Né thịt thối, ăn thịt chuột


AN GIANG (NV) –
Hình thành từ hàng chục năm nay, một ngôi chợ chuột “tự phát” ngày càng đông đảo kẻ bán, người mua tụ về. Ðặc biệt trong những tháng gần đây, nhiều người dân quay sang ăn thịt chuột, vì sợ ăn nhằm thịt heo, bò thối; thịt ướp tẩm hóa chất để cho siêu nạc; thịt heo nhiễm vi trùng “liên cầu khuẩn” gây chết người.










Nhóm làm thịt chuột. (Hình: báo Pháp Luật Sài Gòn)


Ðó là một ngôi chợ có một không hai mọc lên giữa vùng đất hẻo lánh của làng Phù Dật thuộc huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.


Theo báo Pháp Luật Sài Gòn, chợ chuột làng Phù Dật hình thành từ sau năm 1975. Vì thiếu ăn, nghèo khó, một số dân làng Phù Dật rủ nhau đi gài bắt chuột đồng ở các vùng khác, rồi đưa về làng bán lại cho dân nhậu hoặc làm thịt dùng cho chính người nhà của mình. Thịt chuột lạ với dân thành thị, nhưng từ lâu đã trở thành món “khoái khẩu” của dân miệt vườn miền Tây.


Thịt chuột có thể chế biến thành những món “đặc sản” của miền Tây, như chuột “quay lu,” chuột “nướng muối ớt,” chuột “xào lăn,” chuột “nấu mẻ,” chuột “khìa”… Một số cư dân miền Tây cho biết, thịt chuột được bầm nhuyễn xào lăn, ăn thơm phức, giòn rụm, cứ tưởng như ăn thịt… gà.


Theo người đàn ông cư dân Phù Dật được mệnh danh là vua chuột, ông Lê Duy Khánh, đã có hàng chục nhóm “săn” chuột hình thành, chuyên sống về nghề gài bẫy chuột. Những người này sống dọc bờ kênh Phù Dật, thường theo ghe đến tận Hòn Ðất và các vùng hẻo lánh của tỉnh Kiên Giang để soi chuột cả đêm. Ðến tờ mờ sáng, họ quay trở lại Phù Dật để bán chuột nguyên con cho thương lái chuyển đi các tỉnh, hoặc bán cho bạn hàng trong vùng làm thịt đưa ra chợ.


Cạnh các vựa mua bán còn mọc lên các nhóm chuyên làm thịt chuột, đa số là phụ nữ. Họ hì hục lột da, mổ bụng, rửa sạch rồi ướp đá thịt chuột, chất vào giỏ chờ bán lẻ. Người ta còn bán đầu, đuôi, da chuột… cho các trại nuôi cá làm thức ăn “sạch” ngon lành. Ông “vua chuột” cho biết đã mua vào mỗi ngày ít nhất 3.5 tấn chuột rồi giao cho nhóm làm thịt, hoặc thương lái chở đi các tỉnh khác như Hậu Giang, Tiền Giang, Cà Mau, Bạc Liêu…










Chuột được làm sẵn: lột da, mổ bụng, rửa sạch trước khi ướp đá… (Hình: báo Pháp Luật Sài Gòn)


Một số cư dân còn cho biết, nghề soi chuột không tốn chi phí, trong khi thịt chuột mang về bán lại cũng được 60,000 đồng, tương đương 3 đô mỗi ký Nhờ vậy, mỗi gia đình theo nghề đi soi để bán lại kiếm được trung bình khoảng 50 triệu đồng, tương đương 2,500 đô mỗi năm. Ðối với họ, soi chuột đang là nghề sống khỏe.


Báo Pháp Luật Sài Gòn còn cho biết, từ khi xe vận tải có thể vào chợ chuột Phù Dật trên con đường tráng nhựa, ngôi chợ này ngày càng trở nên phồn thịnh, đông đúc. Hầu hết các tỉnh miền Tây đều có thương lái đến mua thịt chuột làm sẵn, phân phối lại cho các nhà hàng, quán nhậu “đặc sản” của tỉnh mình.

Heo, bò, cá lăn chết hàng loạt


Bến Tre, Ninh Bình


 


VIỆT NAM (NV) – Ðàn gia súc ở Bến Tre, Ninh Bình thi nhau lăn ra chết, nghi bị nhiễm độc từ thực phẩm chăn nuôi và chất thải độc hại của nhà máy khiến người dân ngồi đứng không yên.










Bò lăn ra chết tại tỉnh Ninh Bình. (Hình: báo Tiền Phong)


Tin của báo Tuổi Trẻ cho biết, đàn heo lên tới vài trăm con của khoảng 10 gia đình chăn nuôi heo ở huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre bỗng nhiên lăn ra chết chỉ trong vòng vài ngày qua.


Một cư dân nói rằng heo trong chuồng nhà ông vừa ăn cám xong bỗng bị sùi bọt mép rồi sụm luôn. Sau đó, heo lên cơn co giật dữ dội cho đến chết.


Trận dịch kỳ lạ này lần lượt xảy đến với đàn heo nuôi của ít nhất 10 gia đình cư dân xã Bình Khánh Tây trong mấy ngày qua khiến người chăn nuôi ở tỉnh Bến Tre sững sờ, hốt hoảng. Bà Nguyễn Thị Ðẹp cho biết có 4 trong đàn heo 12 con của bà bỗng dưng co giật, la rống thảm thiết rồi không đứng được nữa, có vẻ như bị liệt cả bốn chân. Sau đó, có hai con lăn ra chết, và 2 con khác bị liệt luôn. Số heo còn lại hiện chưa rõ tình trạng ra sao.


Bà Ðẹp cùng các chủ chăn nuôi khác cho biết đã dùng loại thức ăn gia súc hiệu L.T. sản xuất tại tỉnh Bình Dương cho heo ăn. Người ta nghi trong thức ăn gia súc này có độc chất làm heo chết.


Báo Tuổi Trẻ cũng cho hay, hôm 16 tháng 11 vừa qua, sau nhiều lần báo động của giới đại lý thức ăn gia súc của tỉnh Bến Tre, chủ cơ sở L.T. mới chịu thu hồi tạm thời số thức ăn gia súc của mình.


Trong khi đó theo báo Tiền Phong, đàn bò của một số nông dân cư ngụ chung quanh nhà máy đạm Ninh Bình của tỉnh này cũng đột ngột lăn ra chết. Cá được nuôi trong ao hồ cũng đua nhau chết trắng hồ.


Người dân trong vùng nghi chất thải của nhà máy đạm làm bò, cá bị nhiễm chất độc nặng nề.


Tình trạng này xảy ra vào dịp cuối năm khiến người ta lo sợ thị trường mùa Tết tới có thể bị thiếu thực phẩm trầm trọng.

Cán bộ xúi dân kiện quy định phạt ‘không chính chủ’


VIỆT NAM (NV) –
Nghị Ðịnh 71 của nhà nước cộng sản Việt Nam phạt từ 60 đô đến 500 đô người lái xe không phải của mình vẫn tiếp tục gây xôn xao dư luận.










Chạy xe giữa phố phải mang theo nhiều giấy tờ hơn nữa, theo Nghị Ðịnh 71. (Hình: báo Lao Ðộng)


Tại Hà Nội, bất chấp sự phẫn nộ của người dân, công an giao thông đã nâng số người lái xe “không chính chủ” lên 19 khi N.Ð 71 bước sang ngày thứ năm có hiệu lực thi hành. Theo nghị định này, người đi xe gắn máy “không chính chủ” bị phạt 60 đô, còn người đi xe hơi “không chính chủ” bị phạt khoảng 500 đô.


Báo Pháp Luật Sài Gòn cho biết, phòng Công An Giao Thông Hà Nội ngày 15 tháng 11, xác nhận rằng số chủ xe chưa sang tên và chuyển quyền sở hữu hiện nay “còn rất lớn.”


Cũng theo báo Pháp Luật Sài Gòn, ít nhất 2 cán bộ cao cấp của ngành tư pháp cộng sản Việt Nam đã lên tiếng chỉ trích và bài bác điều khoản phạt vạ “không chính chủ” của Nghị Ðịnh 71.


Báo Pháp Luật Sài Gòn dẫn lời ông viện trưởng Viện Nghiên Cứu Lập Pháp của Quốc Hội cộng sản Việt Nam, Ðinh Xuân Thảo, nói rằng nhà nước Việt Nam cần phải “xem xét lại” nghị định này.


Theo ông Ðinh Xuân Thảo, lệ phí trước bạ và phí sang tên, đổi chủ hiện nay là 10% và 2% giá trị chuyển nhượng, mua bán xe hơi và xe gắn máy là quá cao. Ông Thảo còn cho rằng cần phải hủy bỏ nội dung phạt vạ bất hợp lý này.


Người thứ hai là ông Lê Hồng Sơn, cục trưởng Cục Kiểm Tra Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật thuộc Bộ Tư Pháp cộng sản Việt Nam cũng cho rằng “quy định xử phạt hành vi không chuyển quyền sở hữu phương tiện đi lại tại Nghị Ðịnh 71 là không phù hợp.”


Theo ông, nghị định này giúp cán bộ công an giao thông “can thiệp quá sâu vào những lĩnh vực không thuộc trách nhiệm điều hành của mình.” Và như thế, ông Sơn cho biết, là “ép” quan hệ dân sự và “làm co lại sự phát triển của xã hội.”


Ông Sơn tuyên bố: “Người ta đi xe không chính chủ là việc bình thường. Quản lý là điều cần thiết nhưng cũng vừa phải thôi. Chứ quản lý quá sâu, đến mức phạt cả việc không sang tên đổi chủ là không chấp nhận được. Còn việc giải quyết hậu quả do không sang tên đổi chủ, gây khó khăn cho việc xử lý thì đây là trách nhiệm của ngành công an.” Ông này cho khuyến cáo người đi xe “không chính chủ” bị phạt đâm đơn kiện công an giao thông ra tòa hành chính về quyết định xử phạt sai trái này.


Cũng theo ông Sơn, tài xế chạy xe trên đường chỉ cần có bằng lái, có giấy chứng nhận kiểm định xe là đủ.

Giới thiệu sách


Trăng Vàng phụ trách


 


Hãy Trưng Cầu Dân Ý


Phương Nam Ðỗ Nam Hải


 


Hãy Trưng Cầu Dân Ý của Phương Nam Ðỗ Nam Hải, với đầy đủ hình ảnh và nguyên “hồ sơ” về Phương Nam Ðỗ Nam Hải – 2005. Cuốn sách là suy nghĩ chắt lọc từ bao năm sinh sống ở miền Nam sau khi từ Bắc vào Sài Gòn tiếp theo “chiến thắng” của quân đội Bắc Việt.


 Ðược đi Úc với gia đình, tác giả đã bỏ ra mấy năm viết 5 tiểu luận sâu sắc “nhìn lại quê hương” để nhận thức lại. Kết luận, theo ông, là phải đòi trưng cầu dân ý để 82 triệu dân được chọn thể chế của mình.


Ðây là một gương sáng của và cho tuổi trẻ, tranh đấu ngay từ trong lòng chế độ, Phương Nam đã bị bao vây, hạch sách và cuối cùng bị ép để mất việc.


Mặc, anh vẫn hiên ngang… ngửng đầu.


Trăng Vàng hân hạnh giới thiệu đến quý đọc giả tác phẩm của tác giả Phương Nam mang tựa đề Hãy Trưng Cầu Dân Ý – Phương Nam Ðỗ Nam Hải.


Sách dày 332 trang. Ấn phí $15


Mọi chi tiết xin liên hệ với:


Tổ Hợp Xuất Bản Miền Ðông Hoa Kỳ & Cành Nam Publishers


Tel: (703) 525-4538

Bài phát biểu nhân buổi ra mắt sách:


‘Chết Bởi Trung Cộng’ của Tiến Sĩ Trần Diệu Chân


 


*TS Mai Thanh Truyết


 


Thưa quý vị,


TS Trần Diệu Chân vừa hoàn tất bản dịch cuốn sách của TS Peter Navarro và Grey Autry dưới tựa đề “Death by China.” Dịch giả là một thành viên cốt cán của Ðảng Việt Tân, hiện đang phụ trách đài phát thanh Tiếng Nước Tôi, có trụ sở tại Sacramento, CA.


TS Trần Diệu Chân, sau khi trao đổi nhiều lần với tác giả Death by China và nhận thấy nhu cầu cần phổ biến những thông tin trong sách đến cộng đồng người Việt, quyết định phiên dịch quyển sách trên.


Ðây là một cuốn sách nói về những hiểm họa đang diễn ra trên toàn thế giới mà Trung Cộng chính là thủ phạm.


 


Về cuốn sách và tác giả


 


TS Navarro là giáo sư Ðại Học Irvine, trước đó đã viết quyển “The coming China wars” sau nhiều năm nghiên cứu tình hình và chính sách bành trướng của Trung Cộng. Ðây cũng là một quyển sách đáng đọc nói về nhiều vấn đề phát triển của TC cũng như việc củng cố tiềm năng kinh tế, quân sự và chính trị của quốc gia nầy.


Vào tháng 5, 2011, ông cho phát hành quyển Death by China gồm 16 chương với 250 trang giấy chữ khổ nhỏ, do nhà xuất bản Prentice Hall. Thực ra, quyển sách nầy có tên là:


Death by China – Confronting the Dragon – A global call to action


(Lời dịch của dịch giả Trần Diệu Chân dịch: Chết bởi Trung Cộng – Ðương đầu với con rồng – Lời kêu gọi hành động toàn cầu).


Từ tựa đề trên, chúng ta thấy rõ ràng đây là một báo động cho Hoa Kỳ và cho toàn cầu cùng những biện pháp đề nghị để ứng phó với nguyên ủy của vấn đề là Trung Cộng.


TS Navarro đã từng tổ chức buổi hội thảo về hiểm họa TC tại Beckman Center, Irvine ngày 7 tháng 6, 2011. Nơi đây, ông đã nêu nhiều nhận định và hình ảnh cùng nhiều dẫn chứng trong quyển sách, nói lên hiểm họa mà TC hiện đang gieo rắc lên thế giới.


Vào tháng 8, 2012, bộ phim Death by China dài 1 tiếng 45 phút đã được chính thức ra mắt tại Pasadena, CA và sau đó, đã được trình chiếu nhiều nơi trong các rạp hát như ở New York, Washington, San Francisco, Chicago, v.v…


Về nội dung quyển sách, TS Navarro đã nêu ra tất cả những âm mưu của Trung Cộng để khuynh đảo thế giới bằng hình ảnh, dữ liệu xác thực. Ðây là một bản cáo trạng cho toàn cầu về các hiểm họa của “con rồng thực dân Trung Cộng” như: Chết vì hàng hóa tồi tệ, vì hóa chất độc hại, vì thao túng tiền tệ, cho đến chết vì gián điệp TC và nhiêu nhiều nữa.


Ðây là một cuốn sách đang được thế giới quan tâm và cần được phổ biến qua nhiều thứ tiếng để cảnh báo về hiểm họa đỏ của TC qua lời tâm sự của tác giả:”Ðộng lực chính khiến tôi viết quyển sách và “lội ngược dòng” trong một thế giới mà người ta sẵn sàng thỏa hiệp với tội ác để làm giàu, vì tiền mà tiếp tay với Trung Quốc và bán đứng nền kỹ nghệ của Hoa Kỳ, bán đứng tương lai của con cháu. Ðó là vì nghĩ đến các thế hệ tương lai.”



Ngoài những chuyển tải trên, tác giả không quên báo động bàn bạc trong suốt các chương và nhấn mạnh yếu tố bá quyền của Trung Cộng về âm mưu thống lãnh toàn cầu trong tinh thần Ðại Hán của chế độ phong kiến ngày xưa.


Có lẽ vì đồng cảm với suy nghĩ trên, nên TS Trần Diệu Chân chịu khó dịch thuật và cho phát hành ấn bản tiếng Việt vào tháng 9, 2012.


 


Về nội dung bản tiếng Việt


 


Có thể nói, TS TD Chân đã hoàn tất bản dịch thật rốt ráo, trình bày và diễn tả bằng ngôn ngữ Việt rất thông thoáng và sát nghĩa. Ngoài nội dung của tác giả Navarro, dịch giả TDC còn có thêm lời giới thiệu tác giả và tác phẩm làm cho độc giả người Việt hiểu thêm về sự ra đời của tác phẩm trên.


Chúng ta hãy nghe dịch giả tâm sự: “…Death by China có hình thức thân mật như những chia xẻ gần gũi của đôi bạn, có khi châm biếm, mỉa mai những cái ác và phi lý, lại có lúc tiếu lâm, chọc cười rất có duyên, có sức mạnh chuyển hóa tâm tư người đọc, để khi gấp sách lại rồi thì những ai cón chút lương tâm không thể không bâng khuâng, không còn có thể tiếp tục thờ ơ và không thể không làm một cái gì.”


Hay: “Tác giả đã không viết trong tinh thần bài Hoa, mà ngược lại để bài trừ một chế độ đã giết hại quá nhiều người dân Trung Hoa, kể cả người dân các sắc tộc Tây Tạng, Duy Ngô Nhĩ, Nội Mông; đó chính là chế độ cộng sản Trung Quốc.”


Dịch giả còn bối thêm là: “Sự trỗi dậy hung hãn của Con Rồng dữ tợn và tham ăn, như hai học giả Peter Navarro và Greg Autry đã chỉ ra cho chúng ta thấy đang ở mức báo động. Ðã đến lúc thế giới phải đương đầu và chế ngự Con Rồng Tim Ðen này trước khi quá trễ vì nó tổng hợp mọi bản chất xấu xa của tất cả các chủ nghĩa độc hại trong lịch sử loài người: Ðộc tài toàn trị Cộng sản + Phát xít + Thực dân + Ðế quốc + Lái buôn.”


Dịch giả TDC đã nói hết ý! Và mong đồng hương Việt Nam tiếp sức để có thể phổ biến tập sách nầy rộng rãi tới bà con tại quê nhà, hầu nhìn ra mối đe dọa to lớn và trực tiếp mà góp sức giải trừ hậu hoạn.


Ngoài ra, trong tập sách dịch trên, TS TDC còn đưa ra một chương đặc biệt. Ðó là tiểu luận và Những vấn đề Trung Quốc của Dân tộc Việt Nam nói lên suy nghĩ của mình về các vấn đề Trung Quốc của thế giới, của Việt Nam, vấn đề Biển Ðông… và tẩy chay hàng hóa cùng thực phẩm Trung Cộng. Ðây cũng là một tài liệu quý giá có nhiều dữ liệu hiếm cùng các lập luận có căn bản vững chắc trong mối liên quan giữa hai đảng CS Việt-Trung.


TS Trần Diệu Chân cũng đề nghị một số biện pháp ứng phó của người Việt hải ngoại trước hiểm họa Hán hóa của Trung Cộng như:


-Tẩy chay hàng hóa độc hại xuất xứ từ TC và tham gia vào việc chống chủ nghĩa Ðại Hán của TC;


-Người Việt hải ngoại cần phối hợp với các cộng đồng để hiệp đồng tranh đấu chung trước sự bành trướng trên đất liền và biển Ðông của TC;


-Dân tộc Việt cần phải bắt tay với các dân tộc Trung Hoa, Tây Tạng, Ngô Duy Nhĩ, Nội Mông để giải quyết vấn nạn độc tài trên quê hương mình.


 


Dư luận Hoa Kỳ về sự xâm nhập hàng hóa và thực phẩm Trung Cộng


 


Kể từ khi đồ chơi trẻ em sản xuất từ TC có chứa chì (lead) và thủy ngân (mercury) xuất hiện ở Hoa Kỳ cùng các tường flywood để làm nhà ở Florida từ năm 2007, dư luận HK bắt đầu chú ý. Qua năm sau, 2008, vụ sữa và một số hàng thực phẩm có sữa có chứa melamine, một hóa chất kỹ nghệ độc hại, dư luận Mỹ càng chú ý nhiều hơn nữa.


Từ đó đến nay, nhiều cửa hàng thực phẩm, hàng hóa ở Hoa Kỳ đã bắt đầu thay bảng hiệu bằng cách ghi thêm vào “Made in USA” phía dười bảng hiệu trước cửa tiêm, cũng như các mặt hàng sản xuất từ nội địa HK đều có ghi trên nhãn là “Made in USA.”


Giới truyền thông và địa phương cũng đặc biệt lưu tâm, như thành phố New York đã cấm bày bán các loại nấm hương, nấm mèo sản xuất từ VN hay TC. Thành phố Louisiana cấm bán một số tôm cá có chứa hàm lượng chloramphenicol, v.v…


Ðặc biệt trong hai năm liền liên tiếp, Thông tín viên nổi tiếng trên đài TV ABC, Diane Sawyer, vận động một tháng tẩy chay hàng hóa TC qua các slogans như:


Boycott K9 Killers!


Boycott K9 Killers Commie Red


Support MADE IN USA


Với lập luận:


“Nếu mỗi người Hoa Kỳ chỉ cần tiêu xài thêm $64 hàng sản xuất tại Mỹ trong một năm, HK sẽ có thêm 200,000 công ăn việc làm tức khắc.”


“Nếu 200 triệu người Mỹ từ chối mua $20 hàng TC thì cán cân thương mại Mỹ-Hoa sẽ thay đổi hàng tỷ đô la về phía Hoa Kỳ!”


Hai lời kêu gọi nầy đã được bà phổ biến và yêu cầu người Mỹ thực hiện trong một tháng từ 1 tháng 6 đến 30 tháng 6, 2011.


Lời kêu gọi cho năm nay, 2012 là từ 1 tháng 8 đến 31 tháng 8.


Kết quả là chỉ số đặt hàng chế biến (PMI-Purchasing Managers’ Index) trong tháng 7, 2012 sụt xuống còn 49.3, tháng 8 xuống 47.6, và tháng 9 còn 47.8. Tháng 8 vừa qua, sản xuất hàng hóa của TC giảm 14% so với cùng kỳ năm ngoái. (Nếu chỉ số PMI dưới 50 thì mức sản xuất sẽ bị ối động và không còn kho chứa hàng ối đọng nữa; do đó, sản xuất sẽ bị đình trệ và công nhân sẽ bị giảm giờ lao động. Từ đó xáo trộn xã hội có thể xảy ra).


Ðó là kết quả của các cuộc vận động cũng như dư luận Mỹ ý thức rõ ràng về hiểm họa TC mà TS Navarro cảnh báo.


Hiện nay, trên chương trình Prime time của bà Sawyer thỉnh thoảng cũng được nhắc nhở trên ABC bằng cách kêu gọi người dân nên mua hàng hóa và thực phẩm sản xuất từ Hoa Kỳ.


Còn người Việt hải ngoại thì sao?


Phản ứng với hàng hóa TC như thế nào?


– Vẫn tiếp tục đi ăn nhà hàng Tàu, ăn điểm sấm Tàu dù biết có chứa hóa chất độc hại?


– Vẫn sử dụng các sản phẩm Tàu như bàn ghế, son phấn, đồ lót, giầy dép, quần áo… Tàu ở chợ Walmart hay Costco, hai cửa hàng lớn nhứt có hợp đồng mua bán với TC?


Xin nhường hai câu trả lời trên cho mỗi người trong chúng ta tự suy nghĩ!


 


Vài thực phẩm điển hình “dỏm” nhưng “sản xuất thật” ở Trung Cộng


 


Gạo “plastic” có tên là “gạo WuChang” được sản xuất tại Wuchang (Vũ Xương) vùng Hà Bắc. Nơi đây có hàng chục nhà máy lớn sản xuất loại gạo nầy. Vì vùng nầy không trồng lúa được chỉ trồng các loại khoai lang, khoai tây. Khoai được xay nhuyễn thành bột, rồi trộn với plastic industrial resin trong kỹ nghệ. Sau đó, hỗn hợp được ép và phun ra thành hình dạng giống như hột gạo.


Bún tàu (hay miến): Nguyên liệu nguyên thủy để làm bún tàu là đậu xanh hay củ giông riềng (cho ra bún tàu màu nâu đen). Còn bún tàu TC cũng làm bằng các loại bột khoai nhưng có thêm chất làm dai (borax), hóa chất tẩy trắng (sulfite, tinopal), hóa chất chống mốc meo như formaldehyde (nguy cơ ung thư), v.v… Loại bún tàu nầy sản xuất ở Yantai, thuộc tỉnh Sơn Ðông.


Trà sữa Trân Châu: (bubble tea) làm bằng bột khoai mì (tapioca) trộn lẫn đủ loại màu kỹ nghệ như xanh (màu lá dứa), đỏ, tím vàng v.v… Sau đó, các hạt bột màu được “áo” bằng một lớp plastic thật mỏng, thêm đường hóa học…


Trà: Trà thường được trồng trên vùng cao nguyên. Nhưng hiện tại, trà được sản xuất hàng loạt… nơi đồng bằng, nơi vùng đất bị ô nhiễm thuốc sát trùng, diệt trừ cỏ dại. Trà là một loại thực vật hấp thụ các kim loại và hóa chất độc hại từ rễ và sau đó tích tụ nơi lá trà. Trà TC và VN đã được xuất cảng sang Ðài Loan để có được những thương hiệu nổi tiếng của đảo quốc nầy. Năm 2010, Quốc Hội Ðài Loan đã từng khuyến cáo các thương nhân không nên nhập cảng trà TC và VN vì làm mất uy tín của trà Ðài Loan.


Và còn nhiều nhiều nữa, những mặt hàng “dỏm” của TC như trứng giả, nhân bánh bao giả, tôm cua giả, xíu mại, há cảo giả, hột tiêu giả, rượu giả, nước mắm giả, bánh trung thu và bánh mức Tết dỏm, sản xuất hóa chất kích thích tăng trưởng thực vật và động vật gây ra nguy cơ ung thư (forchlorofuneron, clenbuterol), hóa chất làm chín và làm ngọt trái cây như mít, sầu riêng (Ethrel, Etherphon), tương ớt, bột nêm bún bò Huế (màu đỏ Rhodamine B), hóa chất bảo quản cho trái cây và thịt cá không hư thúi khi để lâu hàng tháng (sodium benzoate, formol, urea, malachite green), màu vàng tartrazine (gây ung thư) và mỡ trans (làm cho giòn) trong kỹ nghệ mì gói v.v…


Bà con nếu còn ý thức được nguy cơ đã được TS Navarro nêu ra trong quyển sách Death by China, hay bản dịch tiếng Việt do TS Trần Diệu Chân, cần nên cảnh giác và tiếp tay phổ biến cho bà con hải ngoại và quốc nội thấu rõ âm mưu diệt chủng toàn thế giới của Tàu Man nầy.


Ðể kết luận, chúng tôi ghi nhận giá trị sâu sắc của Death by China qua ngòi bút của TS Navarro, đáp ứng kịp thời nhu cầu hiểu biết của dư luận Hoa Kỳ về hiểm họa TC. Thứ đến, sự đóng góp của TS Trần Diệu Chân trong công tác dịch thuật cũng như các thuật ngữ đã được sử dụng làm tỏa sáng thêm nhiều khía cạnh trong tiến trình Hán hóa của TC đang diễn ra trên quê hương.


Xin cám ơn GS Peter Navarro và TS Trần Diệu Chân.


Yêu nước là tẩy chay hàng hóa Trung Cộng


Không mua hàng Tàu Cộng là chống xâm lược


Ðừng hỏi hàng hóa TC độc hại như thế nào?


mà triệt để không mua hàng Trung Cộng


Không mua hàng hóa có mã số 690, 691, 692, 693, 694 và 695.


Xin cám ơn quý vị đã lắng nghe.


Mai Thanh Truyết


31 tháng 10, 2012

Về Võ Phiến


Về Võ Phiến


 


*Phan Thanh Tâm


 


Nghề văn do Trời cấp lai xăng. Kẻ có số làm văn thơ hẳn đã cầm sẵn chứng chỉ hành nghề khi từ bụng mẹ chui ra. Kẻ ấy lớn lên đến trường học nghề sáng tác thì tiếp nhận thêm được vô số điều hay ho, thì tài năng càng tha hồ rực rỡ.


  



Bìa sách Võ Phiến


Nhưng tấm “lai xăng” thì phải hờm sẵn từ trước, từ lâu. Nhà văn Võ Phiến đã khẳng định như vậy trong bài “Người Viết Với Cuộc Sống” khi đề cập đến vấn đề kinh nghiệm hay kiến thức, cảm hứng hay suy tưởng, bên nào quan trọng hơn? nhân vật hay cốt truyện hay tư tưởng, cái nào trước cái nào sau? Vai trò của kỹ thuật dựng truyện.


Nhà văn họ Võ viết, học y khoa, nha khoa, công phu là thế, học xong được cấp bằng hành nghề ngay. Xây nhà, cắt tóc, lái xe, địa ốc, kế toán… nghề khó nghề dễ học xong được chứng nhận có đủ khả năng hành nghề hợp pháp. Trong chúng ta kẻ viết truyện ngắn, người viết truyện dài, kẻ làm thơ, người làm phóng sự… ai có trong tay giấy chứng nhận khả năng sáng tác, mặc dù không thiếu kẻ được đào tạo nghiêm chỉnh tại trường? Vì lẽ ấy người ta không có lệ cấp giấy phép cho người làm văn thơ chăng? Theo ông, đối với người viết lách một thái độ về cuộc sống là quan trọng hơn cả. Có thiết tha, có say mê, có nồng nàn với cuộc sống, bấy giờ hãy nghĩ tới chuyện viết lách. Từ thuở khai sinh mở mắt ra đã “phải lòng” ngay cuộc sống, bất cứ giờ phút nào cũng bị cuộc sống thu hút. Nhưng thiết tha với cuộc sống là thế nào? Là ham sống, là yêu đời, là hăng hái hưởng lạc hết mình, cắn soàm soạp vào trái ngọt trần gian; hay ưu thời mẫn thế, cúc cung tận tụy lo cho đời, dốc lòng cải thiện xã hội?


Không. Phải là như Tolstoi bị khích động bởi mọi máy động, dạng vẻ của sự sống. Các giác quan của nhà văn Nga luôn luôn tỉnh thức, tở mở đón nhận, ghi khắc cảm nhận một chút ngập ngừng của bàn tay, một vấp váp của hơi thở, của tiếng ngáy, một lọn tóc bung ra, một tiếng lá khô cựa mình, hay những run rẩy đợi chờ của lúc tỏ tình… Tolstoi lấy sự cảm nhận cuộc sống xung quanh làm cái sinh thú cho mình; như một tình nhân say mê đắm đuối cuộc sống, Nhà văn gốc Bình Ðịnh nói rõ như vậy trong cuốn “Võ Phiến Cảm Nhận” của nhà xuất bản Văn Mới.


Bài viết trên gửi cho nhà văn Trần Doãn Nho cũng đã nhắc tới câu thơ Vang Vang Trời Vào Xuân của Thanh Tâm Tuyền. Võ Phiến cho rằng nhà thơ không nghe bằng tai mà nghe bằng cả cái nồng nàn đối với cuộc sống. Còn Phan Nhật Nam trong bài ký “Quê Hương và Người Huế” thì thấy bằng tâm hồn đàn chim đông đảo vừa bồ nông vừa hạc vừa hải âu bay “nằng nặng, buồn buồn,” bay “đầy cả trời” như thở dài như hấp hối buồn đến rợn người ở phá Tam Giang rộng mênh mông, không bờ bãi, hoang vu lặng gió.


Cuối bài “Người Viết với Cuộc Sống,” Võ Phiến xác nhận, dẫu nghề văn do số mệnh có tinh, thân cũng khó vinh được. Ða số túng bấn. Ai dám bảo số này là may. Nhất nghệ tinh nhất thân vinh, dưới con mắt nhà Trời mỗi người mỗi việc, ai cũng ngang nhau thôi. Ngoài ra, trong bài “Văn Phong, Nhân Cách,” ông nói rõ, người nghệ sĩ xuất hiện với đời là xuất hiện như một tâm hồn, chứ không phải như một tập hợp kỹ thuật cao siêu. Người đời đến với một nghệ sĩ là tìm đến một tâm hồn; mấy ai buồn tìm hiểu các trò kỹ thuật làm gì đâu?


Vẫn theo Võ Phiến, hễ đọc thơ văn mà bắt được nét đẹp của một phong cách, đã yêu nó, thì cứ thoáng thấy nó xuất hiện ở đâu là thích đấy, bất luận người nghệ sĩ đang nói gì, đang tả cái gì, đang kể lể con cà con kê về cái gì… Phong cách nó phản ảnh một quan niệm sống, một thái độ ở đời, nó phản ảnh một khung cảnh xã hội, một thời đại, nó thừa kế các đặc điểm của một dòng dõi, một đường hướng giáo dục, một bầu không khí văn hóa v.v… Nó là cái dung mạo của một tâm hồn.


Nhưng làm sao “bắt” được phong cách của một tác giả? Nó phảng phất ở đâu? Nó nương mình vào chỗ nào? Vào câu nào chữ nào? Võ Phiến giải thích, biện luận thuyết giảng thì rối rắm, nhưng phong cách là một sự thực. Hãy lấy lương tri ra trực nhận. Ông đưa thí dụ, bà mẹ Tôn Quyền nhìn qua anh chàng Lưu Bị một cái là đủ biết ngay con người đàng hoàng xứng cho cô con gái cưng gửi thân trọn đời. Còn văn cũng vậy; đọc thoáng một cái là “chịu” liền. Người có cốt cách của người. Văn cũng có cốt cách của văn phong.


Ðể cho cụ thể tác giả bài “Văn Phong, Nhân Cách” đã đề cập tới cái mùi của thức ăn và cái mùi của văn thơ. Ông nói chuyện này chẳng có gì mới mẻ. Cao Bá Quát, người xưa đã từng mắng cái mũi vô duyên khi ngửi phải câu thơ Thi xã (chán thay cái mũi vô duyên, câu thơ Thi xã con thuyền Nghệ An). Theo Võ Phiến, ăn phở thực chất là ăn bánh phở, nước dùng, là ăn những sách, những nạm. Mùi thơm chỉ để ngửi. Nó không phải là cái ngon của phở mà chỉ là cái báo hiệu của ngon. Nhưng phở mà không thơm, không mùi thì thiệt là khổ não trần gian.


Về thưởng thức văn thơ, ông viết, đọc sách thì đọc truyện, đọc ý, còn phong thái là cái vô hình phảng phất, chỉ để… ngửi chơi. Vậy mà chính cái đó mới làm cho Nguyễn Tuân thành Nguyễn Tuân, Nguyễn Bính thành Nguyễn Bính, Phan Khôi thành Phan Khôi, cũng như xưa kia cái văn phong đó làm cho Lý Bạch thành Lý Bạch, Tô Ðông Pha thành Tô Ðông Pha… Cái đó chứ không phải là những cái tả cảnh hay ho, là những tư tưởng cao siêu nào. Bài viết này in trong tập “Viết” của nhà xuất bản Văn Nghệ.


Nhận xét về Võ Phiến, học giả Nguyễn Hiến Lê cho biết, nhà văn này, có óc tò mò, đọc nhiều và đi nhiều, rất sở trường về thể văn tùy bút. Qua tập “Ðất Nước Quê Hương” của nhà văn họ Võ, chúng ta thấy mấy trang ông tả cách nấu rót và uống chè Huế làm ta liên tưởng đến Những chiếc ấm đất của Nguyễn Tuân: nghệ thuật không kém mà lại dí dỏm hơn, nhẹ nhàng hơn, có hương vị của quê hương hơn. Trong bài tựa cho tập này, học giả họ Nguyễn còn cho hay, vì ký một kiến nghị đòi bãi bỏ kiểm duyệt mà nhà văn phải di chuyển nhiều; nhờ vậy ông đã viết nên tập tùy bút. Võ Phiến là bút hiệu chữ nói lái tên người bạn đời Viễn Phố.


Bài tựa của học giả còn có đoạn viết, một cơn mưa, một giọng hát, một hớp trà, một trang sách, một tà áo phất phơ còn dưới gió, một tiếng ve rỉ rả trong rừng và bất kỳ một cảnh vật nào, một sự việc nào cũng có thể là một đề tài cho Võ Phiến; lịch trình Nam tiến và Tây tiến của chiếc áo dài phụ nữ cũng giúp ông có ý mỉa mai nhẹ nhàng và thấm thía về sự thành công của cuộc thống nhất đất nước của chiếc áo dài. Nó êm thấm, đẹp đẽ hơn những đường lối thống nhất bạo tàn biết bao ! Võ Phiến sinh năm 1925 ở Bình Ðịnh, tuy là công chức cả khi ở trong nước và ngay ở hải ngoại ông như là một nhà văn chuyên nghiệp, sáng tác đều đều, đã có hơn 40 đầu sách gồm đủ thể loại.


Theo trang mạng Gio-o.com qua tác giả Chu Ngạn Thư, trong tháng 6, 2012, hai nhà xuất bản Nhã Nam và Thời Ðại đã giúp tập tùy bút “Ðất Nước Quê Hương” có visa vượt tường lửa, tường tre để được in lại tại VN, nhưng với tên sách mới: “Quê Hương Tôi.” Tác giả sách không ghi là Võ Phiến mà là Tràng Thiên. Tên thật của hai bút hiệu này là Ðoàn Thế Nhơn. Cuốn Quê Hương Tôi in ở Việt Nam có mấy điểm khác: không có bài tựa của Nguyễn Hiến Lê; bài Thơ lục bát Chàm bị mất phần đầu bài có dính đến thơ Chế Lan Viên.


Giọng văn như kể chuyện, một lối văn nói, khiến người đọc thấy gần gũi, chan hòa. Tập sách đưa lại nhiều hiểu biết về môn đất nước học, văn hóa học, và cả những kiến thức về du lịch, nhưng trên hết là một tình yêu, một tấm lòng. Càng đọc càng thích thú, khoái cảm, càng thấy mình hiểu thêm nhiều điều trong cuộc sống quanh mình, ở trên đất nước mình, nhất là về phía Nam, càng kích thích mình chú ý hơn đến những cái thường ngày để mà tìm hiểu. Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên ở trong nước đã có một vài nhận định như vậy về tập tùy bút trong bài “Có Một Tấm Lòng Như Thế.”


Võ Phiến là nhà văn có nhiều nhà vì ông có khả năng viết nhiều thể loại: nhà tùy bút, nhà tạp luận, nhà lý luận văn học, nhà phê bình văn học, nhà xuất bản, nhà viết truyện ngắn, truyện dài… và nhà tiên đoán thời cuộc nữa. Năm 68, sau 23 năm chiến tranh thảm khốc, nghe nói ngưng chiến ai nấy mừng rơn; riêng nhà văn đã đưa ra lời cảnh báo là cộng sản sẽ tiến đến Cà Mau qua bài tạp luận “Bắt Trẻ Ðồng Xanh” (1). Ông đã bày tỏ những ý nghĩ buồn thảm, đen tối của mình khi nhắc đến các em bé của đồng bằng Nam Việt xanh ngát bị bắt đưa đi, từng hàng từng lớp nối nhau dìu nhau ra núi rừng Việt Bắc! Tai họa hiện xảy đến cho các em cũng là tai họa về sau cho xứ sở.


Nhà văn cho biết họ Hồ chấp nhận ngưng chiến là vì keo này chưa được thì bày keo khác. Ông ta lo liệu một cuộc chiến tranh quân sự mới để rước cho kỳ được chế độ cộng sản về; dù phải chết thêm hai ba thế hệ liên tiếp. Hồi tháng 4, 1968, khắp nơi Quảng Trị, Pleiku, Kontum đến Mỹ Tho, Cà Mau, phe Cộng đã có một kế hoạch bắt trẻ qui mô để chuyển chúng ra Bắc bằng phi cơ từ Cam Bốt hoặc bị dẫn đi trên đường mòn Hồ Chí Minh. Cái Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam được thành lập năm 1958 trước khi có người lính Mỹ đầu tiên chết trên lãnh thổ Miền Nam ngày 22 tháng 12, 1961.


Sau 1975, toàn bộ sách của Võ Phiến bị cấm, bị đốt hủy trong chiến dịch tẩy xóa tàn tích Mỹ Ngụy. Ông bị coi như là một trong những tên biệt kích của chủ nghĩa thực dân kiểu mới trên mặt trận văn hóa tư tưởng. Chính ông, trong Văn Học Miền Nam Tổng Quan xác nhận, Võ Phiến khước từ cộng sản ngay từ đầu, có thái độ chính trị dứt khoát . Ðó là nhờ trước 1954 ông đã có kinh nghiệm với cộng sản, từng gia nhập bộ đội, dạy bổ túc văn hóa cho cán bộ Việt Minh, vào đội Tuyên truyền Xung Phong và từng tham gia vào tổ chức chống cộng ở Bình Ðịnh năm 1951. Bị bắt, ở tù, chỉ được thả vì theo Hiệp Ðịnh Geneve, trốn ra Huế ông làm công chức cho chính phủ miền Nam.


Từ 1954-1975, ông đóng góp vào sự phát triển văn học miền Nam. Võ Phiến và học giả Nguyễn Hiến Lê là hai cây bút chủ yếu của Bách Khoa; tạp chí qui tụ nhiều cây viết thuộc nhiều thế hệ đã phản ảnh đời sống Việt Nam Cộng Hòa trên nhiều mặt. Ra hải ngoại vì chỗ nặng tình với một thời văn học kém may mắn bị bỉ báng hồ đồ và cộng sản VN còn tìm cách hủy diệt nên ông đã viết cuốn Văn Học Miền Nam Tổng Quan để có một tổng kết, một kiểm điểm sơ lược cho những ai về sau còn lưu tâm có chút căn cứ sưu khảo. Sáu năm sau cuốn sách đã được cố họa sĩ Võ Ðình Mai dịch ra tiếng Anh với tựa đề Literature in South Vietnam 1954-1975.


Nhà văn Phạm Phú Minh quen thân với gia đình nhà văn Võ Phiến cho biết, không cần tinh ý lắm người nói chuyện với ông hiện nay cũng nhận thấy ông quên nhiều. Chỉ người nào hay gặp ông mới nhớ. Ông thú nhận, rất ngại tiếp xúc với người khác vì có khi không nhận ra người đối thoại, sợ họ giận, sợ họ bảo ông là người kênh kiệu một cách oan uổng. Sau bài “Cái Sống Hững Hờ” viết năm 2009, không thấy ông viết thêm. Trong tác phẩm chắc là sau cùng này, tác giả viết:


“Tạo Hóa có lòng lành, nhón tay khe khẽ điều chỉnh lòng người. Tuổi người càng cao, lòng người càng bớt sôi nổi, bớt tha thiết. Rốt cuộc còn lại một sự hững hờ: ‘Chết? ai mà khỏi? Việc gì phải sợ?’ (…)“Tôi âm thầm nghĩ ngợi và ngờ rằng đây là lúc xuất lộ cái từ tâm của Hóa Công. Chúng ta không nên mè nheo đòi hỏi cho được vừa huýt sáo mồm vừa chết. Chỉ mong những bước chân đến ngôi mộ của chính mình sẽ là những bước thong thả, hững hờ. Ðại khái thế thôi.”


Saint Paul, 10.2012


Phan Thanh Tâm


––––-


* Bắt Trẻ Ðồng Xanh


 


Võ Phiến


 


Trong những ngày gần đây ai nấy chỉ những xôn xao về chuyện ngưng chiến: Bao lâu nữa nhỉ? Làm gì bây giờ?


Trong bao nhiêu năm trời, chúng ta đã quen với nếp sống chiến tranh đến nỗi hòa bình làm chúng ta bối rối. Nhưng thiết tưởng ngưng chiến không đáng làm chúng ta bận tâm đến thế. Chiến tranh này sắp kết thúc, bằng cách này hay cách khác, hoặc sớm hơn một ít hoặc chậm hơn một ít. Chuyện phải đến rồi sẽ đến, nó xảy đến ra sao dường như cũng đã được trù liệu.


Cái đáng bận tâm là những điều tiếp theo cuộc ngưng chiến ấy.


– Thì các vị lãnh đạo của chúng ta đã tiên liệu rồi: đấu tranh chính trị chứ gì? Kinh tế hậu chiến chứ gì? Ðấu tranh chính trị, nó hiển nhiên quá, nó sờ sờ ra đấy, tưởng như rờ mó được. Nói rằng trong giai đoạn tới ta với cộng sản phải đấu tranh chính trị với nhau, nói thế gần như không phải là tiên liệu gì ráo. Ðó là đối phó. Chuyện ấy đến ngay trước mắt rồi, ta buộc lòng phải đối phó tức khắc, thế thôi.


Nhưng nói thế còn là khá. Hầu hết mọi người chỉ chăm vào những cái gần hơn nữa: hàng mấy trăm ký giả mỗi tuần bu đến phòng họp báo của các phái đoàn Hoa Kỳ và Bắc Việt để ghi lấy dăm ba câu tuyên bố loanh quanh, các bình luận gia khét tiếng của báo này báo kia, đài này đài nọ bóp trán suy đoán xem lúc nào thì ngưng oanh tạc dưới vĩ tuyến 19 v.v… Thiên hạ theo dõi ý kiến của họ.


Trong lúc ấy nhóm lãnh đạo ở Hà Nội lặng lẽ lo liệu công việc mai sau: tức một cuộc chiến tranh khác. Một cuộc chiến tranh quân sự hẳn hòi. Và họ tiến hành thực hiện chuẩn bị, ngoài sự chú ý của dư luận: các bình luận gia có tiếng, khét hay không khét, gần như không mảy may quan tâm đến chuyện ấy.


Thế mà đó mới là chuyện đáng quan tâm. Thiết tưởng là chuyện đáng quan tâm hơn cả vào lúc này. Bởi vì nếu ta mù tịt về ý định của đối phương trong tương lai thì trong cuộc đối thoại thương thuyết với họ hiện thời ta làm sao biết đặt ra những điều kiện cần thiết?


Cuộc bắn giết sắp tới giữa Miền Nam và Miền Bắc đã được cộng sản xếp đặt từ lúc này, cũng như cuộc bắn giết thê thảm mười năm qua được họ xếp đặt từ trước tháng 7, 1954, trước ngày đình chiến theo Hiệp Ðịnh Genève.


Thượng tuần tháng 7, 1968 một nhóm luật gia họp ở Grenoble buộc Hoa Kỳ vào tội gây chiến tại Việt Nam. Sau đó, nhóm luật gia tranh đấu chính trị Việt Nam họp tại Sài Gòn cãi lại: Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đã thành lập từ năm 1958 và ra mắt ngày 20 tháng 12, 1960, còn người lính Mỹ đầu tiên chỉ mới tử trận trên lãnh thổ Miền Nam ngày 22 tháng 12, 1961.


Người của pháp luật, họ cãi lý với nhau, họ bắt bẻ nhau như thế. Không hiểu sao họ chỉ nói tới Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Trước họ, nhiều người đã đi ngược lên tới Mặt Trận Tổ Quốc, và xa hơn Mặt Trận Tổ Quốc: tới cái nghị quyết của đảng Lao Ðộng đã đẻ ra Mặt Trận này.


Mặt trận này, mặt trận nọ,… đó là những bằng chứng đã có tên gọi. Chờ cho cộng sản đặt tên rõ ràng các hoạt động của họ mới chịu cho rằng họ hoạt động tức là nghĩ tệ về họ nhiều quá. Họ đâu có chậm chạp như vậy? Trước những hoạt động có tên gọi đã từng xảy ra nhiều hoạt động không tên gọi, và trước cả các hoạt động không tên là những toan tính xếp đặt kỹ càng.


Khi họ nhận thấy không thể thanh toán cả nước Việt Nam một lần, mà phải chấp nhận điều đình với Pháp để giữ lấy nửa nước, thì họ đã đặt ngay vấn đề: còn lại nửa nước kia, phải giải quyết ra sao? Và họ đặt kế hoạch “giải quyết,” cùng lúc với kế hoạch điều đình. Nghĩa là vào năm 1954, chứ không phải năm 1958.


Thật vậy, hiệp định đình chiến vừa ký kết, thì những điều khoản ngưng cuộc chiến tranh bấy giờ được họ thi hành đồng thời với những điều chuẩn bị cuộc chiến tranh sau. Ðồng thời, không muộn hơn một ngày nào.


Lúc ấy chính quyền quốc gia lo đùm túm kéo nhau vào Nam, và tổ chức cuộc di cư cho đồng bào Miền Bắc. Di cư là đi cả nam lẫn nữ, cả già lẫn trẻ: công chức già thì vào theo nhà nước để lãnh hương hưu, các cụ cố thì theo con cháu vào để được nuôi nấng và chết giữa đám con cháu, v.v…


Cũng lúc ấy, cộng sản lo liệu công việc của họ có lớp lang:


– Vũ khí, họ chôn giấu lại một số ở Miền Nam;


Cán bộ và binh sĩ, họ chọn lựa một số cho ở lại: có hạng được bố trí để len lỏi vào các cơ quan quốc gia, có hạng trở về cuộc sống thường dân chờ thời cơ, có hạng đổi vùng để hoạt động, có hạng vừa lẩn trốn vừa bám lấy địa phương để hoạt động v.v…


– Ðịa chủ, phú nông, trót bị ngược đãi tù tội, đều được tha thứ, giải thích, dỗ dành để xóa bỏ hận thù. Những thành phần không dỗ dành được thì họ thủ tiêu, vì xét nguy hiểm đối với tính mạng những cán bộ nằm vùng của họ;


– Tập kết theo nguyên tắc: Ðưa ra Bắc hạng trai trẻ có thể làm việc đắc lực và sản xuất giỏi cùng hạng có uy tín có khả năng; bỏ lại trong Nam hạng lão nhược có thể làm một gánh nặng cho quốc gia. Cố ý gây phân ly chia cách, làm thế nào để mỗi gia đình đều có kẻ đi người ở;


– Gấp rút tạo thêm nhiều liên hệ giữa thành phần tập kết ra Bắc và dân chúng Miền Nam: đặc biệt là tổ chức những đám cưới cấp tốc khiến cho hàng chục vạn binh sĩ và cán bộ Việt Cộng ra đi bỏ lại trong Nam bấy nhiêu cô vợ trẻ, có những cô chỉ ăn ở với chồng được đôi ba hôm.


Bấy nhiêu cô vợ trẻ và gấp đôi gấp ba chừng ấy cha mẹ già cùng cô cậu chú bác, v.v… là một lực lượng đáng kể. Bằng chính sách tập kết và gây liên hệ này, cộng sản cưỡng bức một số người về sau phải làm nội tuyến cho chúng.


Ngay từ đầu, tình cảm của những người này đã hướng về Bắc, theo bóng kẻ thân yêu. Thái độ và hoàn cảnh éo le của họ khiến nhà chức trách địa phương lo ngại, đề phòng. Do đó, họ thành một khối người dần dần sống cách biệt, nếu không là đối lập với chính quyền Miền Nam. Một vài trường hợp đối xử vụng về bị khai thác, một vài sự hiểu lầm bị xuyên tạc: thế là mâu thuẫn giữa hai bên trở thành trầm trọng. Rồi một ngày kia, chuyện được tính trước sẽ xảy ra. Xin thử tưởng tượng: gia đình có đứa con hay người chồng ra Bắc năm 1954, hai năm sau, một đêm nào đó, có kẻ lạ mặt lẻn vào nhà, lén lút trao cho xem một lá thư và một tấm hình mới nhất của con hay của chồng từ Bắc mang vào, gia đình nọ làm sao nỡ tố giác kẻ lạ mặt, dù biết họ đang gây loạn. Ðã không tố giác được, tất phải che giấu, nuôi dưỡng mối liên lạc. Từ việc này đến việc khác, gia đình nọ dần dần đi sâu vào sự cộng tác với tổ chức bí mật của đối phương, chịu mệnh lệnh của họ, rốt cuộc gia nhập hẳn vào hàng ngũ của họ.


Chính vì như thế mà thư từ hình bóng của cán binh tập kết có giá trị đặc biệt quan trọng: những năm 1956, 57, 58, cán bộ từ ngoài Bắc xâm nhập vào hoạt động, trong người họ bao giờ cũng mang theo một số thư từ, hình bóng của cán binh tập kết. Ðó là lợi khí hết sức đắc dụng giúp họ đặt các cơ sở quần chúng đầu tiên.


Gây được cơ sở quần chúng, vận động được sự đóng góp số lương thực tiền bạc cần thiết để nuôi quân rồi, bấy giờ các lực lượng vũ trang tại chỗ bắt đầu được thành lập, các lực lượng vũ trang ngoài Bắc kéo vào. Sau đó mới có cái Mặt Trận Giải Phóng ra đời.


Như vậy, cuộc chiến hiện nay không hề khởi đầu từ những bất mãn chống một chế độ độc tài gia đình trị, không hề khởi đầu từ sau việc chính quyền Sài Gòn từ chối cuộc tổng tuyển cử 1956, không hề khởi đầu từ ngày khai sanh mặt trận nọ mặt trận kia.Cuộc chiến này xuất hiện ngay từ những cuộc liên hoan chia tay giữa kẻ ở người đi trong thời hạn 300 ngày tập kết, những cuộc liên hoan có hát có múa, có bánh trái tiệc tùng… Nó xuất hiện ngay từ những đám cưới vội vã sau ngày đình chiến, những đám cưới lắm khi tổ chức tập thể, do trưởng cơ quan, trưởng đơn vị chủ tọa. Nạn nhân đầu tiên của cuộc chiến này không phải là những kẻ ngã gục vào 1958, 1959, mà là những cô gái tức khắc biến thành góa bụa từ 1954.


Dân chúng Miền Nam ai nấy đều biết những bận rộn tới tấp, những công việc bề bộn ngổn ngang mà nhà cầm quyền cộng sản hồi ấy phải làm cho kịp trước khi rút ra Bắc. Trong hoàn cảnh rộn ràng bấy giờ, nếu không vì lý do quan trọng, chắc chắc đảng và nhà nước cộng sản hồi ấy không đến nỗi quá sốt sắng lo cưới vợ cho cán binh như thế. Chắc chắn. Dù tìm trong bất cứ thời kỳ lịch sử nào của bất cứ dân tộc nào, cũng hiếm thấy một trường hợp chính phủ lo vợ cho quan binh túi bụi đến chừng ấy.


Cũng như hiện nay, trong giai đoạn ác liệt sau cùng của chiến cuộc tại miền Nam này, nếu không vì lý do quan trọng, đảng và nhà nước cộng sản nhất định không bao giờ khổ công gom góp thiếu nhi ở đây đưa ra Bắc, trải qua bao nhiêu gian nan khó nhọc, trong những điều kiện di chuyển nguy hiểm đến nỗi cả các binh sĩ khỏe mạnh của họ cũng phải hao mòn suy kiệt dọc đường.


Ðưa thiếu nhi Miền Nam ra Bắc, không phải cộng sản họ nhằm làm nhẹ một gánh nặng nuôi dưỡng, giúp các ông tổng trưởng Kinh tế hoặc Xã hội của chúng ta. Mọi người đều rõ, tại Bắc Việt và Trung Cộng, người ta tiết giảm sinh sản rất gắt gao: họ hạn chế hôn nhân, hạn chế luyến ái.


Ðưa thiếu nhi Miền Nam ra Bắc, cũng không phải cộng sản họ nhằm giúp ông tổng trưởng Giáo dục của chúng ta một tay để giải quyết nạn thiếu trường ở trong này.Trong giới quan sát nhiều kẻ bảo rằng Bắc Việt kiệt quệ rồi, không đủ sức kéo dài chiến tranh nữa, họ bối rối lắm, luống cuống lắm. Dù không tin vào nhận định ấy, ít ra cũng phải chịu rằng lúc này họ bận trăm công nghìn việc, nếu chuyện bắt trẻ Miền Nam không có một tầm quan trọng đặc biệt thì họ không hơi đâu nghĩ đến.


Ðàng này họ đang ra sức thực hiện một kế hoạch bắt trẻ qui mô trên một phạm vi hết sức rộng lớn: đồng loạt, người ta phát giác ra trẻ em bị bắt ở khắp nơi trên toàn quốc Việt Nam Cộng hòa, từ Quảng Trị, Thừa Thiên, Pleiku, Kontum, đến Mỹ Tho, Cà Mau, người ta gặp những toán trẻ em chuyển ra Bắc Việt bằng phi cơ từ Cam-bốt, hoặc bị dẫn đi lũ lượt trên đường mòn Hồ Chí Minh, nghĩa là bằng mọi phương tiện, một cách gấp gáp.


Họ bổ sung quân số đó chăng? – Không đâu. Trẻ bị bắt có hạng mới tám chín tuổi. Trong những trường hợp khẩn cấp, họ có thể tạm sử dụng một số trẻ con bắt được ngay tại địa phương; chứ thành lập những đơn vị con nít như thế để dùng ngay vào chiến cuộc này là chuyện điên rồ. Không phải bổ sung quân số đưa vào chiến cuộc đang kết thúc đâu, mà là họ đang tổ chức chiến cuộc mai sau đấy.


Ðem chút ít kinh nghiệm về lần trước để suy nghiệm về lần này, chúng ta thấy trước dăm ba điều họ sẽ làm sau khi thỏa ước ngưng chiến được ký kết:


Họ sẽ bỏ lại Miền Nam tất cả những thương phế binh, những cán bộ lâm nạn, tàn tật v.v& Mang mỗi phần tử vô dụng như thế về Bắc chỉ gây thêm xúc động tâm lý trong quần chúng ngoài ấy; để hạng ấy ở lại, họ tạo thêm gánh nặng cho kinh tế Miền Nam;


– Lúc cuộc “chiến tranh chính trị” mà các nhà lãnh đạo Miền Nam vẫn nói được bắt đầu, thì bao nhiêu ức vạn gia đình có con cháu ra Bắc (và những cô gái có chồng lính cưới vội cưới vàng trước khi về Bắc nữa) hóa ra những thành phần mà chánh quyền ta không sao lôi kéo tranh thủ nổi. Lòng họ hướng về những con tin ở ngoài Bắc, phân nửa sinh mạng họ do nhà đương cuộc Miền Bắc định đoạt. Thái độ của họ khiến nhà chức trách địa phương có thể phạm vào vài biện pháp kỳ thị vụng về: thế là phát sinh mâu thuẫn, bất mãn, chống đối, v.v…


– Một ngày nào đó, những cán bộ từ Bắc lại lén lút xâm nhập, mang theo thư từ của con, của chồng họ: họ mừng như mở cờ trong bụng. Họ bắt tay cộng tác với những cán bộ nọ, cùng nhau hoạt động để tạo điều kiện cho chồng con họ sớm trở về ồ ạt theo những đơn vị Nam xâm, v.v…


Cán binh gốc người Miền Nam đưa ra Bắc, rồi lại phái trở vào có nhiều cái lợi: khi được lệnh vào Nam hoạt động, họ mừng rỡ vì có cơ hội về quê; họ ra đi lặng lẽ, không có bà con thân thuộc ở Bắc nên không gây xao xuyến gì trong dân chúng, vừa giữ được yếu tố bí mật vừa tránh được tác động tâm lý bất lợi; họ lại được mong chờ đón đợi ở Miền Nam; và họ thông thạo am hiểu về dân tình cùng địa thế Miền Nam.


Như thế, chủ trương bắt đám trẻ em ở miền đồng bằng Nam Việt bát ngát, phì nhiêu đem ra xứ Bắc đông người đất hẹp, nhà cầm quyền Hà Nội chính đang bắt đầu chiến cuộc mai sau ngay từ lúc này, lúc mà chúng ta còn đang xôn xao mong ước ngưng chỉ chiến cuộc hiện tại. Nói họ bắt đầu lúc này cũng chưa đúng: thực ra các tài liệu về “Vấn đề gửi các cháu ra Miền Bắc” đã được phổ biến trong hàng ngũ cộng sản từ tháng 4, 1968, và thúc giục thực hiện trước mùa mưa năm nay. Tháng 4, 1968, tức là liền ngay sau khi tổng thống Mỹ mở miệng thốt ra vài dấu hiệu tỏ ý xuống thang chiến tranh để đi tới điều đình.


Ðiều đình để nghỉ ngơi, đối với Mỹ và chúng ta là thở ra một hơi dài nhẹ nhõm. Ðiều đình đối với cộng sản là bỏ cuộc nửa chừng, là đành không ăn được keo này. Thua keo này họ bày liền keo khác ngay, vì ngưng chiến thế nầy, theo họ, là một sự dở dang, là chưa hoàn tất công việc. “Thế này rồi thôi luôn hả? Nói thế mà nghe được! Sao có thể quan niệm một cách giải quyết giản đơn, vô duyên đến thế?”


Ý tưởng về ngưng chiến của chúng ta dính liền với một mơ ước xây dựng: bao nhiêu tỷ bạc cho Miền Nam, bao nhiêu tỷ bạc cho Miền Bắc, trao đổi kinh tế ra sao, trao đổi văn hóa thế nào v.v… Ý tưởng về ngưng chiến của cộng sản dính liền với một kế hoạch tấn công quân sự. Và những nạn nhân đầu tiên của trận chiến tương lai là những đứa bé con và bố mẹ chúng đã chịu đau thương từ sáu tháng qua rồi. Trận chiến tranh tương lai đã chọn nạn nhân của nó trong đám trẻ thơ, đàn bà Miền Nam, để biến họ thành con côi vợ góa. Xong rồi. Việc đã bắt đầu từ nửa năm nay rồi.


Trước một đối thủ như thế, thái độ của những chính khách Việt Mỹ hằng ngày đấm ngực đồm độp, băn khoăn, tự trách mình cái lỗi không kết thúc được chiến cuộc, thái độ ấy ngây ngô đã đành. Thái độ của những người hớn hở với một kế hoạch kinh tế hậu chiến nào đó, nghĩ cho cùng cũng mỉa mai tội nghiệp: liệu rồi hưởng được mấy năm hòa bình trước mắt mà hí hửng tính chuyện xây dựng, mà mơ cảnh thịnh vượng? Rồi đến thái độ của những kẻ nhìn xa để báo động về một cuộc chiến tranh chính trị: bảo rằng đối phương rồi đây chỉ có hoạt động chính trị, như vậy không khác gì chỉ vào con cọp mà gọi là con chó. Gần như tự lừa mình, như giúp địch ngụy trang.


Dù cho chỉ có chiến tranh chính trị với nhau, đố ai, đố đảng phái nào, liên minh nào, phong trào nào của chúng ta mà thuyết phục được mấy vạn ông bà cha mẹ có con cháu ở Bắc, mấy vạn góa phụ có chồng ở Bắc, thuyết phục được họ thành thực theo ta? Chỉ nắm lấy chừng ấy vạn người, cộng sản Bắc Việt đã có trong tay một lực lượng to lớn hơn mọi đoàn thể chính trị của chúng ta, lực lượng nằm ngay trong lòng quần chúng ta, hàng ngũ ta, mà hoạt động. Ấy là chỉ so sánh về lượng. Mặt khác, trong số các đoàn viên phong trào quốc gia, đảng viên quốc gia v.v… hạng thực sự nhiệt thành vì lý tưởng được bao nhiêu? Và riêng trong hạng nhiệt thành có được bao nhiêu kẻ mà lòng thiết tha đối với lý tưởng có thể mạnh hơn lòng thiết tha với chồng con của những phần tử bị cộng sản lợi dụng kia?


Dù cho chỉ có đấu tranh chính trị với nhau thôi, chúng ta đã bất lợi như thế. Huống chi đó chỉ là hành vi tốt lành lương thiện mà ta gán cho đối phương. Còn họ,… nếu vạn nhất trong thời gian năm bảy năm sắp tới mà đất nước này thoát khỏi một trận chiến tranh nữa, thì đó là ý trời, không phải là ý của họ đâu.


Ý của họ, nó tàn nhẫn đến nỗi chúng ta không dự liệu tới, không tưởng tượng được. Ðó là chỗ nhược của ta.


Năm 1954, sau chín năm ê chề mòn mỏi vì chiến tranh, thấy hòa bình ai nấy nhẹ nhõm; nếu có kẻ nào lúc đó mà xếp đặt một cuộc tàn sát nữa, kẻ ấy tất gan đồng dạ sắt.


Thì Hồ Chí Minh đã xếp đặt cuộc tàn sát ngay vào thời kỳ ấy.Năm 1968, sau hăm ba năm chiến tranh thảm khốc, nghe nói hòa bình mọi người mừng rơn.Nghĩ tới hàng triệu người đã bỏ thây trong thời gian qua, ai cũng tưởng làm người Việt Nam mà có kẻ dám để ý nghĩ mon men đến chiến tranh nữa, kẻ ấy thật mặt dày mày dạn, táng tận lương tâm.


– Thì Hồ Chí Minh chính đang xếp đặt thêm một cuộc chiến tranh.


Vậy mà ông ta vẫn an nhiên hưởng sự trọng vọng của bao nhiêu người, kể cả người Việt Nam! Cho hay cái sản phẩm quái dị của thế kỷ văn minh này là tuyên truyền chính trị, nó có một ma lực mê hoặc phi thường. Không phải thứ tuyên truyền yếu ớt vận dụng một cách khó khăn trong khung cảnh các nước tự do, mà là thứ tuyên truyền một chiều, qui mô, toàn diện, có thể sử dụng các quyền lợi kinh tế hỗ trợ cho nó như ở tại các quốc gia độc tài: Nga Xô, Trung Cộng, Bắc Việt, Ðức quốc xã v.v…


Và Hồ Chí Minh không phải chỉ được thứ tuyên truyền ấy xóa cho mình cái chân tướng hiếu sát phi nhân. Ông ta còn hóa thành thiên tài lỗi lạc dưới mắt nhiều người vì đã tổ chức giặc giã trong một phần tư thế kỷ để giành nửa nước, trong khi tại khắp các nước Á Phi, những lãnh tụ bất tài nhất cũng dần dần thu hồi được độc lập toàn vẹn cho quốc gia họ với những tổn thất nhẹ hơn nhiều. Ông ta còn hóa thành chính trị gia khôn ngoan, thành “cha già dân tộc” dưới mắt nhiều người, trong khi ở các xứ khác cùng lâm vào tình trạng lưỡng phân không có chính quyền nào nỡ giải quyết tình trạng một cách vô hiệu mà bất nhân đến thế, trải bao nhiêu năm cứ nhất mực khăng khăng chủ trương hết cuộc tàn sát này đến cuộc tàn sát nọ, không một mảy may sờn lòng xúc cảm trước cảnh chết chóc thê thảm làm cho cả nhân loại đều ái ngại.


Người như thế, không biết lòng dạ ra sao, tim óc ra sao. Bảo rằng cùng trong một người, vừa chứa đầy những kế hoạch xua ngay đồng bào mình vào chiến tranh liên tiếp vừa có chỗ cho tình yêu thương đồng bào, thật không thể hiểu thấu.


Những lời trên đây không được nhã nhặn. Quả thật không nhã nhặn. Và kẻ viết ra phải lấy làm ngượng về lời lẽ mình. Nhưng khi mình là dân một nước đã trải qua bao nhiêu năm khói lửa, rồi lại trông thấy trước mặt một viễn tượng đầy máu me, khi ấy nói về kẻ gây thảm họa thật khó giữ lòng bình thản để nói lời tao nhã.


Có thể nào không giận? Ông ta bảo phải đeo đuổi cuộc tàn sát nọ là vì nguyện vọng dân tộc?


– Trời, dân tộc này ai cũng xưng biết rõ vanh vách nguyện vọng, ai cũng đòi hành động nhân danh nguyện vọng dân; có điều mỗi người nêu lên một nguyện vọng khác nhau, hoàn toàn khác nhau, lắm khi mâu thuẫn nhau. Ðâu là nguyện vọng đích thực, để hồi sau phân giải. Cái chắc chắn là dân tộc này không hề nằng nặc thiết tha với cộng sản đến nỗi chịu chết năm ba thế hệ liên tiếp để rước kỳ được chế độ ấy về. Vả ông ta chừng ấy tuổi tác rồi, tai nghe mắt thấy đã nhiều, từng trải việc đời đã nhiều, ông ta đâu còn ngây thơ mà quáng mắt vì những danh từ khoác lác, những hứa hẹn hão huyền xa xôi của một chủ thuyết. Ông ta hẳn thừa rõ những gì đê tiện xấu xa xảy ra phía sau các khẩu hiệu tuyên truyền, thừa rõ sống ở Ðông Ðức đâu bằng ở Thụy Ðiển, Hòa Lan, thừa rõ con đường từ Hung Gia Lợi, Lỗ Ma Ni tiến đến dân chủ và hạnh phúc, phải xa hơn con đường từ Thụy Sĩ, Phần Lan.


Mà dù ông ta có không nghĩ như thế, có cho rằng Tiệp Khắc sung sướng và tự do hơn Thụy Ðiển đi chăng nữa, thì sự hơn thua chút ít cũng không đến nỗi bắt phải đổi lấy bằng ba bốn cuộc chiến tranh trong đôi ba mươi năm liền. Ðáng lẽ ông ta để cho dân tộc nhỏ bé đã chịu quá nhiều đọa đày vì ngoại thuộc này được yên thân để làm ăn, để sống cho ra sống trong ít lâu.


Ðã không vì nguyện vọng, quyền lợi dân tộc, ông ta hành động vì lẽ đảng ông ta nhất định phải thắng các đảng khác, vì lẽ người như ông ta không chịu thất bại nửa đường? Chừng ấy tuổi tác rồi, lẽ nào vì tranh hơn tranh thua, mà ông mạnh tay sát hại đồng bào không xót thương đến thế? Người ta có thể vì tức khí, nóng giận mà tàn nhẫn, vung tay quá đà. Ðó là chuyện nhất thời. Còn ông, ông dai dẳng quá.Vì cuồng tín chăng? Vì tự ái chăng? Vì cái gì ông ta cũng đáng trách đáng giận quá.


Nhưng trong vấn đề này, trách móc với giận hờn đâu có ăn thua gì. Một biểu thị tình cảm: thật vu vơ, vô hiệu. Ăn thua chỉ có chiến lược thâm hiểm, hành động thích hợp. Lời nói – dù nhã hay bất nhã – rồi sẽ bay đi theo mây gió. Chỉ có hành động mới sửa đổi được tình thế. Mà hành động thì…


Thì rồi chắc chắn ở phía bên này thoạt tiên ai nấy sẽ nhảy lên mừng hòa bình, rồi tiếp sau đó sẽ bất đồng cãi cọ nhau ỏm tỏi về chuyện xây dựng, sẽ tranh nhau làm ăn tới tấp. Cùng lắm, lâu lâu sẽ có người sáng suốt nhắc khẽ đến chiến tranh chính trị. Thế thôi.


Trong lúc ấy Bắc Việt lặng lẽ điều khiển cán bộ của họ ở trong nầy âm thầm nhen nhóm cơ sở. Rồi đôi ba năm sau, một ngày nào đó xét thấy thuận tiện, họ cho lệnh bùng nổ. Thế là chiến tranh tái diễn.


Chiến tranh tái diễn: mọi người trên thế giới đang sống an lành bỗng bị quấy rầy, bị ảnh hưởng, có một số bị lôi cuốn vào chiến cuộc, lấy làm lo ngại, bực mình, quay đầu về cái xứ lắm chuyện này nhìn bằng cái nhìn xoi mói, nghiêm khắc, trách vấn: “Rầy rà thật! Ra cái xứ ấy tệ thật, tự xử không nên thân. Loạn lạc này đích thị do độc tài, tham nhũng, bất công, kỳ thị tôn giáo v.v… khiến dân chúng bất mãn nổi lên chống chế độ. Dung dưỡng những chính quyền, những chế độ như thế chỉ tổ tai hại v.v…”


Chiến tranh ác liệt thêm: lương tâm nhân loại bị xúc phạm, các nhà triết học gọi nhau họp ở Thụy Ðiển, các luật gia rủ nhau họp ở Grenoble v.v… trịnh trọng suy tư, trịnh trọng bàn cãi, rồi lên án, kết tội v.v… Trong khi ấy các lãnh tụ Hà Nội họ chỉ cần khéo che miệng nín cười. Ðó là điều quan trọng: họ không được phép cười. Họ không được phép chế giễu lương tâm và trí thông minh của loài người. Họ không được vô lễ; họ chỉ được tiếp tục đánh thật mạnh.


Cứ thế cho đến khi hoặc chúng ta chịu không nổi những đòn đánh từ bên ngoài và những dằn xóc từ bên trong, chúng ta bỏ cuộc và cộng sản tiến đến Cà Mau; hoặc bên phía chúng ta cùng đồng minh có những kẻ thật chì, cộng sản liệu ăn không nổi, thế là lại điều đình và lại xếp đặt một kế hoạch khác… Như vậy không biết đến bao giờ.


Còn ba mươi hai năm nữa, chúng ta bước sang thế kỷ XXI. Nhiều người xem như bước sang một kỷ nguyên mới, một nền văn minh mới: con người sẽ không chỉ biết có quả đất, nhiều quốc gia sẽ tiến đến nền kinh tế kỹ nghệ hậu. Ðó chưa hẳn là cực lạc, nhưng cũng là cái gì vượt xa tình trạng hiện tại. Thiên hạ nô nức đua nhau tiến đến mặt trăng, đến kinh tế kỹ nghệ hậu. Như thể cá vượt Vũ Môn.


Riêng dân tộc chúng ta, ba mươi hai năm nữa e vẫn còn đánh nhau, nửa nước túm lấy nửa nước dìm nhau trong bể máu. Các dân tộc, bất cứ da đen hay da đỏ, đều có thể nô nức, hy vọng ở thế kỷ XXI. Riêng chúng ta, chúng ta chỉ còn có mỗi một điều để đón đợi: là hết chiến cuộc này đến chiến cuộc khác, nếu Hà Nội không từ bỏ quyết tâm của họ. Và cho đến bây giờ, họ chưa có dấu hiệu từ bỏ.


Hỡi các em bé của đồng bằng Nam Việt xanh ngát bị bắt đưa đi, từng hàng từng lớp nối nhau dìu nhau ra núi rừng Việt Bắc! Riêng về phần mình, các em đã chịu côi cút ngay từ lúc này; còn đất nước thì sẽ vì những chuyến ra đi của các em mà lâm vào cảnh đau thương bất tận. Tai họa hiện xảy đến cho các em cũng là tai họa về sau cho xứ sở. Ðã sáu tháng qua rồi. Dù người ta có thôi dài cổ ngóng về Ba-lê, để nghĩ cách cứu các em, thì cũng đã muộn.


Nhưng đâu có ai chịu thôi ngóng chờ? Và trong không khí thấp thỏm chờ đợi hòa bình, ngày ngày báo chí chỉ những rập rình từng thoáng tin ngưng oanh tạc, tôi hướng về các em những ý nghĩ vô cùng buồn thảm, đen tối.


Võ Phiến


Tháng 10, 1968


 


*Nhan đề bài này mượn từ một cuốn sách của Phùng Khánh, dịch truyện The Catcher in the Rye của J.D. Salinger. Sách Phùng Khánh do Thanh Hiên xuất bản năm 1967 tại Sài Gòn.

Tản mạn thơ văn


Ta và thơ


 


Mỹ Trinh


 


Thơ và ta mang trong đời món nợ


Từ kiếp nào như máu chảy về tim


Ta chết đứng khi thơ ngồi gục mặt


Nghe tang thương cát bụi phủ lên miền


 


Có những lần thơ cười ra nước mắt


Ta uống dòng chữ đắng ghét nhân gian


Nét ba hoa bút vẽ khói thiên đàng


Ta ngồi đó ủ ê bài thơ hận


 


Ta và thơ ôm nhau tình lận đận


Bước độc hành ngồi xuống cánh rừng thưa


Một thoảng gió mùa thu rơi tứ phía


Một góc đời chôn xuống cội lòng đau


 


Gió vẫn thế tung lên vùng cao ngạo


Gió níu hồn hương thảo rải vào thơ


Ta bỗng chốc khát khao từng nhịp thở


Của con tim mang mạch máu về nguồn


 


Ta và thơ bay lên hồn gió cuốn


Nhìn xuống nhân gian nhếch mép cười đùa


Thơ chung thủy thắp lòng ta ngọn lửa


Biết ơn thơ dù đời có lọc lừa


 


Ta ở lại cùng thơ thêm kiếp nữa


Ðã ngàn năm chưa đủ giọt sinh linh


Mây bốc hơi những linh hồn điên loạn


Thơ và ta bút chép chuyện nhân tình


–––––––––


 


Mưa không dứt


 


Mỹ Trinh


 


Mưa em rơi vào những vùng kỷ niệm


Ướt rũ hương đời ướt một trần gian


Mưa em rơi những sợi buồn màu tím


Lênh loáng trôi đi mộng đẹp của một thời


 


Vẫn mưa nhiều đổ lên chừng ấy tuổi


Mộng xa rời rửa nhạt nét hồn nhiên


Vẫn mưa nhiều tưởng chừng mình chết đuối


Chiều chơi vơi hứng lạnh góc ưu phiền


 


Mưa em rơi vào lòng mưa không dứt


Bởi người xa muôn thuở biết tìm đâu


Những hạt nắng màu tươi trẻ mộng ban đầu


Giờ đã gửi theo mưa trôi hết


Mưa vẫn còn mưa hoài không dứt


––––––––––


 


Gửi lời thăm nhau


 


Hương Quế


 


Sâu thật sâu… lắng thật lắng…


Anh ở đó trong tim tôi im lìm mà vẫn thở


Ngôn ngữ tình yêu đã ngủ thiếp từ lúc nào


Chỉ còn tôi trở mình trăn trở


Nắng mưa nhiều mấy thuở đã dần quen


 


Không có trăng tôi thắp ngọn đèn


Dòng chữ muộn của một ngày vất vả


Ðời đưa tôi đi trăm ngã


Vẫn một ngả về tôi lượm chữ cất vào thơ


Bảo đừng yêu nhau sao anh còn đợi


Bảo đừng yêu nhau sao bối rối vì đâu?


 


Cũng bài hát mưa cái thuở ban đầu


Mà nhịp gõ ngỡ chừng xa lạ lắm


Mưa không reo vui không đòi sưởi ấm


Mưa một mình em mưa vào khoảng lặng âm thầm…


 


Gió cứ bay đi gió


Gửi mấy lời thăm nhau


Gửi chút tình còn đó


Hương yêu đã nhạt màu


 


Thôi thì thôi cho mình bớt tội


Xin đừng yêu cho ảo vọng lên ngôi


Anh cứ viết lời tình bằng chữ


Tôi lượm về ắp gối giấu trong mơ


 


Ðừng yêu tôi bằng đôi vai gánh nặng


Hãy nhẹ nhàng vầng mây trắng thênh thang


Anh khắp nơi về đâu tôi cũng có


Tôi ở đâu mây cũng ở trên đầu


Gần như thế tội vạ chi mình khóc


Hãy cứ là mây dệt mộng ban đầu.




––––––––


 


Mật đắng


 


Mạc phương đình


 


buồn như gió, như mây lãng đãng


bàn tay em lá rụng từng chiều


mưa chẳng gọi cho rơi ngày tháng


đôi mắt thầm nghiêng đủ liêu xiêu


 


đành vụng dại chờ mai chờ muộn


bàn tay nào vẫy gọi nơi đâu?


trăng rọi xuống đen bờ hoang tưởng


nghe đâu xa một khúc nhạc sầu


 


thôi cuối dốc em về một bóng


gánh thời gian ta chạy hụt hơi


đòi chia chi nữa, đôi môi bỏng


giọt lệ nào đau một tuổi người


 


lời ngọt mật thấm vào quên lãng


em thật xa hơi ấm tay nào!


gọi nhau như thuở chân chưa nản


nặng cả bàn tay lúc vẫy chào


–––––––-


 


Hẹn về… giữa nước và mây


 


Chân-Trời-Chân-Mây


 


Tặng: Mỉm cười có duyên


 


Em ơi, một chuyện tình cờ,


Cơn “mưa không dứt” vỡ bờ nhân gian.


Anh theo luẩn quẩn chân nàng,


Ngước lên bão gió võ vàng trời mây!


 


Hẹn về ngồi giữa nơi đây,


Thiết tha ao ước cầm tay dặn rằng:


“Xưa nay sóng gió bất bằng,


Coi như đất sỏi cỗi cằn, đã qua!”


 


Rất xa thế giới, người ta,


Thiên nhiên, u tịch chan hòa bủa vây.


 


Hẹn về ngồi giữa nơi đây,


Họa thơ em nhé, một ngày thiên thu!


Hôm qua sầu khổ mặc dù,


Ðường hai lối ngược, được bù hôm nay!


 


Hẹn về giữa nước và mây,


Em là tiên nữ mỉm cười phúc duyên.


Hết ham danh vị, lợi, quyền,


Rớt rơi tục lụy, sạch liền… một khi!


 


(Vạn Hồ, Hồng Ân Tịnh Lầu, Maple Grove, 8 tháng 11, 2012)


Thái Văn


–––––––


 


Ðọc thơ anh


 


Mỹ Trinh


 


Em đọc thơ anh mượt mà chữ nghĩa


Lộng vào khung tranh vẽ nắng chiều tà


Tình của chữ rất ư là thấm thía


Tình của người xin đừng lạnh anh ơi


 


Em đọc thơ anh chữ nghĩa tuyệt vời


Thu xứ lạ thảo nguyên chiều mờ ảo


Phía trời xa bóng anh còn ngồi đợi?


Người em xưa bên lối nhỏ ngọt ngào


 


Em đọc thơ anh sương chiều giăng cỏ


Gửi tâm tình trên muôn cõi về xa


Nét chấm phá tượng hình qua làn gió


Gửi về em kỷ niệm ở quê nhà


 


Em đọc thơ anh sắc màu buồn đậm


Tình vẫn đầy tha thiết vẫn thâm sâu


Nếu một ngày đông đi xuân về thắm


Hãy viết cho em cái thuở ban đầu

Lá thư chủ nhiệm

 


Một tấm lòng


 


Người dân Minnesota nói chung và người Việt ở tiểu bang này nói riêng rất có lòng nhân ái. Họ sẵn sàng dấn thân vào các công tác từ thiện, và tích cực góp phần yểm trợ cần thiết cho những chương trình vô vụ lợi.


Dân Minnesota đã tham dự đóng góp công, của đáng kể trong việc giúp đỡ nạn nhân trong các trận bão Katrina (Louisiana) trước đây và trận bão Irene (New Jersey) trong tháng này và nhiều thiên tai khác trong quá khứ.


Người Việt Minnesota cũng góp phần vào các công tác yểm trở nêu trên. Ðặc biệt còn giang tay tiếp sức cho dự án phim tài liệu Việt Nam.


Sự tiếp tay này đã nói lên một tấm lòng cao cả, để lại sự biết ơn sâu xa cho người thưởng lãm phim và ban thực hiện phim Hồn Việt.


Chúng tôi xin nghiêng mình tán thán sự yểm trợ quý giá này.


Trân trọng


Huỳnh Sĩ Nghi


Chủ nhiệm

Lãnh đạo mới Trung Cộng sẽ bóp mũi Việt Nam?

 


Phạm Trần


 


Việt Nam sẽ phải đối phó chật vật với thế hệ lãnh đạo mới của Trung Cộng do ông Tập Cận Bình lãnh đạo có chủ trương quân sự mạnh để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và biển đảo.


Bằng chứng này không viển vông mà căn cứ vào lập trường của Trung Cộng đã phản ảnh tại Ðại hội đảng Cộng sản kỳ 18 kết thúc ngày 14/11/2012 và những lời tuyên bố của ông Tập Cận Bình đã nói với các nhà lãnh đạo chính trị và quân sự Việt Nam trong năm 2011 tại Hà Nội và ở Bắc Kinh.


 


Khoa học đẩy Mác-Mao ra khỏi đảng


 


Trước hết hãy nói về lập trường chính trị của Trung Cộng.


Ðại hội quyết định “đẩy mạnh sự nghiệp Chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc,” nhưng “đặc sắc,” hay khác với các Chủ nghĩa Xã hội chỉ thuần túy dựa trên nền tảng Chủ nghĩa Mác-Lênin như của Việt Nam như thế nào?


Trước tiên Tân Hoa Xã (Xinhua News Agency) tường thuật: “Ðảng Cộng sản Trung Quốc đã 18 lần sửa đổi Ðiều lệ Ðảng-cương lĩnh cầm quyền của mình, xác nhận Phát triển quan khoa học cùng chủ nghĩa Mác-Lê-nin, Tư tưởng Mao Trạch Ðông, Lý luận Ðặng Tiểu Bình và tư tưởng quan trọng “Ba đại diện” là tư tưởng chỉ đạo của Ðảng Cộng sản Trung Quốc.”


Ðài Phát thanh Quốc tế Trung Hoa (China Radio International, CRI), trong bản tin đưa ra vào ngày bế mạc Ðại hội 14/11 (2012) giải thích thêm: “Cốt lõi của quan niệm phát triển khoa học là lấy con người làm gốc. Ðứng trước yêu cầu lợi ích chủ thể xã hội đa nguyên, là đảng cầm quyền, Ðảng Cộng sản Trung Quốc thông qua sửa đổi Ðiều lệ Ðảng nâng quan niệm phát triển khoa học lên thành tư tưởng chỉ đạo của Ðảng, điều này không những là thành quả sáng tạo lý luận quan trọng của Ðảng Cộng sản Trung Quốc, mà còn thể hiện ở việc đã triển khai chiến lược quan trọng của Ðảng Cộng sản Trung Quốc trong lúc lãnh đạo nhân dân tiến tới hoàn thành xây dựng xã hội khá giả, là sự đáp lại trang nghiêm đối với sự ngưỡng vọng của nhân dân đối với cuộc sống tốt đẹp.”


Bài viết của CRI còn nhấn mạnh: “Các đại biểu cho rằng, việc lấy phát triển quan… khoa học và Chủ nghĩa Mác-Lê-nin, Tư tưởng Mao Trạch Ðông, Lý luận Ðặng Tiểu Bình, tư tưởng quan trọng “Ba đại diện” là tư tưởng chỉ đạo cần kiên trì lâu dài của Ðảng, có ý nghĩa hiện thực trọng đại và ý nghĩa lịch sử sâu xa đối với việc kiên trì và phát triển Chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc.


Các đại biểu cho rằng, Báo cáo Ðại hội Ðảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 18 đưa xây dựng văn minh sinh thái vào bố cục chung của sự nghiệp Chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc, đánh dấu công cuộc xây dựng hiện đại hóa Chủ nghĩa xã hội Trung Quốc bước vào giai đoạn mới.”


Tuy nhiên sau đó, tư tưởng “đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa mác-Lênin và Mao Trạch Ðông” không còn được Lãnh đạo Trung Cộng nhắc đến đến như nền tảng để Trung Hoa dựa vào đó mà xây dựng xã hội phồn thịnh hơn nữa.


Nhiều quan sát viên tự hỏi: Hay là sau khi quyết định đưa “phát triển khoa học vào đảng” thì những gì “phản khoa học của Mác-Lênin và Mao” phải ra đi nên Tân Hoa Xã mới viết: “Các chủ đề cơ bản của đại hội là: ‘Giương cao ngọn cờ vĩ đại của chủ nghĩa xã hội mang bản sắc Trung Quốc, thực hiện lý luận Ðặng Tiểu Bình, quán triệt tư tưởng Ba đại diện và quan điểm Phát triển Khoa học, thực hiện các chính sách cải cách và mở cửa, tăng cường nội lực, vượt qua tất cả khó khăn, vững bước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa gắn với bản sắc Trung Quốc, phấn đấu hoàn thành việc xây dựng một xã hội thịnh vượng trên mọi phương diện.’”


 


Nhưng “Ba đại diện” là gì?


 


Cha đẻ của tư tưởng “Ba đại diện” là ông Giang Trạch Dân, Tổng Bí thư Ðảng Cộng sản Trung Hoa, Chủ tịch Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Chủ tịch Quân ủy Trung ương đảng Cộng sản Trung Hoa nhiệm kỳ 24/06/1989 – 15/11/2002


Họ Giang được lãnh tụ tối cao Ðặng Tiểu Bình đưa lên thay Triệu Tử Dương bị thanh trừng vì quá khoan nhượng với phong trào sinh viên phản kháng ở Quảng trường Thiên An Môn năm 1989.


Theo lời ông Bao Tong, nguyên phụ tá đắc lực của ông Triệu Tử Dương viết trên Tuần báo Far Eastern Economic Review số ra ngày 06/09/2002 thì chủ trương “Ba đại diện” nhằm: Phát triển tiên tiến nhất với kỹ thuật hiện đại; Văn hóa dân tộc tiên tiến; và Phục vụ cho quyền lợi của đại chúng, thay vì chỉ tập trung vào hai thành phần nông dân và công nhân lao động như thời kỳ tiền Ðặng Tiểu Bình.


(Following is the English translation of Bao Tong’s criticism of Jiang Zemin’s Three Represents – the ideal that the Communist Party should focus on representing “advanced forces of production,” or high-tech businesses and the private sector, “advanced culture,” as well as “the fundamental interests of all the people,” instead of representing the interests of farmers and blue-collar workers.á- Three Represents: Marking the End of an Era-Far Eastern Economic Review-Bao Tong- 5 Sep 2002)


Chủ trương của ông Giang Trạch Dân, tuy bị cánh bảo thủ trong đảng chỉ trích tư bản hóa nước Trung Hoa, đã đưa chính sách mở cửa hội nhập với thế giới bên ngoài của Lãnh tụ Ðặng Tiểu Bình tiến nhanh hơn, thay đổi toàn diện bộ mặt chậm tiến và lạc hậu của Trung Hoa và đưa nước này lên hàng cường quốc về kinh tế thứ nhì Thế giới trong vòng 20 năm.


Ðấy là lý do tại sao Ðại hội đảng Cộng sản Trung Hoa kỳ 18, kết thúc hôm 14/11/2012, đã liên kết chặt chẽ “lý luận Ðặng Tiểu Bình” với “tư tưởng Ba đại diện của Giang Trạch Dân.”


 


Quân sự Tầu-Việt Nam


 


Nhưng trước khi sang chuyện liệu Lãnh đạo mới của Trung Cộng có bóp mũi Việt Nam để chiếm ưu thể ở Biển Ðông hay không thì cũng nên biết chính sách Quốc phòng mới của Bắc Kinh như thế nào.


Hôm 13/11 (2012) Ðài CRI viết báo cáo Quốc phòng của Tổng Bí thư-Chủ tịch nhà nước Trung Hoa Hồ Cẩm Ðào đã nói rằng: “‘Thông tin hóa’ một lần nữa trở thành một trong những từ then chốt. Báo cáo nêu rõ, phải khẩn trương hoàn thành hai nhiệm vụ lịch sử xây dựng cơ giới hóa và thông tin hóa, nỗ lực giành được tiến triển quan trọng về xây dựng thông tin hóa vào năm 2020.”


Ðề cập đến hai vùng biển Hoa Ðông (Hoàng Hải) tranh chấp với Nhật Bản về chủ quyền ở đảo Ðiếu Ngư, hay Senkaku và Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam ở Biển Ðông (Hoa Nam), CRI viết Tổng Bí thư Hồ Cẩm Ðào “Còn đặc biệt nêu ra: ‘Quan tâm coi trọng cao an ninh biển, khoảng không vũ trụ và mạng Internet.’”


Vẫn theo CRI: “Nội dung này đã gây tiếng vang rất lớn trong nước và nước ngoài. Dư luận nước ngoài phổ biến cho rằng, hiện Trung Quốc đối mặt với tranh chấp trên biển Hoa Ðông và Nam Hải, trong lĩnh vực xây dựng quốc phòng và quân đội, Trung ương Ðảng Cộng sản Trung Quốc đặc biệt đề ra quan tâm coi trọng ‘quyền lợi biển’ có nghĩa là Trung Quốc sẽ tăng cường xây dựng lực lượng quân sự trên biển, để giữ gìn hữu hiệu lãnh hải và toàn vẹn lãnh thổ đất nước.”


Rõ ràng người Trung Hoa đã không giấu diếm ý muốn dòm ngó biển đảo của Việt Nam ở Biển Ðông trong thời đại cầm quyền của Tập Cận Bình.


Nhưng ý của ông Tập Cận Bình về quan hệ tổng quát và tranh chấp lãnh thổ với Việt Nam ra sao?


Trong cuộc họp với Tổng Bí thư đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng tại Hà Nội ngày 21/12/2011, Ông Tập Cận Bình nói rằng: “Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, quan hệ Trung Quốc-Việt Nam có tầm quan trọng chiến lược đối với cả hai bên; khẳng định Ðảng, Chính phủ và nhân dân Trung Quốc luôn coi trọng quan hệ với Việt Nam, sẽ tiếp tục cùng với Ðảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam thúc đẩy quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Trung Quốc-Việt Nam không ngừng phát triển tốt đẹp, bền vững theo phương châm ‘láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai’ và tinh thần ‘láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt,’ vì lợi ích căn bản và nguyện vọng của nhân dân hai nước, vì sự nghiệp chủ nghĩa xã hội, vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới.”


Tuy nhiên, Trung Hoa đã không làm như đã nói mà ngược lại họ đã thường xuyên có những hành động đàn áp, bắn phá và bắt ngư dân Việt Nam đánh bắt quanh khu vực Hoàng Sa và Trường Sa trong nhiều năm qua.


Thêm vào đó và nghiêm trọng hơn là việc Trung Hoa đã thiết lập “chính quyền” ở thành phố Tam Sa vào ngày 24/7/2012 nhằm kiểm soát các quần đảo và vùng biển tranh chấp với một số nước trong vùng Ðông Nam Á, kể cả Việt Nam và Phi Luật Tân.


Vùng mà Trung Hoa gọi là Tam Sa, theo Bách Khoa Toàn Thư mở, bao gồm: Quần đảo Hoàng Sa (Trung Quốc gọi là quần đảo Tây Sa), Quần đảo Trường Sa (Trung Quốc gọi là quần đảo Nam Sa), bãi Macclesfield và bãi cạn Scarborough (Trung Quốc gọi là quần đảo Trung Sa) cùng vùng biển xung quanh.


Theo phân cấp hành chính của Trung Hoa thì Tam Sa là một khu hành chính thuộc tỉnh Hải Nam và có chính quyền nhân dân đặt tại đảo Phú Lâm (Trung Quốc gọi là Vĩnh Hưng) ở Hoàng Sa.


Về phần mình, phía Việt Nam chỉ biết phản đối suông mà không có bất cứ hành động nào khả dĩ làm chận kế hoạch xâm lăng của Bắc Kinh. Ngay cả việc kiện Trung Hoa ra tòa án Quốc tế hay gửi Công hàm phản đối đến Liên Hiệp Quốc, như Chính phủ Phi Luật Tân đã làm, cũng không có!


Riêng ông Tổng Bí thư đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng thì đã nói với họ Tập trong cuộc họp ở Hà Nội ngày 21/12/2011 rằng: “Ðối với những vấn đề tồn tại hay mới nảy sinh, trong đó có vấn đề trên biển, hai bên tuân thủ nhận thức chung giữa Lãnh đạo cấp cao hai Ðảng, hai nước đã đạt được và nghiêm chỉnh thực hiện “Thỏa thuận các nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển” đã ký giữa hai nước, cùng nỗ lực xử lý, giải quyết thỏa đáng, có lý, có tình, không để ảnh hưởng xấu đến đại cục quan hệ, đi tới giải pháp cơ bản, lâu dài mà hai bên đều chấp nhận được…”


“…Ðảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam rất coi trọng việc phát triển quan hệ đoàn kết hữu nghị truyền thống và hợp tác toàn diện với Trung Quốc và đây là chủ trương nhất quán, là một trong những ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam.”


Không những thế, ông Trọng còn hồ hởi: “Hai bên cần đẩy mạnh hợp tác trên tất cả các lĩnh vực đi vào chiều sâu; đặc biệt coi trọng việc giáo dục nhân dân hai nước, nhất là thế hệ trẻ, về tình cảm và tinh thần láng giềng hữu nghị, giúp đỡ và ủng hộ lẫn nhau, cùng nhau phát triển.”


Họ Tập đã đến thăm Việt Nam trong tư cách Phó Chủ tịch nước Trung Hoa từ 20 đến 22/12 (2011) theo lời mời của Trung ương Ðảng Cộng sản Việt Nam và Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan.


Ngoài ông Trọng, họ Tập còn họp bàn về tranh chấp trên biển với Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang; Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.


Trước đó vào ngày 13/04/2012, trong cuộc tiếp kiến ở Bắc Kinh Thượng tướng Ðỗ Bá Tỵ, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Ðảng Cộng sản Việt Nam, ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, ông Tập Cận Bình đã “nhắc khéo”: “Quan hệ láng giềng là rất quan trọng, vì đã là láng giềng thì không thể thay đổi, phải ứng xử, quan hệ tốt với nhau mới sống chung ổn định lâu dài được. Chuyến thăm Trung Quốc của Tổng bí thư Ðảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng rất thành công, kết quả chuyến thăm là cơ sở để hai nước triển khai thực hiện. Trung Quốc hết sức coi trọng phát triển quan hệ Trung-Việt, luôn quan tâm thúc đẩy các hoạt động tiếp xúc, giao lưu cấp cao, coi trọng hợp tác thực chất và tăng cường các hoạt động hợp tác giữa hai quân đội.”


Khi nói như thế phải chăng họ Tập muốn nhắc phía Việt Nam hãy nhớ đến cam kết của Thủ tướng Phạm Văn Ðồng với Thủ tướng Chu Ân Lai năm 1958?


Trong Công hàm ký ngày 14 tháng 9 năm 1958, ông Phạm Văn Ðồng đã nhìn nhận chủ quyền lãnh thổ của Trung Hoa bao gồm cả 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa do Chu Ân Lai công bố ngày 04/09/1958.


Tài liệu chính thức của Hà Nội chứng minh nguyên văn Công hàm Phạm Văn Ðồng như sau:


“Thưa Ðồng chí Tổng lý,


Chúng tôi xin trân trọng báo tin để Ðồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.


Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trên mặt biển. Chúng tôi xin kính gửi Ðồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng.”


Phía Nhà nước CSVN cho rằng ông Phạm Văn Ðồng không hề nói đến hai quần đảo Hòang Sa và Trường Sa khi gửi Công hàm này cho ông Chu Ân Lai, và rằng phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lúc đó không có trách nhiệm chủ quyền Hòang Sa và Trường Sa vì khi đó là phần lãnh thổ của Việt Nam Cộng Hòa (Chính quyền miền Nam) nên không thể coi miền Bắc đã thừa nhận chủ quyền của Bắc Kinh.


Tuy nhiên, trong tất cả các cuộc thương thảo giữa hai bên để giải quyết tranh chấp, phía Trung Cộng luôn luôn trưng ra Công Hàm của ông Ðồng để làm áp lực với Việt Nam.


Do đó, với chức vụ và quyền hành mới, giờ đây Chính phủ Việt Nam sẽ phải đối phó với ông Tổng Bí thư đảng Cộng sản Trung Hoa Tập Cận Bình kiên quyết và cứng rắn hơn trong việc bảo vệ chủ nghĩa dân tộc của người Trung Hoa theo“lý luận Ðặng Tiểu Bình,” người từng chủ trương “hãy gác tranh chấp để cùng khai thác” ở Biển Ðông.


Cũng ý nghĩa như thế, nhóm chữ “hợp tác cùng phát triển” đã được sử dụng trong nội dung 6 điểm của thỏa hiệp “Những nguyên tắc giải quyết vấn đề trên biển” mà ông Nguyễn Phú Trọng đã ký ở Bắc Kinh ngày 11/10/2011 với Chủ tịch Nhà nước Trung Hoa Hồ Cẩm Ðào.


Ba điểm quan trọng của Thỏa hiệp là:


Ðiểm 2: “Trên tinh thần tôn trọng đầy đủ chứng cứ pháp lý và xem xét các yếu tố liên quan khác như lịch sử…, đồng thời chiếu cố đến quan ngại hợp lý của nhau, với thái độ xây dựng, cố gắng mở rộng nhận thức chung, thu hẹp bất đồng, không ngừng thúc đẩy tiến trình đàm phán. Căn cứ chế độ pháp lý và nguyên tắc được xác định bởi luật pháp quốc tế trong đó có Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982, nỗ lực tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài mà hai bên đều có thể chấp nhận được cho các vấn đề tranh chấp trên biển.”


Ðiều 4: “Trong tiến trình tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài cho vấn đề trên biển, trên tinh thần tôn trọng lẫn nhau, đối xử bình đẳng, cùng có lợi, tích cực bàn bạc thảo luận về những giải pháp mang tính quá độ, tạm thời mà không ảnh hưởng đến lập trường và chủ trương của hai bên, bao gồm việc tích cực nghiên cứu và bàn bạc về vấn đề hợp tác cùng phát triển theo những nguyên tắc đã nêu tại điều 2 của Thỏa thuận này.”


Ðiểm 5: “Giải quyết các vấn đề trên biển theo tinh thần tuần tự tiệm tiến, dễ trước khó sau. Vững bước thúc đẩy đàm phán phân định vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, đồng thời tích cực bàn bạc về vấn đề hợp tác cùng phát triển tại vùng biển này. Tích cực thúc đẩy hợp tác trên các lĩnh vực ít nhạy cảm như bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học biển, tìm kiếm, cứu hộ cứu nạn trên biển, phòng chống, giảm thiểu thiệt hại do thiên tai. Nỗ lực tăng cường tin cậy lẫn nhau để tạo điều kiện cho việc giải quyết các vấn đề khó khăn hơn.”


Cha đẻ của thuyết “gác tranh chấp để cùng khai thác,” ông Ðặng Tiểu Bình cũng chính là người đã xua quân vượt biên giới đánh sang 6 tỉnh cực Bắc của Việt Nam hồi tháng 2/1979 mà ông ta bảo là “dạy cho Việt Nam một bài học”!


Trên 40,000 quân-dân Việt Nam đã hy sinh trong cuộc chiến bảo vệ biên giới dài 28 ngày từ 17/02/1979 đến 16/03/1979.


Người dân Việt Nam làm sao mà quên được thảm cảnh ấy, nhất là bây giờ quân Tầu vẫn còn chiếm đóng nhiều phần đất của Việt Nam mà Nhà nước Việt Nam thì không sao lấy lại được, tiêu biểu nhất là thác Bản Giốc và Ải Nam Quan!


Vì vậy, nếu không muốn bị họ Tập bóp mũi, những người cầm đầu đảng và nhà nước Việt Nam cũng phải nghĩ đến chủ nghĩa dân tộc của người Việt Nam chứ không thể cứ yếu mềm và nhút nhát như bây giờ.


Lỡ ra lại “Xuất hiện những người có tư tưởng xa lạ, chỉ luôn luôn rình rập mọi sơ hở để chống đối, để ‘chọc gậy bánh xe,’ thậm chí để ‘cõng rắn cắn gà nhà’” như Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang đã cảnh báo vào dịp 2/9 (2012) thì sao?


Phạm Trần


(11/2012)

Giới thiệu cơ sở thương mại



Mai Hoàng phụ trách


 


Zegis Beauty School


 


Người Việt Nam ta đã làm một cuộc cách mạng về ngành móng tay (nail) ở Mỹ. Với sự khéo tay và chịu khó người Việt đã ra nhiều cơ sở rất thành công cho kỹ nghệ này.









Huấn luyện viên Casandra (phải) và Sheraphina (trái) cùng các học viên và khách.


Bên cạnh nghề này người Việt cũng thích nghi được những nghề thuộc ngành thẩm mỹ khác như hớt tóc, làm da mặt. Minnesota cũng như nhiều nơi khác đã tạo được những cơ sở huấn luyện chuyên môn cho ngành thẩm mỹ. Trường Zegis Beauty School là một cơ sở do người Việt sáng lập và điều hành.









Mặt tiền trường Zegis Beauty School.


Cô Teresa Vũ đã thành lập ngôi trường từ năm 2009. Trường đã đào tạo được nhiều chuyên viên xuất sắc cho các ngành móng tay, hớt tóc, chăm sóc da và làm da mặt. Chương trình huấn luyện được hoạch định kỹ lưỡng và đặc biệt giá học phí rất hạ.


Nhiều học viên người Việt được học qua cho biết, ngoài việc chương trình học hay “chúng em còn được giải đáp thêm bằng tiếng Việt.”


Ðịa chỉ:


Zegis Beauty School


7001 78th Avenue N.


Brooklyn, MN 55445


Ph.: 763-331-0079


Fax: 763-331-0098


Email: [email protected]

Buổi ra mắt sách ‘Chết Bởi Trung Quốc’ tại California

 


*Phan Tấn Hải


 


WESTMINSTER (VB) – Buổi ra mắt sách “Chết Bởi Trung Quốc” (bản Việt dịch do Tiến sĩ Trần Diệu Chân thực hiện từ “Death by China” của Peter Navarro va Greg Autry) hôm Chủ Nhật, 11 tháng 11, 2012 tại hội trường Việt Báo đã thành công mỹ mãn, khi mọi người tham dự cùng nhận ra các hiểm họa từ Trung Quốc đang gây thiệt hại cho thế giới, và cụ thể là tại Việt Nam.










Hình ảnh quan khách.


Nhà báo Lý Kiến Trúc đã gọi bản dịch 430 trang này là một tác phẩm cần có đối với những người quan tâm về đất nước, là một tác phẩm tuyệt vời viết bởi 2 trí thức thiên tả Hoa Kỳ và một trí thực cực hữu Việt Nam. Ông nói, hai tác giả Navarro và Autry có lập trường thiên tả vì chống đối các công ty tư bản đã và đang đưa việc làm từ Mỹ sang TQ để tăng lợi nhuận, và bà Trần Diệu Chân, người viết bài tiểu luận 90 trang với tựa đề “Những Vấn Ðề Trung Quốc của Dân Tộc Việt Nam” có lập trường cực hữu thấy rõ khi bà kêu gọi tẩy chay sản phẩm TQ, biểu tình toàn cầu và toàn quốc để chống bành trướng TQ, liên minh với các dân tộc Tây Tạng, Duy Ngô Nhĩ… và đòi hỏi xóa sổ chế độ độc đảng để đa đảng dân chủ hóa VN.


Ông Lý Kiến Trúc nói rằng dân Việt tại California hồi 2 thập niên trước đa số làm việc ở các nhà máy lắp ráp hàng điện tử, thế rồi hãng xưởng tư bản rủ nhau sang TQ (trong đó, theo ông, chính Mitt Romney cũng là một người chủ mưu), thế là thợ thuyền Việt ở California bây giờ thất nghiệp quá nhiều.


Ông cũng khen ngợi bà Trần Diệu Chân là một nữ tướng, khi liên tục nhiều ngày bất kể nắng mưa đã xuống đường biểu tình phản kháng Thủ Tưởng CSVN Phan Văn Khải trên chặng đường công du Mỹ trong tháng 6, 2005, và bây giờ bà sử dụng ngòi bút nêu lên tội ác CSVN đã bán cả thị trường 90 triệu dân cho Trung Cộng, chứ không chỉ là nhượng đất, nhượng rừng, nhượng biển…










TS Mai Thanh Truyết, TS Trần Diệu Chân, nhà báo Lý Kiến Trúc.


Tiến sĩ Mai Thanh Truyết trong phần giới thiệu sách đã nói rằng ông mới nghe là có một bản Việt dịch khác từ một dịch giả Canada, như thế tác phẩm có tầm quan trọng và được chú ý nhiều bởi giới trí thức Việt. TS Mai Thanh Truyết nói, tác phẩm là một báo động toàn cầu về chính sách bành trướng của TQ, đã được TS Trần Diệu Chân dịch với văn phong dễ hiểu, trong sáng, và đặc biệt là nêu lên cụ thể các hiểm họa đầu độc toàn cầu từ TQ, khi nuôi cá với ngập thuốc kháng sinh, hóa chất giữ tươi trái cây, thuốc tẩy vào bánh tráng, và vân vân.


Tiến sĩ Truyết đưa lên xấp bánh tráng do Linh mục Nguyên Thanh đưa khi vào buổi ra mắt sách, và nói rằng thành phố Vũ Xương ở TQ đã chế biến đủ thứ sản phẩm lương thực với hóa chất resin, với borax, với formaldehyde… lâu dài là người ăn sẽ ngộ độc, bệnh ung thư. Ông nói, bài viết của TS Trần Diệu Chân về lời kêu gọi tẩy chay hàng TQ rất cụ thể, cần phổ biến rộng rãi.


Trong phần nói chuyện, TS Trần Diệu Chân nói rằng bên cạnh cuốn sách, bà cũng đã được 2 tác giả Navarro và Autry đồng ý cho dịch cả bộ phim “Death by China,” và 2 tác giả bày tỏ mong muốn rằng bộ phim sẽ chiếu trước tiên ở Quận Cam, Nam Calif. – nơi cả 2 tác giả đều quen thuộc với học giới và sinh viên: Navarro là giáo sư ngành kinh doanh ở Ðại Học UCI, trong khi Autry là giảng viên trường Quản Trị Merage thuộc UCI.


Bà nói, tất cả các tổ chức đấu tranh dân chủ trong một hội nghị tại Anaheim với nhiều sắc dân và tôn giáo như Việt Nam, Miến Ðiện, Tây Tạng, Duy Ngô Nhĩ, Lào, Pháp Luân Công, Tin Lành… đã cùng đánh giá tác phẩm “Death by China” có tầm quan trọng toàn cầu, đánh thức ảo vọng của nhiều người về một nước TQ trỗi dậy hòa bình.


Bà nói, hiện nay bản dịch của bà đã có đường dây để in và phát hành trong nước VN, nơi những người can đảm và yêu nước vẫn liên tục hoạt động để ngăn chận làn sóng từ Bắc Kinh tràn xuống Việt Nam: độc chiếm Biển Ðông, Hán hóa toàn diện và đầu độc toàn dân.










MC Ngô Chí Thiềng, MC Ngô Mai Hương, Trần Trung Dũng, TS Ðông Xuyến.


Phần câu hỏi và góp ý cũng diễn ra sôi nổi, với nhiều vấn đề nêu ra. Ðặc biệt có một người mua 15 ấn bản để phổ biến tới người thân.


Buổi ra mắt sách có tham dự của GS Nguyên Văn Sâm (Viện Việt Học), LS Ðoàn Thanh Liêm (Mạng Lưới Nhân Quyền), GS Lê Văn Khoa, LM Nguyên Thanh, ông Ðoàn Thế Cường. Tổ chức là ông Trần Trung Dũng. MC là ngô Chí Thiềng và Ngô Mai Hương (nhà thơ Hương Giang). Giới thiệu dịch giả là TS Ðông Xuyến. Tham dự cũng có phóng viên Việt Báo, Sài Gòn Nhỏ, các đài truyền hình Freevn.net, SBTN, VHN, và nhiều cơ quan truyền thông khác.


Tìm mua, xin liên lạc:


5850 Stockton Blvd., #C,


Sacramento, CA 95824


[email protected]

Yêu nhau

 


Mỹ Lệ Nguyễn Quang Bửu/Người Việt Utah


 


Yêu em anh để ở đâu?


Ðể trong ngăn tủ quá lâu quên nhìn


Yêu anh em để ở đâu?


Ðể trong túi áo nhìn lâu thêm tình.


 


Yêu em anh để ở đâu?


Quăng dưới gầm giường chẳng biết để đâu


Yêu anh em để ở đâu?


Ðể trong cái bóp mở ra mỗi ngày.


 


Yêu em anh để ở đâu?


Ðể trong ly rượu say rồi quên luôn


Yêu anh em để ở đâu?


Ðể trong áo gối kê đầu hàng đêm.


 


Yêu em anh để ở đâu?


Ðể trong điếu thuốc phì phà khói hương


Yêu anh em để ở đâu?


Trong tim em đó, buồn vui mỗi ngày.


(Vợ nhớ chồng 12 tháng 10, 2012)

Utah vào Ðông

 


Minh Tấn/Người Việt Utah


 


Anh nhớ về em kỷ niệm nhiều


Ngoài kia tuyết đổ nhớ em yêu


Chờ mong một ngày trời nắng đẹp


Phố núi Utah sẽ đáng yêu


 


Mùa Ðông Utah cảnh trời mây


Vạn vật quanh ta cũng đổi thay


Ðêm về bao phủ màu hoa trắng


Sáng nắng chiều mưa tối tuyết đầy


 


Sài Gòn có gì lạ không em


Cuộc sống Utah vẫn êm đềm


Bốn mùa thay đổi cùng năm tháng


Tình yêu chắp cánh chuỗi ngày thêm


 


Phố núi Utah tuyết phủ dầy


Tình người xa xứ nỗi buồn thay


Thu đi đông lại càng hiu quạnh


Ðể lại Utah giấc mộng đầy.

Ðứng trước một chân trời cũ

 


Cao Mỵ Nhân/Người Việt Utah


 


Trước khi lên đèo Hải Vân, để ra Huế, xe quý vị phải chạy qua cánh đồng cát trắng xóa, thuộc địa phận Nam Ô, nơi có núi đá vôi long lanh ánh bạc dưới nắng mùa Hè, hay thăm thẳm buổi trời sắp sửa vào Thu.


Nếu quý vị đi xe lửa, thì tàu dừng lại ở ga Liên Chiểu, chân đèo Hải Vân bên này, hàng quán lơ thơ buồn lắm. Nam Ô tên đẹp như thế, mà có vị còn kêu Nam Ổ, hay Năm Ổ. Tôi thì cứ khắc khoải nhớ nhung cái vũng chài cô quạnh, mà nó, Nam Ô, thân thuộc với tôi suốt cuộc hành trình lập nghiệp, hay là trưởng thành ở Ðà Nẵng, mặc dầu tôi vốn gốc Bắc Kỳ di cư.


Có nhiều gia đình rời thành phố biển Hải Phòng đến thẳng Tourane, tức Ðà Nẵng, ba tôi lại đi xa hơn, vào Sài Gòn để tái định cư, như thủa nay, người ta bỏ Việt Nam nói chung, miền Nam nói riêng, tới Hoa Kỳ tạo dựng một quê hương thứ hai, sau 30 tháng 4, 1975, cũng nói tái định cư.


Tất nhiên ba tôi là đầu tàu của gia đình, cứ việc tìm kiếm nơi ăn, chốn ở cho cả nhà ở nơi gọi là Hòn Ngọc Viễn Ðông, chúng tôi con cái lớn nhỏ lại đứa nào việc nấy, tự lo phần mình, như thu góp giấy tờ chứng minh trước học ở trường nào, lớp mấy ngoài Bắc xa xôi, để các ban giám đốc trường mới phê chuẩn cho vào học đúng niên khóa đầu tiên ở miền Nam, tức thời gian 1954-1955.


Và tất nhiên, chúng tôi là những người gào thét vang sân trường bài Suy Tôn Ngô Thủ Tướng, sau 1956, thì tựa bài hát này đổi là Suy Tôn Ngô Tổng Thống.


Chúng tôi, lớp học sinh Bắc di cư, có nhiều ưu thế thời đại, tuổi “teen” kiểu bây giờ, năng nổ, hoan ca, luôn được đề cử đi phát động phong trào truất phế vị vua triều Nguyễn cuối cùng, để tôn vinh chí sĩ Ngô Ðình Diệm lên làm tổng thống.


Riêng với tôi, thì phong trào này có vẻ… tích cực lắm, chúng tôi đi bộ khắp các ngả đường, qua luôn quận 5-Chợ Lớn, cứ một câu “Mùng 4 tháng 3, chúng ta đi bầu,” rồi tiếp theo bản ngợi ca “Ai bao năm vì sông núi quên thân mình” đó.


Cho tới bây giờ, khí thế đấu tranh, hay là nhiệt huyết thanh thiếu niên vẫn còn đồng vọng mơ màng. Tôi vừa được xem một đoạn phim thời sự thủa tôi cùng chúng bạn đi hô hào dân chúng miền Nam truất phế vua Bảo Ðại, và suy tôn Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm 57 năm về trước, tôn vinh ngài lên Phủ Ðầu Rồng.


Ðoạn phim chiếu ủy ban sắp xếp việc sang trang lịch sử, xây nền cho chế độ Ðệ I Cộng Hòa, có quý vị tên tuổi trong lãnh vực chính trị: Nguyễn Bảo Toàn chủ tịch, Hồ Hán Sơn phó chủ tịch, Nhị Lang tổng thư ký, vân vân và vân vân.


Mặc dầu đoạn phim mô tả từ 57 năm qua, nhưng phương danh quý vị dẫn thượng, lại khiến tôi như đứng trước một chân trời cũ.


Ngày xưa nhà văn Hồ Dzếnh diễn tả chân trời cũ của riêng ông, là thủa bé thơ ông ở với người mẹ Việt Nam và người cha là khách trú, còn tôi đứng trước một chân trời cũ của chung thiên hạ, chân trời này kéo dài từ 1955 ấy tới 1975 sau này, với phần đất nhỏ hẹp thôi – làng chài Nam Ô nêu ở đầu bài, tôi đã tình cờ biết được mấy sự việc khá ly kỳ.


Trước nhất, nhân vật Nhị Lang tổng thư ký ủy ban đề nghị thay đổi minh chủ, nói theo đại sự là thay đổi lãnh tụ, là người gốc ở Nam Ô.


Năm ấy, tức mười mấy năm sau 1955, tôi đã thay chiếc áo học trò, để trở thành một nữ sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, giữ chức vụ trưởng phòng Xã Hội Bộ Tư Lệnh QÐI/QK1 đồn trú ở Ðà Nẵng, lãnh thổ có biển Nam Ô.



Một ngày trời nắng gắt, có vị trung niên khá phong độ, mang vẻ hảo hán, đến văn phòng Xã Hội Quân Ðoàn I của… tôi, nói rằng: Ông ta tên là Nhị Lang, con rể của nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam.


Tôi ngỡ ngàng hỏi:


-Thế ông định đề cập tới việc gì?


Ông Nhị Lang đó nửa thản nhiên, nửa lại có vẻ… quyết liệt, rằng:


-Tôi đến đây nhờ cô xin cho tôi phương tiện lo một đám ma ở Nam Ô vào ngày mai.


Lo đám ma cho gia đình binh sĩ, tử sĩ, v.v… của quân đội là công tác chúng tôi làm, nhưng ông này “civil” tức dân sự, nhờ mà cứ như chỉ định, tôi ngạc nhiên hết sức, hỏi thêm:


-Chúng tôi chỉ lo cho gia đình quân nhân các cấp, tại sao ông dân sự lại đến đây?


Nhị Lang gật đầu:


-Dân sự đồng ý, nhưng tôi là rể của nhà văn Nhất Linh, bà con với nhà văn Duy Lam chánh văn phòng tư lệnh quân đoàn này, Duy Lam nói tôi xuống nhờ Xã Hội lo.


Tôi khẽ à, té ra ông Nhị Lang này đã đến văn phòng tư lệnh, đã gặp Trung Tá Nguyễn Kim Tuấn tức nhà văn Duy Lam, thì cũng chẳng sao, vì Nhị Lang cũng thuộc giới đảng phái, chắc là Việt Nam Quốc Dân Ðảng gì đây – Thôi được, lo thêm một việc xã hội như mọi công tác xã hội mà thôi.


Tôi vốn muốn làm vừa lòng dân chúng địa phương, cũng là công tác dân sự vụ, huống chi lại họ hàng nhà văn lớn Nhất Linh, trong Tự Lực Văn Ðoàn tôi hằng ngưỡng mộ, nên nhận lời giúp ông ta.


Sáng hôm sau, 2 xe GMC và 1 chiếc Jeep của phòng xã hội đã đậu trước nhà ông Nhị Lang ở Nam Ô, đám ma thân mẫu ông, Nhị Lang trong tang phục trưởng nam xô gai, mũ cói, gậy tre phục trước linh cữu, ông biến thành một nam tử phục hiếu mẹ già, nước mắt quanh mi như bao nhiêu quý vị làm con tiễn tử cha mẹ về trời, gởi đất, v.v…


Trở về phòng Xã Hội Quân Ðoàn I/QK1, tôi đã thấy Nguyễn Tường Tâm từ phòng Chính Huấn Quân Ðoàn đứng đợi, Tường Tâm tức bực:


-Ai bảo chị làm vậy, chị có biết cha Nhị Lang ấy hành chị Thư khổ sở sao không, nếu tử tế chị Thư đã ra thọ tang mẹ chồng rồi, hắn làm chị Thư điên dại lâu nay.


Chị Thư, tức ái nữ của nhà văn Nhất Linh, một thời… là phu nhân ông Nhị Lang nêu trên.


Nam Ô với mọi dọc dài kỷ niệm của tôi, chẳng phải vì chuyện Nhị Lang mà tôi nhắc nhở địa danh này, nếu nói về… lịch sử, nhất là quân sử, thì Nam Ô, điểm hẹn đầu tiên để lực lượng Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đổ bộ, yểm trợ chiến trường trực tiếp ở Quân Khu 1 đầu xuân năm 1964, đồng thời vũng chài Nam Ô, trở nên một thắng cảnh tuyệt vời, đã được ví như Hồng Kông, Thượng Hải miền Trung Việt Nam khi đồng minh tham chiến, hỗ trợ Việt Nam Cộng Hòa sau này.


Trong dịp kỷ niệm Quốc Khánh, thời đệ I Cộng Hòa 26 tháng 10, và lễ giỗ cố Tổng Thống Ngô Ðình Diệm mà nhiều nơi sắp sửa tổ chức, thời gian hơn nửa thế kỷ, đất nước ta mang những nét kỷ bà rối rắm, một bức tranh với hầu hết gam mầu được tận dụng khiến người xem, nhân dân trăm họ thẫn thờ… Làm thế nào để ai cũng nhận ra điều chân chất lý thú, nhân bản Việt Nam.


Thì Nam Ô là một không gian thầm lặng nhất, bãi xưa, biển cũ, ghềnh đá chênh vênh cùng rừng lau trắng ngon bát ngát – ở đấy, người dân chỉ sống yên lành với núi đá vôi và bến chài vắng vẻ.

Tin tức cộng đồng người Việt Utah

 


Phóng viên Người Việt Utah thực hiện


 


Chuyến đi Wendover xem show nhạc “Cám Ơn Ðời Dù Hạnh Phúc Hay Khổ Ðau”: Dịp Lễ Thanksgiving, Thứ Năm ngày 22 tháng 11, 2012


Nhân dịp Wendover có show nhạc “Cám Ơn Ðời Dù Hạnh Phúc Hay Khổ Ðau,” Tuần Báo Người Việt Utah tổ chức 3 chuyến xe buýt đi Wendover vào dịp Lễ Thanksgiving, Thứ Năm, ngày 22 tháng 11 năm 2012.


Sẽ có 2 chuyến xe buýt khởi hành lúc 1 giờ trưa và rời Wendover lúc 12 giờ đêm, 1 xe buýt khởi hành lúc 2 giờ trưa và rời Wendover lúc 11 giờ đêm tại địa điểm bãi đậu xe của nhà hàng New East Sea, 3695 South Redwood Road, West Valley City, Utah.


Ðồng thời, chúng tôi có vé ca nhạc loại hạng nhì $35, sẽ bán giảm giá cho quí vị là $20. Vé xe buýt đặt trước giá $18 một người, chỗ ngồi sẽ theo thứ tự đặt chỗ trước sau. Quý vị sẽ được phục vụ thức ăn nhẹ và nước uống, chơi Bingo trên tuyến đường đi đến Wendover. Ðặc biệt mỗi quý vị sẽ nhận được một fun pack trong đó có $5 cash back, phiếu ăn Buffet tại Wendover.


Mọi chi tiết xin vui lòng liên lạc:


Hòa (801) 231-0054, Victoria (801) 462-5190


 


BCH CÐNVTDUT kêu gọi tiếp tay trong chiến dịch “Chia Sẻ Mùa Tạ Ơn”


Theo tin từ Ban Chấp Hành Cộng Ðồng sẽ tổ chức đêm “Tạ Ơn Những Chân Tình” vào lúc 6:00 giờ chiều đến 10:00 giờ đêm Thứ Bảy, ngày 17 tháng 11 năm 2012, tại Trung Tâm Ða Văn Hóa, 1355 West 3100 South, West Valley City, UT 84119. Chương trình gồm có: Lời cảm ơn của chủ tịch BCH cộng đồng.


BCH cộng đồng rất mong chiến dịch “Chia Sẻ Mùa Tạ Ơn” được sự tiếp tay của quý đồng hương, đóng góp mỗi lon canned food quí vị sẽ được 1 vé số để bốc thăm trúng thưởng trong đêm “Tạ Ơn Những Chân Tình.” Giải nhất là $100, giải nhì là $50, giải ba là 1 giỏ hoa. Tất cả thực phẩm quyên góp sẽ được chuyển đến Utah Food Bank ngày Thứ Hai, 19 tháng 11, 2012 dưới tên Cộng Ðồng Người Việt Utah.


BCH kêu gọi quan khách đến tham dự xin mang theo một hay nhiều lon thực phẩm (canned food). Lưu ý: BCH không nhận những lon thực phẩm đã quá hạn sử dụng.


 


Thông báo Lễ Hội Xuân Quý Tỵ 2013 do Tuần Báo Người Việt Utah Tổ Chức ngày 1 và 2 tháng 2 năm 2013


Tuần Báo Người Việt Utah sẽ tổ chức Lễ Hội Xuân Quý Tỵ 2013 vào ngày 1 và 2 tháng 2 năm 2013. Ðây là lần đầu tiên cộng đồng Người Việt Utah sẽ có một lễ hội xuân vui chơi như mọi người hằng mong ước lâu nay. Chương trình gồm có 3 phần chính:


(1) Hội Chợ Tết: Có nhiều gian hàng hoa xuân, trái cây, bánh mứt, ăn uống, triển lãm, trò chơi, games, lô tô, v.v. Các gian hàng sẽ được mở rộng cho các cơ sở thương mại, chùa, nhà thờ, hội đoàn để đăng ký tham gia buôn bán hoặc trưng bày. Liên lạc Hòa (801) 231-0054, Victoria (801) 462-5190.


(2) Thi Tiếng Hát Người Việt Utah: Lần đầu tiên, sẽ được tổ chức để tuyển chọn 3 tiếng hát xuất sắc của Người Việt Utah. Các bạn được chọn sẽ được trình diễn trong đêm ca nhạc dạ vũ “Xuân An Lạc” cùng với các ca sĩ nổi tiếng của Paris By Night và Asia. Liên lạc Hòa (801) 231-0054.


(3) Ðêm Ca Nhạc Dạ Vũ “Xuân An Lạc”: Một chương trình văn nghệ ca nhạc dạ vũ đặc sắc để tiễn đưa năm cũ và chào đón Xuân Quý Tỵ vào tối Thứ Bảy, ngày 2 tháng 2 năm 2013, có sự góp mặt của các ca sĩ như Ðan Nguyên, Tóc Tiên, Thanh Tuyền, Thanh Thanh Tâm sẽ đem đến cho quý vị một đêm vui tươi và thoải mái. Vé có bán tại văn phòng Vietlink Travel (801) 973-4163. VIP $50, đồng hạng $35.


Tuần Báo Người Việt Utah kính mong được sự hỗ trợ và hưởng ứng của quý đồng hương.


Ðể tiện việc sắp xếp và tổ chức, quý vị muốn đăng ký các gian hàng trong ngày Hội Xuân, đăng ký tham gia cuộc thi “Tiếng Hát Người Việt Utah 2013” xin vui lòng liên lạc với chúng tôi để biết thêm chi tiết.


Mọi chi tiết xin vui lòng liên lạc:


Hòa Võ: (801) 231-0054, Victoria Ðặng: (801) 462-5190.

Lễ Thanksgiving này, người Utah ăn ngoài ở đâu?

 


* Người Việt Utah


 


Bất luận quý vị muốn tìm một bữa ăn bình thường hoặc một bữa tiệc thịnh soạn trong ngày Lễ Thanksgiving năm nay, luôn có một nhà hàng ăn Utah sẵn sàng phục vụ quý vị cùng quý quyến vào ngày Thứ Năm, 22 Tháng Mười Một.


Vì Lễ Thanksgiving luôn là một trong những ngày ăn uống nhộn nhịp nhất trong năm, điều cần là quý vị hãy giữ chỗ trước hoặc đặt món ăn trước, cho dẫu một số tiệm ăn tại Utah không có thói quen đòi hỏi thủ tục này. Thêm một điều nữa là giá cả tại các nhà hàng ăn đều chưa tính thuế, tiền típ hoặc bia rượu.


Sau đây là một số nhà hàng ăn tại Utah mở cửa đón khách trong ngày Lễ Thanksgiving năm nay, theo một bài báo của ký giả Kathy Stephenson trên tờ The Salt Lake Tribune, số ra ngày 13 Tháng Mười Một năm 2012:


 


Vùng Salt Lake City


Cuisine Unlimited Catering, 4641 Cherry St., Murray. Phone: 801-268-2332 hoặc vào trang mạng cuisineunlimited.com. Nhận giao phần ăn đến nhà.


Deer Valley Snow Park Bakery, Deer Valley Resort, Park City, phone: 435-645-6623. Xin đặt món ăn trước hoặc vào Thứ Hai trong tuần lễ Thanksgiving.


Deer Valley Grocery & Café, 1375 Deer Valley Dr, Park City, phone: 435-615-2400. Xin đặt món ăn trước hoặc vào Thứ Hai trong tuần lễ Thanksgiving.


Harley & Buck’s, 3900 N. Wolf Creek Drive, Eden. Phone: 801-745-2060 hoặc vào trang mạng HarleyandBucks.com. Xin đặt món ăn trước hoặc vào Thứ Ba trong tuần lễ Thanksgiving.


Marie Callender’s, 1109 E. 3900 South, Salt Lake City, phone: 801-266-1497; hoặc 1600 Woodland Park Dr., Layton, phone: 801-825-3668.


Market Street, có tại nhiều khu thương mại. Xin vào trang mạng www.ginc.com.


Pinon Market and Café, 2095 E. 1300 South, Salt Lake City. Phone: 801-582-4539, hoặc vào trang mạng pinonmarket.com.


Windy Ridge Bakery, 1755 Iron Horse Dr., Park City. Phone:435-647-2906, hoặc vào trang mạng billwhiterestaurantgroup.com/windy-ridge-bakery.html. Xin đặt món ăn trước hoặc vào Chủ Nhật trước tuần lễ Thanksgiving.


Elevations, 75 S. West Temple, bên trong Marriott Hotel, Salt Lake City, phone: 801-537-6019.


Faustina, 454 E. 300 South, Salt Lake City, phone: 801-746-4441.


Grand America Hotel. 555 S. Main, Salt Lake City, phone: 801-258-6807, extension 6807.


Left Fork Grill, 68 W. 3900 South, Salt Lake City, phone: 801-266-4322.


Little America Hotel, 500 S. Main St., Salt Lake City, phone: 800-281-7899.


Log Haven, 6451 East Millcreek Canyon Rd., Salt Lake City, phone: 801-272-8255.


Marie Callender’s, 1109 E. 3900 South, Salt Lake City, phone: 801-266-1497 hoặc 1600 Woodland Park Dr., Layton, phone: 801-825-3668.


Oasis Cafe, 151 S. 500 East, Salt Lake City, phone: 801-322-0404.


Paris Bistro, 1500 E. Emerson St., (1500 South), Salt Lake City, phone: 801-486-5585.


Roma Ristorante, 5468 S. 900 East; Murray, phone: 801-268-1017.


Tucanos Brazilian Grill, 162 S. 400 West, (Gateway Mall) Salt Lake City, phone: 801-456-2550.


Tucci’s Cucina Italiana, 515 S. 700 East, Salt Lake City, phone: 801-533-9111.


 


Vùng South Valley/Canyons


Alta Lodge, Little Cottonwood Canyon, phone: 800-707-2582.


Franck’s, 6264 S. Holladay Blvd., Holladay, phone: 801-274-6264.


La Caille, 9565 South Wasatch Blvd., Sandy, phone: 801-942-1751.


Silver Fork Lodge, 11332 E. Big Cottonwood Canyon, Brighton, phone: 801-533-9977.


Snowbird Ski Resort, 9600 Little Cottonwood Canyon.


Tuscany, 2832 East 6200 South, Holladay, phone: 801-277-9919.


 


Vùng Park City/Wasatch Back


Blue Boar Inn, 1235 Warm Springs Road, Midway, phone: 888-650-1400.


Chez Betty, 1637 Shortline Rd., inside the Copperbottom Inn, Park City, phone: 435-649-8181.


Daniels Summit Lodge, Hwy 40 Daniels Summit Pass, Heber City, phone: 800-519-9969.


Escala Provisions Company, 551 North Escala Court, bên trong Hyatt Escala Lodge, Park City, phone: 435-940-1234.


The Farm, 4000 Canyons Resort Drive, at Canyons Resort, Park City, phone: 435-615-8080.


Glitretind at Stein Eriksen Lodge, 7700 Stein Way Park City, phone: 435-645-6455.


Grub Steak, 2093 Sidewinder Dr., Park City, phone: 435-649-8060.


Homestead Resort, 700 N. Homestead Dr., Midwa, phone: 888-327-7220.


Slopes, 2100 Frostwood Dr., inside the Waldorf-Astoria, Park City, phone: 435-647-5566.


Zermatt Resort, 784 W. Resort Dr., Midway, phone: 866-643-2015.


 


Vùng Ogden/Logan


Earl’s Lodge at Snowbasin Resor, 3925 E. Snowbasin Rd., Huntsville, phone: 801-620-1021.


Elements, 640 S. 35 East at the Riverwoods, Logan, phone: 435-750-5171.


 


Vùng Provo/Orem


Chefs Table, 2005 South State St., Orem, phone: 801-235-9111.


Sundance Resort, 8841 North Alpine Loop Rd., Provo, phone: 866-932-2295.

Hoa nở muộn (Kỳ 5)

 


(Tiếp theo kỳ trước)


Vì thất tình cho nên ông Cảnh buồn lắm. Nói chung, đàn bà đẹp mà buồn thì đôi khi có vẻ nên thơ, mơ mộng. Có thể sẽ là nguồn cảm hứng để sáng tác của những nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ hay những nhà nghệ thuật khác.


  Ðằng này, ông Cảnh là một thằng đàn ông “quá niên trạc ngoại ngũ tuần, mày râu nhuốm bạc áo quần thấy quê.” Nhan sắc của người đàn ông đã năm mươi bốn cái mùa thu lá bay, một vợ ba con mà còn buồn vì tình thì coi chẳng hấp dẫn tí nào. Nhìn ông buồn, người ta có cảm tưởng như gặp một người đau bao tử kinh niên đang bị táo bón… ở trong một đám ma. Ấy thế mà hàng ngày ông vẫn phải vén miệng lên để cười với những khách hàng quen, hoặc phải nặn ra nụ cười cầu tài để nói hai chữ “cám ơn” khi thu tiền của khách. Trong khi lòng ông đang chất ngất u buồn, xót xa. Những ngày qua, không khí trong gia đình ông có chuyện không thoải mái, vợ ông có vẻ như đã biết rằng ông có bồ nhí bên Việt Nam, cho nên bà đối với ông thiếu hẳn sự quan tâm. Ông cảm mạo than nhức đầu hay biếng ăn, bà cũng mặc. Bà nói với ông:


– Ông về Việt Nam chơi vui lắm, đâu thấy ốm đau bệnh tật gì đâu mà sao ở đây, ông hay than mệt quá vậy? Nếu ông mệt thì ở nhà nghỉ cho khỏe đi. Tôi ra tiệm đây.


Hàng ngày, tới giờ đi làm bà chẳng đợi ông như ngày xưa, nếu ông chưa chuẩn bị xong. Bà thường kêu đứa con trai lớn lấy xe đưa bà ra mở cửa nhà hàng. Thực ra thì cũng chẳng cần phải tinh tế lắm đâu mới nhận ra là ông Cảnh đang bị tình vật. Vì từ xưa tới nay, có kẻ thất tình nào mà không có khuôn mặt thẫn thờ ngơ gác, nhăn nhó như khỉ phải mắm tôm. Ông Cảnh cũng không ngoại lệ. Bộ mặt ông hàng ngày nói cho người ta biết, hoặc là ông đang bị thất tình, hoặc là ông đang mắc chứng táo bón kinh niên. Ông đau khổ quá mà không nhận ra rằng vợ ông lúc này trang điểm kỹ hơn trước khi đi làm, lúc này bà thường xuyên dùng dầu thơm và ăn mặc có phần trẻ trung hơn, hở hang hơn. Thỉnh thoảng, bà hay cúp ngang cuộc nói chuyện trên điện thoại khi ông bất chợt xuất hiện trước mặt bà. Có đêm, ông quàng tay đặt lên ngực bà, bà nhấc tay ông ra và ôn tồn nói:


– Ông đi Việt Nam về, đã đi khám bác sĩ chưa mà đụng vào tôi.


Ông Cảnh yếu ớt nạt:


– Cái bà này, ăn nói vớ vẩn, tôi về là để kiếm chuyện làm ăn chứ có phải chơi bời đâu mà bà kiếm chuyện với tôi.


Bà Cảnh cười khẩy nói:


– Tôi nghe người ta nói rằng dân Việt kiều về Việt Nam làm ăn thì toàn là mang tiền về vục mặt vào mấy con đĩ và bia ôm ăn nhậu chứ đâu có ai mang được tiền qua bên này? Không biết họ nói như vậy có đúng không.


Nói đoạn, bà xoay người qua bên cay đắng nghĩ:


– Sao ông đi luôn đi, chết ở đâu đó cũng được, mò về đây làm chi cản tay cản chân bà.


Rồi bà nghĩ tới Quang, người thanh niên đã cuồng điên chiều chuộng bà hàng đêm, cho bà nhiều cảm giác mới lạ trong những ngày ông Cảnh ở Việt Nam du hí. Bên kia nằm quay lưng lại đấu lưng với bà, ông Cảnh cũng đang miên man nghĩ về Thu Tuyết. Thật đúng là đồng sàng dị mộng.


Sau tám ngày vật vã trong ái tình hành hạ, chịu không nổi, ông Cảnh quyết định phone cho Thu Tuyết để hỏi cho ra nhẽ. Ông vẫn nuôi một hy vọng mong manh là ông đã nhìn nhầm ai đó giống nàng, theo ông biết thì nàng không có chị em sinh đôi nào cả. Sau hai hồi chuông điện thoại reng, ông nghe tiếng ngọt ngào của Thu Tuyết ở đầu dây bên kia:


– A-lô!


Ông Cảnh cố gắng nói bằng giọng bình thường:


– Em đó hả, đang làm gì vậy?


Giọng Tuyết vui vẻ:


– A anh! trời ơi, anh về bên đó hơn cả tuần nay rồi sao không gọi cho em? Em lo muốn chết luôn, em đã gọi cho anh hai lần nhưng không được. Mấy lần em tính phone ra nhà hàng của anh nhưng lại sợ người khác bắt phone nên lại thôi. Sao anh lại không gọi cho em?


Tuy đã chuẩn bị trước là sẽ cật vấn nàng nhiều câu hỏi mà ông hằng thắc mắc, vậy mà khi nghe giọng nói êm ái ngọt ngào của Thu Tuyết, ông vẫn bị áp phê. Ông vẫn thấy say say như người mới hút thuốc lào xong.


Ông Cảnh cố gắng hỏi một câu thừa thãi:


– Bên đó bây giờ mấy giờ rồi em?


– Dạ, hơn mười giờ sáng rồi anh, em đang chuẩn bị đi chợ đây, em đang tập nấu súp măng cua.


Rồi nàng vui vẻ nói:


– Ðể khi nào anh về, em nấu cho anh ăn.


Ông Cảnh chưa kịp nói gì thì nàng lại thêm:


– Anh đang ở đâu? Nhà hàng anh đóng cửa chưa?


– Ðóng rồi em, anh đang trên đường về nhà.


Nghe giọng nói của ông Cảnh có vẻ mệt mỏi, thiếu sự hào hứng như mọi khi Thu Tuyết làm giọng nói ra vẻ quan tâm hỏi:


– Hình như anh không được khỏe hả, hay là có chuyện gì làm anh không được vui? Mới xa anh có một tuần mà em thấy như cả tháng ấy. Em ước gì có anh lúc này, giá mà anh về đây ở luôn với em có phải hay biết mấy.


Ông Cảnh hít một hơi dài, thở mạnh rồi nói:


– Anh hỏi em điều này, anh muốn em nói thật, em hãy suy nghĩ rồi trả lời anh thật lòng nghe.


– Có chuyện gì vậy anh? Từ xưa đến giờ, có bao giờ em không thật lòng với anh đâu! Em, lúc nào cũng đối xử rất chân tình với anh, anh có gì thắc mắc thì cứ hỏi em đi, em xin thề là em sẽ nói thật lòng.


Nói xong câu này, Thu Tuyết nghĩ bụng. “Nếu em nói điêu ngoa, má chồng em sẽ chết.”


Ông Cảnh hỏi:


– Hôm đưa anh ra phi trường rồi, sau đó em làm gì?


Thu Tuyết trả lời ngay:


– Hôm đó em đi thẳng về nhà và ngủ luôn đến tối, Tại vì đêm trước đó, anh có cho em ngủ đâu, tới mấy lần anh không nhớ sao.


Hình ảnh ân ái cuồng nhiệt gỡ gạc gần như cả đêm trước khi bay về Mỹ hiện lên rõ mồn một làm ông Cảnh ngỡ ngàng xao xuyến, lòng ông chợt dâng lên cảm giác rạo rực. Ông còn nhớ rõ là hôm ấy ông phải dùng tới ba viên Viagra để trợ giúp. Tuy nhiên, bây giờ ông có điều cần làm cho sáng tỏ với nàng, ông hỏi:


– Em nghĩ kỹ lại coi, có đúng thật sự là em đi thẳng về nhà không?


Lúc này thì Thu Tuyết đã nhớ rõ lại mọi việc và nàng đã thấy sơ hở của mình, Tuyết nghĩ rất nhanh, có thể có ai đó quen biết ông đã nhìn thấy nàng đi cùng với Tony Bùi rồi về nói lại cho ông nghe. Ứng xử trong những tình huống như thế này đã là quá quen thuộc đối với nàng. Nàng là bậc thầy của chú cuội.


– Thì đúng rồi, lúc đi ra, em gặp một thằng Việt kiều ở cùng xóm với em bên Canada mới về.


Nàng nhấn mạnh chữ thằng để ông Cảnh yên tâm là giữa nàng và hắn không phải là bồ bịch:


– Hôm ấy em cũng mệt, không muốn lái xe, thấy xe nó còn rộng chỗ nên em quá giang về luôn.


– Lời em nói có đúng sự thật không? Anh còn thấy em và nó ôm nhau mà.


Thu Tuyết giật thót mình nghĩ bụng: Ai mà biết nhiều quá vậy?


Nàng vừa cố cười thành tiếng vừa đáp:


– Không biết ai kể cho anh mà thêm mắm thêm muối, ác mồm ác miệng quá không biết. Thằng đó tên là Tony, kỳ này nó về Việt Nam lấy vợ. Hai tuần nữa là đám cưới nó đây này. Nó có mời em đi đám cưới nó mà. Hôm ấy cũng có vợ chưa cưới của nó ra đón nó ở sân bay. Anh có điều gì nghi ngờ em hả?


– Không có ai nói với anh hết mà là chính mắt anh trông thấy em và thằng đó hôn nhau. Chuyện đó xảy ra trước mắt anh mà.


Nói đến đây, lòng ông thấy thắt lại, nhói đau trong bao tử, ông nghẹn ngào tiếp:


– Em làm anh đau lắm biết không? Chẳng thà em giết chết anh đi còn hơn là anh thấy em bỏ anh đi với người khác.


(Còn tiếp)                                  

Trung Cộng Quốc Mẫu – Bành Lệ Viện

 


Nồng Tình Hý Bút


 


Trung Quốc đã chọn xong người kế vị cho lãnh đạo đời thứ năm, có khi được tính là thứ sáu nếu tính luôn cả Hoa Quốc Phong là một thế hệ mang tính trám chỗ giữa Mao Trạch Ðông và Ðặng Tiểu Bình. Tập Cận Bình được chọn làm người thừa kế. Tập cũng được coi là thế hệ thái tử đảng (con cha cháu ông) đầu tiên sinh sau năm 1949.










Bành Lệ Viện, người được tôn xưng là “Trung Cộng Quốc Mẫu” sau khi Tập Cận Bình được chọn làm người kế nhiệm.


Dư luận quần chúng hiếu kỳ hơn về người vợ nổi tiếng của Tập Cận Bình, ca sĩ nhạc dân tộc Bành Lệ Viện (Peng Liyuan). Bành Lệ Viện thuộc hàng mỹ nhân Trung Quốc có tài hát hay múa đẹp theo đúng định nghĩa. Bành đã theo đoàn văn công giải phóng quân từ lúc 18 tuổi và chuyên trị về các làn điệu dân ca – vừa có chất truyền thống nhưng vừa cách tân rất đặc thù của văn hóa cách mạng Trung Quốc.


Bành Lệ Viện cũng hay hát những bài ca ngợi công trình xây dựng như kiểu Ðường Sắt Tây Tạng, mang tên là Thiên Lộ, về khách quan mà nói rất có sự hút hàng với đại chúng theo niềm tự hào phát triển hiện đại của Trung Quốc hiện nay.


Ngoài ra, Bành Lệ Viện còn rất có rất nhiều phong cách cổ trang và phục trang dân tộc thiểu số khác cùng với những bài hát dân ca của tỉnh Sơn Ðông – một dạng như Mạc Ngôn dùng phông văn hóa Cao Mật, Sơn Ðông cho trường phái sáng tác văn học.


Trước khi Bạc Hy Lai sụp đổ cơ nghiệp, hai vợ chồng này cũng thường hay mặc đồ dân tộc ra ngắm đồng nội coi như một cách thu hút con nhang ở Trung Quốc mà trong ý chắc là ngấm ngầm cũng như là để cạnh tranh hình ảnh với vợ chồng Tập Cận Bình. Bạc Hy Lai nay bị cầm tù, vợ là Bạc Cốc Khai Lai đang bị án tử hình treo chắc là đã tận số mạng về sự nghiệp chính trị.


Nói tới Bành Lệ Viện làm người ta nghĩ ngay đến người người tình Tống Tổ Anh (Song Zuying) của Giang Trạch Dân (tiếng Hoa gọi Tống Tổ Anh là Nhị Nãi, cũng có khi được “tôn hiệu” là Tống Quốc Nãi).


Trong đại hội 18 của cộng sản Trung Quốc vừa qua, Giang Trạch Dân lại tái xuất giang hồ một cách phủ bóng và tràn trề kịch tính.









Tống Tổ Anh, nữ ca sĩ dân tộc Miêu được xem là “Nhị Nãi” của Giang Trạch Dân, cũng có khi được gọi là “Quốc Nãi.” Nãi trong trường hợp này có nghĩa là bồ nhí.


Tống cũng làm nghề ca sĩ nhạc dân tộc, được coi là danh ca đặc sắc nhất trong hệ thống văn công của Trung Quốc. Tống Tổ Anh và Bành Lệ Viện đều thuộc về người đàn ông quyền lực nhất Trung Quốc hiện nay. Hai ca sĩ này thuộc loại văn công hát hay múa đẹp, tiêu biểu cho vẻ đẹp của gái Trung Quốc trong thời cách mạng. Hai người này là danh ca hạng 1 có đủ tài nghệ và nhiều khi còn diễn hai cùng nhau trên sân khấu.


Tống Tổ Anh đã làm cho những người nổi tiếng trong giới văn nghệ từ Trương Nghệ Mưu đến Thành Long đều mong muốn được hầu hạ người đẹp nhưng thế lực Giang Trạch Dân thời đó kinh quá.


Tống Tổ Anh thực sự thuộc dân tộc Miêu ở Quý Châu (tương đương với dân Hmong ở Hà Giang ở Việt Nam). Giang Trạch Dân muốn cùng với Tống Tổ Anh sống hết cuộc đời nhưng vì địa vị của hai người quá đặc biệt nên mơ ước chỉ nằm trong bóng tối. Tuy nhiên nhân dân Trung Quốc ai cũng biết Tống Tổ Anh đúng là Tống Nhị Nãi. Chính thê của Giang Trạch Dân là một mụ già lụ khụ.


Có thể nói đến đời Tập Cận Bình thì ước mơ “Trung Cộng Quốc Mẫu” là một người đàn bà có nhan sắc và ưu thế mới xuất hiện.


Nhìn chung gu thẩm mỹ về phụ nữ của lãnh tụ Trung Quốc cũng không tệ. Về mặt nữ lưu mà nói, thì với tài xướng ca diễn xuất, ca hay múa đẹp không nhiều phụ nữ trên đời có được.


Tuy nhiên nhìn lại lịch sử cộng sản, Giang Thanh vợ sau của Mao Trạch Ðông từng là dân văn nghệ cũng có đặc điểm tương tự như Bành như Tống. Sau này, ở địa vị đỉnh cao, Giang Thanh còn định chuyên quyền đoạt vị làm lãnh tụ cộng sản nhưng lại bị Ðặng Tiểu Bình hạ bệ.


Ba người đàn bà này ở ba thời điểm nhưng dung mạo có phần tương tự. Tuy nhiên, Giang Thanh quá bốc đồng mà ngáp chết (treo cổ tự tử). Tống Tổ Anh có quyền thế về sân khấu lòng người nhưng không có danh nghĩa.


Bành Lệ Viên có đủ tất cả, sắc đẹp, tài ca hát, vừa quyền lực của sự đường đường chính chính là vợ của Tập Cân Bình. Trong hệ thống quân đội, cho dù là văn công ca sĩ nhưng Bành Lệ Viên mang tới lon thiếu tướng. Bành có thể nói sẽ là “đệ nhất phu nhân” quyền lực nhất sau này.










Vợ chồng của Bạc Hy Lai cũng mặc đồ dân tộc để tạo hình ảnh màu sắc sân khấu.


Nếu Bành Lệ Viện tận dụng hết thành tựu về của người nổi tiếng, lại có đảng tịch cao, Lịch sử Trung Quốc có thể thấy xuất hiện một quốc mẫu mới. Bành Lệ Viện này cũng có nét mạnh mẽ như Võ Tắc Thiên trong các loại phim cổ trang và cũng là người cùng đất Sơn Ðông.


Kết luận: Phụ nữ biết ca múa đóng vai trò rất quan trọng trong lịch sử Trung Quốc.


RFA – Trần Ðông Ðức

Vui chơi giải trí trong lễ Thanksgiving 2012

 


Vui chơi giải trí trong lễ Thanksgiving 2012


 


Một chương trình ca nhạc dạ vũ Việt Nam lần đầu tiên được tổ chức tại Valley Forge Casino vào đêm trước Thanksgiving (21 tháng 11, 2012) càng tạo thêm sức thu hút sự chú ý về các show ca nhạc Việt Nam trong vùng.










Thu Hà sẽ hát khai trương show ca nhạc đầu tiên ở Valley Forge Casino trong đêm 21 tháng 11, 2012.


Thung lũng Delaware, bao gồm thành phố Philadelphia, South Jersey và tiểu bang Delaware trở thành một thứ “Thung Lũng Hoa Vàng” của bờ Ðông do các sinh hoạt văn hóa nghệ thuật càng lúc càng đơm hoa nảy mầm.


Philadelphia trở thành điểm hẹn mới cho các chương trình văn nghệ Việt Nam với quy mô vượt qua vùng thủ đô Washington DC, nơi có cộng đồng người Việt đông đúc hơn. Sự cạnh tranh giữa các chương trình ca nhạc khiến nội dung càng lúc càng thêm phong phú và chất lượng.


Tuần trước, khán giả Việt Nam tại Philadelphia được chứng kiến một chương trình ca nhạc chủ đề quy tụ một lúc ba ca sĩ gạo cội trên sân khấu là Khánh Ly, Lệ Thu, Hương Lan.


Qua các chương trình này, thị hiếu khán giả dần dần cũng được điều chỉnh theo cảm thụ chứ không còn là một chương trình giải trí thuần túy. Nhờ đó, ca sĩ Khánh Ly có thể nói lên được những tâm sự của 50 năm ca hát và tiếng vang của chương trình đã vượt ra khỏi địa phương.


 


Ca sĩ địa phương


 


Tuần này lại có toàn dàn ca sĩ trẻ như Nguyệt Anh, Lâm Chấn Huy, Uyên Trang,… Nếu không có sân khấu lớn thì chắc là những chương trình đắt tiền như thế này khó xảy ra trong phạm vi cộng đồng ở Philadelphia.


Bây giờ, show ca nhạc nhiều lên, các ban nhạc nổi tiếng trong vùng như Kenny Brother có thời khóa biểu dày đặc, các ca sĩ địa phương trước đây không có đất diễn nay lại hào hứng trên các sân khấu chuyên nghiệp. Một tín hiệu rất tốt cho văn hóa thời thượng ở vùng Ðông Bắc Hoa Kỳ.


Ca sĩ Thu Hà theo nghiệp ca hát sáu năm tại Philadelphia đột nhiên trở thành ca sĩ có ưu thế. Thực sự, ca sĩ địa phương có vị trí quan trọng vì họ thường có fans ruột ở trong vùng. Và cũng như là một thói quen, ca sĩ địa phương là điều kiện cần phải có trong một show ca nhạc.


Ðược mời tham gia cho một chương trình mang tính mở màn, ca sĩ Thu Hà cho biết cô cảm thấy tương lai trong nghề ca hát mở ra trước mắt. Số người hâm mộ cũng tăng theo nhịp độ của cô xuất hiện trên sân khấu.


“Phong cách câu lạc bộ của Valley Forge Casino thật mới lạ, cao cấp, ấm cúng và sang trọng thiên về thái độ thưởng thức nghiêm túc” theo cặp vợ chồng MC Thanh Hằng và Thái Hoàng cũng được mời làm MC trong đêm dạ vũ. Ðôi vợ chồng này cũng bận rộn với lịch trình cuối tuần vì thế giới người làm MC ở địa phương này cũng không nhiều.


Valley Forge Casino, ở quy mô nhỏ thì sân khấu chứa được 500 người. Nhưng quần thể này cũng là trung tâm hội nghị có thể chứa tới 2,000 người. Ðây cũng là một tiềm năng lớn cho các trung tâm sản xuất âm nhạc để mắt tới.


Với dòng nhạc trữ tình và thính phòng, ca sĩ Thu Hà luôn có vị trí sẵn sàng và thuận tiện để đáp ứng thị trường âm nhạc ở vùng Ðông Bắc.


Cùng ngoài ra với ưu thế ngoại hình xinh đẹp, ca sĩ Thu Hà cũng có thể thành ca sĩ hợp đồng bền vững với các chương trình tại đây. Người tổ chức chương trình cũng tin rằng nếu Thu Hà tới California, có nhiều điều kiện thi thố tài năng thì rất dễ dàng trở thành một ca sĩ có vị trí hẳn hoi. Tuy nhiên bây giờ ở lại Philadelphia, cô ấy cũng đang được đánh giá đúng mức thì không chừng lại trở thành một tên tuổi có địa vị riêng biệt.


Nhưng cũng có luật bất thành văn khắt khe trong làng văn nghệ là những ca sĩ trẻ, không qua trung tâm, không ở Quận Cam thì vẫn xem là ca sĩ địa phương cho dù tài năng người ấy có vượt trội vẫn khó lòng vươn lên thành ca sĩ hạng A được. Trong tương lai, điều này có thể được thay đổi khi các bầu show quyết tâm giúp tài năng địa phương có đất diễn.


 


Ðến các chương trình khác


 


Trong đêm Thanksgiving (22 tháng 11, 2012), chỉ cách Valley Forge khoảng một tiếng lái xe, một chương trình ca nhạc bề thế hơn do Bally’s Atlantic City bảo trợ. Lần này ngoài dàn ca sĩ hùng hậu, ban tổ chức của sòng bài ra thông cáo báo chí về nhà tạo mốt Cory Trần. Ðể nâng cấp sân khấu, các nhà tổ chức chương trình Atlantic City dự định sẽ chọn địa điểm này làm cuộc thi hoa hậu Miss Asian Global vào tháng 7 năm 2013. Atlantic City cũng là đại bản doanh của tổ chức hoa hậu thế giới do tài phiệt Donald Trump làm chủ.


Nghịch lý thay, ở vị trí tương tác, ngay cả tại xã hội Hoa Kỳ, các casino là nơi tạo điều kiện thích hợp cho văn hóa thời thượng.


Tuần trước, đài Nationalwide Viet Radio cũng lên Philadelphia mở văn phòng phát sóng HD lần đầu tiên. Người lái xe ở Philadelphia bây giờ có thể nghe được radio không khác gì ở California, Texas,… Giám đốc chương trình của đài, ông Ngụy Vũ cũng tin rằng, casino cần tới hệ thống radio của Việt Nam để loan tải các thông tin và chương trình của họ. Ông Ngụy Vũ lúc ở Quận Cam từng làm quảng cáo lớn cho casino.


Hai đêm ca nhạc liên tiếp Thứ Tư (21 tháng 11, 2012) và Thứ Năm (22 tháng 11, 2012) xảy ra trong tuần lễ Thanksgiving có thể nói chứng minh cho nhịp độ ca nhạc càng lúc càng nhiều. Ði xuống khu Việt Nam ở Philadelphia và đặc biệt khu phố Tàu thì thấy hình ảnh ca sĩ Việt Nam tràn ngập.










Xướng ngôn viên Ngụy Vũ cũng từng quảng cáo sòng bài ở California.


Người Hoa ở Philadelphia cũng đi xem show Việt Nam coi như là sự thưởng thức ca nhạc thông thường.


Cũng như ca sĩ địa phương, show Việt Nam đối với cộng đồng gốc Á lại là một chương trình phổ thông “ở khoảng giữa” – không quá đẳng cấp và cầu kỳ đòi chi phí lớn như show của Hàn Quốc, Hồng Kông nhưng đáp ứng đúng thị hiếu.


Nhưng người tổ chức chương trình show ca nhạc Việt Nam vốn là người Việt gốc Hoa đang hy vọng sẽ đưa luôn các chương trình ca nhạc lớn hơn để có thể đưa ca sĩ từ Hồng Kông đến hát ở Valley Forge Casino.


Người Việt Ðông Bắc

Chương trình nhạc hội và thời trang Việt Nam


Bally’s Atlantic City và


Chương trình nhạc hội và thời trang Việt Nam


 


ATLANTIC CITY, NJ – Bally’s Atlantic City tổ chức chương trình Lễ Tạ Ơn Fashion Show với thành phần nghệ sĩ hùng hậu từ trong và ngoài nước, với những siêu mẫu trong những bộ cánh đầy phong cách, kèm theo các tiết mục giải trí hàng đầu.










Nhà thiết kế Cory Trần.


Nhà thiết kế Cory Trần từ Cory Couture, nổi danh với những chiếc áo đầm quý phái và độc đáo, sẽ trình làng bộ sưu tập thời trang mới nhất của anh. Hơn 50 nghệ sĩ nổi tiếng sẽ góp mặt trong chương trình, bao gồm Quang Dũng, Thái Châu, Hồng Ngọc, Phan Ðình Tùng, Vân Quang Long và Hoa Hậu “Miss National Asia 2011” – Tiana Trần. Chương trình ca nhạc và trình diễn thời trang sẽ diễn ra vào Thứ Năm, 22 tháng 11 tại rạp Grand Ballroom của Bally’s Atlantic City lúc 7:00PM và xuất thứ hai vào lúc 11:00PM.


Chương trình Lễ Tạ Ơn Fashion Show sẽ chứng minh tầm vóc và sự đa dạng của ngành giải trí và văn hóa Việt Nam. Chương trình còn có sự đóng góp của: Nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn, Mạnh Quỳnh, Kasim Hoàng Vũ, Hồ Hoàng Yến, các siêu mẫu Maya, Hoàng Oanh, Vivian Ngô, cùng nhiều nghệ sĩ tài danh khác.


Bally’s và công ty mẹ, Caesars Entertainment, tiếp tục cung ứng các chọn lựa giải trí đa dạng, tôn vinh sự phong phú của các nền văn hóa. Trong hơn 25 năm qua, Caesars Entertainment tôn vinh và hỗ trợ văn hóa Á Châu trên khắp Hoa Kỳ, xây dựng mối quan hệ lâu dài tại những cộng đồng mà họ có quan hệ thương mại. Caesars Entertainment sẽ tiếp tục tìm kiếm những cơ hội mới để tiếp tục tán dương những truyền thống văn hóa đậm nét Á Châu.


Caesars Entertainment Corporation là công ty giải trí-sòng bài đa dạng, có nhiều chi nhánh nhất thế giới. Từ lúc triển khai tại Reno, Nevada, hơn 74 năm về trước, Caesars không ngừng phát triển với các khu resort mới qua việc mở rộng và thâu mua; hiện tại, Caesars sở hữu và quản lý các khu resort/sòng bài trên bốn lục địa với gần 40 resort/sòng bài trong khu vực Bắc Mỹ. Các khu resort của công ty hoạt động chủ yếu dưới các thương hiệu CaesarsÐ, Harrah’sÐ và HorseshoeÐ; Caesars cũng sở hữu hệ thống sòng bài London Clubs International và chương trình World Series of Poker. Thông qua Total Rewards, chương trình hàng đầu Hoa Kỳ trong việc tặng thưởng khách hàng trung thành, Caesars Entertainment chú trọng xây dựng lòng trung thành với thương hiệu và đem đến các dịch vụ có giá trị cho khách hàng qua sự phối hợp đặc biệt của dịch vụ tốt, sản phẩm tốt, kỹ năng phân phối vượt trội, sự vận hành xuất sắc, và sự tiên phong trong công nghệ. Caesars cam kết duy trì môi trường và bảo tồn năng lượng, đồng thời thừa nhận tầm quan trọng trong vai trò người tiên phong có trách nhiệm đối với môi trường. Ðể biết thêm chi tiết, xin ghé www.caesars.com.


Ðể giữ chỗ cho chương trình thời trang và ca nhạc trong đêm Thanksgiving, xin gọi 1-888-833-3269.


Liên lạc: Monique Tapie – Phone: (917) 757-4866, Email: [email protected] để biết thêm chi tiết.

Tin mới cập nhật