Có những cái quên mang trọng tội với lịch sử

 


Magna Carta Việt Nam


Nguyễn Văn Trần


 


Từ khi có đảng cộng sản Hà Nội xuất hiện hoạt động cướp chánh quyền ở Việt Nam, những người Việt Nam yêu nước và lương thiện không có chỗ đứng trên đất nước. Lẽ phải và sự thật lịch sử Việt Nam theo đà phát triển của lực lượng cộng sản ngày càng bị khuynh đảo, bôi xóa, tiếm đoạt để chỉ còn thứ lịch sử của đảng cộng sản làm ra.


Thảm hại hơn là trong lúc đó vì ảnh hưởng tuyên truyền của cộng sản và mặt khác, một nhóm người vì muốn đem lại chánh nghĩa cho việc truất phế Vua Bảo Ðại với khẩu hiệu “bài phong đả thực,” đã làm cho những người Việt Nam không cộng sản quên hoặc phủ nhận một số sự kiện lịch sử, điều này dĩ nhiên, đã góp thêm phần củng cố “tính tất yếu lịch sử” cho vai trò của cộng sản cướp chánh quyền để làm cộng sản trên cả nước.


Trong những cái quên đó, có thể kể ra hai cái quên hay phủ nhận cực kỳ thảm hại cho lịch sử dân tộc, đó là Bản Tuyên ngôn Ðộc lập ngày 11 tháng 3 năm 1945 và Chiếu Thoái Vị ngày 25 tháng 8 năm 1945 tại Ngọ Môn Ðài của Hoàng Ðế Bảo Ðại. Ý nghĩa của hai văn kiện lịch sử này rất đáng được trân trọng vì giá trị lịch sử to lớn của nó.


Nay, sau khi cái ồn ào rổng tuếch về ngày “Lễ Ðộc Lập 2 tháng 9” ở Hà Nội đã lắng đọng, chúng tôi muốn nhắc lại Chiếu Thoái Vị của Hoàng Ðế Bảo Ðại.


 


Ðại Hiến Chương Anh


 


Người ta biết qua “Ðại Hiến Chương của Anh,” tức “La Grande Charte” hay “Magna Carta Libertatum” như một sự kiện quan trọng về quyền lợi của dân được nhà vua tôn trọng. Khái niệm khởi đầu cho chế độ pháp trị ở Âu Châu. Nhưng thât ra, dân ở đây chưa phải là người dân tay lấm chân bùn, thợ thuyền lao động như ngày nay ta biết, mà là tầng lớp chư hầu của nhà vua. Tức các ông hoàng bà chúa, những nhà quí tộc. Những người này mới được gọi là thần dân và mới có tài sản.


Ðại Hiến Chương là một bản văn gồm 63 điều do tầng lớp chư hầu tranh thủ được ở nhà vua “Jean sans Terre” ngày 15 tháng 6 năm 1215 sau một cuộc nội chiến ngắn, quân phiến loạn chiếm lấy được thành phố Luân-đôn. Các chư hầu bất mãn những đòi hỏi thái quá của nhà vua về nghĩa vụ quân sự và nghĩa vụ tài chánh.


Bản “Ðại Hiến Chương về những quyền tự do của Anh” bảo đảm quyền tự do cá nhơn. Nó giới hạn sự chuyên quyền của nhà vua và thiết lập quyền an ninh nhân thân thành luật để ngăn cản sự bắt bớ bỏ tù một cách tùy tiện. Bản văn thiết lập sự kiểm soát thuế vụ do Ðại Hội Ðồng của Triều đình đảm trách.


Ðại Hiến Chương được làm mới lại suốt thời Trung cổ và qua suốt hai thế kỷ XVII và XVIII. Tới đầu thế kỷ XIX, một số điều khoảng được hủy bỏ trong luật của Anh.


Ảnh hưởng của Ðại Hiến Chương ra ngoài nước Anh, có thể nhận thấy ở bản Hiến pháp Huê kỳ và bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhơn quyền.


Hiến Pháp của các quốc gia theo “common law “đều chịu ảnh hưởng Ðại Hiến Chương nên bản văn do đó trở thành một tài liệu về luật pháp quan trọng hơn hết trong lịch sử dân chủ ngày nay. Nhứt là nó đánh dấu một Nhà nước chuyên chế bước qua một Nhà nước pháp trị chỉ do quyền hạn của nhà vua bị giới hạn.


Về tầm vóc, bản Ðại Hiến Chương chỉ giới hạn quyền lực của nhà vua để nhờ đó những quyền lợi của lớp chư hầu được tôn trọng mà trở thành một bản văn lịch sử mở ra chế độ dân chủ Âu Châu. Tính vĩ đại của bản văn không ở tự thân của bản văn mà do con người đã biết đánh giá bản văn, biết khai thác giá trị bản văn và biết đề cao và bảo vệ nó, trân quí nó.


 


Chiếu Thoái Vị của Hoàng Ðế Bảo Ðại


 


Về tầm vóc, có thể nói Chiếu Thoái Vị của Hoàng Ðế Bảo Ðại lớn hơn nhiều. Ngài đánh đổi ngai vàng gần 400 năm của Triều Nguyễn với tư cách “công dân một nước độc lập.” Và ngài làm công dân cho tới ngày cuối đời, kể cả lúc trở lại chánh quyền thành lập “Quốc gia Việt Nam.”


Có giá trị lớn về sự mất mát và tinh thần chấm dứt chế độ quân chủ để thật sự mở ra một đất nước độc lập, dân chủ.


Nhựt đảo chính Pháp tại Ðông Dương ngày 9 tháng 3, 1945. Bảo Ðại tiếp thu nền độc lập của Viêt Nam từ Nhựt với nhận định chánh đáng: “Trước kia nước Pháp giữ quyền bảo hộ nước ta, nay đã không giữ được nước cho ta, để quân Nhật đánh đổ, vậy những điều trong hiệp ước năm 1884 không có hiệu quả nữa, nên Bộ Thượng Thư đã tuyên hủy hiệp ước ấy. Trẫm phải dứng vai chủ trương việc nước và lập chính phủ để đối phó mọi việc,” (Le Dragon d’Annam, Plon, Paris, 1980), tuyên bố hủy bỏ các hiệp ước bất bình đẳng đã ký với Pháp trước đây và thành lập Chánh phủ Trần Trọng Kim ngày 16 tháng 4, 1945 để thể hiện một Việt Nam độc lập.


Nhựt hoàng đầu hàng vô điều kiện ngày 15 tháng 8, 1945, Thủ Tướng Trần Trọng Kim từ chức. Hai hôm sau, ngày 17 tháng 8, Việt Minh biến cuộc biểu tình lối 20,000 người được Tổng Hội Công Chức phát động trước Nhà Hát Lớn Hà nội để ủng hộ Chính phủ Trần Trọng Kim thành một cuộc biểu tình tuần hành đòi độc lập. Lần đầu tiên lá cờ đỏ sao vàng xuất hiện, với vài tên cộng sản cầm súng bắn chí choét chỉ thiên. Thế là ngày 19 tháng 8,Việt Minh huênh hoang tuyên bố cướp chính quyền trong một “cuộc binh biến” mà chúng gọi là “Cách Mạng Tháng Tám,” “Cách mạng mùa Thu” hay “Tổng Khởi Nghĩa.”


Vua Bảo Ðại công bố ngày 25 tháng 8 năm 1945 Chiếu Thoái Vị, chánh thức chấm dứt Nhà Nguyễn và chế độ quân chủ ở Việt Nam. Bản tuyên ngôn được vua Bảo Ðại soạn với sự trợ giúp của hoàng thân Vĩnh Cẩn trong đêm 22 tháng 8, 1945 tại điện Kiến Trung, hoàng thành Huế. Sáng hôm sau, khi đại diện Việt Minh là Trần Huy Liệu và Cù Huy Cận đến cung điện để tiếp thu bàn giao, lúc đầu Bảo Ðại đưa bản Tuyên ngôn cho Trần Huy Liệu. Nhưng Trần Huy Liệu hội ý với Cù Huy Cận và tâu với Bảo Ðại rằng:


“Thưa Hoàng thượng, nhân danh dân tộc Việt Nam, chúng tôi nhận bản văn này rất nhẹ nhàng, không câu nệ. Nhưng, chúng tôi kính xin Hoàng thượng cho tổ chức một buổi lễ vắn tắt, trong đó xin Hoàng thượng công khai tuyên bố cho mọi người biết.”


Theo lời yêu cầu của Trần Huy Liệu, đại diện Chánh phủ Dân Chủ Cộng Hòa ở Hà Nội, chiều ngày 25 tháng 8, 1945, Bảo Ðại mặc trào phục và đọc bản Tuyên ngôn Thoái vị trước hàng ngàn người tụ họp vội vã trước cửa Ngọ Môn (sđd), như sau:


 


“Vì hạnh phúc của dân tộc Việt Nam,


“Vì nền độc lập của Việt Nam,


“Ðể đạt hai mục đích ấy, Trẫm tuyên bố sẵn sàng hy sinh tất cả, và ước mong rằng sự hy sinh của Trẫm đem lại lợi ích cho Tổ quốc.


“Nhận định rằng sự đoàn kết của toàn thể đồng bào chúng ta vào giờ phút này là một sự cần thiết cho Tổ quốc chúng ta, ngày 23 tháng 8, Trẫm đã nhắc lại cho toàn thể nhân dân ta là: Ở giờ phút quyết định này của lịch sử, đoàn kết có nghĩa là sống, mà chia rẽ là chết.


“Chiếu đà tiến dân chủ đang đẩy mạnh ở miền Bắc nước ta, Trẫm e ngại rằng một sự tranh chấp giữa miền Bắc với miền Nam khó tránh được, nếu Trẫm đợi sau cuộc trưng cầu dân ý, để quyết định thoái vị. Trẫm hiểu rằng, nếu có cuộc tranh chấp đó, đưa cả nước vào sau hỗn loạn đau thương, thì chỉ có lợi cho kẻ xâm lăng.


“Trẫm không thể không ngậm ngùi khi nghĩ đến các tiên đế đã chiến đấu trên bốn trăm năm để mở mang bờ cõi từ Thuận Hóa đến Hà Tiên. Trẫm không khỏi tiếc hận là trong hai mươi năm ở ngôi, Trẫm không thể làm gì đem lại lợi ích đáng kể cho đất nước.


“Mặc dù vậy, và vững mạnh trong sự tin tưởng của mình, Trẫm đã quyết định thoái vị, và Trẫm trao quyền cho Chính phủ Dân Chủ Cộng Hòa.


“Trước khi từ giã ngai vàng, Trẫm chỉ có ba điều muốn nói:


-Thứ nhứt: Trẫm yêu cầu tân chính phủ phải giữ gìn lăng tẩm và miếu mạo của hoàng gia.


-Thứ hai: Trẫm yêu cầu tân chính phủ lấy tình huynh đệ đối xử với các đảng phái, các phe nhóm, các đoàn thể đã chiến đấu cho nền độc lập của đất nước, mặc dù không theo cùng đường hướng dân chủ của mặt trận, như vậy có thể giúp cho họ được tham gia vào sự kiến thiết đất nước, và chứng tỏ rằng tân chế độ đã được xây dựng trên tình đoàn kết dứt khoát của toàn thể nhân dân.


-Thứ ba: Trẫm yêu cầu tất cả các đảng phái, các phe nhóm, tất cả các tầng lớp xã hội cũng như toàn thể hoàng gia phải đoàn kết chặt chẽ để hậu thuẫn vô điều kiện cho Chính phủ Dân Chủ Cộng Hòa, hầu củng cố nền độc lập quốc gia.


“Riêng về phần Trẫm, trong hai mươi năm ở ngôi, Trẫm đã trải qua bao nhiêu cay đắng. Trẫm muốn được làm Dân một nước tự do, hơn làm Vua một nước bị trị. Từ nay Trẫm lấy làm sung sướng được là dân tự do, trong một nước độc lập. Trẫm không để cho bất cứ ai được lợi dụng danh nghĩa Trẫm, hay danh nghĩa hoàng gia để gieo rắc sự chia rẽ trong đồng bào của chúng ta.


“Việt Nam độc lập muôn năm,


“Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa muôn năm,


Huế, điện Kiến Trung ngày 25 tháng 8 năm 1945.”


 


Theo hồi ký của Bảo Ðại (sđd), bản tuyên ngôn được đọc trong sự yên lặng hoàn toàn. Mọi người có mặt trong buổi lễ đều ngẩn ngơ, bàng hoàng:


“Tôi quan sát các khán giả hàng đầu. Tất cả các vẻ mặt đều tỏ vẻ ngạc nhiên cùng cực. Nam và nữ đều ngẩn ngơ. Bản tuyên ngôn thoái vị của tôi như tiếng sét đánh xuống ngang đầu họ. Họ lặng người đi.


“Trong một bầu không khí bực dọc, tôi trao nhanh ấn tín, quốc bảo của hoàng triều cho Trần Huy Liệu, mà chính ông ta cũng có cảm tưởng như tự trên mây mà lại. Trong khi tôi hồi cung, đám đông tan rã, không một tiếng kêu.”


Thế mà Nguyễn Minh Triết trong lễ 2 tháng 9, 2010 dám tuyên bố: “Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là thắng lợi của trí tuệ, bản lĩnh và tinh thần đấu tranh quật cường của toàn thể dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Ðảng; là sự lựa chọn của chính nhân dân dân Việt Nam của lịch sử dân tộc Việt Nam…”


Lực lượng võ trang của Hồ Chí Minh lúc đó được mấy ngoe, đánh với ai? Nên nói lại cho rõ “Hồ Chí Minh chỉ cướp Chánh quyền của Chánh phủ Trần Trọng Kim sau khi Cụ từ nhiệm.” Tức Việt Minh vào ngôi nhà, cửa đã mở sẳn mà chụp lấy đồ đạc.


Qua Chiếu Thoái Vị, ai cũng thấy Hoàng Ðế Bảo Ðại quả thật là người yêu nước và lương thiện. Suốt thời gian ở ngai vàng và qua làm Quốc trưởng, Ngài giữ được hai bàn tay không vấy máu của dân. Nên ngài mất thanh thản với tuổi thọ 84, an táng ở Paris.


Phái đoàn đại diện chánh phủ Hồ Chí Minh ở Hà Nội, qua cách tiếp nhận Chiếu Thoái Vị ở Hoàng Ðế Bảo Ðại, mặc nhiên đã long trọng cam kết chấp hành những yêu cầu của hoàng đế. Nhưng họ đã lật lộng. Vì người cộng sản chỉ có mục tiêu, chớ không có vấn đề đạo đức lương thiện. Mục tiêu của họ là cướp giựt chánh quyền cho bằng được để thực thi chế độ cộng sản mà Hồ Chí Minh đã nhận lảnh vai trò ở Staline và Mao-trạch-đông.


Nhưng người Việt Nam chơn chánh, lương thiện, tức không cộng sản, phải biết trân quí bản văn thoái vị của Hoàng Ðế Bảo Ðại vì giá trị to lớn lịch sử dân tộc. Lịch sử không có dối trá. Lịch sử là công bằng.

Sưu tầm những mẩu truyện đạo

 


Tác giả: Viên Minh (Vi Tiếu)/Người Việt Utah


 


Trả Ðũa


 


Lão hành khất vào ngồi dưới hiên chùa, bắt đầu bữa ăn xin được trong ngày gồm ít vắt cơm, muối và… một con cá rô cây.


Người gác chùa quan sát bữa ăn, thấy con cá rô cây được đẽo gọt khá cẩn thận, dọn ra giống y con cá thật đã được nấu nướng đàng hoàng, ông hỏi người hành khất với giọng châm chọc:


“Nầy ông bạn, ông làm gì với con cá gỗ ấy, hay cuối cùng cũng chỉ có cơm với muối?”


Lão hành khất bình tĩnh đưa tay chỉ tượng Phật bằng đá trên tòa sen giữa chính điện trả đũa:


“Nầy ông bạn, còn ông làm gì với tượng Phật đá kia, hay cuối cùng cũng chỉ là vô minh với ái dục?”


 


***


 


Không Có Ðường Ðến Niết Bàn


 


Ai cũng biết mục đích tối hậu của đạo Phật là Niết Bàn, như vậy chẳng cần nghĩ bàn gì, người ta cứ việc khẳng định rằng đạo Phật chính là con đường đi đến Niết Bàn đó.


Nhưng sư lại nói: “Chẳng bao giờ có đường đến Niết Bàn, chỉ có con đường vào luân hồi sinh tử mà thôi.”


Các thiền sinh lấy làm lạ thắc mắc: “Như vậy Ðức Phật dạy đạo để làm gì?”


Sư nói: “Ðạo chỉ để xóa tan Tập Ðế, như ánh sáng xóa tan bóng tối chứ đâu phải đường đi đến Niết Bàn, ví như trong bóng tối anh không tự nhìn thấy mình, đến khi thắp đèn lên mới nhìn thấy được mình, như vậy anh đâu cần phải đi đâu mà tìm kiếm chính anh. Niết Bàn cũng y như vậy đó.”

Nhà văn, thơ Vũ Gia Sắc

 


Lời giới thiệu của Tòa Soạn Tuần Báo Người Việt Utah


 


Chúng tôi xin hân hạnh giới thiệu đến quý độc giả: Nhà văn, thơ Vũ Gia Sắc:


Họ và tên: Vũ Ðình Giá


Bút hiệu khác: Bạch Trâm, Nguyễn Thị Bạch Tâm, Nguyễn Kim Sắc


Sinh năm : 1937 tại Thăng Bình, Tỉnh Quảng Nam


Trước 1975: Giáo chức, công chức, sĩ quan Cảnh Sát Quốc Gia Việt Nam. Hiện định cư tại Hoa Kỳ năm 1990. Ông làm thơ, viết văn từ lúc còn đi học. Bài vở của ông đã đăng trên các nhật báo, tuần báo, nguyệt san, và đặc san trong và ngoài nước. Có những bài thơ in chung với nhiều tác giả.


Nhà văn, thơ Vũ Gia Sắc là phó chủ tịch Nội Vụ-Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Trung Tâm Tây Bắc Hoa Kỳ (nhiệm kỳ 2006-2008).


Với tình cảm người bạn đồng quê xứ Quảng đã nhận lời yêu cầu của tôi góp bút trong “Lễ Lạc Thành Cổng Tam Quan Phổ Quang”, mang chữ đầu của 2 bài thơ “song thất” và thơ “Gửi Người Xa Xứ” đăng trên Tuần Báo Người Việt Utah.


Thân ái cảm ơn anh Vũ Gia Sắc, với duyên văn nghệ mong anh sẽ góp bút thường xuyên gọi là món quà tinh thần cho độc giả nơi miền đất lạnh đầy tuyết rơi này.


Phan Chức


Chủ bút Tuần báo Người Việt Utah


 


***


 


Lễ Lạc Thành Cổng Tam Quan


Phổ Quang


 


Vũ Gia Sắc/Người Việt Utah


 


BÀI 1:


LỄ Phật sen hồng tỏa ngát hương


LẠC hòa Sư Ðệ mãi còn vương…


THÀNH công hội tụ, người trăm hướng.


CỔNG đón quy hồi, khách thập phương…


TAM giác, Bờ mê, mờ mịt lối!


QUAN tâm, Tứ thiện, sáng soi đường.


PHỔ cung nhạc Ðạo: (TAM, QUAN, PHỔ,


QUANG) đãng Cửa Thiền: rạng ánh dương…


 


 


BÀI 2:


LỄ hội (Khai môn) hướng Phật đường.


LẠC viên, hòa quyện khói trầm hương…


THÀNH tâm tụng niệm, ban ơn đức,


CỔNG mở cầu xin, nguyện cúng dường…


TAM bảo tuôn tràn nguồn suối đạo


QUAN Âm trang tải tấm lòng thương…


PHỔ thông bờ giác Ưu Ðàm nở…


QUANG cảnh sen hồng sắc lộng gương…

Ý nghĩa và biểu tượng cổng Tam Quan

 


Nguyên Hòa/Người Việt Utah


 


Trong kinh điển Phật Giáo bất cứ một con số nào đều có ý nghĩa riêng của nó, thường gọi là pháp số; hai chữ Tam Quan cũng thế. Tam Quan còn gọi là Tam Môn nghĩa là 3 cửa, cửa chùa thường xây cất theo kiểu nầy tức là cổng lớn gồm có 3 cửa đi vào.










Cổng Tam Quan Chùa Phổ Quang tại 1185 West 1000 North, Salt Lake City, Utah. (Hình: Nguyên Bình)


Cổng Tam Quan chùa biểu tượng cho Tam Giải Thoát Môn để vào được Niết bàn. Do đó mà cổng chùa dù xây một cửa cũng vẫn gọi là Tam Quan hay Tam Môn, nhưng hầu hết đều xây 3 cửa.


Kiến trúc Tam Quan có lẽ căn cứ vào Luận Trí Ðộ, quyển 20: “Thí như ngôi thành có 3 cửa, một thân người không thể cùng một lúc vào cả 3 cửa, chỉ có thể vào 1 cửa mà thôi. Thật tướng các pháp là Thành Niết Bàn. Thành có 3 cửa: Không, Vô Tướng, Vô Tác.”


1. Cửa Không (Không môn, Không Giải Thoát môn): Phải quán sát tất cả các pháp đều không có tự tánh, do nhân duyên hòa hợp mà sanh ra, nếu thông đạt được như thế thì tự tại đối với các pháp.


2. Cửa Vô tướng (Vô Tướng Môn, Vô Tưởng Môn): Ðã hiểu biết được tất cả các pháp đều không, liền quán đến các tướng như nam, nữ, nhất nhị… thì chắc chắn là không có thật tướng như vậy. Nếu thông đạt được các pháp đều vô tướng như thế thì xa lìa tướng sai biệt và được tự tại.


3. Cửa Vô Nguyện (Vô Nguyện Môn, Vô Tác Môn, Vô Dục Môn): Cửa Không Mong Cầu, khi biết rõ tất cả các pháp đều vô tướng thì không mong cầu điều gì trong 3 cõi nữa, nếu không mong cầu thì không tạo tác các nghiệp sanh tử, nếu không có nghiệp sanh tử thì không có khổ quả báo và được tự tại.


Trên đây là tóm tắt ý nghĩa 3 cửa của cổng Tam Quan, một biểu tượng của ngôi chùa, nơi người trì giới, tu đạo, cầu tới Niết Bàn nên vào theo 3 cửa nầy.


Tuy nhiên muốn hiểu rõ phương pháp tu hành để vào được 3 cửa nầy không phải là dễ dàng. Hiểu mà không thực hành thì cũng chẳng đi đến đâu, nên tôi xin phép kèm theo đây bản Kinh Tam Pháp Ấn, Ðức Phật dạy rõ về 3 cửa giải thoát do Hòa Thượng Thích Thiện Trì dịch từ Hán sang Việt và đoạn “Ngũ Uẩn” trích trong cuốn “Vô Ngã” của Thầy Thích Trí Siêu để giúp chúng ta hiểu rõ về ngũ uẩn và cách quán sát nó hầu đi dần đến 3 cửa “Không”, với những thí dụ rất cụ thể, dễ hiểu sẽ giúp cho người Phật tử tại gia chúng ta tiến bước trên con đường tu học mỗi khi bước vào cổng tam Quan của ngôi chùa. Dù rằng chúng ta chỉ thực hành được một phần nào đó cũng đủ đem sự an bình cho chính bản thân, bạn đồng tu và tất cả những người khác.


Nam mô thường hoan hỷ Bồ Tát Ma Ha Tát.


Sau đây là phần đính kèm: Kinh Pháp Ấn và trích đoạn Ngũ Uẩn:


 


Pháp Ấn Kinh


Dịch giả: Thích Thiện Trì


(Ðại-tạng Tích-Sa quyển 514, dịch theo bản chữ Hán của Thần Thi-Hộ)


 


Như thật tôi nghe một thuở nọ Phật cùng các vị Tỳ-kheo vân tập tại nước Xá-Vệ. Bấy giờ Phật bảo các vị Tỳ-kheo rằng:


“Các ông nên biết, có Thánh-Pháp-Ấn ta sẽ phân biệt giảng nói cho các ông rõ. Các ông cần phải phát khởi sự hiểu biết thanh tịnh, lắng nghe và ghi nhận cho kỹ suy nghĩ đúng đắn.”


Các vị Tỳ-kheo liền bạch Phật rằng: Hay thay! Bạch Thế-Tôn, chúng con rất mong được nghe, xin Thế-Tôn tuyên thuyết.


Phật dạy: “Này các Tỳ-kheo! Nói đến tánh không, là không có gì cả, không vọng tưởng không sanh, không diệt xa lìa mọi sự thấy biết. Tại sao thế? -Vì tánh Không không có nơi chốn, không có sắc tướng, không có tư tưởng, vốn không sanh, chẳng phải sự thấy biết có thể thấu được. Xa lìa mọi đắm chấp, nên thâu nhiếp được tất cả pháp, trú ở sự thấy biết bình đẳng, là sự thấy biết chơn thật. Các ông nên biết, tánh Không như vậy, các pháp cũng như vậy. Ðó gọi là Pháp-Ấn.


Lại nữa, các Tỳ-kheo, Pháp- Ấn này là cửa ngõ của ba pháp giải thoát, là căn bản của chư Phật, là con mắt của chư Phật, là nơi chư Phật đạt đến. Vậy nên các ông nghe cho kỹ, ghi nhận cho đúng, như sự thật mà suy nghĩ quán sát.


Lại nữa, các Tỳ-kheo! Nếu có người nào tu hành, nên đi vào chốn núi rừng, hoặc ở dưới gốc cây và các nơi vắng vẻ yên tĩnh, đúng như sự thật quán sát: Sắc là khổ, là không, là vô thường, nên sanh tâm nhàm chán xa lìa như vậy quán sát về Thọ, Tưởng, Hành, Thức là khổ, là không, là vô thường nên sanh tâm nhàm chán xa lìa. Trú ở sự thấy biết bình đẳng.


Các Tỳ-kheo! Các uẩn vốn không, chỉ do tâm phát sanh. Khi tâm diệt thì các uẩn không còn có tác động gì nữa. Biết đúng như vậy, tức là chánh giải thoát. Khi được chánh giải thoát, xa lìa mọi sự thấy biết, thì gọi là cửa Giải-thoát-không.


Lại nữa, trú trong chánh định quán sát các sắc cảnh, tất cả đều tiêu diệt, xa lìa mọi ý tưởng. Như vậy, thanh, hương, vị, xúc, pháp cũng đều tiêu diệt, xa lìa mọi ý tưởng. Quán sát như vậy gọi là cửa Giải-thoát-vô-tưởng. Vào được cửa Giải-thoát này tức được thấy sự thanh tịnh. Do sự thấy biết thanh tịnh đó, dứt trừ được tất cả tham sân si. Tham sân si đã dứt trừ, trú ở sự thấy biết bình đẳng, trú ở sự thấy biết bình đẳng này rồi, tức xa lìa được cái thấy ta và vật sở hữu của ta. Thấu rõ được mọi sự thấy biết không nơi sanh khởi, cũng không nơi nương tựa.


Lại nữa, khi xa lìa được cái thấy ta rồi, tức không còn thấy, không còn hay, không còn biết. Tại sao thế? -Vì do nhơn duyên cho nên mới sanh các thức, tức nhơn duyên kia cùng với thức được phát sanh đều là vô thường. Vì là vô thường nên thức không thể thật có được. Thức uẩn đã không, không có tạo tác, thì gọi là cửa Giải-thoát vô tác. Vào được cửa Giải-thoát này, tức biết được pháp cứu cánh, không còn đắm chấp các pháp và chứng được pháp tịch diệt.


Phật bảo: Các Tỳ-kheo, như vậy gọi là Thánh-pháp-ấn, là cửa ngõ ba pháp giải thoát. Nếu người nào tu học theo đó tức đặng sự thấy biết thanh tịnh. Các Tỳ-kheo nghe pháp này rồi đều vui vẻ lạy Phật và tin tưởng tuân hành.


 


Ngũ Uẩn


(Trích trong cuốn “Vô Ngã” của Thầy Thích Trí Siêu)


 


Hiểu Vô Ngã hay nói chuyện Vô Ngã không có nghĩa là thành A La Hán liền đâu nhé bạn! Hiểu là một chuyện, tu tập chứng đắc là một chuyện khác. Ở đây không có chuyện “kiến tánh thành Phật.”


Theo giáo lý Nguyên Thủy thì tất cả các pháp đều có, trừ cái Ta (ngã), vì cái Ta chỉ là một ảo tưởng (illusion), một giả danh (désignation) của 5 uẩn. Nhưng 5 uẩn là gì? Là phật tử lâu năm chắc chắn bạn biết 5 uẩn là gì, nhưng ở đây tôi xin định nghĩa lại.


Năm uẩn là: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Uẩn (P. Khanda, Skt. Skandha) Pháp dịch là “agrégat” có nghĩa là một nhóm, một tổng hợp.


* Sắc uẩn: Tức thân thể con người, được cấu tạo bởi bốn đại (đất, nước, gió, lửa), nếu kể chi tiết thì gồm 32 thứ: tóc, tai, mũi, lưỡi, tim, gan, ruột, phổi… Sắc uẩn tương đối cụ thể, dễ nhận biết nên không cần nói nhiều.


* Thọ uẩn: Là những cảm thọ (sensation) phát sinh do sự tiếp xúc giữa 6 căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) và 6 trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp). Có 6 loại thọ: nhãn thọ, nhĩ thọ, tỷ thọ, thiệt thọ, thân thọ, ý thọ. Tính chất của 5 loại thọ đầu có thể là: lạc (dễ chịu), khổ (khó chịu), xả (không khổ, không sướng). Riêng ý thọ, theo Duy Thức, có thể có 5 tính chất: lạc, khổ, xả, ưu (buồn) và hỷ (vui).


Khi mắt nhìn lên mặt trời bị chói và nhức, đó là nhãn thọ khổ. Khi tai nghe nhạc êm dịu, thoải mái, muốn nghe nữa, đó là nhĩ thọ lạc. Khi nghe tin người thân chết, sanh ra buồn khổ, đó là ý thọ ưu.


* Tưởng uẩn: Tưởng (P. Sanna, Skt. Samjna) được dịch là tri giác (perception) có nghĩa là sự biết (tri) của các giác quan (căn). Tri giác được phát sanh do sự tiếp xúc giữa 6 căn và 6 trần. Và như thế chúng ta có đến 6 loại tưởng.


Mắt thấy sắc: Sự thấy của mắt gọi là nhãn tưởng.


Tai nghe tiếng: Sự nghe của tai gọi là nhĩ tưởng.


Mũi ngửi mùi. Sự ngửi của mũi gọi là tỷ tưởng.


Lưỡi nếm vị: Sự nếm của lưỡi gọi là thiệt tưởng.


Thân xúc chạm vật: Sự xúc chạm của thân gọi là thân tưởng.


Ý biết các pháp: Sự biết của Ý gọi là ý tưởng.


Chữ Ý ở đây là ý căn (manas, organe mental) và các pháp là những gì thuộc tâm linh như: ý nghĩ, ý niệm, ý tưởng…


Những sự thấy, nghe, ngửi,… biết ở đây chưa tạo nghiệp, vì nó không có khả năng tác ý mà chỉ là sự cảm nhận đơn thuần, vô tư của 6 căn đối với 6 trần. Nếu nói theo Duy Thức thì nó có thể được xem như là hiện lượng (pratyaksapramana).


Tới đây cần định nghĩa lại vài danh từ thông dụng: ý thức, ý niệm, ý tưởng, ý nghĩ. Bốn danh từ này đều liên quan đến Ý, tức ý căn (manas). Trong ngôn ngữ Việt nam, khi nói đến chữ “ý nghĩ”, ta có thể hiểu theo hai chiều: chủ thể (sujet) và đối tượng (objet).


1. Chủ thể: Ý căn (chủ thể) suy nghĩ (động từ).


2. Ðối tượng: Ý nghĩ (danh từ) là những điều do Ý căn nghĩ ra.


Thông thường chữ “ý nghĩ” được hiểu theo nghĩa thứ hai.


Ý niệm và ý tưởng cũng vậy. Ý niệm có thể được hiểu là:


1. Ý căn ghi nhớ (se souvient).[ 1]


2. Những điều ghi nhớ (souvenir) bởi Ý căn.


Ý tưởng có thể được hiểu là:


Ý căn thâu nhận (percoit).


Những điều thâu nhận bởi Ý căn (perception).


Khi Ý-tưởng-một điều gì đó, chúng ta cho cái “điều-gì-đó” là ý tưởng.


Khi Ý-nghĩ-một điều gì, chúng ta cho cái “điều-gì” này là ý nghĩ.


Khi Ý-niệm-một điều gì, chúng ta cho cái “điều-gì “ này là ý niệm.


Ý tưởng, ý nghĩ, ý niệm thường được chúng ta xem là những sản phẩm của Ý, hay nói dễ hiểu hơn là của tâm. Nhưng thực ra chúng không phải là sản phẩm của Ý mà là những đối tượng của sự tưởng, nghĩ, niệm của Ý.


Thay vì hiểu ý tưởng là sự tri giác của Ý, chúng ta lại cho ý tưởng là một sản phẩm của Ý, đồng nghĩa với tư tưởng. Ðể tránh trường hợp khó xử này, chúng ta có thể tạm gom cả 3 thứ: ý tưởng, ý nghĩ, ý niệm, đối tượng của ý thành một loại: ý trần. Chữ ý trần này chỉ là một thuộc phần của pháp trần tức đối tượng tổng quát, bao la của Ý.


Về tưởng uẩn, đa số thường hiểu là tưởng tượng (imaginer). Tưởng tượng là gì? Ở đây có hai nghĩa: thụ động và tác ý.


1) Nghĩa thụ động: Tưởng là sự cảm nhận, thâu nhận, ghi nhận của 6 căn còn gọi là tri giác. Tượng là những hình tượng, hình ảnh thuộc tâm linh.


Thí dụ: bất chợt có những hình ảnh (tượng) thuộc quá khứ như núi, sông, v.v… hiện hành trong tâm. Khi những hình ảnh này khởi lên và Ý (căn) thâu nhận (percoit) nó, thì đó gọi là tưởng tượng. Nói cho rõ hơn là Ý (căn) tưởng (cảm nhận) những hình tượng. Ở đây không có sự tác ý. Ngược lại, nếu cố nhớ, moi đầu, moi óc, hình dung lại hình ảnh, thì đó là một sự tác ý, cố ý thuộc về hành nghiệp (karman). Và khi hình ảnh này hiện ra trên mặt ý thức thì có sự thâu nhận(tưởng). Trong trường hợp này phải nói là Ý-nghĩ-niệm-tưởng-ý trần, tức là có sự suy nghĩ, cố nhớ làm hiện hành ra những hình tượng và từ đó có sự nhận biết (tưởng).


2) Nghĩa tác ý: Tưởng tượng là tạo ra trong tâm trí hình ảnh của những sự vật đã tác động vào giác quan, hoặc hình ảnh của những sự vật mới lạ chưa xảy ra.


Theo ngôn ngữ thông dụng thì tưởng tượng mang nghĩa thứ hai, tức tác ý. Như vậy tưởng tượng (imaginer) là một tác động từ ý nên có thể tạo nghiệp. Còn tưởng (percevoir) của tưởng uẩn là một động từ cảm nhận nên không tạo nghiệp.


Chữ tưởng (samjna) của tưởng uẩn, thấy có vẻ giản dị nhưng cho tới bây giờ, nó vẫn chưa được giảng giải và dịch nhất định là gì. Những điều vừa nói ở trên chỉ là ý kiến cá nhân, nên không chắc là đúng. Ai cũng có quyền cho những điều mình hiểu là đúng nhưng không có quyền bắt người khác phải tin và nghe theo mình. Vì thấy đúng hay sai chỉ là chủ quan tương đối. Sau đây tôi xin liệt kê vài dịch từ về chữ tưởng (samjna) trong các tác phẩm Việt ngữ để bạn đọc tùy ý lựa chọn.


Trong sách “Vấn đề nhận thức trong Duy Thức Học” của thầy Nhất Hạnh, tr.79, nói về 5 uẩn, dịch chữ tưởng là các khái niệm (concepts). Trong Kinh “Pháp Ấn” do thầy Nhất Hạnh dịch và chú giải, tr.28, dịch tưởng là tri giác (perception). Trong “Câu Xá Luận Cương Yếu “ của thầy Ðức Niệm, tr.40, dịch tưởng (uẩn) là nhận thức tổng hợp của các cảm giác đưa đến tưởng nhớ, nghĩ ngợi. Trong Phật Học Từ Ðiển của Ðoàn Trung Còn, tập 3, trang 1093, dịch tưởng (uẩn) là tư tưởng, sự tưởng tượng nơi tâm trí. Ngoài ra đa số đều dịch tưởng (uẩn) là tưởng tượng, tưởng nhớ.


Ðến đây bạn đọc có thể ngạc nhiên hỏi lại tôi rằng: “Tưởng tượng không thuộc tưởng uẩn, thế nó thuộc cái gì?”


Trong pháp số Phật học, có nhiều danh từ giống nhau, nhưng ý nghĩa lại khác, tùy trường hợp, vị trí và bối cảnh. Theo tôi, chữ tưởng trong ngũ uẩn, không có nghĩa là tưởng tượng, nó chỉ có nghĩa là tri giác. Trong tâm lý học Phật giáo có nói đến tưởng (P.Sanna, Skt.Samjna) như là một tâm sở trong 51 tâm sở (caittas) của Duy Thức, hoặc 52 tâm sở (cetasika) của A Tỳ Ðàm Tiểu Thừa (Abhidham-matthasangaha), hoặc 46 tâm sở của Câu Xá Hữu Bộ. Trong phạm vi này, nó có thể được xem là tưởng tượng (imaginer), vì có sự tác ý và như vậy nó thuộc về hành uẩn.


– Trong “Vấn đề nhận thức trong Duy Thức học”, tr.66, nói về tưởng (tâm sở) như sau: Tưởng là động tác của trí năng trên ảnh tượng thu nhận được, nói một cách khác hơn, là sự cấu tạo thành khái niệm.


– Trong Phật Học phổ thông, khóa thứ IX, tr.38, nói giản dị hơn: Tưởng là nhớ tưởng. Nghiệp dụng của nó là bịa đặt những danh từ để kêu gọi.


Tóm lại khi nói về tưởng, bạn đọc nên cân nhắc xem mình muốn nói về tưởng uẩn hay hành uẩn. Vì nếu thuộc tưởng uẩn thì chưa tạo nghiệp, còn nếu thuộc hành uẩn thì tạo nghiệp.


Nãy giờ chưa nói về ý thức, vì nó thuộc thức uẩn, sẽ được bàn đến sau.


* Hành uẩn: Là một tổng hợp của những ý nghĩ lưu chuyển. Hành có nghĩa là đi, là làm, là tiếp tục, là chuyển. Pháp dịch là formations mentales. Khi Ý căn hoạt động phối hợp với các tâm sở, kết quả của sự hoạt động này cho ra những ý nghĩ, hay nói chung là tất cả ý trần, đối tượng của 51 tâm sở. Như vậy hành uẩn bao gồm cả 51 tâm sở (caittas, facteurs mentaux) và cùng những đối tượng của nó.


Năm mươi mốt tâm sở là:


– Năm biến hành: xúc, tác ý, thọ, tưởng, tư.


– Năm biệt cảnh: dục, thắng giải, niệm, định, huệ.


– Mười một thiện: tín, tàm, quý, vô tham, vô sân, vô si, tinh tấn, khinh an, bất phóng dật, hành xả, bất hại.


– Sáu căn bản phiền não: tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến.


– Hai mươi tùy phiền não: phẫn, hận, phú, não, tật, xan, cuống, siểm, hại, kiêu, vô tàm, vô quí, trạo cử, hôn trầm, bất tín, giải đãi, phóng dật, thất niệm, tán loạn, bất chánh tri.


– Bốn bất định: hối, miên, tầm, tư.


Ðể biết nhiều hơn, bạn có thể nghiên cứu về Duy thức hoặc A Tỳ Ðàm.


* Thức uẩn: Thức (P.Vinnana, Skt.Vijnana) là sự nhận thức, phân biệt, hiểu biết. Pháp dịch là conscience hay discernement. Theo giáo lý nguyên thủy thì thức được phát sinh do sự tiếp xúc giữa 6 căn và 6 trần. Và như vậy chúng ta có 6 loại thức.


Nhãn thức là cái biết của mắt khi nhìn thấy cảnh trần.


Nhĩ thức là cái biết của tai khi nhìn thấy âm thanh.


Tỷ thức là cái biết của mũi khi ngửi thấy mùi hương.


Thiệt thức là cái biết của lưỡi khi nếm vị.


Thân thức là cái biết của thân khi xúc chạm đồ vật.


Ý thức là cái biết của Ý khi nhận thức ý trần.


Ðến đây, chắc hẳn bạn đọc đã để ý, từ lúc nói về Tưởng uẩn, tôi đã dùng chữ Ý đi đôi với căn. Ðó là để phân biệt Ý căn (Manas) với Ý thức (Mano- vijnana). Ý căn là một bộ phận tâm linh (organe mental) mà từ nơi đó làm phát sinh ra sự nhận thức. Sự nhận thức này gọi là Ý thức (conscience mentale).


* Sự khác biệt giữa Tưởng và Thức: Tưởng là tri giác, tức sự biết của các giác quan. Thức cũng là sự biết của 6 căn, vậy hai cái biết này giống hay khác?


Cái biết của Tưởng có tính chất cảm nhận đơn thuần, vô tư, trong khi cái biết của Thức lại có tính chất phân biệt, khái niệm. Ðể dễ hiểu, xin lấy thí dụ về một em bé gái (ngây thơ), một anh thợ săn và một đồng tiền vàng. Khi đi đường, nếu em bé nhặt được một đồng tiền vàng, em sẽ chỉ thấy đó là một vật tròn, mỏng, màu vàng, có hình vẽ xinh xắn, có thể trở thành một món đồ chơi của em. Em không hề hay biết gì về giá trị của đồng tiền cả. Sự “thấy” đồng tiền vàng của em bé được dụ cho Tưởng. Ngược lại, đối với anh thợ săn thì khác. Khi thấy đồng tiền vàng, anh ta liền biết đó là một đồng tiền vàng cùng với giá trị của nó. Vói tiền này anh sẽ mua được tất cả thứ gì anh thích. Sự “thấy” đồng tiền vàng của anh thợ săn này dụ cho Thức.


Ðúng ra theo giáo lý Nguyên Thủy thì chúng ta có thể ngưng ở đây, sau khi đã định nghĩa năm uẩn. Nhưng đa số thường không rõ sự khác biệt giữa Tâm, Ý và Thức nên tôi sẽ tạm mượn một ít giáo lý của Duy Thức, trong đó phân biệt chi tiết về Tâm, Ý và Thức.


Vẫn biết mục đích của tập sách này là nói về Vô Ngã chứ không phải Duy Thức, nhưng cái Ngã là một tổng hợp phức tạp, cấu tạo bởi năm uẩn, trong đó thủ phạm chấp ngã nằm trong Thức uẩn. Nói về thức uẩn, không gì đầy đủ chi tiết hơn Duy Thức. Ðây là lý do thứ hai cần phải nói một chút về Duy Thức.


Theo Duy Thức thì Thức uẩn (vijnãna skandha) bao gồm Tâm (citta), Ý (manas) và Thức (Vijnãna). Tâm được xem là thức thứ 8, Ý được xem là thức thứ 7, Thức tức là 6 thức đầu được kể ở trên. Sau đây chỉ xin lược nêu về 3 thức: thứ 8, thứ 7 và thứ 6.


Thức thứ 8, có tên là Tàng thức hay A lại Da thức (Alaya-vijnãna). Thức này có 3 nghĩa:


a. Năng tàng: Thức này chứa đựng, gìn giữ chủng tử (bija) của các pháp.


b. Sở tàng: Sở tàng ở đây không có nghĩa là bị chứa, mà có nghĩa là Thức này bị ươm ướp (parfumé) bởi chính những chủng tử được chứa trong nó.


c. Ngã ái chấp tàng: Thức này bị thức thứ 7 (manas) bám víu và chấp làm Ta.


Thể và dụng của thức này sâu rộng vô cùng, chúng ta không thể thấu hiểu bằng ý thức thông thường được. Nó chính là nền tảng cho 7 thức kia phát sinh. Tánh chất của nó là vô phú vô ký, có nghĩa là không bị che lấp bởi vô minh, nhưng cũng không thiện, không ác. Như vậy nó không phải là thủ phạm chấp ngã.


Thức thứ 7 tên Mạt Na (manas-vijnãna). Nó là Ý căn (organe mental) tức là căn cứ, nơi phát sinh ra ý thức (conscience mentale). Cũng như mắt là nhãn căn, nơi phát sinh ra nhãn thức. Thức này còn có tên là “Truyền tống thức” vì nó công năng truyền các pháp hiện hành vào Tàng thức và tống đưa các pháp chủng tử khởi ra hiện hành. Thức này được xem là thủ phạm chính của sự chấp ngã. Sự chấp ngã của nó thuộc loại “câu sinh ngã chấp” tức sự chấp ngã sinh ra cùng lúc với thân mạng. Sự chấp ngã này rất khó diệt trừ. Mạt Na thường tương ưng với bốn căn bản phiền não: ngã si (avidya), ngã ái (atmasneha), ngã kiến (atmadrsti), ngã mạn (asmimana). Ngã si chíng là vô minh, ngã ái là sự thương yêu, ái luyến cái Ta, ngã kiến là cái thấy sai lầm về ngã, ngã mạn là sự kiêu ngạo cho cái Ta cao cả hơn hết.


Hai thức A lại Da và Mạt Na hằng chuyển không bao giờ gián đoạn, ngay cả khi cá nhân đã chết.


Thức thứ 6, gọi là Ý thức (mano-vijnãna). Khi Ý căn tiếp xúc với pháp trần làm phát sinh ra sự nhận thức, sự nhận thức này được gọi là Ý thức. Ý thức có ba hình thái nhận thức: hiện lượng, tỷ lượng và phi lượng.


– Hiện lượng: sự nhận thức trực tiếp, vô tư, chưa trải qua suy luận, phân biệt.


– Tỷ lượng: sự nhận thức qua suy luận, phân biệt.


– Phi lượng: Khi hai sự nhận thức trên (hiện lượng hoặc tỷ lượng) phản ảnh sai lầm về thực tại thì gọi là phi lượng. Thí dụ trong đêm tối , thấy sợi dây tưởng là con rắn.


Trong tám thức, duy có thức này là lanh lẹ và khôn ngoan hơn hết. Trong Bát Thức Quy Củ tụng khi nói về Ý Thức có câu: “Ðộc hữu nhứt cá tối linh ly” nghĩa là riêng có một cái thức rất lanh lẹ. Suy nghĩ làm việc phải, thức này đứng đầu, tính toán tạo nghiệp ác thì nó cũng hơn cả (công vi thủ, tội vi khôi). Về tội thì thức này cũng chấp ngã và chấp pháp. Nhưng sự chấp ngã của nó là “phân biệt ngã chấp”, tức chấp ngã do nhận thức phân biệt sai lầm mà ra. Sự chấp ngã này tương đối dễ loại trừ. Sau này tu tập về Vô Ngã, chúng ta sẽ rất cần đến thức thứ 6 này.


Ðến đây sự định nghĩa về 5 uẩn có thể được xem như tạm đủ. Năm uẩn, còn gọi tắt là thân tâm, tuy được liệt kê thành từng phần, nhưng thật ra chúng hoạt động rất chặt chẽ, không thể tách rời được. Thí dụ khi bị đau răng. Răng thuộc về thân (sắc uẩn), đau thuộc khổ thọ (thọ uẩn), cảm biết có sự đau thuộc tưởng uẩn, biết rõ đó là đau răng thuộc thức uẩn, và mỗi khi thức làm việc đều có sự tương ưng, trợ giúp của các tâm sở, do đó hành uẩn cũng có trong cuộc.


(Source: www.phoquang.org)

Diễn văn tuyên đọc tại buổi Ðại Lễ Lạc Thành

 


Cổng Tam Quan chùa Phổ Quang


                                               


-Kính bạch Chư Tôn Ðức Tăng, Ni


-Kính thưa quý vị quan khách Việt-Mỹ


-Thưa quý đồng hương và cộng đồng Phật tử


Nhân danh thành viên Hội đồng Quản trị, đồng thời là trưởng ban Thiết Kế và điều hành tổng quát xây dựng cổng Tam Quan chùa Phổ Quang, chúng tôi hân hạnh và thành kính chào mừng Chư Tôn Ðức Tăng, Ni, quý vị quan khách Việt Mỹ, cùng toàn thể đồng hương và cộng đồng Phật tử đã dành thời giờ quý báu đến tham dự Ðại Lễ Lạc Thành Cổng Tam Quan tại chùa Phổ Quang ngày hôm nay. Sự hiện diện của toàn thể quý vị đã thể hiện sự quan tâm đặc biệt với tấm lòng ưu ái đối với chúng tôi trong khung cảnh trang nghiêm và hoan hỉ của mọi người.


Kính thưa liệt quý vị,


Sau đây chúng tôi xin phép được sơ lược ý nghĩa thâm thúy khi một ngôi chùa xây dựng được một cổng Tam Quan. Cổng Tam Quan tức là cổng chùa có ba cửa đi vào: một cửa giữa lớn và cao, hai cửa nhỏ hai bên hơi thấp so với cửa giữa.


Vì ảnh hưởng sâu đậm bởi tinh thần Thiền học cho nên khi nói đến ngôi chùa, người ta thường gọi là Thiền môn, có nghĩa là cửa Thiền, hay còn gọi là Không môn, có nghĩa là cửa Không, nơi đó có những người tu học hiền lương, hướng đến giải thoát. Còn về cổng Tam Quan được gọi là Tam Giải Thoát môn, tức là ba cánh cửa giải thoát. Ba cánh cửa đó là: cửa Không, cửa Vô Tướng, cửa Vô Tác, hay cũng gọi là Vô Nguyện. Nói tóm lại ý nghĩa thâm thúy của cổng Tam Quan là biểu tượng cho sự thiêng liêng, sùng kính. Ngoài ra, cổng còn làm tăng thêm vẻ đẹp hùng vỹ cho ngoại cảnh của một ngôi chùa.


Ðến đây, chúng tôi xin tóm lược quá trình thực hiện công việc thiết kế và điều hành xây dựng Cổng Tam Quan trong thời gian qua:


-Hoàn thành họa đồ Cổng Tam Quan do đạo hữu Kiến trúc sư Trần Thiện Khiêm đảm trách và được cấp giấy phép ngày 25 tháng 2, 2010 sau thời gian sáu tháng do Hội Ðồng thành phố Salt Lake xét duyệt.


-Lễ đặt viên đá đầu tiên và khởi công ngày 10 tháng 4, 2010.


-Tổng kinh phí cho công trình là $46,217; so sánh với thời giá hiện tại nếu giao cho công ty xây dựng của Mỹ sẽ tốn phí đến $120,000.


-Hoàn thành công trình xây dựng ngày 10 tháng 9, 2011.


Sau hơn 18 tháng xây dựng kể từ ngày khởi công đến khi hoàn thành, chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn trở ngại như thời tiết, nhân sự, tiết kiệm kinh phí tối đa, cũng như mất thời gian đặt hàng tại Nhật, Việt Nam và một số các tiểu bang tại Mỹ.


Về công trình xây dựng, chúng tôi chia làm hai giai đoạn:


-Giai đoạn 1: Tận dụng công nhân thiện nguyện thanh niên Phật tử đến làm ngoài giờ và những ngày cuối tuần như công việc đào móng, đúc nền, đóng khung gỗ bốn trụ cổng và mái, làn sắt, đổ ciment, tự tay đi tìm mua những vật tư cần thiết cho giai đoạn này…


-Giai đoạn 2: Chú trọng về kỹ thuật và mỹ thuật, chúng tôi phải thuê những công ty chuyên môn của Mỹ như xây gạch cho bốn trụ, tô ciment, bọc đồng con lươn của mái chùa, bắt điện và hệ thống đèn, lợp ngói mái cổng, làm cửa sắt…


Nhờ thế mà chúng tôi đã tiết kiệm được một số tiền đáng kể cho toàn bộ công trình này.


Cổng Tam Quan của chùa Phổ Quang đạt được phần nào thành tựu trang nghiêm, khiêm tốn với sự góp sức của nhiều bàn tay, khối óc của quý đồng hương, Phật tử, tất cả khởi từ tấm lòng vì Ðạo, đã ngày đêm thao thức, nỗ lực bằng tất cả khả năng, mồ hôi, tâm đức và chí nguyện của mỗi người, để đóng góp công quả vào việc thực hiện biểu tượng của ngôi Tam Bảo, thể hiện nền văn hóa Phật giáo Việt Nam trên xứ người. Về mặt kiến trúc, công trình xây dựng không những hoàn thành một cách tốt đẹp mà còn toàn vẹn nữa. Ðặc biệt nổi bật nhất là hai đạo hữu được vinh danh sau đây với thiện tâm mà đem hết khả năng, thiện chí góp phần công quả lớn lao cho công trình này:


1. Ðạo hữu kiến trúc sư Trần Thiện Khiêm là người đã thực hiện họa đồ, chẳng những không nhận một lệ phí nào, mà còn dành rất nhiều thời gian để trực tiếp điều hành công tác xây dựng.


2. Ðạo hữu Võ Thanh Hòa chịu trách nhiệm vân động tài chánh và nhân lực qua những tổ chức ca nhạc, hội chợ gây quỹ hàng năm cho chi phí của công trình xây dựng cổng Tam Quan.


Ngoài ra còn có nhiều thiện nam, tín nữ đã phát tâm đóng góp tịnh tài để thực hiên một viên gạch tượng trưng có khắc tên để lưu niệm.


Hôm nay, trong không khí trang nghiêm và ấm cúng, dạt dào tình đời, tình đạo của ngày Ðại lễ Lạc Thành Cổng Tam Quan, chúng ta cùng nhau đem hết tâm thành và quy ngưỡng, nhờ năng lực gia trì của mười phương Tam Bảo, chư Hộ Pháp Thiện thần, và sự gia tâm cầu nguyện, cũng như cúng dường tịnh tài, tịnh vật và công sức của quý Phật tử.


Chúng tôi một lần nữa xin tán thán và tri ân công đức tùy hỉ để hộ đạo. Vô cùng cảm kích tấm lòng ủng hộ của cộng đồng Phật tử xa, gần, chúng tôi thật không biết nói lời gì tốt đẹp nhất để biểu lộ lòng tri ân. Chúng tôi xin chia sẻ cùng quý vị niềm hoan hỉ vô biên mà tất cả chúng ta cùng mong đợi từ bấy lâu nay bằng một lời mộc mạc chân tình:


“Cảm niệm công đức tùy hỉ ủng hộ xây dựng cổng Tam Quan để trang nghiêm cảnh Phật, góp thêm một bông hoa tươi thắm trong vườn hoa đầy hương sắc của Phật Giáo Việt Nam trên đất nước Hoa Kỳ, quê hương thứ hai của chúng ta.”


Một lần nữa, chúng tôi trân trọng gởi đến liệt quý vị lời cảm ơn chân thành nhất, lời chào mừng thân thiết nhất, và lời chúc tốt đẹp nhất.


Tâm Nguyện – Phan Chức

Tiếng ru thầm

 


Cao Mỵ Nhân/Người Việt Utah


 


Em về sau cuộc hành hương


Qua bao đền miếu hoang đường, mông lung


Thành xưa cây mọc như rừng


Tìm đâu dấu vết thuở cùng lớn lên


 


Thẫn thờ phố xá đổi tên


Niềm đau day dứt tạm yên lúc này


Tuổi mình áo, tóc đều phai


Thần hay Thánh cũng u hoài tháng năm


 


Em về đô thị tủi thân


À ơi, những tiếng ru thầm héo hon


Rằng sao nước chảy đá mòn


Mà tâm tư lại rũ buồn vì nhau.

Sống! Sống! Sống

 


Tác giả: Nguyễn Kim Sắc/Người Việt Utah


 


Sống không giận, không hờn, không oán trách


Sống mỉm cười với thử thách chông gai


Sống vươn lên theo kịp ánh ban mai


Sống an hòa với những người chung sống.


Sống là động nhưng lòng luôn bất động


Sống là thương nhưng lòng chẳng vấn vương


Sống hiên ngang nhưng lợi danh xem thường


Tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến.


(Sưu tầm)

Nghệ thuật rút lui

 


Tác giả: Thoại Dung trích dịch/Người Việt Utah


 


Một “chiến binh ánh sáng” tin tưởng quá nhiều vào sự thông minh của mình rồi rốt cuộc đánh giá thấp sức mạnh của đối phương.


Ðiều quan trọng là đừng quên rằng đôi khi sức mạnh có hiệu quả hơn chiến lược. Khi chúng ta phải đối đầu với bạo lực thì dù có thông minh, tài giỏi hay tranh luận, khuyến dụ cũng không ngăn được thảm kịch.


Ðó là lý do người chiến binh không bao giờ coi thường sức mạnh vũ phu. Khi sức mạnh ấy tỏ ra quá mãnh liệt, họ rút lui khỏi chiến trường cho đến khi kẻ địch kiệt sức.


Tuy nhiên một điều rõ ràng là “chiến binh ánh sáng” không hề hèn nhát. Sự tháo chạy là một hình thức bảo vệ tuyệt hảo, nhưng không thể dùng khi một người quá sợ hãi .


Khi cảm thấy không chắc thắng người chiến binh thích đối mặt với thất bại hơn, rồi liếm vết thương của mình, bởi vì anh ta hiểu rằng nếu chạy trốn sẽ làm tăng thêm sức mạnh thực sự của kẻ địch.


Người “chiến binh ánh sáng” có thể hồi phục sau những cơn đau thể xác nhưng căn bệnh tâm linh sẽ bám theo anh ta mãi mãi. Trong những lúc khó khăn và đau khổ, người chiến binh phải đối mặt với sự chênh lệch quá mức, trước chí khí anh hùng, tính nhẫn nhục và lòng can đảm.


Ðể đạt được trạng thái anh hùng cần thiết (từ khi bước vào cuộc chiến đầy đau khổ và bất lợi), Người “chiến binh ánh sáng” cần biết chính xác điều gì tổn hại đến anh ta.


Okacura Kacuzo viết trong cuốn sách của ông ta, trong một buổi trà đạo tại Nhật Bản: “Chúng ta thấy lỗi lầm nơi người khác vì chúng ta biết lỗi lầm trong chính ta. Chúng ta không bao giờ tha thứ cho kẻ nào làm ta tổn thương vì chính chúng ta tin rằng mình cũng không hề được tha thứ. Chúng ta nói ra sự thật đầy khó khăn với người khác vì chúng ta muốn giấu kín nó trong lòng. Chúng ta tỏ ra mạnh mẽ để không ai thấy được sự yếu đuối của mình. Ðó là lý do khi anh phán xét người anh, em của mình thì anh cũng nên hiểu rằng chính mình đang ngồi ở ghế bị cáo.”


Ðôi khi nhận thức này có thể tránh được một trận đánh chỉ mang đến bất lợi. Tuy nhiên, đôi khi cũng không còn cách nào khác trong một trận đánh không cân sức.


Chúng ta biết mình sắp thua, nhưng kẻ địch cùng với sự hung hãn không để chúng ta có sự chọn lựa nào khác, ngoại trừ phải hèn nhát đầu hàng và điều đó chẳng có gì thú vị trong những trường hợp như thế. Ðiều cần nhất là nên chấp nhận số phận và hãy cố ghi nhớ một đoạn trong cuốn Kinh Vệ-Ðà tuyệt diệu (Chương II, trang 16-20):


“Con người không sinh cũng không diệt, khi đã hiện hữu, nó sẽ không bao giờ chấm dứt hiện hữu, vì con người là thường hằng bất biến. Cũng như một người bỏ chiếc áo cũ, để mặc một chiếc áo mới, linh hồn bỏ cái thân xác cũ để tái sinh trong một thân xác mới.


Nhưng linh hồn không thể bị hủy hoại, kiếm không thể xuyên thủng, lửa không thể đốt cháy nước, nước không thể làm ướt gió, gió không thể làm khô, linh hồn vượt ra ngoài năng lực của tứ đại.


Vì lẽ con người không bao giờ bị hủy hoại, nó luôn luôn chiến thắng (kể cả trong thất bại), và cũng vì lẽ đó, con người không nên buồn.”


(Thoại-Dung trích dịch “The Art of Withdrawal” trong cuốn: Like The Flowing River của Paulo Coelho, bản tiếng Anh của: Margaret Jull Costa.)



 

Hạnh phúc mãi đi tìm

 


Nguyên Bình/Người Việt Utah


 


Anh làm thơ viết rồi nhưng không gởi


Ðể đêm buồn mòn mỏi với thời gian


Nhớ thương ai mà giấc ngủ mơ màng


Chợt tỉnh thức với hai hàng mi ướt


 


Ðời của anh đã một lần dừng bước


Bến thuyền mơ đâu biết trước đúng sai


Gói hành trang ôm trọn một hình hài


Của hạnh phúc hay u hoài tan vỡ


 


Ðêm từng đêm trói niềm đau muôn thuở


Buộc đời mình theo nhịp thở trái tim


Cõi hư không hạnh phúc mãi đi tìm


Còn hay mất con tim mình thuở ấy


 


Tìm lại anh giữa biển đời sóng dậy


Lướt trùng khơi tìm thấy nỗi phân vân


Nếm đau thương, hạnh phúc đã bao lần


Anh lạc bước hồng trần muôn vạn lối


 


Thượng Ðế ơi, con làm chi nên tội


Mà tim đau trong vạn lối đường về


Ðể vần thơ viết đi rồi cũng thế


Nét mực buồn như giọt lệ đời con.

Gửi người xa xứ

 


Tác giả: Nguyễn Kim Sắc/Người Việt Utah


 


Có phải Người sầu cố xứ?


Ðể ta gọi gió Sông Thu,


Cuộn một vòng trái đất,


Ðến tận miền Người đi.


 


Có thật Người đi sầu cố xứ?


Ðể ta hốt hết bụi rêu


Trên từng mái nhà Phố Cổ


Tung lên khắp cả trời cao,


Nhờ một trận mưa rào,


Gởi xuống vùng Người ở.


 


Có thật Người sầu cố xứ


Ðể ta nhẹ hát tình ca:


“Ngó lên Hòn Kẽm Ðá Dừng,


Thương Cha nhớ Mẹ quá chừng bạn ơi…!”


“Ðất Quảng Nam chưa mưa đã thấm,


Rượu Hồng Ðào chưa nhắm đã say.”


Cho Người trong giấc ngủ,


Tiếng ru hời còn mãi chưa phai!


 


Có thật Người sầu cố xứ ?


Ðể ta lên đỉnh Hải-Vân


Dang tay ngăn vầng mây trắng,


Viết vài câu thơ nhớ nhung!


 


Có phải Người sầu cố xứ


Món nghe tiếng mõ Ngũ Hành


Muốn nhìn dòng sông Cẩm-Lệ


Muốn qua Thanh-Suối Cẩm-Sa


Muốn vào Hội-An Phố Cổ,


Muốn ăn hoành thánh cao lầu


Ðược uống dừa non Cửa-Ðại


Ăn tô mì Quảng tình sâu,


Ngươi muốn hưởng một mùa mít trái,


Một mùa chín mọng bòn-bon?


 


Sông Thu đó con nước trôi lặng lẽ


Ta vẫn ngồi bên Cầu Phố chờ ai,


Nết thật Người có sầu?


Ta sẽ cho Người tất cả,


Tất cả hãy còn đây!


Vì ta luôn gìn vàng giữ ngọc


Tâm tình xưa ta vẫn mãi cưu mang,


Rộng như Trời và cũng trầm như Phố!


Ta cho Người,


Người có nhận không nào?!

Con chim ưng của Thành-Cát-Tư-Hãn

 


Tác giả: Thoại Dung trích dịch/Người Việt Utah


 


Trong chuyến tham quan mới đây ở Kazakhtan, thuộc vùng Trung-Á, tôi có dịp đi theo những thợ săn vẫn còn dùng chim Ưng để săn mồi. Tôi không muốn bàn cãi về từ “săn” ở đây, trừ phi nói rằng, trong trường hợp này, thiên nhiên đã có cách giải quyết rất đơn giản như sau đây.


Tôi không có người thông dịch, nhưng vấn đề này hóa ra lại may mắn cho tôi. Không thể nói chuyện với họ, tôi bằng chăm chú vào những gì họ làm.


Nhóm chúng tôi dừng lại, người đàn ông với con chim ưng trên cánh tay vẫn còn cách chúng tôi một quãng ngắn, ông ta lấy cái mũ đội đầu bằng bạc trên đầu con chim ra. Tôi không hiểu tại sao ông ta quyết định dừng lại ở đây, tôi cũng chẳng có cách gì hỏi được. Con chim cất cánh lượn vài vòng rồi đâm thẳng xuống một hẻm núi và ở lại đấy. Ðến gần, chúng tôi mới thấy một con chồn đã bị móng vuốt của chi ưng tóm gọn. Buổi sáng hôm ấy cảnh đó lặp lại một lần nữa.


Trở về làng, tôi gặp những người đang đợi tôi, tôi liền hỏi họ huấn luyện như thế nào để chim ưng làm tất cả những điều tôi đã thấy, thậm chí nó ngoan ngoãn đậu trên cánh tay chủ, và cả trên cánh tay tôi nữa (họ đeo một dải bằng da trên tay tôi cho chim đậu nên tôi thấy rất rõ móng vuốt sắc nhọn của con chim).


Ðó là một câu hỏi lạc lõng, chẳng ai có một lời giải thích. Họ bảo nghệ thuật huấn luyện là do cha truyền con nối từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nhưng những ấn tượng sẽ khắc sâu mãi mãi trong tâm trí tôi là dãy núi tuyết ở phía sau, hình bóng những con ngựa và các kỵ mã, con chim ưng cất cánh, từ tay người thợ săn và cú đâm bổ xuống rất mãnh liệt.


Ngoài ra, cũng còn lại trong tôi câu chuyện do một thợ săn kể trong buổi ăn trưa:


Một buổi sáng Thành-Cát-Tư-Hãn đi săn cùng với quần thần, đoàn tùy tùng mang theo cung tên, nhưng Ðại-Hãn lại mang theo trên cánh tay con chim yêu quí của mình. Chim ưng vừa săn giỏi vừa chắc chắn bắt được con mồi hơn bất cứ loại cung tên nào, vì nó có thể bay lên trời và nhìn thây tất cả mọi vật mà con người không thể thấy được.


Tuy nhiên, mặc cho những nỗ lực rất nhiệt tình của đoàn tùy tùng, họ chẳng tìm được con mồi nào cả. Thất vọng, Ðại-Hãn trở về trại lính, rồi không chịu nghe lời can ngăn của quần thần, Ông để toán quân ở luôn lại cỡi ngựa đi một mình, Họ đã ở trong rừng quá lâu và Ðại-Hãn đã lâm vào tình trạng mệt mỏi, đói khát rất nghiêm trọng, vào mùa Hè nóng bức, tất cả những dòng suối đều khô cạn, nên Ðại-Hãn không thể tìm đâu ra nước để uống.


Bỗng nhiên, trước sự sửng sốt của Ðại-Hãn, một mạch nước chảy ra từ tảng đá ngay trước mặt ông ta.


Ðại-Hãn thả chim ưng ra để rảnh tay lấy chiếc cốc bạc luôn mang theo bên mình, phải hứng rất lâu mới đầy cốc, ngay lúc Ông ta đưa cốc lên môi, chú chim ưng bay đến, giật chiếc cốc khỏi tay ông rồi thả xuống đất.


Ðại Hãn rất phẫn nộ nhưng nghĩ lại chú chim cưng của mình chắc cũng đang khát nước, Ông nhặt chiếc cốc, lau sạch bụi đất rồi lại hứng nước. Lần này khi ông chỉ mới hứng được nửa cốc, con chim lại lao đến một lần nữa làm đổ hết nước.


Ðại-Hãn rất yêu quí chú chim, nhưng dù thế nào đi nữa nó cũng không được phép bất kính như thế, nếu từ xa có ai đó nhìn thấy cảnh này rồi sau đó bảo với các chiến binh của ông rằng nhà chinh phục vĩ đại đã không chế ngự nỗi một con chim.


Lần này ông ta rút kiếm ra, nhặt chiếc cốc rồi lại hứng nước, mắt vừa nhìn dòng nước vừa ngó chừng chú chim ưng. Ngay khi ông ta hứng đủ nước và sắp uống, con chim lại cất cánh lao thẳng về phía ông.


Với một nhát kiếm, Ðại-Hãn đâm thủng ngực chú chim. Tuy nhiên mạch nước bây giờ đã ngưng chảy; nhưng Ðại-Hãn cũng đã xác định được nơi có nguồn nước, ông trèo lên tảng đá để tìm dòng suối. Thật kinh hoàng, đúng là có một vũng nước nhưng có một con rắn thuộc loại cực độc nằm chết ngay giữa vũng nước, nếu Ðại-Hãn uống cốc nước ấy ông ta đã không còn.


Ðại-Hãn ôm chú chim ưng đã chết, trở về trại lính. Ông ra lệnh làm một bức tượng bằng vàng hình chim ưng, một bên cánh ông ta khắc hàng chữ:


“CHO DÙ BẠN TA LÀM ÐÔI ÐIỀU TA KHÔNG THÍCH THÌ NGƯỜI ẤY VẪN TIẾP TỤC LÀ BẠN TA.”


Còn cánh bên kia khắc hàng chữ:


“BẤT CỨ HÀNH ÐỘNG BUỘC TỘI TRONG LÚC NÓNG GIẬN ÐỀU ÐƯA ÐẾN THẤT BẠI.”


(Thoại-Dung trích dịch “Genghis Khan and His Falcon” trong cuốn: Like The Flowing River của Paulo Coelho, bản tiếng Anh của: Margaret Jull Costa.)

Tin Tức Cộng Ðồng Người Việt Utah

 


Phóng viên Người Việt Utah thực hiện


 


Lễ Lạc Thành Cổng Tam Quan Chùa Phổ Quang: 10 giờ sáng Thứ Bảy, ngày 29 tháng 9 năm 2012


Chùa Phổ Quang sẽ cử hành Lễ Lạc Thành Cổng Tam Quan vào lúc 10 giờ sáng Thứ Bảy ngày 29 tháng 9 năm 2012 tại chùa Phổ Quang, 1185 West 1000 North, Salt Lake City, Utah. Buổi lễ có sự quang lâm tham dự và chứng minh của:


-Hòa Thượng Thích Phước Thuận


-Thượng Tọa Thích Trừng Sỹ


-Ðại Ðức Thích Nhật Thiện


Chùa Phổ Quang trân trọng kính mời quí vị lãnh đạo các tôn giáo, quí vị đại diện các hội đoàn, đoàn thể, quí đồng hương và đồng bào Phật tử dành chút thì giờ đến tham dự. Xin quí vị xem Thư Mời trong số báo này để biết thêm chi tiết.


Ðịa chỉ liên lạc Chùa Phổ Quang:


P.O. Box 161092


1185 West 1000 North


Salt Lake City, UT 84116


Ðiện thoại: (801) 328-2701


 


Lễ Hội Tết Trung Thu – Phổ Quang Moon Festival 2012: Thứ Bảy, ngày 29 tháng 9, 2012


Theo lịch sinh hoạt hàng năm của chùa Phổ Quang, Tết Trung Thu là một trong những sinh hoạt truyền thống dành cho trẻ em Việt Nam đang sinh sống tại hải ngoại. Ðây là một nét đẹp văn hóa của dân tộc, cần được trân trọng bảo tồn và phát huy ý nghĩa của nó để trẻ thơ có một ngày Tết Trung Thu trọn vẹn và bậc phụ huynh chúng ta có dịp hồi tưởng lại một chút gì hồn nhiên và thiêng liêng cho tuổi thơ của mình đã đi qua.


Như thường lệ, năm nay anh chị em thanh thiếu niên Phật tử chùa Phổ Quang sẽ tổ chức Hội Tết Trung Thu 2012 tại sân chùa Phổ Quang (1185 West 1000 North, Salt Lake City). Chương trình bắt đầu vào lúc 4:00 giờ chiều Thứ Bảy, ngày 29 tháng 9 năm 2012 (đúng ngày trăng tròn 14 âm lịch) gồm có nhiều gian hàng thức ăn, trò chơi giải trí, thi đua trò chơi, múa lân, đốt lửa ngắm trăng, phát quà, phát bánh kẹo, phát bánh trung thu, phát bong bóng và lồng đèn.


Lễ Hội Tết Trung Thu 2012 năm nay có một chương trình ca nhạc văn nghệ đặc biệt với ca sĩ Thành An, các ca sĩ địa phương, MC Công Minh, MC Thái Hương, ban nhạc Sweet Melody, Ðoàn Múa Phật Tử Chùa Phổ Quang, các em học sinh lớp Việt Ngữ Khai Tâm, và nhiều tiết mục tham gia của các bạn bè thân hữu rất hấp dẫn. Tất cả đều miễn phí và vào cửa tự do. Xin quí vị xem phần quảng cáo trong số báo này để biết thêm chi tiết.


Các bạn muốn ghi danh thiện nguyện hoặc tham gia đóng góp tiết mục cho chương trình văn nghệ, trò chơi, v.v… Mọi chi tiết xin liên với Hòa (801) 231-0054 hoặc Thủy (801) 462-5190.


 


Hội Chợ Y Tế Sức Khỏe Miễn Phí do Tuần Báo Người Việt Utah tổ chức: Chủ Nhật, ngày 4 tháng 11 năm 2012


Tuần Báo Người Việt Utah sẽ tổ chức Hội Chợ Y Tế Sức Khỏe Miễn Phí 2012 từ 10 giờ sáng đến 3 giờ chiều Chủ Nhật, ngày 4 tháng 11 năm 2012, tại New East Sea, địa chỉ 3695 South Redwood Road, West Valley City, Utah.


Hội Chợ Y Tế Sức Khỏe Miễn Phí này được sự hỗ trợ của Bộ Y Tế tiểu bang Utah (Utah Department of Health) và tập đoàn Walgreens, cùng những bệnh viện và hội đoàn sức khỏe khác đến từ nhiều nơi trong tiểu bang Utah.


Hội Chợ Y Tế Sức Khỏe Miễn Phí gồm có: chích ngừa cảm cúm (Flu Shot), đo áp huyết (Blood Pressure), Cholesterol, đo lượng đường trong máu (Blood Sugar), khám mắt (visual Acuity Testing), Glaucoma, khám răng (Dental Screenings), và nhiều chương trình khám sức khỏe khác sẽ được chúng tôi cập nhật trong các số báo tới. Ngoài ra còn có nhiều tài liệu về chương trình bệnh tâm thần, ngăn ngừa bệnh ung thư, an toàn cho trẻ em, v.v…


Chương trình Hội Chợ Y Tế Sức Khỏe Miễn Phí do Tuần Báo Người Việt Utah tổ chức sẽ được cập nhật thường xuyên trong những số báo tới.


 


Chuyến đi Wendover Xem Show Nhạc “Cám Ơn Ðời Dù Hạnh Phúc Hay Khổ Ðau”: Dịp Lễ Thanksgiving, Thứ Năm, ngày 22 tháng 11, 2012


Nhân dịp Wendover có show nhạc “Cám Ơn Ðời Dù Hạnh Phúc Hay Khổ Ðau,” Tuần Báo Người Việt Utah tổ chức 3 chuyến xe buýt đi Wendover vào dịp Lễ Thanksgiving, Thứ Năm ngày 22 tháng 11 năm 2012. Sẽ có 2 chuyến xe buýt khởi hành lúc 1 giờ trưa và rời Wendover lúc 12 giờ đêm, 1 xe buýt khởi hành lúc 2 giờ trưa và rời Wendover lúc 11 giờ đêm tại địa điểm bãi đậu xe của nhà hàng New East Sea, 3695 South Redwood Road, West Valley City, Utah.


Ðồng thời, chúng tôi có vé ca nhạc loại hạng nhì $35, sẽ bán giảm giá cho quí vị là $20. Vé xe buýt đặt trước giá $18 một người, chỗ ngồi sẽ theo thứ tự đặt chỗ trước sau. Quý vị sẽ được phục vụ thức ăn nhẹ và nước uống, chơi Bingo trên tuyến đường đi đến Wendover. Ðặc biệt mỗi quý vị sẽ nhận được một fun pack trong đó có $5 cash back, phiếu ăn Buffet tại Wendover.


Mọi chi tiết xin vui lòng liên lạc: Hòa (801) 231-0054, Victoria (801) 462-5190.

Phải chăng vụ trộm tại West Valley liên hệ tới chuyện tranh chấp chùa Phổ Quang?

 


* Người Việt Utah


 


WEST VALLEY CITY (UT) – Khi các nhân viên tại công ty Vietlink Travel and Services, ở số 3695 S. Redwood Road tại West Valley City, Utah, đến nơi làm việc vào hôm Thứ Sáu, họ trông thấy cửa ra vào văn phòng bị phá và trên nền nhà đầy những giấy tờ đã bị ai đó ném xuống tung tóe.



Ông Hòa Võ, chủ nhân công ty du lịch này, cho biết: “Tất cả các máy điện toán và những gì mà tôi cho là đáng giá đều còn đó. Chỉ có các tài liệu liên quan tới một vụ kiện trước tòa là bị lấy khỏi nơi đây mà thôi.” Kẻ trộm đã bẻ khóa một số các hộc tủ đựng hồ sơ, và ông Võ cho biết tất cả những kẹp hồ sơ có dán nhãn “Chùa Phổ Quang” đều bị lấy đi. Ông Võ là thành viên Hội Ðồng Quản Trị Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tại Utah. Từ năm ngoái, tổ chức của ông đã dính líu tới một vụ kiện tụng với Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ.


Ðiểm tranh chấp trước tòa giữa hai bên là quyền sở hữu ngôi chùa Phật Giáo Việt Nam tại số 1185 W. 1000 North ở Salt Lake City. Cách nay 10 năm, Hội Phật Giáo Việt Nam ở Utah đã đồng ý hiến tặng chùa này cho Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ, có trụ sở tại Monterey ở California nhằm để giữ cho an toàn và cung cấp hướng dẫn tinh thần. Nhưng vào năm 2010, ngôi chùa này đã được chuyển nhượng qua cho Thầy Thích Trí Lãng mà không có thông báo cho phía Phật tử chùa ở Utah biết. Hồi Tháng Mười năm 2011, Thầy Thích Trí Lãng đã trục xuất tất cả các thành viên Phật tử Utah ra khỏi ngôi chùa, và ngôi chùa chỉ có một số ít các đệ tử tại địa phương của vị tu sĩ này đến sử dụng. Quan tòa tại Utah đã ra lệnh cho hai bên phải chia sẻ quyền sử dụng ngôi chùa để chờ đợi kết quả thủ tục tố tụng liên quan tới vụ tranh chấp ngôi chùa.



Ông Võ cho biết các tài liệu tòa án mà ông chuẩn bị trao cho luật sư của mình đã bị lấy mất trong vụ trộm này. Quân gian còn lấy đi một phong bì, bên ngoài có ghi hàng chữ Tiền Gây Quỹ Chùa Phổ Quang, và bên trong đựng số tiền 2,300 Mỹ kim, cùng với một két sắt rất nặng nhưng không có gì trong đó.


Luật sư đại diện Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ, qua một bản tuyên bố, cho biết họ không dính dáng gì tới vụ trộm hồi tuần trước. (Theo Sandra Yi, Deseret News, Sept. 24, 2012)

Báo Người Việt Utah tiếp xúc với Thống Ðốc Utah nhân Hội Nghị Thượng Ðỉnh Y Tế Thường Niên Lần 2

 


Thanh Nguyên/Người Việt Utah


 


SALT LAKE CITY (UT) –Thứ Ba, ngày 25 tháng 9 năm 2012 vừa qua, Tuần Báo Người Việt Utah được mời đến tham dự Hội Nghị Thượng Ðỉnh Y Tế Sức Khỏe Thường Niên Lần Thứ 2 do Thống Ðốc tiểu bang Utah Gary R. Herbert tổ chức tại Grand America Hotel, thành phố Salt Lake City, Utah.









Ông Võ Thanh Hòa, chủ nhiệm Tuần Báo Người Việt Utah tiếp xúc với Thống Ðốc Gary R. Herbert về chương trình cải cách y tế sức khỏe của tiểu bang Utah.


Hội Nghị Y Tế Sức Khỏe đã qui tụ hơn 500 cán bộ y tế cao cấp, các nhà lãnh đạo và các chuyên gia sức khỏe tiểu bang nhằm mục đích cải thiện hệ thống chăm sóc sức khỏe và những thách thức của y tế trong tiểu bang.


Trong dịp này, tuần báo Người Việt Utah đã tiếp xúc với Thống Ðốc Herbert về những mối lo lắng của cộng đồng người Việt tại Utah là sự thay đổi hệ thống chăm sóc sức khỏe của tiểu bang không đủ để giúp đỡ những gia đình có mức thu nhập thấp, các cơ sở kinh doanh nhỏ của người Việt không có bảo hiểm và không có khả năng mua bảo hiểm vì mức chi phí mua bảo hiểm quá cao.


Thống Ðốc Gary Herbert nói với hơn 500 người tham dự trong buổi Hội Nghị Thượng Ðỉnh Y Tế Sức Khỏe thường niên lần thứ hai của mình vào thứ Ba vừa qua, rằng ông đang thực hiện cách “chờ và xem” để thực hiện các quy định của Ðạo Luật Bảo Vệ Bệnh Nhân và Chăm Sóc Hợp Lý (Patient Protection and Affordable Care Act), đã được ký thành luật liên bang trong năm 2010 và đã trình lên Tòa án Tối cao hồi đầu năm nay.









Bà Victoria Ðặng của Tuần Báo Người Việt Utah tiếp xúc với Thống Ðốc Herbert về những lo lắng của cộng đồng người Việt về chi phí bảo hiểm sức khỏe quá cao.


Nói về chủ đề thực hiện cải cách y tế sức khỏe của liên bang, Thống Ðốc Herbert nhắc lại rằng ông đang chờ đợi cho đến sau cuộc bầu cử tháng 11 để có những quyết định quan trọng, chẳng hạn như việc mở rộng chương trình Medicaid để có thể đáp ứng nhu cầu sức khỏe cho người nghèo trong tiểu bang.


Thống Ðốc Herbert nói rằng cuộc bầu cử sắp tới sẽ có rất nhiều ảnh hưởng đến hướng đi mới của đất nước Hoa Kỳ và “tập trung số 1 của tôi là phát triển nền kinh tế. Nếu chúng ta thực hiện tốt điều này, thì tất cả mọi thứ khác sẽ đâu vào đó. Tất cả chúng ta đều có thể đủ khả năng để có bảo hiểm sức khỏe.”

Nồng nàn hương vị nhân sâm Hoa Kỳ

 


Người Việt Ðông Bắc


 


Gần đây, nhân sâm trở thành một thương phẩm phổ biến. Với sự quảng bá không ngừng của sâm Cao Ly trên các phương tiện truyền thông, văn hóa nhân sâm trở nên lan tỏa sâu rộng trong cộng đồng Việt Nam.










Sâm Hoa Kỳ Chính Thống theo tiêu chuẩn Bộ Nông Nghiệp Hoa Kỳ USDA phải có dấu hiệu Ðại Bàng này bảo chứng.


Khác với sâm Cao Ly mà Hàn Quốc thường xem như là bảo vật quốc gia được nước này dùng như là sứ giả quảng bá văn minh văn hóa của Ðại Hàn Dân Quốc, nước Mỹ xem sâm Hoa Kỳ như là nông sản và không chú trọng tới giá trị tinh thần như Ðông Á.


Sâm Hoa Kỳ trồng tại Wisconsin được coi là loại bạch sâm tốt nhất hiện nay thì bị hạn ngạch rất khó vào thị trường Hàn Quốc và Trung Quốc. Trong lúc đó sâm Hoa Kỳ trồng tại Trung Quốc thì tha hồ nhập khẩu vào nước Mỹ. Nhiều người Việt Nam nghe đến sâm Hoa Kỳ trong sự phân vân không biết sâm Hoa Kỳ quốc hiệu của nước Mỹ hay chỉ là danh pháp của một loài sâm.


Sâm Hoa Kỳ thực sự là một trong hai loại quốc sâm hiện nay trên thế giới và là loại kỳ hoa dị thảo đặc hữu của núi rừng Bắc Mỹ. Với dược tính và phẩm chất cao quý mọc trên núi rừng trinh nguyên của miền Trung Tây, sâm Hoa Kỳ được xem như là loại thuốc bổ không thể thiếu trong công nghiệp dược phẩm. Khi đem sâm này trồng các nơi khác thì thể trạng và phẩm chất bị sa sút. Do đó sâm Hoa Kỳ trồng tại Trung Quốc thì không còn được tiếng sâm Hoa Kỳ đúng nghĩa. Gần đây, các nhà bào chế thuốc Trung Quốc thường gọi hoạt chất này trong tây dương sâm coi như là một cách gọi khác của sâm Hoa Kỳ.


Khi một số nhà truyền giáo khám phá ra loại sâm này và đưa sang Hồng Kông vào thời thuộc địa của Anh Quốc, cùng với sự di dân lao động của người Trung Quốc thì cũng đồng nghĩa với sự bên bờ tuyệt chủng của loài sâm hoang dã của miền Trung Tây Hoa Kỳ và Canada. Ngày nay, sâm Hoa Kỳ hoang dã được liệt vào loài thực vật có nguy cơ tuyệt chủng, không được khai thác bừa bãi. Trong lúc đó các nông trường trồng sâm của Wisconsin cũng đang bị người Trung Quốc ngấp nghé.


 


Tiêu chuẩn sâm Hoa Kỳ


 


Sâm Hoa Kỳ trồng tại Wisconsin có thể trạng, màu sắc và hương vị khác biệt khiến sâm trồng tại Trung Quốc có vỏ đen không thể nào so sánh. Hiện nay, sâm Hoa Kỳ trên thị trường có xu hướng pha trộn để lấy hương vị chứ rất ít cửa hàng bán sâm thuần khiết. Người Mỹ không hề biết quảng bá cho sản phẩm của nước mình mà hoàn toàn để thị trường Trung Quốc khống chế và quyết định.










Mùi sâm được phong kín cho đến khi mở gói trà sâm ra.


Ở Canada, sâm Hoa Kỳ không được trồng không theo quy chuẩn nhất định. Các nông gia có thể tưới nước để cho ra những củ sâm to mập nhìn bắt mắt nhưng nhân sâm có “đạo lý tồn tại” riêng. Nhân sâm như con người phải chịu đựng qua gian nan cam khổ mới là nhân sâm tốt. Khách hàng Trung Quốc hiện nay là người biết ăn sâm nhất do đó sâm Hoa Kỳ chính thống tại Wisconsin hiện nay là món hàng cao lương mỹ vị tại Trung Quốc.


Nhân sâm cũng có khi được đặt trên bàn mậu dịch để Trung Quốc có thể nói rằng đây là món họ phải nhập cảng từ Hoa Kỳ. Tuy nhiên, để bảo đảm cho nhân sâm Trung Quốc có cửa ra, Bộ Nông Nghiệp Trung Quốc cũng tìm cách khống chế bằng hạn ngạch nhằm xóa nhòa biên giới phẩm chất giữa vùng sâm nguyên thủy và sâm tái tạo.


Sâm Hoa Kỳ tại Wisconsin hiện nay được bảo chứng qua Ủy Hội Nhân Sâm và Thảo Mộc với ấn bài Ðại Bàng được xem là tiêu chuẩn danh giá nhất có USDA bảo chứng. Ấn bài này gây tiếng vang bởi vì vào năm 2007, Mayo Clinics ở Roschester, Minnesota đã dùng sâm viên để nghiên cứu như là thuốc bồi bổ cho bệnh nhân ung thư.


Hoạt chất ginsenocides trong sâm Hoa Kỳ có nhiều tác dụng bồi bổ và phục hoạt chức năng quan trọng. Ðây là thứ sâm để bồi bổ phục hoạt chức năng và tăng lực chứ không phải là mang tính trị liệu như nhiều ngành thảo mộc khác.


Kể từ khi loại sâm Hoa Kỳ được bảo chứng qua nghiên cứu,  Sâm Hoa Kỳ có dấu đại bàng trở thành dược liệu quý giá. Khác hàng Trung Quốc, Nhật Bản, Ðài Loan chỉ mua tìm loại sâm cao phẩm chất này.


Sâm Hoa Kỳ cũng ngấp nghé thị trường Việt Nam nhưng sự hỗn loạn cách làm làm ăn và các loại dược phẩm sâm từ Trung Quốc đã phá hỏng quan hệ. Thị trường nhân sâm ở Việt Nam để trống cho hồng sâm Cao Ly và sâm Hoa Kỳ trồng tại Trung Quốc.


Hương vị nhân sâm ở dạng củ hoặc dạng bào chế có thể phai nhạt theo thời gian, nhiều người khó lòng cảm nhận được. Nhưng hãy thử mở một gói trà nhân sâm 100% được bọc trong giấy kín của Sâm Hoa Kỳ  thì sẽ thấy hương liệu chính tông này tuyệt vời như thế nào.









Ðây là loại sâm viên đã được thử nghiệm chống mệt mỏi hiệu quả cho bệnh nhân ung thư. Thí nghiệm do Mayo Clinics báo cáo năm 2007-2008.


Ở Philadlephia, có tiệm Phở Hà Sài Gòn trên đường Oregon gần đây đã dùng vị sâm Hoa Kỳ để nấu phở tạo nên món phở hương vị độc nhất vô nhị. Với bí quyết sắc nước sâm không tạo màu sắc chỉ tạo hương vị của bà chủ tiệm, món phở gà nhân sâm của Phở Hà Sài Gòn đã lan tỏa trở thành món phở gà ngon nhất tại Philadelphia hiện nay.


Hiện nay, sâm Hoa Kỳ chính hiệu Wisconsin ấn bài Ðại Bàng hiện nay chỉ được bán giới hạn theo dạng trà và thuốc viên tại Philadelphia qua ba cửa hàng Dân Khang, Hoa Sanh Ðường và chợ Bến Thành ở đường Oregon và thẩm mỹ viện Yumi trong khu chợ Bến Thành.


Trong tương lai, khi mọi người Việt nhận ra Bạch Sâm Hoa Kỳ chính là món quà quý giá mà thiên nhiên ban tặng cho nước Mỹ, thị trường nhân sâm hứa hẹn sẽ mở rộng hơn không để sâm Trung Quốc độc chiếm như hiện nay.

Gương mặt nghệ sĩ trong làng văn nghệ tại Philadelphia

 


Người Việt Ðông Bắc


 


Cách đây hai tuần, trong một chương trình văn nghệ tại Harrah’s, khán giả ở Philadelphia được thưởng thức một giọng ca ngọt ngào của nữ ca sĩ mang tên Hoa Tường Vi. Ấn tượng trình diễn thật sâu sắc vừa có nét của Phương Mai lúc hát nhạc vàng và ca sĩ Tâm Ðoan hợp lại.










Cặp đôi MC Thái Hoàng và Thanh Hằng trên sân khấu Harrah’s Philadelphia.


Nhiều người tưởng Hoa Tường Vi là nhóm ca sĩ chuyên nghiệp đến từ California nhưng ít ai biết được rằng đây là ca sĩ mới sang định cư ở Philadelphia và quyết tâm theo sự nghiệp ca hát.


Hoa Tường Vi cũng vừa lọt vào danh sách V-Star do Trung Tâm Thúy Nga tổ chức. Với chương trình văn nghệ càng lúc càng nhiều, Hoa Tường Vi như đã xác định vị trí sân khấu và quyết chọn Philadelphia làm nơi phát triển sự nghiệp.


Trước đây nhiều ca sĩ tài danh trong làng ca nhạc hải ngoại như Như Quỳnh và Andy Quách đều bỏ Philadelphia dọn sang Califonia để luyện tập rồi tỏa sáng trong lãnh vực âm nhạc. Tuy nhiên, hiện nay sân khấu và cơ hội trình diễn của Philadelphia rất có quy mô và sự chuyên nghiệp của các ban nhạc Kenny Brothers không kém gì các ban nhạc lớn ở Califonia nên nhiều tài danh văn nghệ sẽ chọn đây làm nơi thử sức. Sân khấu lớn, âm thanh ánh sáng chuyên nghiệp, chỉ cần điều chỉnh một chút về kỹ thuật thu hình là các ca sĩ mới nổi cũng có thể quay hình tung lên YouTube để quảng bá.


Ca sĩ Huy Vũ cũng từng nói về quá trình gây dựng sự nghiệp ca hát bằng MTV mà không phải là ca sĩ độc quyền của một trung tâm nào.


Với ưu thế ngoại hình xinh đẹp và giọng hát điêu luyện, Hoa Tường Vi chọn trường phái nhạc trữ tình khiến nhiều người cũng rất ngạc nhiên. Theo ghi nhận chung, dung mạo và giọng hát của Hoa Tường Vi chắc chắn sẽ có khán giả.


Không cần phải đi xa, nhiều tài năng địa phương đang ngấp nghé muốn trình diễn tại Harrah’s Philadelphia là cơ hội âm nhạc mới. Chỉ cần xuất hiện trên sân khấu lớn này một lần là cũng có thể tạo nên dấu ấn bước vào con đường nghệ thuật.


 


Ðến tài nghệ MC ở Philadelphia


 


Bởi các chương trình ca nhạc càng lúc càng quy mô hẳn lên do đó tài nghệ MC cũng có đất sống. Trong lúc chương trình đại nhạc hội tầm vừa, người ta chưa cần tới những MC như Nguyễn Ngọc Ngạn hoặc Nguyễn Cao Kỳ Duyên. MC chỉ đóng vai trò vừa dẫn chương trình vừa trám vào khoảng trống của sân khấu, đôi MC Thái Hoàng và Thanh Hằng đến từ New Jersey chợt nổi bật lên như một hiện tượng. Có lúc nhiều MC không chuyên nghiệp, chỉ lố một chút là làm hỏng chương trình nhưng hai vợ chồng Thái Hoàng và Thanh Hằng thì rất khác như “trời sinh một cặp.” Cả hai đều biết ca hát, pha trò và có thể “tạp kỹ” một cách tự nhiên mà nhiều cặp danh hài cũng không thể chuyển cảnh sân khấu một cách dễ dàng như thế.


Thật vậy, nếu không có tài làm MC thì cả hai vợ chồng Thái Hoàng và Thanh Hằng cũng có thể làm ca sĩ. Thái Hoàng có thể vừa giới thiệu chương trình và có thể ngẫu hứng rất tự nhiên với các tiết mục hợp xướng cùng ca sĩ. Ðây thực sự là một điều mới mẻ làm chương trình ca nhạc luôn luôn đặc biệt.


Trong thế giới âm nhạc với vô số giai điệu, Philadelphia nay trở thành địa điểm mới tỏa sáng khắp vùng Ðông Bắc. Hiện nay truyền thông khắp nơi lên cơn sốt, Khánh Ly về hay không về Việt Nam hát. Ca sĩ Khánh Ly cứ trả lời một cách đưa đẩy khiến không ai biết nữ danh ca này có về hay không? Theo tin tức bên trong thì không về đâu nhưng không muốn nói dứt khoát vị ngại mất lòng bạn bè nạp đơn xin giùm mà Khánh Ly cũng không hề biết. Nhưng chắc chắn Khánh Ly sẽ về Philadelphia trong tháng ngày 4 tháng 11 này. Sự kiện này lại đưa sân khấu Philadelphia lên một địa điểm sáng giá mới


Có thể nói rằng, sân khấu ở Philadelphia có thể tạo nên những tài danh nghệ thuật mới. Trong sự lạc quan của các bầu show ở đây, một ngày không xa, các tiểu bang khác sẽ chọn ca sĩ tại Philadelphia và New Jersey.










Ca sĩ Hoa Tường Vi trước giờ trình diễn.


Hoa Tường Vi hiện nay vừa luyện tập ca hát và vừa là chủ tiệm tóc trong khu Oregon. Nếu ai đến khu chợ này Bến Thành-Oregon vào ngày thường thì rất có khả năng gặp nữ ca sĩ khả ái đang thấp thoáng làm receptionist trong tiệm tóc tên là LyVi.


Thái Hoàng là dược sĩ còn Thanh Hằng là chuyên viên cố vấn tài chánh. Nghề nghiệp ổn định nhưng sức thu hút về sân khấu cũng rất đặc biệt khiến hai hai vợ chồng này luôn luôn bận rộn vào cuối tuần.


Tuy nhiên, để muốn khẳng định vị trí trên sân khấu lâu dài, những tài nghệ ở Philadelphia đều muốn khán giả ghi nhận họ là những ca sĩ, MC mang tính chuyên nghiệp.

Sinh Khí Mới Tại Giáo Xứ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam ở Arlington, Virginia

 


Trần Đông Đức/Người Việt Ðông Bắc


 


Giáo Xứ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam ở Arlington, Virginia vừa có cha xứ mới, linh mục Hoàng Văn Thiên. Đây là một tin vui cho cộng đồng người Việt ở thủ đô Washington DC, Virginia, Maryland và các vùng phụ cận.










Cha Xứ của giáo xứ Các Thánh Tử Ðạo Việt Nam, Hoàng Văn Thiên.


Giáo dân ở vùng thủ đô Washington DC lúc mới sang Mỹ tỵ nạn vào năm 75 vẫn còn nhớ đến hình ảnh Cha Nhất – linh mục Trần Duy Nhất, trước năm 75 từng là Đại Úy Tuyên Úy QLVNCH. Cha Nhất là người gây dựng Giáo Xứ cho người Công Giáo Việt Nam, củng cố sinh hoạt cộng đồng giáo dân mà ngày nay là Giáo Xứ Các Thánh Tử Đạo.


Cha Nhất cũng là một nhà hoạt động cộng đồng đầy nhiệt huyết. Trong các phong trào chống cộng vào thập niên 80, Cha Trần Duy Nhất luôn luôn là người dẫn đầu tạo nên những kết nối cộng đồng quan trọng vào thời điểm đó.


“Việc Cha Nhất đột ngột qua đời vào năm 1984 ở tuổi 43 đã để lại bao nhiêu thương tiếc cùng những  ước mơ và khát vọng về Việt Nam đến nay vẫn còn chưa dứt”. Người cháu của Cha Nhất là ông Nguyễn Huy Hùng hồi tưởng lại.


Sau khi Cha Nhất qua đời, tất cả công việc trị sự của nhà thờ đều về tay một ông Trùm (ngôn ngữ trong nhà thờ Công Giáo). Nghịch cảnh thay, ông Trùm lại có vấn đề sâu kín để tránh né các xu hướng mang tính lý tưởng của đồng bào giáo dân Công Giáo Việt Nam. Sau này giáo dân trong vùng còn phát hiện con gái ông Trùm làm việc với tòa đại sứ CSVN do đó mọi người đi đến kết luận “không lạ gì là các hoạt động cộng đồng mang tính lập trường Người Việt Quốc Gia vì sao đã không có đất hoạt động ở giáo xứ này”.











Tiền sảnh của giáo xứ Các Thánh Tử Ðạo Việt Nam ở Virginia.


Đây thực sự là điều đáng tiếc vì các phong trào đấu tranh với chế độ cộng sản thực sự là một chuỗi liên kết cộng đồng tạo nên bản sắc văn hóa của người Việt tại Hoa Kỳ. Khi nhà thờ không có lập trường cho các hoạt động xã hội thì tất cả các động lực đấu tranh cho công bằng và đạo lý đều bị phân tán. Bà Minh Ngọc, một giáo dân ở đây diễn tả nỗi buồn trong mấy chục năm qua với một cảm xúc sâu thẳm của người Công Giáo chống cộng.


Thế rồi gần đây, mọi chuyện đã thay đổi. Vị linh mục mới là Hoàng Văn Thiên vốn là một Cựu Tù nhân Chính Trị, qua Mỹ theo diện H.O.. Ngài vừa nhận chức chủ chăn trong Chủ Nhật vừa qua đã tạo nên bầu không khí mới đầy sức lôi cuốn và thuyết phục. Những tuần lễ trước nhậm chức, việc hàng ngàn người của nhiều tôn giáo tụ tập về giáo xứ ký tên cho phong trào đòi lại nhà đất tại Việt Nam do tổ chức BPSOS của tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng khởi xướng đã làm Giáo Xứ Thánh Tử Đạo như có luồng sinh khí mới về mặt hoà mình vào các sinh hoạt cộng đồng. Bà Minh Ngọc và ông Nguyễn Huy Hùng như cảm thấy đ ư ợc trở lại không khí của nhà thờ như lúc ban đầu gây dựng theo ý nguyện của Cha Chủ Xứ Trần Duy Nhất.


Được thụ phong linh mục vào năm 1972, Cha Hoàng Văn Thiên cũng là một Sĩ Quan Tuyên Úy QLVNCH. Kinh nghiệm này như là một sợ dây nối lại ý nguyện của người đặt đền móng cho Giáo Xứ.










Ông Nguyễn Huy Hùng cháu ruột của cha xứ Trần Duy Nhất, người đã có công dựng lên giáo xứ Các Thánh Tử Ðạo Việt Nam từ những thập niên 70-80.


Giáo Xứ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam ở Arlington cũng là một cơ sở tôn giáo quy mô của đồng bào Công Giáo Việt Nam. Trong quá khứ, Giáo Xứ thường bị chỉ trích là quá né tránh các chương trình xã hội mang tính  ý nguyên của cộng đồng. Thực tế là đa số giáo dân Việt Nam đều có một thái độ chính trị với chế độ cộng sản ở quê nhà. Trong khuôn viên nhà thờ, nếu lấy danh nghĩa tôn giáo mà né tránh thì không phù hợp với đạo lý lòng người. Mọi người tin rằng, khi vị chủ xứ là Cha Hoàng Văn Thiên thì mọi việc sẽ thay đổi.


Linh Mục Hoàng Văn Thiên đã trải qua những năm tháng tù đày trong lao tù cộng sản cho biết Ngài cố gắng sống mẫu mực theo tư cách của Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận, vừa là tín hữu trung thành của Thiên Chúa và đem lòng thành đối với tình yêu quê hương đất nước. Ngài hy vọng qua cơ sở giáo dục và đạo đức về niềm tin, người Công Giáo trong và ngoài nước Việt Nam sẽ nối kết và cất cao tiếng nói lương tri trước tình hình đất nước hiện nay.



 


 

Lợn què thành lợn lành – Kỹ nghệ vỗ xe ở đường Essington

 


Người Việt Ðông Bắc


 


Trên đại lộ Essington, đoạn đi ra phi trường Philadelphia International Airport có rất nhiều đại lý xe hơi. Lọt giữa các đại lý này là một tiệm vỗ xe do người Việt làm chủ. Chúng tôi gọi đây là tiệm vỗ xe vì không có từ nào để diễn tả công nghệ “biến méo mó thành lành lặn” này.










Chủ cơ sở sửa xe hơi Essington Auto Center, anh Tuấn Cường nói rằng sửa xe hơi là một đam mê nghề nghiệp.


Xe vào bãi này thực sự như một đàn lợn què sau các vụ tai nạn bị dị dạng như những bó rau héo  nhưng khi ra khỏi nơi đây sẽ láng cóng có thần thái riêng biệt.


Chủ nhân của cơ sở này là anh Cường cho biết đây là sự kết hợp giữa chuyên môn cộng với đam mê nghề nghiệp. Sửa xe cũng cần có chút năng khiếu mỹ thuật và nghệ thuật. Những chiếc xe sau tai nạn nhìn như là phế vật nhưng qua tay anh Cường của Essington Auto Center, mọi thứ có thể phục hồi thành những chiến mã trên đường phố.


Thú chơi xe của người gốc Á ở Philadelphia cũng tạo nên những cá tính mang hơi hướng “thần phong” không khác gì phong cách đầy màu sắc của Mỹ Latin hay là xe có hệ thống âm thanh gầm rú xập xình như kiểu người Da Đen.


Lê Mạnh Hùng một người có niềm đam mê xe hơi cho biết xe Việt Nam cũng có phong cách riêng. Khi có tiền thì anh Hùng sẽ mua các loại xe hỏng về tháo máy móc ra rồi ráp lại để làm thành những chiếc xe có một không hai trên đường phố.


Tìm hiểu về thế giới của những người thợ sửa xe xem ra cũng là một thứ đẳng cấp được đánh giá cao trong chốn giang hồ. Nhiều người khi mê mệt với máy móc xe hơi khi chúng sự bàn tán với nhau không khác gì chuyện đàn ông tìm hiểu về đàn bà. Tại sao nó kêu kiểu này mà không kêu kiểu khác. Một sự tìm tòi và cảm nhận về kỹ thuật mang tính chất kích thích trí tuệ cao.


Lê Mạnh Hùng còn cho biết, nhiều người bị hư xe thường tìm đến anh để hỏi anh với mối lo ngại rằng sẽ bị các dealer sửa xe “chém đẹp”. Anh Hùng trở thành một nơi tư vấn giúp bạn bè và bà con đạt được quyền lợi. Tiếng lành đồn xa. Nhiều người giao xe cho anh Hùng sửa và chịu các khoản phụ phí về thời gian. “Tuyệt đối không đưa xe vào dealer Mỹ sửa khống khi bạn không biết tình trạng thật sự.” anh Hùng khuyến cáo.











Khuôn mặt thật thà và dễ tin của Lê Mạnh Hùng làm nhiều người phải nhờ anh đánh giá xe hơi trước khi ra dealer.



Nắm được yếu tố tâm lý này, Essington Auto Center củng cố niềm tin của khách hàng nhằm xóa bỏ hết những chướng ngại về mặt tâm lý “sợ bị lừa” của khách hàng. Xét cho cùng, đây là tiệm mua bán xe cũ trong thế giới đại lý xe hơi sang trọng. Khách hàng tự thân là những người gặp nghịch cảnh và thường bị một số giới hạn về điều kiện và tài chánh. 


Thường là sau khi bị bị tai tạn, khách hàng thường gọi công ty bảo hiểm nhưng chưa chắc biết rõ hết các điều khoản về quyền lợi do đó thường có những quyết định thiệt thòi. Essington Auto Center sẽ là nơi tư vấn và có thể mượn cả tiền ứng trước, giúp đỡ tiền sửa xe và mua xe mau chóng. Essington Auto Center có thể thu mua các “phế vật” để làm lại từ đầu.


Anh Cường cho biết, tai nạn xe hơi là một phần của đời sống Hoa Kỳ do vậy mà công ty bảo hiểm mới là huyết mạch của nền kinh tế. Anh Cường khuyến khích khách hàng Việt Nam không nên lo ngại khi bị tai nạn hay gặp trục trặc bất cứ vấn đề gì về xe hơi khi đến với cơ sở Essington Auto Center. Đây là cơ sở kinh doanh đấu tranh quyền lợi cho khách hàng từ công ty bảo hiểm. 


Anh Cường cho biết mùa Đông sắp tới, xe hơi thường sẽ gặp nhiều chướng ngại về máy móc hơn mùa hè. Chỉ những mẹo vặt dù rất nhỏ, nếu biết chuẩn sớm bị cũng sẽ giúp cho mọi người tránh được những phiền toái lớn ví dụ như điều chỉnh máy sưởi hay kiểm tra hộp thắng.











Quanh cảnh vỗ một chiếc xe BMW bên trong Essington Auto Center.



Nổi tiếng là người hào phóng trong giới chơi xe, trong mùa Đông này cơ sở thương mại Esssington Auto Center của Cường sẽ có chương trình thay dầu nhớt miễn phí cho 200 khách hàng. Đây là cơ hội tốt cho mọi người tiếp xúc với cơ sở thương mại chuyên tái tạo những chiếc xe làm đẹp đường phố. Qua đó, nếu khách hàng Việt Nam cũng sẽ sự tận tâm và sự chu đáo của những người thợ chuyên nghiệp yêu nghề.


Giữa đoạn đường dài rộng, cơ man là xe hơi, Essington Auto Center có khả năng là nơi tin tưởng của người Việt Nam.  Có nhiều người già hoặc phụ nữ  khi gặp trục trặc hay tai nạn xe hơi, thực sự không biết gọi vào đâu mà không tỏ ra lo lắng. Essington Auto Center mong muốn sẽ nhu cầu đáp ứng cho mọi người trong những hoàn cảnh như thế này.


Cơ sở của anh Cường luôn mong muốn là nơi tin cậy nhất để mọi người kiểm tra lại xe hơi khi mùa Đông giá lạnh của miền Đông Bắc sắp đến. Số điện thoại của Essington Auto Center là 215-365-8981.



 


 


 

Alexis Zorba con người chịu chơi (Kỳ 57)


Không biết từ đời thuở nào tôi đã vô cùng ái mộ nền văn minh Hy Lạp. Hy Lạp với những đền đài uy nghi tráng lệ song lại rất giản đơn, thanh nhã. Hy Lạp với những thần linh uy mãnh song lại mỹ miều như những con người ngọc và đầy đam mê rất người. Và rồi dưới ảnh hưởng của Nietzsche, tôi biết ái mộ thêm tinh thần sáng lóa, tinh khôi của thiên tài Hy Lạp, biểu lộ một cách bi tráng, lẫm liệt qua những bi kịch gia vĩ đại, những triết gia độc đáo tiền Socrates, Plato. Cuối cùng, Henry Miller với cuốn du ký tuyệt vời “The Clossus of Maroussi” đã đưa tôi vào những vườn olive, vườn chanh thơm ngát bên bờ biển, gặp gỡ những người Hy Lạp đầy sức sống, nồng nàn tình người.


Với tình yêu Hy Lạp đó tôi đã dịch Alexis Zorba vào năm 1969.


Nguyễn Hữu Hiệu


 


Kỳ 57


 


13


 


Ba ngày, bốn ngày, năm ngày trôi qua: Zorba vẫn biệt tăm.


Ngày thứ sáu, tôi nhận được một lá thư dầy từ Candia gửi về, đúng là một lá thư dông dài huyên thuyên nói chuyện trên trời dưới đất. Thư được viết trên những tờ giấy hồng thơm phức và trong góc tờ giấy có hình một trái tim bị một mũi tên xuyên qua.


Tôi cẩn thận giữ gìn nó và tôi ghi lại một cách trung thành, giữ tất cả những thành ngữ trau chuốt rải rác đây đó trong thư. Tôi chỉ sửa lại những lỗi chính tả đáng yêu, Zorba cầm bút như một cái cuốc, hắn tấn công tờ giấy một cách tàn bạo, vì thế, tờ giấy thủng nhiều lỗ và bắn đầy mực.


Kính thưa ông chủ, nhà tư bản!


“Tôi cầm bút trước hết để hỏi xem sức khỏe của ông có được dồi dào như ý, còn về phần chúng tôi, cảm ơn Thượng Ðế, chúng tôi vẫn được như thường.


“Lâu nay tôi ý thức được rằng tôi không đến thế gian này để trở thành một con ngựa hay một con bò. Chỉ có những con vật mới sống để ăn. Ðể thoát khỏi sự buộc tội trên, ngày đêm tôi tạo ra những công việc. Tôi phó mặc cơm áo hàng ngày cho một tư tưởng, tôi đảo ngược những phương ngôn tục ngữ và nói: ‘Thà làm con cuốc ốm nhom bơi lội trên ao hơn làm một con sẻ tròn quay trong lồng.’


“Nhiều kẻ là những nhà ái quốc và điều đó không nguy hại gì cho họ cả. Tôi không phải là một nhà ái quốc, và sẽ không bao giờ là một nhà ái quốc, dầu điều đó nguy hại cho tôi thế nào mặc lòng. Ða số tin vào Thiên Ðàng và giữ một con lừa cột chắc ở đây. Tôi không có lừa, tôi tự do; tôi không sợ địa ngục, nơi con lừa của tôi phải chết; tôi cũng không hy vọng ở Thiên Ðàng, nơi nó sẽ phè phỡn tọng đầy xa-trục thảo. Tôi không có học thức, tôi không biết diễn tả, như ông hiểu tôi, ông chủ.


“Nhiều kẻ sợ tính cách phù phiếm của sự vật! Tôi đã vượt qua điều đó. Nhiều kẻ suy nghĩ lao lung; tôi không cần suy nghĩ. Tôi không vui vẻ vì điều thiện cũng chẳng bực tức vì điều ác. Nếu tôi nghe nói người Hy Lạp đã lấy Constantinople, điều đó đối với tôi cũng chẳng khác nào người Thổ Nhĩ Kỳ đang chiếm Athenas.


“Nếu căn cứ vào những lời nói nhăng nói cuội của tôi, ông cho rằng tôi đã trở nên hư đốn, xin ông hãy viết cho tôi. Tôi tới những nhà hàng ở Candia mua dây cáp về làm đường sắt treo và tôi đùa cợt.


“Tại sao ông đùa cợt vậy, ông bạn? Người ta hỏi tôi. Nhưng làm sao có thể giải thích cho họ hiểu? Tôi cười bởi vì ngay lúc tôi dang tay ra để thử xem dây thép có tốt không, tôi nghĩ về bản thể con người, tại sao hắn đến trần gian này và hắn dùng để làm gì… không để làm gì hết, theo tôi. Không có gì khác biệt nếu tôi có vợ hay không có vợ, tôi lương thiện hay bất lương, tôi là quan Thổ Nhĩ Kỳ hay một tên phu khuân vác. Chỉ có tôi sống hay chết mới khác biệt mà thôi. Nếu ma quỉ hay Thượng Ðế triệu hồi tôi – ông muốn gì, ông chủ? đối với tôi ma quỉ và Thượng Ðế đều cá mè một lứa – tôi sẽ chết, tôi sẽ trở thành một xác chết hôi thối, tôi sẽ đầu độc mọi người và họ bắt buộc phải vùi tôi dưới ba tấc đất để khỏi chết ngạt.


“Nhân đây, tôi sắp hỏi ông một điều làm tôi sợ hãi – điều duy nhất – và nó không cho tôi an nghỉ ngày đêm: tôi sợ tuổi già, ông chủ. Cầu trời tránh cho chúng ta khỏi điều đó! Chết chóc không có nghĩa gì hết, chỉ phào! Một tiếng và ngọn nến tắt là xong. Nhưng tuổi già là một điều ô nhục.


“Tôi coi như một điều vô cùng nhục nhã khi phải thú nhận rằng mình già, và tôi cố gắng hết sức để người không biết rằng mình già: tôi nhẩy nhót, khiêu vũ, thận tôi đau xóc, nhưng tôi vẫn nhẩy. Tôi nhậu, tôi choáng váng, trời đất quay cuồng nhưng tôi không chịu ngồi xuống, và tôi làm như không hề hấn gì. Tôi vã mồ hôi, tôi nhào xuống biển, tôi cảm lạnh, tôi muốn ho gu! Gu! Cho thoải mái, nhưng tôi xấu hổ, ông chủ, tôi dằn cơn ho. Có bao giờ ông nghe thấy tôi ho không? Không bao giờ! Và không phải chỉ khi có mặt người khác, như người ta nghĩ, mà cả khi chỉ có một mình tôi nữa, tôi cũng không ho. Tôi xấu hổ trước Zorba, ông chủ, tôi xấu hổ trước hắn!


“Một hôm, trên núi Athos – bởi tôi cũng có lên đó nữa, và tôi thà chặt bàn tay phải còn khỏe hơn! – tôi gặp một tu sĩ, Cha Lavrentio, sinh quán ở Chios. Thật là một kẻ đáng thương, lão tưởng đó là một quỉ trong lão và lão đặt tên nó là Hodja. ‘Hodja muốn ăn thịt ngày Thứ Sáu thiêng liêng! Cha Lavrentio đáng thương vừa rống lên vừa đập đầu xuống thềm nhà thờ. Hodja muốn ngủ với một người đàn bà, Hodja muốn giết tu viện trưởng. Ðó là Hodja, chứ không phải tôi!’ Và lão đập đầu trên tảng đá.


“Tôi cũng vậy, ông chủ, tôi cũng có một con quỉ trong tôi và tôi gọi nó là Zorba. Tên Zorba bên trong không muốn già chút nào, và hắn không già, sẽ mãi mãi không già. Hắn là một ông ngáo ộp, tóc đen như mun, có ba mươi hai số (số: 32) răng, và một con mắt nhỏ đỏ đòng đọc sau tai. Nhưng tên Zorba bên ngoài, gã vô phước đó, hơi già đi và có vài sợi tóc bạc. Hắn teo lại và nhăn nheo, răng hắn rụng và cái tai voi của hắn đầy lông trắng của tuổi già, những cái lông dài!”

Alexis Zorba con người chịu chơi (Kỳ 56)

 


Không biết từ đời thuở nào tôi đã vô cùng ái mộ nền văn minh Hy Lạp. Hy Lạp với những đền đài uy nghi tráng lệ song lại rất giản đơn, thanh nhã. Hy Lạp với những thần linh uy mãnh song lại mỹ miều như những con người ngọc và đầy đam mê rất người. Và rồi dưới ảnh hưởng của Nietzsche, tôi biết ái mộ thêm tinh thần sáng lóa, tinh khôi của thiên tài Hy Lạp, biểu lộ một cách bi tráng, lẫm liệt qua những bi kịch gia vĩ đại, những triết gia độc đáo tiền Socrates, Plato. Cuối cùng, Henry Miller với cuốn du ký tuyệt vời “The Clossus of Maroussi” đã đưa tôi vào những vườn olive, vườn chanh thơm ngát bên bờ biển, gặp gỡ những người Hy Lạp đầy sức sống, nồng nàn tình người.


Với tình yêu Hy Lạp đó tôi đã dịch Alexis Zorba vào năm 1969.


Nguyễn Hữu Hiệu


 


Kỳ 56


 


“Tôi đi khắp các tỉnh, các làng, tôi tập trung dân Hy Lạp, tôi viết báo cáo và điện tín, tôi cố gắng tìm cách khiến những sĩ quan hải quân của chúng ta ở Nhã-Ðiển gửi tầu bè, thực phẩm, quần áo, thuốc men đến và chuyên chở những sinh vật khốn khổ này về Hy Lạp.


  Nếu chiến đấu với nhiệt tình và lòng kiên quyết là hạnh phúc, thì tôi hạnh phúc. Chẳng biết có phải tôi đã ‘thửa’ hạnh phúc tôi theo vóc dáng của tôi như thầy đã nói đó không; lạy trời, bởi vì nếu thế tôi có một vóc dáng vĩ đại. Tôi còn muốn trải cái vóc dáng của tôi với những biên cương xa tắp của Hy Lạp đồng thời cũng là giới hạn của hạnh phúc tôi. Nhưng thôi, dẹp lý thuyết đi! Thầy đang nằm dài trên bờ biển Crete, thầy nghe biển và đàn santuri, thầy có thì giờ, tôi thì không. Tôi bị ngấu nghiến bởi hành động và tôi sung sướng vì điều đó. Hành động, thầy bất động thân mến của tôi, hoạt động không có một sự cứu chuộc nào khác.


“Ðề tài suy tưởng của tôi bây giờ, quả thực, rất đơn giản và hợp nhất, tôi tự nhủ: dân ở Pontus và dân Caucasus, nông dân ở Kars, thương gia lớn bé ở Tiflis, Batum, Navo Rossik, Rostov, Odessa, Crimea là đồng bào ta, họ là máu mủ ta: đối với họ cũng như đối với chúng ta, kinh đô Hy Lạp là Constantinople. Chúng ta cùng có một lãnh tụ. Thầy gọi người là Udysseus, những người khác gọi là Constantinos Palaeologos (*) – không phải người đã bị giết ở dưới chân thành Byzantium, nhưng là người khác, người đã hóa thành cẩm thạch và vẫn còn đang đứng trơ trơ chờ Thiên Thần Tự Do. Xin thầy cho phép, tôi gọi vị lãnh tụ của dòng giống chúng ta là Acritas (**).Tôi thích tên này hơn; nó có vẻ khắc khổ và hiếu chiến hơn. Khi nào tôi nghe thấy nhắc tới tên đó, tôi cảm thấy trong tôi hình ảnh của Hellene vĩnh cửu vươn lên, võ trang cùng mình, đang chiến đấu không ngừng trên những quan ải, biên giới. Trên tất cả mọi biên giới: quốc gia, trí thức, tinh thần. Và nếu người ta thêm Degenis, người ta càng vẽ dòng giống chúng ta một cách hoàn hảo hơn, cái tổng hợp kỳ diệu giữa Ðông Phương và Tây Phương này.


“Bây giờ tôi đang ở Kars; tôi đến để tập trung dân Hy Lạp ở tất cả những làng mạc lân cận. Chính hôm tôi tới, dân Kurds đã bắt giữ trong vùng Kars một linh mục và một giáo viên Hy Lạp và đã đóng móng họ như những con la. Những vị linh mục sợ hãi đã trốn cả vào trong nhà tôi ở trọ. Luôn luôn chúng tôi nghe thấy tiếng đại bác bọn Kurds mỗi lúc một gần thêm. Tất cả đều hướng vào tôi như thể tôi là kẻ duy nhất có đủ sức mạnh cứu vớt họ.


“Tôi định mai đi Tiflis, nhưng bây giờ, trước hiểm họa, tôi xấu hổ nếu bỏ ra đi. Bởi thế tôi ở lại. Người Chiến Sĩ của Rembrant, người Chiến Sĩ của tôi, đã chẳng từng làm như vậy hay sao? Chắc chàng đã ở lại; vậy tôi cũng ở lại. Nếu bọn Kurds vào thành phố, dĩ nhiên là đúng lý tôi là người đầu tiên bị đóng móng sắt. Tôi chắc không bao giờ, thưa thầy, thầy lại nghĩ học trò của thầy có thể chấm dứt cuộc đời như vậy.


“Sau một cuộc thảo luận liên tu bất tận kiểu Hy Lạp, chúng tôi quyết định rằng tất cả tối nay tập trung, với la, ngựa, bò, cừu, đàn bà, trẻ con, và sáng sớm tất cả chúng tôi sẽ cùng khởi hành về phương Bắc. Tôi sẽ đi tiên phong, con cừu đực đầu đàn hướng dẫn bầy cừu.


“Một cuộc di dân tộc trưởng của một dân tộc qua những rặng núi và bình nguyên có những cái tên thần thoại! Và tôi, tôi sẽ là một thứ Moses – Moses giả hiệu – dẫn dắt dân được chọn tới Ðất Hứa, như những kẻ ngây thơ gọi Hy Lạp. Dĩ nhiên, để xứng đáng với sứ mệnh có tính cách Moses này và để khỏi làm thầy xấu hổ, tôi phải bỏ những cái xà cạp dạ thanh lịch mà thầy thường chế diễu và quấn chân tôi bằng những dải da cừu. Lẽ ra tôi còn phải có một chòm râu dài gợn sóng, trơn mượt và nhất là hai cái sừng. Nhưng rất tiếc về điểm này tôi không thể làm thầy vừa lòng được. Thay đổi tâm hồn với tôi dễ hơn thay đổi y phục. Tôi mang xà cạp, râu ria cạo nhẵn nhụi như một cái lõi bắp cải và tôi chưa lập gia đình.


“Thưa thầy, tôi hy vọng thầy nhận được lá thư này vì có thể đây là lá cuối cùng. Biết đâu. Tôi không tin vào những mãnh lực bí mật bảo vệ con người, như người ta nói. Tôi tin vào những sức mạnh mù quáng đánh tả đánh hữu, không quỉ quái, không mục đích, giết bất cứ kẻ nào trên đường chúng. Nếu tôi lìa trần gian (tôi nói ‘lìa’ để khỏi làm thầy và chính tôi sợ nếu dùng chữ chính xác), vậy, nếu tôi lìa trần gian, tôi mong thầy khỏe mạnh và sung sướng, thầy thân mến của tôi! Tôi xấu hổ phải nói lên điều này, nhưng tôi phải nói, vậy xin thầy thứ lỗi cho tôi: tôi cũng yêu thầy lắm lắm.”


Và, ở dưới, tái bút viết thảo bằng bút chì:


“T.B. Tôi không bao giờ quên điều chúng ta đã đồng ý với nhau hôm tôi ra đi. Nếu tôi phải “lìa bỏ” trần gian này, sẽ báo cho thầy rõ, thầy hãy nhớ, bất cứ thầy ở đâu; xin thầy đừng sợ.”


 


(*) Ðại Ðế cuối cùng của Ðế Quốc Ðông La Mã (1448-1423)


(**) Basilius Digenes Acritas: vị anh hùng Byzance thế kỷ thứ 10. Digenes có nghĩa là song sinh (cha Hồi Giáo và mẹ Thiên Chúa Giáo, Hy Lạp và Ðông Phương) còn Acritas là tráng sĩ phòng vệ biên thùy của Ðế Quốc – G.c.D.

Tin mới cập nhật