn biển ru tôi


Vẫn nghe tiếng sóng bồi hồi thiết tha


Tưởng như núi mọc quanh nhà


Ngờ đâu núi biếc lại là cây xanh


Trở về sóng lúa reo quanh


Lại ru tôi với âm thanh ngọt ngào.


___________


 


Tiếng ve sầu


 


Giã từ núi thẳm người về


Còn mang theo những tiếng ve trong đầu


Tiếng ve chìm tận hang sâu


Bên trong như chứa cả bầu trời riêng


Lâu rồi tưởng đã dần quen


Tiếng ve đã tắt tiếng chim đã ngừng


Bỗng dưng nhớ núi quá chừng


Tiếng ve lại chuốt nên từng cây kim.


(Nguồn: Tác giả gửi qua sangtao@org)

Thơ Hoàng Lộc

 


Khất thực


 


ta từng mặc áo cà sa – bưng bình bát


đi quanh cõi đời những được và thua


một lần qua nhà em, anh đứng lại


nghe nặng đôi tay, anh quay về chùa


 


mở bình bát ra


trang thư tình em thơm ngát


anh mới hay mình là đứa chân tu…


_________


 


Cho dẫu phù vân


 


mùa đã khô rồi – sông hết nước.


và ta, cây đã không còn cây.


mặt trời cứ tận cùng sức nóng.


như muốn thiêu tan trái đất này?


 


em vẫn thương ta – lòng muốn tưới.


lòng muốn mưa năm bảy lần chiều.


cứ ước làm sao hồ mương rạch.


và ước làm cả hạt sương khuya


 


không thể rồi em, đời cạn kiệt.


không còn những thứ để nuôi nhau.


để nuôi ta – nuôi tình một thuở.


để xanh em khi ta bạc đầu


 


nắng rát mặt mùa – đất đã nứt.


cây ta duỗi thẳng những cành trơ.


cả những mạch ngầm – nước cũng tắt.


chỉ mắt em còn mấy giọt khô…


__________


 


Xứ xa nhớ Tây Giang


và cô bạn nhỏ


 


thời tuổi nhỏ anh rất nghèo rất nghịch


như bu lên cửa sổ ngó em nằm


cũng có bắt gà nhà em làm thịt


nấu cháo gà và xé trộn rau răm


 


lớn hơn chút anh hồi cư phố Hội


còn em thì trôi dạt tới Cà Mâu?


anh rất nhớ và lắm khi rất tiếc


khi biết yêu, chẳng còn thấy em đâu


 


đời xô đẩy để anh đi làm lính


chiến tranh và anh, tuổi trẻ long đong


anh vác súng qua bao miền sông rạch


nghe có em đâu đó ở trong lòng


 


không thể níu nhau của thời tuổi nhỏ


cửa sổ nhà em và bữa cháo gà…


anh với em phải bao trời tứ xứ


chắc chi cùng ngồi ngó lại quê xa?


28 tháng 8, 2012


(Nguồn:[email protected])

Thơ DanHuynh


Vội


(Riêng tặng T.)


 


Em vội đi như chưa bao giờ tới


Vội quên dấu vân tay nhạt nhòa anh cứ ngỡ đâu đây


Anh nhớ đêm ta cùng không gian hơi thở


Vội nhìn mà cũng vội mông lung


 


Dường như đời đôi ta luôn vội


Vội hạnh ngộ vội tương tư


Vội như cơn gió vô tình


Thoảng se sắt, thoảng có điều tiếc trông


 


Em vội đi chắc không còn để nhớ


Phút giây vô ngần nốt nhạc đêm thâu


Em vội quá bỏ rơi tiếng dương cầm lạc lõng


Bỏ quên đêm thâu quên sợi tóc bạc màu


 


Em vội qua đời anh như đóm sao băng


Chưa kịp ước đã vội chìm tắt lịm


Em vội đi quên cả giã từ


Quên phút giây bỡ ngỡ như lần đầu gặp mặt


 


Em vội như vội vô tình


Vội đôi môi, vội mái tóc buông trôi


Vội quên ánh mắt nụ cười


Em quên ban tặng những quãng đời quanh em.


 


                                              Cali Thu 2012

Thơ Cao thị Vạn Giả

 


Khúc Ly Ðình


 


Tiễn chân anh tận phi trường


Lỗi đi. Lỗi ở. Mười phương lỗi về


Mù sương phi cảng não nề


Thôi anh. Ở lại buồn về em mang


Tiễn anh một chén rượu tàn


Một bàn tay nắm. Một hàng lệ mau


Cuộc cờ thế sự binh đao


Phút giây tái ngộ ngàn sau biết còn!


Một em trong cảnh hao mòn


Một anh đất khách nhớ tròn tháng năm


Trời Tây rẽ bước âm thầm


Ngàn năm mỏi cánh chim bằng tha hương.


_________


 


Khi trời xanh trong mắt


 


Khi trời xanh trong mắt


Người đi vào tình yêu


Bằng một cánh tay thần


Năm khởi đầu yêu dấu


Anh đi vào đời em


Bằng tiếng nói thiên thần


Ðôi mắt ấy đượm buồn


Giọng nói ấy bi thương


Bên nhau hồn cúi xuống


Nghe buồn im nắng trưa


Ngày chia tay mùa ấy


Lá vàng bay trên đàng


Chiều năm tàn gió động


Người yêu thì mông mênh


Khi trời phai sắc cũ


Mắt dõi bốn phương trời


Bằng một chút hoang vu


Tựa vai người trong mộng


____________


 


Ðời cây cối


 


Khi chiều mây bay ngang giáo đường


Như sương


Nhà thờ đỏ


Hỡi đời buồn cây cối


Một con đường đá đen


Khi ngày gió đi ngang giáo đường


Thoáng bóng mơ huyền diệu


Lẫn điệu buồn


Chuông vọng hồi trong sương


Nôi tình yêu hư ảo


Mai chiều hoang vu phần giáo đường


Những mây trời vẫn cũ


Và một cánh chim bay


Còn có phận cây buồn


Thương yêu từ giã biệt.


___________


 


Ðầu thu


 


Khi rừng mới sang thu buổi chiều tôi đứng yên


Người ấy bây giờ mùa xuân không còn vang tiếng cười


Khi đưa tôi về lời tiễn chân rất chậm mùa


thì buồn trên vai áo xuống làn môi


 


Ðêm giới nghiêm như một canh buồn


Vầng trăng ra đi xa dần xa dần


Người ấy bây giờ chong ngọn đèn tàn


Ðọc bài thơ và ngắm ảnh


Hiền hòa trong trái tim


Giấc mơ tôi thành khách chuyến xe đầu


Khởi chạy suốt đường liên tỉnh


Người ấy bây giờ mùa xuân không còn vang tiếng hát


Buổi chiều đầu thu


ngoài trời sương mù bay ngang bay ngang.


 


(Nguồn: tranhoaithux.wordpress.com)

Tôi không phải dân Bắc

 


* Trần Mộng Lâm


 


Em còn nhớ rằng năm 2010, anh bị về VN vì buộc phải hộ tống chị về dự đám cưới T.M. Trong đêm 30, anh tình cờ dự một tiệc rượu đêm trừ tịch, mừng năm mới sắp tới! Trong khi trò chuyện, anh có dùng câu nói: “Người Nam chúng tôi…”!



(Nguồn Google)


Tức thì mấy người VC trong bàn tiệc đồng thanh, mỉa mai phản đối: “Ông mà là người Nam?” Lúc ấy, anh “nực gà” quá, bèn nói với họ: “Mấy anh tưởng cứ hễ sanh ra ở Bắc thì là người Bắc hay sao?! Tôi sinh ra ở đất Bắc, nhưng dzô Nam từ hồi nhỏ. Tôi được nuôi dưỡng, học hành, lập gia đình, sanh con cái, cầm súng bảo vệ Miền Nam, chịu khổ nhục cùng đồng bào Miền Nam khi bị người Bắc cướp phá, đè nén, bóc lột, hành hạ… Tóm lại tôi là người Nam chính cống!… Có những người Bắc trong thái độ đối xử họ lại không coi tôi là người cùng quê hương với họ. Riêng tôi, tôi chỉ có sinh ra ở đất Bắc! Thế thì tôi là người Nam đích thị, chứ còn chi nữa!” Tác giả Trần Mộng Lâm đã viết thay cho anh, và cho bao nhiêu người gốc xứ Bắc! Ông viết hay quá! Cảm ơn ông vô cùng! ([email protected]”)


Nhân sắp đến ngày ký Hiệp Ðịnh Genève 20 tháng 7…


Trên giấy tờ, tôi sinh ra tại tỉnh Nam Ðịnh.Và trên thực tế, tôi nói tiếng Việt giọng Bắc, không uốn lưỡi khi phát âm những tiếng bắt đầu bằng “tr.” Những chữ bắt đầu bằng “V,” tôi nói rất rõ, nhưng may mắn không lầm chữ “L” với chữ “N.”


Nhưng tôi không phải người Bắc: Hiệp Ðịnh Genève đưa tôi vào miền Nam rất sớm, ngay khi tôi vừa lên trung học. Tôi lớn lên tại miền Nam, học theo chương trình bộ Giáo Dục Miền Nam, đọc sách miền Nam, học và thành tài tại Miền Nam.


Trong những năm sống tại Miền Nam, tôi nổi trôi theo những thăng trầm của miền Nam. Tôi biết thế nào là Bình Xuyên, thế nào là Ðệ Nhất Cộng Hòa, ông Diệm, ông Nhu, ông Thục, rồi sau đó, ông Khánh, ông Thiệu, ông Kỳ, ông Trí Quang, ông Tâm Châu, ông Dương Văn Minh…


Lớn lên, như tất cả những người thanh niên miền Nam, tôi đi lính. Khi nhập ngũ, tôi thấy mình làm rất đúng, trốn lính mới là làm sai, là hèn nhát. Sau 7 năm quân ngũ, Miền Nam bại trận.


Kẻ thắng trận Miền Bắc đưa chúng tôi vào tù. Trong tù tội, người ta sỉ nhục chúng tôi đủ điều, nào là quân bán nước, nào là “ngụy,” nào là bọn “hiếp dâm đàn bà, thủ tiêu con nít”…


Câu chuyện của đời tôi sau đó cũng như cuộc đời của rất nhiều người thanh niên Miền Nam, sau tù tội, là vượt biên, là trại tỵ nạn tại Mã Lai, là làm lại cuộc đời từ con số không, là kiếp lưu đầy nơi đất người.


Năm nay, bước vào lớp tuổi cổ lai hy, nhìn lại cuộc đời mình, tôi nhận thấy một điều, là tuy được sinh ra tại Miền Bắc, tôi không phải là người Bắc, hiểu theo cái nghĩa Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa của Cộng Sản. Tổ Quốc của tôi Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam. Kể từ sau Hiệp Ðịnh Genève năm 1974, người Việt sống tại Miền Nam và Miền Bắc không cùng một văn hóa.


Họ cùng một nguồn gốc, tôi đồng ý. Nhưng người Anh và người Mỹ, người Úc, cũng cùng một nguồn gốc. Người Pháp và người dân Québec, nơi tôi định cư, cũng cùng một nguồn gốc. Nhưng không ai có thể nói người Mỹ là người Anh, người Québec là người Pháp.


Tôi là người Miền Nam, tuy tôi nói giọng Bắc.


Một anh tập kết, là người Bắc, tuy anh ta nói giọng Nam.


Dù người ta có lý luận trên lý thuyết thế nào chăng nữa, với tôi, biến cố 1975 chỉ là một quốc gia thôn tính một quốc gia khác.Thử tưởng tượng nước Anh đem quân qua đánh Hoa Kỳ rồi gọi dân Hoa Kỳ là “ngụy,” nghe được không?


Không, tôi không phải là người Bắc. Dân Sài Gòn không phải dân Bắc.


Gọi Sài Gòn là thành phố Hồ Chí Minh, bắt dân Sài Gòn chịu sự độc tài đảng trị, không nhân quyền, không dân quyền, không tam quyền phân lập (lập pháp, hành pháp, tư pháp), thực là ép nhau quá đáng. Văn Hóa Miền Nam không phải như vậy. Rồi đây, người Miền Nam sẽ phải nổi dậy để bảo vệ văn hóa của mình, làm những gì mà người Hồng Kông đang làm.


Miền Nam đã, đang và sẽ giải phóng Miền Bắc, vì văn hóa Miền Nam tốt đẹp, và văn minh hơn.


Ngày 18 tháng 7, 21012


(Nguồn: [email protected])

Người Việt nói tiếng Anh


* Nguyễn Tài Ngọc


 


Tiếng Pháp, tuy không độc vận như tiếng Việt, nhưng dễ phát âm vì thấy sao nói vậy. Trong khi tiếng Anh thì cùng một chữ nhưng lại phát ngôn ba, bốn nẻo khác nhau, chẳng biết đường nào lần.










Hình minh họa.


Cùng một chữ a, trong chữ apple thì đọc là áp-pồ, nhưng trong chữ gate thì đọc là ghết(ơ), trong chữ national thì lại đọc là na-shô-nôl, và trong chữ bare thì lại đọc là ber. Ðã thế, mẫu tự cuối của một chữ phải nói ra hơi gió, không thì người Mỹ không hiểu. Người Việt chúng ta đại đa số khi nói tiếng Anh ai cũng nuốt âm gió. Thí dụ như chữ good, đọc đúng là gúđ (ơ) với vần cuối đơ uốn lưỡi trong miệng, thì người mình chỉ nói gút, làm người Mỹ nghe muốn điên cả đầu. Hầu hết chúng ta nếu sống ở Việt Nam từ bé đến lớn chừng 16, 17 tuổi rồi sang Mỹ ở thì mặc dù nói tiếng Anh trẹo quai hàm cho đến 50 năm sau cũng chẳng bao giờ phát âm đúng như người Mỹ.


Cộng với việc uốn lưỡi trẹo quai hàm, nếu mình đánh dấu nhấn sai chỗ, người Mỹ nghe sẽ không hiểu. Ngày xưa khi mới sang là dân tỵ nạn, tôi đến tiểu bang Pensylvania. Khi vào học trung học ở California, bạn Mỹ trong lớp hỏi tôi trước đó ở đâu, tôi trả lời là ở Pen-sôl-vê-Ní-a. Họ lắc đầu không hiểu chỉ vì tôi đọc nhấn mạnh sai ở vần “Ní.” Vần nhấn đúng là ở chữ “Vế”: Pen-sôl-Vế-ni-a.


Tôi sang Mỹ từ năm 17 tuổi, bây giờ phát âm tiếng Anh vẫn còn dở ẹc. Có ở thêm chục năm nữa thì vẫn là anh Mít nói tiếng Mỹ. Ấy là tôi không phải là người thất học vì ngày xưa từ bé bố tôi đã dậy tôi tiếng Pháp ở nhà. Vào trung học lớp 6 tôi chọn chọn sinh ngữ chính Pháp văn. Ðến năm lớp 9 thì như bao học sinh khác, tôi phải học thêm tiếng Anh là sinh ngữ phụ thứ hai. Tôi nói vòng vo tam quốc như thế để nhấn mạnh một điểm là tôi không đến nỗi ngu lắm khi học ngoại ngữ, thế mà sau 37 năm sinh sống ở Hoa Kỳ, tiếng Anh của tôi vẫn còn bập bẹ như chị bán bar trong xóm Bàn Cờ của tôi ngày xưa. Có trình độ học vấn mà tôi còn thấy chới với, do đó hầu hết người Việt Nam sang Mỹ khi đã trưởng thành, nhất là những người ít học hay vào lứa tuổi 30, 40, thì không tài nào nói tiếng Anh được chuẩn. Không đọc được tiếng Anh nên họ phát âm chữ Mỹ theo tiếng Việt nhiều khi vô tình nghe rất buồn cười.


Khi con tôi còn nhỏ, chúng tôi thuê một bà Việt Nam săn sóc vào ban ngày khi chúng tôi đi làm. Dĩ nhiên là bà ta hoàn toàn không nói tiếng Anh. Nếu nghe bà ta phát âm tên con đường Kuehner (Kiu-nơr) gần nhà tôi thì bảo đảm người Mỹ sẽ há hốc kinh ngạc: đường Cu Nó. Ðường Cu Nó ở phía Tây thành phố. Phía Ðông thành phố nơi bà ta ở có một con đường tên Culver (Kôn-vơr) thì bà ta biến nó thành đường Cu Dơ. Thành ra bà ta ở đường Cu Dơ, nhưng mỗi sáng đi làm đến nhà tôi ở gần đường Cu Nó.


Con đường chính yếu gần nhà tôi là Yosemite (Dzồ-xé-mi-ti) thì bà ta đọc là Dô Xe Mít, thành phố kế bên Burbank (bơr-beenk) thì bà ta đọc là Bấp Bênh. Ði trên đường Dô Xe Mít (Yosemite) gập ghềnh nên nó kế bên thành phố Bấp Bênh (Burbank) là phải lắm!


Những cặp vợ chồng Việt trẻ sinh con ở Hoa Kỳ phần lớn đặt tên tiếng Mỹ cho con vì chúng nó xem như là dân Mỹ, chẳng còn liên hệ gì đến Việt Nam. Bố mẹ có thể gọi được tên con, nhưng đối với ông bà nội/ngoại, gọi cháu mình với tên Mỹ là cả một cực hình.


Hơn chục năm trước tôi có quen một anh bạn. Khi vợ sinh đứa con trai đầu lòng, anh ta đặt tên con là Kirt (Kơrt). Vài năm sau tôi đến ăn sinh nhật, gặp bà ngoại cháu bé thì bà ấy nói với tôi:


– Cái thằng Liêm thiệt hết sức nói. Tiếng Dziệt Nam mình có biết bao nhiêu là tên, nó hổng đặt tên con nó tiếng Dziệt để tui dễ gọi, mà nó lại đặt tên tiếng Mỹ, tui giận hết sức.


– Tiếng Mỹ với tiếng Việt cũng như vậy thôi, có gì đâu mà bác giận? Tôi hỏi và nói tiếp: Mình ở Mỹ thì nên đặt tên con nít tiếng Mỹ, chứ nếu không mai sau nó vào trường học, bạn bè không gọi được tên tiếng Việt thì tội cho nó.


– Trời ơi, tội cho nó nhưng ai tội cho tui? Nó đặt tên con tiếng Mỹ thì làm sao tui kêu? Mà có đặt tên Mỹ thì cũng kiếm cái tên gì cho tui gọi được. Ðằng này nó đặt tên thằng cháu tui là cái gì… “Cứt,” “Cứt.” Ngày nào tui cũng gọi thằng cháu tui tên “Cứt,” “Cứt,” nghe kỳ quá!


Ðứa bé tên là Kirt (Kơrt), bà ta đọc không được tên cháu của mình nên gọi nó là “Cứt”!


Thời đại đặt tên con là “Cái Tĩn” hay “Thằng Tủn” đã xa xưa lắm rồi. Bây giờ thì bố mẹ nào cũng tìm tên thật đẹp để đặt cho con. Michelle (mi-sheo) hay Sally (sa-ly , tên con gái ở Mỹ nghe thật hay nhưng nhiều ông bà nội/ngoại không phát âm được nên đổi tên cháu Michelle ra… “Mì xào,” Sally gọi là “Xá-lị.”


Một cô bạn gái nói cho tôi biết có một anh bạn, vợ sinh con trai, đặt tên là Christopher. Người nào cùng lứa tuổi tôi có thể nhớ trước 1975 có phim “Tình thù rực nắng,” phim Mỹ nhưng không hiểu sao ở Việt Nam tựa đề phim lại là tiếng Pháp“Meutre au Soleil”( tựa tiếng Mỹ là “Summertime Killer”). Sở dĩ tôi còn nhớ vanh vách phim này vì hai tài tử chính, cô đào Olivia Hussey và anh chàng Christoper Mitchum đều đẹp. Tôi còn nhớ rõ Christopher Mitchum với bộ tóc mầu vàng, trông rất lạ vì tóc Á Ðông của chúng ta mầu đen. Anh chàng này tóc vàng, da trắng, người Âu Mỹ trông thấy đã đẹp, tên anh ta Christopher nghe cũng đẹp nữa. Ấy thế mà bà nội Việt Nam ở Mỹ vì không nói được chữ Christopher (Khris-tô-phơr) tuyệt đẹp tên của cháu mình nên gọi nó là… “Tô Phở!”


Anh này có một cậu em trai, cũng lấy vợ, và cũng sinh con trai. Hai vợ chồng người em đặt tên con là Tommy (tom-mi). Tên này thì quá dễ để cho ông bà gọi cháu, ấy thế mà bà cũng gọi trại ra theo âm Việt Nam: “Tô Mì.” Hai đứa cháu, một đứa là “Tô Phở,” một đứa là “Tô Mì,” bây giờ nó trở thành tên quá dễ để cho bà nội gọi cháu.


Tên đường sá ở Mỹ thì những người Việt tha hồ gọi theo tiếng của mình, chẳng quan tâm đến việc người Mỹ có hiểu hay không. Ðây là một vài thí dụ tên đường sá, thành phố ở Mỹ, chữ trong ngoặc là phát âm đúng theo tiếng Mỹ, và chữ kế bên cạnh là người mình đổi sang tiếng Việt để đọc:


– Magnolia (mặec-noó-li-a): Mặt ngó lia


– Cullen (kơ-lân): Cù lần


– McFadden (mặec-pha-đân): Mất phải đền


– McLaughlin (mặec-láph-lân): Mắt láo liên


– Brookhurst (brúk-hơrst): Bốc hốt


– McKee (mặec-ki): Mặc kệ


– Tully (tu-li): Tú lỳ


– Bascom (bas -com): Bát cơm


– Saratoga (sa-ra-tô-ga): Xỏ lá to gan


– Piedmont (píd-mont): Bịt mông


Sau đây là một người Việt nói một câu dùng tiếng Mỹ trà trộn thêm vào:


– Ông đi tới bảng tốp (stop), quẹo phải thì thấy đất to (drug store -drấg-stor: nhà thuốc Tây) mua cho tôi hộp ếch rình (aspirin), nghe nói ếch rình là thần dược còn chữa cô rồ (cholesterol) nữa!


Ðây là một câu chuyện cũng về người Việt đọc tiếng Anh, lưu truyền trên Internet, tôi không biết ai là tác giả, xin chép lại nguyên văn:


“Tui xin kể một chuyện vui có thiệt 100 %, xảy ra cho chính tui:


Cách đây vài tháng, một người bạn nhờ tui ra phi trường đón giùm một cô ca sĩ rất rất ư là nổi tiếng bên VN (xin cho phép tui tạm giấu tên cô ca sĩ đó). Nàng là thần tượng của giới trẻ bên đó và cũng như bên đây. Nàng rất ư là dễ thương và very cute! và thông minh luôn. Nàng sang đây hát show theo lời mời của nhóm bạn của tui. Anyway, trên xe, nàng hỏi tui là nàng có thể xài thẻ tín dụng bên đây được không? Tui hỏi lại là thẻ loại gì? Của nhà băng nào? Thì nàng nhỏ nhẹ bảo là thẻ của nàng là thẻ “Con mẹ xin ăn”! Và cứ thế, suốt cả giờ, nàng huyên thuyên kể về cái thẻ “Con mẹ xin ăn” của nàng có rất nhiều tiền trong đó, nàng có thể dùng nó bất cứ lúc nào và bất cứ nơi nào trên thế giới.


Tui không dám hỏi. Cũng không dám ngắt lời nàng để hỏi. Trong lòng cứ ấm ức và thắc mắc – Ngộ thiệt đó nha! Cớ sao nhà băng bên Việt Nam lại lấy một cái tên nghe oái oăm thiệt. Tại sao lại đi lấy tên nhà băng là “Con mẹ xin ăn”nhỉ? Thiếu gì tên đẹp mà sao hổng lấy. Mà lạ, nàng bảo là cái “Con mẹ xin ăn” băng này là lớn lắm đó nha… Em được họ cho em muốn xài bao nhiêu cũng được cả. Vì họ biết em có dư khả năng trả cho họ hàng tháng!” Chở nàng đến khách sạn, tui ngần ngừ rồi năn nỉ: “Em cho anh xem thử cái thẻ… của em được không? ”


Mèng đét ui, té ra nó là cái thẻ Commercial Bank! Tui phá ra cười khom cả cái lưng còm ốm yếu củÔa tui. Mà tất nhiên là hổng dám giải thích cho nàng hiểu tại sao mình cười. Hi hi hi. Suốt đời chắc hông bao giờ quên được cái kỷ niệm đó, kỷ niệm mà tui hông bao giờ dám kể lại cho nàng nghe cả!


(Ghi chú: Chữ “Commercial“nếu phát âm theo tiếng Anh thì không nghe giống “Con mẹ xin ăn” nhưng nếu phát âm theo tiếng Pháp hoặc theo lối VN thì đúng là“Con mẹ xin ăn”).


Dùng tiếng Anh sai cũng tai hại không kém. Một chị bạn kể cho tôi nghe chị có một bà láng giềng người Việt Nam. Một buổi sáng chục năm trước bà ta ra xe thì gặp ông láng giềng Mỹ. Khi ông ấy hỏi: “Bà đi đâu thế?” thì bà ta trả lời: “Sáng nay tôi đi tìm mua một cái condom.” Ý bà ta nói là muốn mua một cái condo (con-đô, không có m), chữ viết tắt của chữ condominium, có nghĩa tương tự như chữ apartment, nhưng bà ta lại nói nhầm là condom (con-đâm). Condom là bao cao su cho đàn ông dùng để ngừa thai!


Câu chuyện sau đây cũng là người Việt nói tiếng Mỹ.


Có một anh Việt Nam ngày xưa ở dưới Rạch Giá, sang đây làm nghề thợ ráp ở hãng tôi. Cũng giống như bao nhiêu người Việt mê nhạc Việt Nam, hát karaoke và tổ chức nhảy đầm ở nhà, anh ta rất rành rẽ những điệu nhạc như Valse, Cha-Cha-Cha, Tango, Bolero, Rumba… Một hôm anh ta xuống Santa Ana vào một tiệm bánh để mua bánh paté chaud.


Rất tự tin, anh ta ung dung nói với cô bán hàng: “Cô bán cho tui ba cái bánh ‘ba-sô-đốp.’”


Cô bán hàng ngẩn tò te nhìn vì không hiểu anh ta muốn gì, mà anh ta cũng không biết tại sao cô ta nhìn mình: Thay vì nói muốn mua bánh paté chaud, anh ta nói muốn mua pasodoble, một loại điệu nhẩy!


Ðọc đến đây quý vị chắc sẽ có vài nụ cười và nói với tôi “Thank you” đã viết bài này. Tôi định trả lời “Không có chi” bằng tiếng Anh cho quý vị: “You are welcome”; nhưng thay vì phát âm đúng như người Mỹ nói: “You Arr Gweo Kâm,” tôi bắt chước một bà Việt Nam lớn tuổi ở tiểu bang Mả-Cha-Chú-Chệt (Massachusetts – Más-sa-chú-sệt) nói câu “You are welcome” với giọng An Nam Mít đặc sệt: “Giò heo hầm.”


Ngày 28 tháng 9, 2012


(Nguồn: truc le; [email protected])

‘Việt Cộng Con’

 


* Nguyễn Khắp Nơi


(Viết theo lời kể của một cô gái người Bắc)


 


Ðương nhiên, tên của tôi không phải là “Việt Cộng Con” rồi. Và tôi cũng không phải là Việt Cộng, xin bảo đảm một trăm phần trăm.










Một cảnh thăm nuôi tù ở các trại tù miền Bắc vào các năm cuối thập niên 1970. (theo: Google)


Tên tôi là Trinh, Trần Thị Ngọc Trinh. Tôi lấy chồng là một người Lính Việt Nam Cộng Hòa. Con trai tôi tên là Nam, cháu nay đã được năm tuổi rồi. Mỗi lần về thăm nhà, cháu luôn luôn hãnh diện khoe với ông bà ngoại: “Ông ơi, bà ơi, cháu là con của Lính Cộng Hòa đấy. ”


Tức là tôi không có dính dáng gì đến Việt Cộng cả. Vậy thì tại sao tôi lại có cái tên…“ Việt Cộng Con”?


Theo lời bố tôi kể lại, bố mẹ tôi quê quán ở Phú Thọ, sau chuyển về Hà Giang. Ðến năm 1979 thì mới về Hà Nội ở. Lúc đầu, gia đình tôi không có “hộ khẩu,” phải sống tạm bợ ở gầm cầu. Hàng ngày, ba mẹ tôi đi ra chợ, bến xe hàng hay là bến xe lửa xuyên Việt đứng chờ công việc làm, ai nhờ việc gì thì làm việc nấy, thông thường là khuân vác, đẩy xe, cưa cây… Kiếm được việc làm không phải dễ, vì ba mẹ tôi là dân mới tới, thường bị đám người sống lâu năm ở chợ tranh giành đuổi đi đừng ở nơi xa chứ không cho đứng ở gần chợ.


Một hôm, có một đoàn người gồm đa số là đàn bà từ miền Nam vào, nhờ đẩy hàng đi Hà Giang. Hà Giang cách Hà Nội cả trăm cây số, đám đầu nậu không biết địa thế, hơn nữa, vì Hà Giang gần núi, có nhiều sơn lam chướng khí, nên không ai dám nhận đi hàng, bọn chúng mới gọi bố mẹ tôi đến mà bố thí cho việc làm. Tưởng đi đâu chứ Hà Giang thì bố mẹ tôi sống ở đó từ nhỏ, biết từng góc rừng, từng con đường mòn xuyên qua núi. Thì ra đó là những người vợ người con của Lính Cộng Hòa bị đi tù cải tạo. Từ Hà Nội đến Hà Giang thì có xe hàng, nhưng từ Hà Giang tới các trại tù thì phải gánh hàng đi bộ nhiều ngày mới tới.


Bố mẹ tôi chịu cực khổ đưa những người khách hàng đến tận nơi, chờ họ gặp người thân xong xuôi rồi lại đưa họ trở về ga Hàng Cỏ Hà Nội. Những người này cám ơn bố mẹ tôi và tặng tiền nhiều lắm. Sau chuyến đi đó, bọn đầu nậu đứng bến có vẻ nể nang bố mẹ tôi, không dám giành mối như trước nữa. Thực ra, cũng vì không có đứa nào biết đường đi nước bước ở Hà Giang và những vùng xa xôi có trại tù cải tạo, nên bố mẹ tôi hầu như được độc quyền đưa đón thân nhân những người tù cải tạo. Những người này vừa tử tế lịch sự, vừa cho tiền thưởng khá; vì thế, cuộc sống của gia đình tôi mới đỡ vất vả. Nhờ có ít tiền, bố mẹ tôi mới… mua được hộ khẩu ở Hà Nội và cho anh em chúng tôi đi học. Trong thời gian đưa đón những người miền Nam này, bố mẹ tôi đã được họ tin tưởng, vui vẻ nói chuyện và còn chỉ dẫn cách nấu những món ăn ở miền Nam, như là bánh xèo, bánh phồng tôm, chả giò… Ðã có một lần, một nhóm người vì phải mang theo nhiều hàng, lại già yếu bệnh tật, nên đã nhờ bố mẹ tôi vào Nam để mang hàng từ đó ra ngoài Bắc cho họ. Nhân dịp này, họ đã đưa bố mẹ tôi đi chợ mua những món hàng cần thiết và đãi bố mẹ tôi ăn một bữa no say.


Ðến khi những người đi thăm thân nhân tù cải tạo vơi đi dần, bố mẹ tôi liền giải nghệ mà mở một quán ăn nhỏ, chuyên bán những“Món Ngon Miền Nam.” Thời gian đó, bất cứ món hàng nào có xuất xứ “Miền Nam” đều được dân miền Bắc thèm muốn, mua bằng hết, từ cây kim sợi chỉ, nói chi tới những Món Ngon Miền Nam. Cửa hàng của bố mẹ tôi vì thế mà lúc nào cũng đông khách.


Học xong đại học, tôi xin đi làm cho chính phủ, thời gian rảnh thì phụ bố mẹ tôi trông coi công việc. Cửa hàng bán những món ăn Miền Nam của bố mẹ tôi càng ngày càng phát triển, không những chỉ bán hàng ăn, bố mẹ tôi còn mở công ty, mua nhiều loại hàng ở Miền Nam đem ra Bắc bán nữa.


Trong thời gian làm việc, tôi đã được tiếp xúc với một số bạn bè đi du học trở về, đa số đều nói ngoại ngữ rất khá, và đều vào Sàigòn làm việc, chứ không chịu ở lại ngoài Bắc, dù rằng Hà Nội mới là thủ đô. Tôi bắt chước bạn bè, xin bố mẹ tôi cho vào Nam làm việc, nhân tiện làm đầu cầu mua hàng trong Nam đem ra Bắc.


Vào tới Sàigòn rồi, đi làm một thời gian rồi, tôi mới thấy là giữa những người giữ chức vụ cao, được gọi là “lãnh đạo cơ quan” mặc dù là học thức kém, tầm mức hiểu biết về việc làm rất là hạn chế, nhưng lại là những người ngồi mát ăn bát vàng, hống hách với dân chúng nhiều nhất. Càng tỏ ra khó khăn, họ càng được hối lộ và lấy được nhiều tiền trong công quỹ. Những người có bằng cấp, biết làm việc và phải tiếp xúc với dân chúng nhiều như chúng tôi thì lại bị đẩy cho làm việc thật là nhiều. Và cũng vì sự hống hách quan liêu của cấp trên, mà chúng tôi bị vạ lây, bị dân chúng Miền Nam ghét bỏ. Thậm chí, chỉ nhìn thấy chúng tôi, hoặc chỉ cần nghe giọng nói của chúng tôi thôi, họ đã bỏ đi, không quên nói nhỏ với nhau: “Cái đồ Bắc Kỳ… thấy ghét.” Mặc dù những điều kiện mà chúng tôi giải thích, là do cấp trên đòi hỏi, chứ chúng tôi không hề muốn làm như vậy.


Một vài lần, tôi được dịp may tiếp xúc với những người ngoại quốc tới làm việc chung với chúng tôi, họ có kiến thức rất cao nhưng lại nói chuyện rất lịch sự. Cũng có những lần tôi được tiếp xúc với vài du khách đến nhờ làm thủ tục, tôi thấy họ nói chuyện cũng thật là hòa nhã và rất hiểu biết. Tầm mắt và kiến thức của tôi được mở rộng ra, tôi muốn được đi du học để mở mang trí tuệ, và cũng để có thể giúp cho công việc làm ăn của gia đình tôi được phát triển hơn. Tôi đem việc này ra bàn với bố mẹ tôi, cả hai đều đồng ý, nhất là ông bà nội của tôi. Chọn nơi học mới là điều khó khăn hơn cả. Ða số các bạn bè của tôi chọn đi học ở Mỹ (nhất là những đứa có cha mẹ có quốc tịch đảng), tôi lại thấy Úc là xứ sở hiền hòa có nhiều nét về văn hóa nghệ thuật, nên tôi đã chọn môn học về tài chánh ở trường Ðại Học RMIT (Royal Melbourne Institute of Technology), Melbourne, nước Úc.


Dù là đã có một ít vốn liếng tiếng Anh đã học ở trường học cũng như trường đời, nhưng ngày đầu tiên đến giảng đường nghe giảng bài, thú thực là tôi như con vịt nghe sấm, chẳng hiểu ông giảng viên tóc vàng nói cái gì cả, vì giọng của ông hoàn toàn là giọng Úc, khác xa với những phát âm theo tiếng Mỹ mà tôi đã từng nghe ở Việt Nam. Môn học kế tiếp thì tôi lại còn thua nặng hơn nữa, vì giảng viên này gốc người Ấn Ðộ, tiếng Anh của ông còn pha nhiều âm thanh R R R thật là khó nghe.


Hai năm trời trôi đi thật nhanh, ngoài giờ học, tôi xin đi làm thêm ở những nhà hàng ăn ở đường Victoria, khu vực Richmond. Những nhà hàng này tuy bán món ăn Việt Nam nhưng đa số khách hàng lại là người da trắng, nên nhờ đó mà tiếng Anh của tôi đã khá hơn trước và cách phát âm cũng vì thế mà đổi hoàn toàn theo giọng Úc.


Cuối cùng, tôi đã học xong cái bằng Master và sửa soạn khăn gói về nước. Bạn bè của tôi đa số xin ở lại Úc làm việc và sinh sống, tôi không có ý định ở lại, chỉ muốn về phụ giúp gia đình mà thôi.


Tôi mua vé máy bay về Sàigòn trước, nghỉ ở đó một ngày gặp bạn bè rồi mới về Hà Nội ở luôn. Ngồi bên cạnh tôi là một người đàn ông trung niên, ông không bắt chuyện với tôi mà chỉ ngồi im lặng, lâu lâu lại nhìn vào cái hộp sắt gắn kín đang cầm trên tay. Mãi khi xuống phi trường Changi để nghỉ hai tiếng, ông mới mở miệng nhờ tôi cầm giùm cái hộp sắt để đứng lên lấy hành lý để trên khoang xuống. Cái hộp tưởng là bằng sắt nhưng lại là hộp bằng nhôm rất nhẹ.


Ngồi trên ghế chờ đợi, ông mới cho tôi biết đó là cái hộp đựng tro của vợ ông. Vợ ông mới qua đời tuần trước, đã được hỏa táng và ông đem về Việt Nam để ở nhà mẹ vợ, theo lời trăng trối của vợ ông trước khi chết.


Tới phi trường Tân Sơn Nhất, ông chào và cám ơn tôi một lần nữa rồi ai về nhà nấy. Tôi không biết tên ông là gì và ông cũng chẳng biết tôi là ai?


Một năm sau, tôi quay trở lại Úc để dự lễ phát bằng cấp cho đứa em tôi. Ðang đi trên đường Victoria, thật là ngạc nhiên, tôi đã gặp lại ông khách đi chung máy bay hồi nào. Ông cho tôi biết đã đem tro tàn của người vợ về xong xuôi rồi, đã đi làm trở lại. Tôi cũng cho ông hay là tôi đã xin được việc làm và đang làm việc ở Sàigòn, nhân dịp dự lễ phát bằng cấp cho đứa em, tôi xin nghỉ một tháng để đi thăm những thắng cảnh Úc mà trong suốt hai năm đi học tôi không có thì giờ đi đâu cả. Lần này ông cho tôi số điện thoại và nói nếu tôi muốn đi chơi thăm phong cảnh, ông sẽ xin nghỉ đưa tôi đi cho vui.


Thế là chúng tôi quen nhau. Ông tên Thanh, là Lính Cộng Hòa, ngày cuối cùng của cuộc chiến, ông là một chuẩn úy 18 tuổi mới ra trường, đánh trận đầu tiên và cũng là trận cuối cùng của đời lính. Ông có hai đứa con nhưng chúng nó đi làm ở tiểu bang khác, lâu lâu mới về thăm nhà, còn tôi, tôi ba mươi lăm tuổi rồi, và chưa có ý định gì về tương lai cả.


Về lại Sàigòn, chúng tôi vẫn tiếp tục emails qua lại với nhau. Có một lần ông về Việt Nam thăm tro tàn của vợ và nhân dịp đó đi chơi uống cà phê với tôi. Qua năm sau, tôi muốn trở lại Úc một lần nữa để đi thăm Ðảo San Hô ở Queensland, Thanh cũng xin nghỉ để đi chơi cùng với tôi.


Thanh đã ngỏ lời muốn cưới tôi làm vợ. Suy đi nghĩ lại, tôi tuy còn độc thân nhưng đã lớn tuổi rồi (so với Thanh thì tôi còn nhỏ lắm), nên đồng ý làm vợ Thanh.


Thanh làm bữa tiệc gia đình để ra mắt tôi với hai đứa con và bạn bè. Hai đứa con của Thanh nói toàn tiếng Anh, tụi nó không có ý kiến gì, miễn thấy ba nó vui là được rồi. Lần đầu tiên gặp những người bạn của Thanh, tôi vui miệng kể lại cuộc đi chơi ở Ðảo San Hô: “Thật là… hoành tráng chưa từng thấy. Ði xem đảo xong, chúng em đi phố mua hàng, chỗ nào cũng bán khuyến mãi, thích ghê…”


Cả nhà đang ồn ào, tôi chợt thấy không khí có vẻ im lặng sau khi tôi nói chuyện, những người bạn của Thanh nhìn tôi có vẻ e dè lắm, họ vẫn nói chuyện, nhưng hình như không có nói chuyện với tôi. Một bà vợ của người bạn thân của Thanh đã hỏi thẳng tôi: “Cô là… du học sinh hả? Lấy chồng già để… được ở lại Úc hả?”


Khi vào trong bếp lấy thêm đồ ăn, tôi thoáng nghe một người nào đó nói nhỏ với Thanh: “Mày lấy… Việt Cộng Con đấy à?” Tôi nghe Thanh trả lời: “Ðâu phải ai nói giọng Bắc cũng đều là Việt Cộng hết đâu!”


Tiệc cưới của chúng tôi mới là phiền phức, mặc dù chúng tôi chỉ tổ chức đơn giản thôi, nhưng bạn bè của Thanh nhận thiệp mời, họ đều có vẻ ngại ngùng, không muốn tham dự. Thanh nói với tôi: “Ông hội trưởng của anh họp cả hội lại để lấy quyết định… có dự tiệc cưới của anh hay không? Họ quyết định… đi với tư cách cá nhân mà thôi, vì dù sao cũng là bạn bè.”


Tôi ngần ngừ nói với Thanh: “Anh ơi… nếu thấy khó khăn quá, hay là… mình đừng có lấy nhau nữa… Sao họ lại… kỳ thị với em như vậy?Em nói tiếng Bắc, vì em sinh đẻ ở ngoài Bắc, chứ em đâu có tội tình gì đâu?” Thanh an ủi tôi: “Em cũng phải hiểu cho họ, họ cũng như anh, đều là những người bị bọn Cộng sản Bắc Việt xâm chiếm đất nước, bắt tù bắt tội sống chết đủ điều. Suốt ngày họ nghe cái giọng Bắc kỳ mạt sát họ, nó thấm vào đầu nên không thể có cảm tình với cái giọng Bắc được. Anh hiểu em, nhưng họ chưa hiểu và chưa thông cảm cho em. Cứ để một thời gian, họ sẽ hiểu em đó mà.”


Tôi sinh đứa con trai đầu lòng, đặt tên cháu là Nam. Ngày thôi nôi, anh chị nó đến dự, vui vẻ thay phiên ẵm em, đứa con gái út của Thanh ẵm em vừa cười vừa nói: “My… baby brother.” Những người bạn chúc mừng Thanh… “Ðáo Mã Thành Công. ”


Khi tôi tháo chiếc dây chuyền hộ mạng của tôi đeo vào cổ cho Nam, một bà ngạc nhiên nhìn sợi dây mà hỏi tôi: “Cái gì vậy?”


“Dây chuyền hộ mạng của em đấy. ”


“Ðẹp quá nhỉ! Ai khắc mà đẹp quá, hình như là hai cái mặt chữ khắc trên gỗ đen thì phải.”


Chồng tôi biết tôi có sợi dây chuyền này, nhưng coi đó là đồ nữ trang của tôi thôi, nên chẳng để ý đến. Khi thấy ai cũng nhìn vào nó, tôi vui miệng kể lại lai lịch của sợi dây chuyền cho tất cả cùng nghe: “Tôi sinh ra ở Hà Giang. Nói là Hà Giang chỉ để cho có nơi có chốn trên bản đồ mà thôi, chứ thực ra, nơi tôi sinh ra không có tên trên bản đồ miền Bắc. Ðó là một nơi ở giữa rừng núi âm u không có vết chân người.


“Theo bố tôi kể lại, vào thời năm 1954, khi mọi người dân đều muốn di cư vào Nam, gia đình tôi gồm có ông bà nội, ba mẹ tôi và gia đình của các bác các chú đã gồng gánh từ quê lên Hải Phòng, để xuống tầu di cư vào Nam. Khi đang ở trên đường thì gặp một đám người khác cũng nhận là đi di cư và biết có một con đường tắt đi Hải Phòng rất gần, thế là cả bọn theo chân đám người này. Ðến chiều tối thì có xe hàng tới chở tất cả, nói rằng đi xe cho chóng đến nơi. Xe chở đi tới một vùng rất xa, tài xế cho mọi người xuống mà nói rằng, nghỉ đỡ đêm nay, sáng mai sẽ có xe khác tới chở thẳng đến Hải Phòng. Ai cũng vui mừng trải chiếu ra ngủ qua đêm. Sáng hôm sau, có xe tới đón thật, nhiều xe lắm, xe nào cũng chở đầy người. Mọi người vui mừng kéo nhau lên xe đi Hải Phòng. Xe đi cả ngày trời vẫn không tới vùng biển như mọi người mong đợi, trái lại, xe chở mọi người tới một nơi đầy lính canh có súng. Những người lính này chĩa súng bắt tất cả ngồi im không dược hỏi han gì cả, họ khiêng từng miếng vải nhà binh tới phủ kín xe rồi bắt đầu chạy suốt đêm. Ðến sáng mới tói nơi, cả bọn được đẩy xuống xe để bị chĩa súng bắt đi bộ vào trong rừng. Tới nơi, cán bộ tập họp mọi người lại, kết tội cả nhóm là đã phạm tội phản lại nhân dân, bỏ trốn vào miền Nam, bị đầy vào đây đến bao giờ được cách mạng và nhân dân khoan hồng, sẽ được về với nhân dân.


“Ðến lúc đó, mọi người mới biết rằng đã bị bọn Cộng sản đưa người ra dụ dỗ đi theo chúng để rồi bị đi đầy vào vùng rừng núi âm u không biết ngày về. Lâu lâu lại có từng đoàn người khác hoặc được xe chở, hoặc bị xiềng xích đi bộ ngang qua để tới những nơi xa xôi hoang vắng khác được gọi là ‘Cổng Trời.’


“Vào khoảng năm 1960, có thêm một nhóm tù nữa được đưa tới Cổng Trời, đám người này thỉnh thoảng được ra ngoài làm rừng, họ tự xưng là ‘Biệt Kích Miền Nam’ được thả ra Bắc để hoạt động, chẳng may bị bắt.


“Tôi sinh ra vào năm 1973 ở cái vùng rừng núi âm u, trại tù của những người muốn di cư vào Nam năm 1954 và trải qua thời thơ ấu ở giữa nơi núi rừng trùng điệp không bóng người này. Khi tôi được năm tuổi, một hôm đi theo cha chặt mây, đã bị ngã xuống hố sâu. Bố tôi bất lực nhìn thân xác của tôi mà không có cách nào để cứu. May thay, một nhóm Biệt Kích đi ngang, thấy vậy đã thòng dây đu xuống tận vực sâu mà cứu tôi lên và đưa cả hai bố con tôi về tận nhà. Từ đó, lâu lâu những người Biệt Kích này lại đi ngang vào thăm gia đình tôi. Người Biệt Kích cứu tôi nhận tôi làm con nuôi và đã gỡ sợi dây chuyền ông đang đeo để đeo vào cổ tôi mà nói: ‘Tặng cho cháu cái bùa hộ mạng đó.’


Ông giải thích cho bố tôi biết, sợi dây chuyền này do ông đẽo gỗ trong rừng mà khắc thành hai chữ BK tức là Biệt Kích. Các chú này đã khuyên bố mẹ tôi nên tìm cách về thành phố mà sống, chứ đừng ở mãi nơi rừng hoang cô quạnh này mà bỏ phí cuộc đời của những dám con cháu.


Năm 1979, khi Trung Cộng bắt đầu đánh Miền Bắc, những Biệt Kích đã bị đem đi nơi khác, bố mẹ tôi nhớ lời các Biệt Kích mà tìm đường trốn về Hà Nội, vì thế, tôi mới được đi học và sống cho đến ngày hôm nay.


Khi tôi kể xong câu chuyện, mọi người đều thay nhau cầm lấy sợi dây chuyền của con tôi một cách trân trọng và quý mến. Người bạn mà trước đây gọi tôi là “Việt Cộng Con” là người đầu tiên hỏi tôi:


“Gia đình của chị bị đưa đi… vùng kinh tế mới Cổng Trời đấy à? Chỉ vì muốn di cư mà bị đầy ải suốt hơn hai mươi năm trời đấy sao? Bọn Việt cộng chúng mày sao mà tàn ác thế! Cám ơn Trời Phật đã phù hộ cho gia đình chị, những người Việt Nam yêu tự do, còn sống được cho đến ngày hôm nay. ”


Tôi mỉm cười nói thêm vào: “Tôi cảm ơn Trời Phật và cảm ơn Chúa nữa. Ông bà chúng tôi không đi tìm tự do vào năm 1954 được, thì đến đời cháu tức là đời của chúng tôi, chúng tôi đã tìm được tự do rồi đấy. Nhờ các anh Biệt Kích Miền Nam mà tôi được cứu sống, nhờ lời khuyên của các anh mà bố mẹ tôi mới dám trốn vùng cải tạo để về được tới Hà Nội. Cũng nhờ những bà mẹ, bà vợ của những người Lính Miền Nam bị tù cải tạo mà bố mẹ tôi mói có cuộc sống đáng sống. Các anh chị thấy không, nhờ tình người, nhờ những người Miền Nam mà chúng tôi mới sống đến ngày hôm nay, chứ đâu có bác nào đảng nào cứu giúp chúng tôi đâu? Cũng vì thế mà dù có ai nói gì thì nói, tôi cũng cứ lấy người Lính Cộng Hòa mà tôi quý mến.”


Từ hôm đó, tôi thấy tất cả bạn bè của Thanh đã thay đổi thái độ với tôi. Các anh đã gọi tôi là“Chị Thanh” và các bà đã gọi tôi bằng “Trinh” hoặc là “Cô Em Gái Bắc Kỳ.”


Con tôi đã được năm tuổi rồi, cháu đã đi học mẫu giáo, tôi có thì giờ đi tìm một công việc tạm thời. Tôi tìm đến một văn phòng luật sư của người Việt để xin làm điện thoại viên. Ông luật sư phỏng vấn tôi xong, nói với tôi: “Ðể chú sắp xếp cho cháu làm hồ sơ nhé, còn công việc nghe điện thoại, chú sẽ tìm người khác.”


Tôi thông cảm với ông luật sư, mọi người vẫn còn… ác cảm, còn… kỳ thị với giọng nói Bắc Kỳ của tôi.


Tôi xin lỗi đã nói như vậy, nhưng thật sự tôi không biết dùng chữ gì để nói về hoàn cảnh của tôi.


Chồng tôi đã thông cảm với tôi, anh Thanh đã nói với tôi: “Người ta nói ‘Cái áo không làm nên ông thầy tu.’ Nhưng thực sự cái áo đã làm cho người ta nhìn lầm người mặc nó là thầy tu. Em không những nói giọng Bắc, em còn dùng những từ ngữ mà cái đám Việt Cộng thường dùng, ngay cả những người Miền Nam hay những người Lính Cộng Hòa mà nói cái giọng đó, cũng bị ghét, nói chi là Bắc Kỳ rặt như em. Em cứ giữ cái giọng Bắc Kỳ của em, nhưng em đừng… hoành tráng, đừng… bức xúc nữa, có được không?” Tôi suy nghĩ… Ðúng! Chồng tôi nói đúng. Nhập Gia Tùy Tục – Nhập Giang Tùy Khúc.


Tôi đã lấy chồng Lính Cộng Hòa rồi, mà tôi lúc nào cũng có cái giọng Bắc Kỳ Hai Nút (75, Bắc kỳ chín nút tức là Bắc kỳ 54) thì ai mà chịu nổi.


Bây giờ, tôi không còn…“ xử lý” nữa, mà tôi phân tích, tôi tìm hiểu từng trường hợp mà giải quyết cho thỏa đáng. Mỗi khi đi ra ngoài đường, nghe tôi nói chuyện, không còn ai quay lại nhìn tôi rồi bỏ đi chỗ khác nữa.


Ðôi khi, những ông bà bạn của anh Thanh vẫn gọi tôi là “Việt Cộng Con.” Nhưng họ nói chỉ để mà đùa giỡn mà thôi, chứ không còn châm chọc như trước nữa.


Riêng phần con tôi, cháu Nam, lúc nào cháu cũng khoe: “Con là con của ‘Lính Cộng Hòa’ mà!”

Tin mới cập nhật