Lần đầu tiên lá cờ Vàng ba sọc đỏ đã có thật trên đỉnh ngọn núi Everest, năm 2004


Gửi gió cho mây ngàn…


 


Ngọc Bội


 


Dường như, có những bức cảnh chụp nói lên cả ngàn lời, có khi còn được cho là một kỳ tích, có một, không hai, hay là một bức ảnh lịch sử, v.v…


Tôi không khỏi ngạc nhiên, hết sức kỳ thú, và ngưỡng mộ, khi được nhìn thấy lá cờ Vàng, ba sọc đỏ của Việt Nam Cộng Hòa, do nhà thám hiểm leo núi chuyên nghiệp Craig Van Hoy, và các thể tháo gia trẻ tuổi người Mỹ, năm 2004 đã dựng lên lần đầu tiên trên đỉnh ngọn núi danh tiếng Everest, cao chót vót vào bậc nhất của thế giới. Tôi tự hỏi, làm sao có thể thực hiện được một kỳ công, một giấc mơ đẹp như thế? Ðạo diễn, hay tác giả đích thực của bức ảnh trên, phải chăng từ cõi tâm, đã có niềm tự hào, ý chí dấn thân và hướng thượng, luôn có những tiếng gọi đến với chân, thiện, mỹ?


Có biết bao người đã dấn thân, bước tới theo mệnh nước, cho sự trường tồn bốn ngàn năm văn hiến! Những lời kêu gọi như kim chỉ nam, còn hằn sâu trong tâm hồn của một thời tuổi trẻ: “Nếu chúng ta có sinh ra để ngồi yên một chỗ, thì em hãy đi, đi đã. Nếu chưa đi một vài dặm nắng, chưa có quyền ngồi nghỉ dưới bóng một cây già râm mát.” (Một nhà văn tiền chiến?)


Câu nói đã phản ảnh từ dân tộc tính, từ hồn nước?


“Hồn nước, cái ý thức truyền thống, khi tiềm tàng, khi biểu lộ, từ cá nhân thông với núi sông vũ trụ, một dòng bất tuyệt, nối quá khứ với hiện tại và tương lai, đây là dân tộc tính, và dân tộc tính ấy có thật. Những chiến công mãnh liệt, những biểu hiện cụ thể phản chiếu vào tâm hồn, để rồi lại phóng ra những chiến tích phi thường của tất cả các anh hùng dân tộc.” (GS Nguyễn Ðăng Thục)


Tác giả thực hiện bức ảnh này, được biết chính là họa sĩ Hố, Huỳnh Lương Vinh, mà tôi quen biết từ những năm đầu tỵ nạn trên đất Mỹ, kể từ sau 30 Tháng Tư, 1975. Anh lớn lên và trưởng thành trên phần đất mới, Portland, Oregon. Anh thuộc thế hệ một rưỡi, thế hệ trẻ đang dấn thân hôm nay, tiếp nối những bậc cha anh, đã hy sinh, đấu tranh hào hùng cho tự do, dân chủ và nhân quyền của đất nước. Năm 1984, anh tốt nghiệp kiến trúc sư tại đại học danh tiếng (hàng thứ ba ngành kiến trúc) của Hoa Kỳ, University of Oregon. Ðã có những đóng góp cho các sinh hoạt văn hóa, hội họa trong cộng đồng và nhất là môn biếm họa sâu sắc!


Nhìn lá cờ Vàng ba sọc đỏ của Việt Nam Cộng Hòa ngự trên ngọn Everest, trong lòng tôi không khỏi nhớ lại những chiến thắng vinh quang trong quân sử Việt Nam Cộng Hòa, với cờ bay trên cổ thành Quảng Trị được chiếm lại v.v… Hãy tin tưởng vào lẽ tất thắng của chính nghĩa quốc gia dân tộc, ngày chiến thắng sau cùng, giành lại quê hương Việt Nam của chúng ta chắc chắn sẽ đến. Hãy cùng nhau siết chặt tay nắm, giữ lá cờ Vàng ba sọc đỏ của hồn thiêng sông núi. Chúng ta sẽ cùng cất cao tiếng hát quốc ca VNCH và các bản hùng sử ca với Phong Trào Hưng Ca trong ngày hạnh ngộ trên quê hương: “Cờ Bay Trên Thành Phố thân yêu” của Cục Chính Huấn QLVNCH năm nào:


 


Cờ bay, cờ bay oai hùng trên thành phố thân yêu


Vừa chiếm lại, đêm qua bằng máu.


Cờ bay, cờ bay tung trời ta về với quê hương


Từng ngóng đợi quân ta tiến về!


Ta ôm nhau mắt lệ nghẹn ngào quỳ hôn đất thân yêu


“Việt Nam” ơi, chào quê hương giải phóng.


Sạch bóng thù, đồng hân hoan, quân dân vui,


Vang câu hát tự do…


 


Tôi không là gì cả, xin gọi tác giả của bức ảnh trên bằng em, vì hậu sinh khả úy. Và vì lúc tuổi hoa niên của tôi, em còn bé quá. Họa sĩ Hố, Huỳnh Lương Vinh, và thế hệ trẻ hôm nay, tôi còn nợ các em một lời Cám Ơn!

Khi đồng minh tháo chạy (7)


Công cụ của quyền hành


 


Hiểu rõ nhu cầu của Nixon cần có thành quả ngoại giao, Kissinger lại có trong tay một cơ hội bằng vàng: Ðó là quyền điều khiển toàn bộ nhân viên làm việc cho “Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia” (National Security Council – NSC).


Ông liền đưa ra một đề nghị để Nixon cho phép ông sửa đổi nó lại theo ý ông (18). NSC được thành lập từ 1947 để giúp tổng thống điều hợp các vấn đề liên quan tới an ninh quốc gia. Về thực chất nó rất lỏng lẻo. Tôi còn nhớ từ khi du học ở Mỹ, dù là dưới thời Eisenhower, Kennedy hay Johnson, mỗi khi truyền hình chiếu những biến cố ngoại giao quan trọng vào phần tin buổi chiều thì đều thấy ngoại trưởng hoặc tổng trưởng quốc phòng lên trình bày. Bây giờ được Nixon ủng hộ, Kissinger sắp xếp lại để nó trở thành một công cụ tập trung quyền hành.


Guồng máy NSC được sửa lại thì giống như cái máy sàng lọc, mọi hồ sơ phải qua đây thì mới tới được bàn giấy tổng thống. Ba cơ quan ngoại giao, quốc phòng, CIA có trách nhiệm phải nộp cho NSC các đề nghị về những giải pháp được cân nhắc kỹ lưỡng. Dựa theo đó, nhân viên làm việc tại NSC phải trình bày cho tổng thống những lựa chọn và hậu quả về mỗi giải pháp và cho từng vấn đề.


Sự sắp xếp lại NSC cho phép Kissinger đóng hai vai trò: Một là người điều hợp, tập trung các phân tích, đề nghị của các bộ về lãnh vực an ninh; hai là làm cố vấn cho tổng thống về ngoại giao. Là người điều hợp, ông có quyền sàng lọc, thâu tóm các đề nghị. Quyền sàng lọc là quyền vô cùng quan trọng. Những điểm gì mình không thích hay không đồng ý thì có thể làm nhẹ đi, giảm tầm quan trọng của nó xuống, hay chỉ nói phớt qua thôi.


Ảnh hưởng của cố vấn cũng lợi hại. Có nửa ly rượu: Nói đầy nửa ly cũng đúng hay vơi nửa ly cũng đúng, kiểu nào cũng được. Miễn là gần kề tổng thống. Bộ Ngoại Giao đã hết sức bất mãn, cho rằng Kissinger đã độc quyền hóa lãnh vực ngoại giao, nắm trọn vẹn quyền hạn đến nỗi một bộ lớn với 12 ngàn nhân viên, mà chỉ còn vai trò sắp xếp giấy tờ, hồ sơ. Nghị sĩ Stuart Symington còn bàn thêm rằng “Kissinger đã thực sự là ngoại trưởng, trừ cái tên đó thôi” (18).


 


Tài nghệ ông phụ tá


 


Ngoài tài ba về chính trị, ông Kissinger lại có tài hùng biện, rất khéo chơi chữ để nói quanh co. Chúng tôi còn nhớ có đọc một bài báo (mà không nhớ xuất xứ từ đâu) nói về điểm này và cho là Kissinger có nghệ thuật “làm sao không nói sự thực mà lại không là nói dối” (“how not to tell the truth without really lying”). Ông H.R. Haldeman, đổng lý văn phòng cho Tổng Thống Nixon kể lại một câu chuyện khôi hài về tài của Kissinger. Hồi tháng 12, 1972, chính Kissinger là người đề nghị Nixon cho ném bom Bắc Việt vì ông đã tuyên bố ‘hòa bình đang trong tầm tay’ (peace is at hand) hai tháng trước đấy, mà bây giờ theo như ông nói, Hà Nội đã bội ước. Thế mà làm sao nhà báo James Reston lại viết trên tờ New York Times trái ngược lại. “Không thấy Kissinger nói gì công khai về vụ thả bom Bắc Việt cả, một hành động mà không hồ nghi gì là chính ông ta đã phản đối.” Nixon phẫn nộ, chỉ thị Haldeman ‘tìm hiểu xem Henry làm cái trò gì vậy’ (‘find out what the hell Henry’s doing’).


Khi Haldeman hỏi, Kissinger đã chối phắt là ông đã chẳng nói với “bất cứ ai” về vụ thả bom. Ông quả quyết: “Tôi không cho ông Reston cuộc phỏng vấn nào cả. Sau đó Haldeman cho điều tra kỹ lưỡng và thấy rõ ràng là Kissinger đã nói chuyện với Reston. Quay lại cật vấn ông ta, Haldeman hỏi: “Ông nói với chúng tôi là ông đã không cho Reston cuộc phỏng vấn nào cả, thế mà thực sự ông đã nói hết với ông này!”


“Ðúng, nhưng đó chỉ là qua điện thoại,” Kissinger trả lời. Haldeman bình luận:


“Vâng, chỉ qua điện thoại thôi (chứ đâu có gặp mà phỏng vấn).”


“Bất cứ học giả nào muốn xem nhà ngoại giao Henry giỏi đến thế nào thì nên phỏng vấn tất cả những người đã làm việc với ông ta tại Tòa Bạch Ốc” (19).


Cứ xem cách ông chơi chữ trong các văn bản, cách đối đáp, biện luận, từ những cuộc thương thuyết tới hồi ký hay họp báo, ta cũng thấy rõ cái tài năng này. Sau đây là vài thí dụ. Như sẽ thuật lại trong Chương 11, về cuộc họp báo của Kissinger sau Hiệp Ðịnh Paris:


Hỏi: Có nghị định thư nào (protocols) đã được thỏa thuận (với Miền Nam) không?


Ðáp: Không có sự thông cảm (understanding) bí mật nào hết.


Ðúng, Kissinger chỉ chối đi là không có sự thông cảm, hiểu ngầm nào chứ đâu có chối là không có nghị định thư?


Câu chuyện khác. Có lần Tổng Trưởng Quốc Phòng Melvin Laird (người điều khiển chương trình “Việt Nam Hóa” thời Nixon) khi được chúng tôi hỏi về chuyện ông không biết gì đến những mật thư của Tổng Thống Nixon gửi Tổng Thống Thiệu, ông Laird trả lời: “Có lần tôi hỏi ông Kissinger tại sao không đưa cho tôi xem mấy lá thư đó, thì ông ta trả lời ‘Ồ, đó chỉ là một vụ qua lại giữa Tướng Haig và TT Thiệu’”. Tướng Haig có lui tới Dinh Ðộc Lập để trao đổi qua lại với ông Thiệu, nhưng thực ra ông chỉ là người đưa những bức thư do Kissinger thảo cho Nixon mà thôi. Tới đây tôi nhớ tới câu chuyện tiếu lâm mà ta đều đã nghe lúc còn nhỏ, về cậu bé láu lỉnh. Có cậu học trò ‘đánh rắm’ trong lớp học. Thày đồ hỏi:


“Chi kêu đó bay?”


“Lạy thày cóc kêu/”


“Cóc kêu sao thối?”


“Lạy thày cóc chết/”


“Cóc chết sao kêu?”


“Lạy thày hai con.”


Một biệt tài khác của Kissinger có tính cách quyến rũ: Ðó là luôn luôn nói với đối tác của mình trong các cuộc thương thuyết rằng chỉ mình ông mới là người đứng về phía họ. Tổng Thống Thiệu cũng như Ngoại Trưởng Trần Văn Lắm thường hay nói chuyện về điểm này. Ở Paris, theo Ðại Sứ Phạm Ðăng Lâm, Kissinger lúc nào cũng muốn chứng tỏ ông là người ủng hộ VNCH mạnh nhất trong chính phủ Nixon. Ký giả Matti Golan trong cuốn “The Secret Conversations of Henry Kissinger” (Những đối thoại bí mật của Henry Kissinger) còn bình luận rất rõ về đặc tính quyến rũ này của Kissinger trong những cuộc thương thuyết với Do Thái và các nước trong khối Ả Rập. Ông luôn nói với lãnh đạo Do Thái rằng chỉ có ông mới là đồng minh, là bạn của họ ở Washington (20).


 


Ðơn thương độc mã


 


Khi ra tranh cử, Nixon hứa là sẽ giải quyết chiến tranh Việt Nam trong danh dự. Kissinger biết bản tính của ông Nixon cũng rất là thực tế ‘realpolitik’, đặt nặng quyền lợi chứ không phải là luân lý, ý thức hệ, hay đạo đức. Bởi vậy ông bám chặt vào đó để thuyết phục Nixon cho ông làm sao thì làm, miễn có kết quả là được. Nixon đồng ý. Và trên thực tế đã trao toàn quyền giải quyết chiến tranh Việt Nam cho ông.


Trong cuốn sách nổi tiếng ‘A World Restored’ (Một Thế Giới Ðược Phục Hồi), một tập nghiên cứu về Metternich lúc còn ở Harvard, Kissinger có viết: “Chính khách phải hành động như thể là trực giác của mình đã là kinh nghiệm, như thể là khát vọng của mình đã là chân lý rồi” (21). Metternich là một Hoàng tử người Áo, đã cùng với Lord Castlereagh (Ngoại Trưởng Anh) giúp sắp xếp lại trật tự ở Âu Châu (Hội Nghị Vienna 1814-1815) sau khi Napoleon bại trận ở Nga vào mùa đông 1812. Hai người này, đã không ngần ngại dùng mọi đòn phép và làm mọi việc trong vòng bí mật để tới được mục đích.


Tôi nghĩ lập luận như thế này thì không ổn. Trong thời hiện đại, nếu những chính trị gia của các cường quốc, nắm quyền hành trong tay, mà lại quá tự kiêu, làm mọi việc trong vòng bí mật, và nghĩ rằng “những khát vọng của mình đã là chân lý rồi” thì thật là nguy hiểm cho thế giới!


Ðơn thương độc mã là bản tính của Kissinger và ông rất tự hào về điểm đó. Trong một cuộc phỏng vấn với nữ ký giả người Ý, bà Oriana Fallaci, ông giải thích rằng sở dĩ ông có sức mạnh là nhờ ở lối hành động một mình:


“Ðiểm chính là lúc nào tôi cũng hành động một mình. Người Mỹ thích cái đó vô cùng. Người Mỹ thích hình ảnh một gã chăn bò dẫn đầu một toán di dân, một mình trên lưng ngựa, đi đầu, thủng thẳng tiến vào một tỉnh lỵ, một thị xã; chỉ mình với ngựa thôi, không có gì khác. Có thể là không có cả súng nữa, là vì gã ta không cần bắn. Gã chỉ hành động bằng cách là ở đúng chỗ, vào đúng lúc, thế thôi. Nói gọn hơn, gã là một cao bồi (Western)” (22).


Chắc ông muốn nói tới cuốn phim “High Noon”, có chú cao bồi cỡi ngựa, lững thững đi một mình vào giữa phố mà ai cũng phải sợ. Giờ đây, ông muốn một mình một ngựa để đưa Hoa Kỳ ra khỏi Việt Nam. Chướng ngại vật đối với ông là Bộ Ngoại Giao. Vì vậy, không biết ông thuyết phục thế nào mà Nixon đã gạt phắt Ngoại Trưởng William Rogers ra ngoài.


Trong cuốn hồi ký “Những Năm Biến Ðộng” (Years of Upheaval), Kissinger viết: “Tổng Thống Nixon đòi hỏi là tất cả những sáng kiến ngoại giao quan trọng đều phải phát xuất từ Tòa Bạch Ốc; ông ta đã loại trừ Bộ Ngoại Giao và Ngoại Trưởng William P. Rogers ra khỏi những quyết định chủ chốt một cách liên tục và đôi khi còn có tính cách hạ nhục” (23).


Ðẩy được Bộ Ngoại Giao ra là hết bị vướng víu về bàn cãi, bất đồng ý kiến, thủ tục rườm rà, quan liêu. Từ đó, Kissinger mới có thể sắp xếp mọi chuyện. Ðây là một cung cách thật lạ lùng! Nó rất “un-American”, không Mỹ chút nào. Ở trong một xã hội dân chủ, tính chất “minh bạch” (transparency) là điều cần thiết. Cái gì không trong sáng thì không thể kéo dài được lâu, không có tính cách bền vững (sustainability). Ngoài ra, chính sách hay lập trường đều đòi hỏi phải có ‘consensus’, sự đồng thuận của số đông. Muốn vậy, phải ngồi lại bàn bạc. Ba cái đầu phải to hơn một cái. Từ quản trị một công ty tới một hiệp hội, một nhà thờ, một trường tiểu học, bao giờ cũng có nhiều mít tinh để bàn cãi, bỏ phiếu, lấy quyết định. Làm sao mà một chuyện đại sự quốc gia, có tới bốn tổng thống Mỹ dính vào mà Kissinger lại đòi giải quyết một mình? Ấy thế mà Nixon đã khoán trắng miền Nam cho ông. Ông Jun Tsunoda, cố vấn cho Bộ Ngoại Giao Nhật cũng đã phải phàn nàn:


“Công tác ngoại giao trong một thế giới phức tạp như ngày nay là một công việc quá lớn lao để giao cho một người tự mình hành động” (24).


Ba tháng sau khi nhậm chức, Tổng Thống Nixon cho Kissinger sang Moscow tranh thủ sự giúp đỡ của Nga Xô để lập thêm một ngả thương thuyết riêng biệt, tách rời khỏi Hòa Ðàm Paris. Kissinger gặp Ngoại Trưởng Nga Gromyko và trao cho ông ta một thông điệp (25):


“TT (Nixon) sẵn sàng thăm dò những con đường khác ngoài khung cảnh đàm phán hiện tại. Ðiều đáng mong muốn là những người thương thuyết phía Hoa Kỳ và Bắc Việt có thể gặp nhau tách biệt ra khỏi khuôn khổ hòa đàm Paris để bàn về những nguyên tắc tổng quát cho một giải pháp.”


“Nếu những người thương thuyết đặc biệt của hai bên Hoa Kỳ và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa có thể đi tới một hiệp định trên nguyên tắc, thì vấn đề đàm phán cuối cùng về kỹ thuật sẽ được trao lại cho hòa đàm Paris.” Ký tắt RN (Richard Nixon)


Dĩ nhiên là Gromyko vui lòng giúp, và Kissinger đã thành công trong việc lập ra một hòa đàm sau hậu trường, do chính ông điều khiển.


Ngày 23 tháng Bảy 1969, nhân dịp phi thuyền Apollo của Mỹ vừa thành công lên cung trăng và sắp đáp xuống Thái Bình Dương, Tổng Thống Nixon bay sang Guam để mừng và bắt đầu chuyến công du Á Châu gồm Phi Luật Tân, Indonesia, Thái Lan, Nam Việt Nam, India, Pakistan, Romania, và Anh Quốc. Nixon thuật lại: “Chuyến đi đã cho một cơ hội hoàn toàn ngụy trang cho Kissinger gặp gỡ với phía Bắc Việt. Kissinger được sắp xếp cho đi Paris bề ngoài là để trình bày cho quan chức Pháp kết quả chuyến đi của tôi, nhưng đang khi ở đó ông ta sẽ gặp ông Xuân Thủy” (26). Ông Xuân Thủy là đại diện của Bắc Việt tại Hòa đàm Paris.


Ðược biết về chuyến đi này, Tổng Thống Thiệu có mời Nixon ghé thăm Sàigòn để làm một cử chỉ ủng hộ Việt Nam Cộng Hòa. Dường như để đền đáp công ơn của ông Thiệu trong kỳ bầu cử, Tổng Thống Nixon đã quyết định vào giờ chót là sẽ viếng thăm Dinh Ðộc Lập với Kissinger tháp tùng.


Trong phiên họp làm việc, “Ông Nixon chỉ nói tới những khó khăn trong nước mà ông đang gặp phải,” ông Thiệu kể lại. “Ông yêu cầu tôi tiếp tay và nói: ‘Hãy giúp chúng tôi để chúng tôi giúp các ông” và tôi đáp: “Chúng tôi sẽ giúp ông để ông giúp chúng tôi.” Tuy nhiên, Nixon vẫn khẳng định lại lập trường rút quân trên căn bản song phương: Cả quân đội Hoa Kỳ lẫn quân đội Bắc Việt đều rút, và lịch trình rút quân còn tùy vào khả năng tự vệ cũng như mức độ viện trợ quân sự và kinh tế cho Miền Nam.


Sau khi nâng ly xâm banh chúc tụng cho Việt Nam Cộng Hòa, các động cơ trực thăng bắt đầu nổ, cánh quạt quay ầm ầm mỗi lúc một nhanh, như để khẳng định lại một lần nữa sức mạnh và sự hiện diện của Hoa Kỳ tại Miền Nam. Ông Thiệu tiễn đưa Tổng Thống Nixon và ông Kissinger ra bãi phi cơ đậu ở sân cỏ trước Dinh Ðộc Lập. Mỉm một nụ cười, ông giơ tay vẫy chào tạm biệt lúc chiếc trực thăng của Tổng Thống Hoa Kỳ bốc thẳng bay nhanh về hướng Bắc, lướt qua những mái nhà đỏ của thành phố. Ngày hôm đó, 30 tháng Bảy 1969, Nixon đã không hề tiết lộ cho ông Thiệu biết rằng ngay sau lúc từ biệt, Kissinger đã trực chỉ qua Paris gặp gỡ phái đoàn Bắc Việt.


Và từ giờ phút đó cho tới 10 giờ sáng ngày 30 tháng Tư 1975, tức là trong gần hai phần ba thời gian của Ðệ Nhị Cộng Hòa, Kissinger đã một mình thao túng chính sách Hoa Kỳ về Việt Nam. Trong cương vị đó, ông đã có những hành động gian dối với đồng minh, dấu giếm Quốc Hội và nhân dân Hoa Kỳ, như được chứng minh trong cuốn sách này. Gần đây (năm 2001), một nhà báo, ông Christopher Hitchens, đã viết cuốn sách tựa đề “Xét xử Henry Kissinger” (The Trial of Henry Kissinger) đem ra đầy đủ bằng chứng dựa trên những tài liệu mới được giải mật, về những sự lạm dụng quyền hành, và những hành động thiếu lương tâm mà Kissinger đã hành xử đối với các nước đồng minh, ngoài các nước Ðông Dương, còn có Chile, Bangladesh, Santiago, Nicosia và East Timor (27).


(Còn tiếp)

Lời kêu gọi khẩn thiết

 


HỘI CAO NIÊN DIÊN HỒNG VÙNG ÐÔNG VỊNH BẮC CALIFORNIA HOA KỲ


Số 128 International Blvd., Oakland, CA 94606 – ÐT: (510) 533-9980


 


LỜI KÊU GỌI KHẨN THIẾT BẰNG TRÁI TIM VÀ KHỐI ÓC


NHÂN VÀO THÁNG TƯ ÐEN 2012


 


Kính gửi toàn thể đồng hương Việt Nam tỵ nạn cộng sản trên toàn thế giới,


Kính thưa toàn thể quý đồng hương,


Chúng tôi gồm những vị cao niên từ 60 đến trên 90 tuổi hiện cư ngụ trong Vùng Ðông Vịnh San Francisco (East Bay San Francisco USA) Hoa Kỳ, sinh hoạt tự túc trong một hội nhỏ bé với danh xưng là Hội Cao Niên Diên Hồng liên tục từ hơn 14 năm qua đã tích cực đóng góp vật chất và tinh thần vào công cuộc đấu tranh chung của cả dân tộc nhằm giải thể chế độ Việt Cộng tàn ác phi nhân đã và đang đưa dân tộc Việt Nam vào cảnh nô lệ mất nước vào tay bọn tàu cộng!!!


Kính thưa toàn thể quý đồng hương,


Hôm nay nhân vào Tháng Tư Ðen 2012, Chúng tôi với con tim tràn đầy lòng yêu thương tổ quốc, dân tộc, gia đình, người thân còn ở Việt Nam, với khối óc hoàn toàn minh mẫn để biết phân biệt phải trái, thiện ác, bạn thù và nhất là không còn nước mắt để khóc cho tù đày, tủi nhục, bất công, thống khổ của gần 90 triệu con dân Việt trong nước, xin gửi lời kêu gọi khẩn thiết sau đây đến từng cá nhân, từng gia đình, từng tổ chức, từng hội đoàn, từng đoàn thể, từng đảng phái, từng tôn giáo cùng cộng đồng Việt trên khắp thế giới:


1. Xét rằng Cộng Sản Việt Nam (Dân Việt gọi là Việt Cộng = VC) sau 37 năm dùng bạo lực cưỡng chiếm Miền Nam vào 30 tháng 4. 1975 và cai trị đất nước thống nhất bằng bạo lực và dối trá đồng thời cam tâm làm thái thú khiếp nhược cho Tàu Cộng đã và đang đưa dân tộc Việt vào cảnh nô lệ mất nước mà ai ai cũng thấy cũng biết.


2. Xét rằng từ 37 năm qua, toàn dân tộc Việt trong và ngoài nước bằng mọi khả năng và chấp nhận hy sinh không ngừng nghĩ đấu tranh trực diện với VC trong nước và vận động quốc tế và thế giới tự do nhằm đem lại dân chủ-tự do và toàn vẹn lãnh thổ cho tổ quốc Việt Nam.


3. Xét rằng thời gian 37 năm Việt Cộng thống trị đất nước là quá dài, quá đủ và quá sức chịu đựng và hy sinh của cả dân tộc từ trong nước trải qua khủng bố, tù đày, chết chóc, biểu tình, khiếu kiện, dân oan và cả tự thiêu vì đàn áp tôn giáo. Từ hải ngoại vô vàn tuyên ngôn, tuyên cáo, biểu tình, vận động chính trị và mới đây là gần 150 ngàn người Việt Tỵ Nạn CS ở Hoa Kỳ ký Thỉnh Nguyện Thư gây chấn động chính giới Hoa Kỳ nhưng vẫn không đem lại kết quả mong muốn cho dân tộc Việt!!!


Vì các điểm nêu trên, Hội Cao Niên Diên Hồng gửi lời kêu gọi khẩn thiết sau đây:


 


LỜI KÊU GỌI KHẨN THIẾT


 


Nhân vào Tháng Tư Ðen 2012, hơn 3 triệu Người Việt Tỵ Nạn VC dù cư ngụ nơi nào trên thế giới, mỗi người, mỗi gia đình, mỗi tổ chức quyết tâm từ Tháng Tư Ðen năm nay trở đi:


1. Quyết tâm không bước lên máy bay đi về VN dù bất cứ lý do nào.


2. Quyết tâm không gửi dù 1 dollar về VN dù bất cứ lý do nào khi còn VC!!!


Mỗi người tỵ nạn VC quyết tâm thực hiện được lời kêu gọi khẩn thiết này, chúng ta không còn phải dãi nắng dầm mưa chịu đựng giá rét trong các cuộc biểu tình để đả đảo VC nữa!!! Chúng ta không còn cần kêu gọi sự giúp đỡ của thế giới tự do, không còn cần Thỉnh Nguyện các chính phủ dân chủ, không còn cần vận động các tổ chức và các dân tộc yêu chuộng công lý và hòa bình giúp dân tộc ta có dân chủ, tự do!!!


Chúng tôi tin tưởng và mọi người dân Việt yêu nước tin tưởng với hành động dứt khoát và quyết tâm này của hơn 3 triệu con dân Việt trên thế giới sẽ sớm chấm dứt chế độ VC trong thời gian ngắn nhất mà không cần thế giới tự do can thiệp!!! Chấm dứt chế độ VC sớm ngày nào Dân Tộc Việt chúng ta tiết kiệm được máu xương, đau khổ, tù đày, tủi nhục trước đại họa mất nước!!!


Rất mong lời kêu gọi khẩn thiết này được tích cực hưởng ứng và chấp nhận với kế hoạch bàn thảo và thực hiện hữu hiệu trong từng đơn vị gia đình, từng tổ chức, hội đoàn, đoàn thể và cộng đồng!!!


Kính mong các cơ quan truyền thông, báo chí, truyền thanh truyền hình, diễn đàn trang mạng, trang tin điện tử giúp phổ biến mạnh mẽ đến cộng đồng khắp nơi. Xin chân thành cám ơn.


Kính chúc mỗi người quyết tâm có hành động đơn giản nhưng góp phần cứu nước cứu dân tộc nhanh chóng!!!


Kính chúc an vui, an lành và thịnh vượng toàn thể đồng hương.


Oakland, Bắc California Hoa Kỳ, ngày 14 tháng 4 năm 2012


Thay mặt toàn thể các cụ Hội Cao Niên Diên Hồng


 


Ban Ðiều Hành


Hội Trưởng – Ông Trần Kiêm Thiều


Hội Phó Ngoại Vụ – LS Trần Minh Nhựt


Hội Phó Nội Vụ – Bà Nguyễn Thị Mai Hương

Vụ giết người rồi tự sát tại Gould Center ở San Jose

 


 


SAN JOSE – Khoảng 9 giờ 30 sáng ngày Thứ Bảy, 14 tháng 4, một thanh niên người Việt, lái chiếc xe BMW mầu xám, ngừng xe trong khu thương mại Gould Center, góc McLaughlin và East Capitol Expressway. Nơi đây có nhiều cửa hàng thương mại của người Á Châu.









Quang cảnh nơi nạn nhân bị bắn. (Hình: Bảo Liên/Người Việt San Jose)


Người thanh niên đi đến đây để gặp một người phụ nữ Việt. Vừa gặp mặt là anh ta đưa súng bắn thẳng vào đầu cô ta; sau đó, anh quay súng tự sát. Sự việc xảy ra rất nhanh, trong lúc đứa bé gái 17 tháng con chung của hai người vẫn còn ngồi trong chiếc ghế dành cho trẻ em, ở bên trong chiếc xe BMW. Vụ giết người rồi quay súng tự sát gây xúc động lớn trong cộng đồng người Việt ở San Jose. Không ai biết rõ nguyên nhân gây ra thảm kịch, cũng như tin tức về nạn nhân của vụ giết người đau thương này. Bà Nghị Viên Madison Nguyễn cho biết hiện nay nhà chức trách và thành viên của cộng đồng quan tâm chính vào việc tìm ra thân nhân của gia đình để gửi gấm việc chăm lo cho cháu bé.


Cảnh sát San Jose tạm thời giao cháu bé cho cơ quan bảo vệ trẻ em quận hạt Santa Clara, và mở cuộc điều tra xác nhận danh tính của hai nạn nhân. Theo cuộc điều tra của cảnh sát San Jose, nạn nhân là cô Emmanuel Nguyễn, 39 tuổi, thường được gọi là “Emma.” Tên Việt của cô là Nguyễn Phương Trân. Người thanh niên bắn chết cô Emma Nguyễn tên là Nguyễn Quốc Trung 32 tuổi, cư dân ở San Jose, người tình cũ của cô Emma. Anh Trung từng là nhân viên của công ty IBM. Anh Trung và cô Emma có với nhau một đứa con chung hiện do cô Emma được quyền nuôi. Cô đang cư ngụ ở Nam California, thỉnh thoảng đem con về San Jose cho anh Trung được thăm. Hai người đang có xích mích về việc giành quyền giữ đứa con. Cô Emma lo ngại những tai tiếng về nợ nần của cô khiến cô có thể bị mất đi quyền giữ con, và phải trao đứa bé lại cho anh Trung.


Một người bạn thân của anh Trung là anh Ðinh Tuấn, 37 tuổi, nói rằng anh biết anh Trung từ nhiều năm nay. Anh ta là một người rất tử tế. Anh sanh trưởng ở Việt Nam, đến Nam Dương một thời gian trước khi định cư ở Mỹ và làm việc cho hãng IBM. Anh Tuấn mới trông thấy anh Trung mang đứa con về nhà ít hôm nay. Trông hai cha con có vẻ “rất bình thường.” Anh không ngờ chuyện xảy ra đau thương đến như vậy.


Thân nhân của cô Emma Nguyễn ở San Jose và New Jersey cho biết họ rất xúc động, và còn bàng hoàng trước cái chết của cô con gái, nên không muốn đưa ra lời bình luận.


Bạn thân của cô Emma Nguyễn tiết lộ rằng cô Nguyễn Phương Trân trước đây từng là một phụ nữ rất thành công trong kinh doanh. Cô là chủ nhân một hộp đêm nổi tiếng trong giới trẻ ở Sunnyvale tên là The Abyss. Cô Lisa Jimenez, quản lý quán rượu trong hộp đêm nói rằng việc kinh doanh của hộp đêm rất thành công trong thời gian từ năm 2005 đến 2009. Nguồn thu nhập về doanh nghiệp của hộp đêm khiến cho cô Emma trở thành một triệu phú trẻ tuổi, thành công về mọi mặt. Cô Lisa nói: “Emma là một phụ nữ can trường, cứng cỏi nhất mà tôi từng biết. Tôi hết sức kinh ngạc khi cô bị người yêu cũ bắn chết. Tôi đã gặp anh ta, và đi ăn tối với hai người nhiều lần. Trông anh ấy có vẻ là người đàng hoàng tử tế. Không hiểu nguyên nhân nào đã thúc đẩy anh làm chuyện kinh hồn như vậy.”


Anh Micheal Nguyễn, một bạn thân khác của cô Emma Nguyễn ở hộp đêm The Abyss cho biết: “Tôi không hề nghe cô tỏ ý lo ngại về tính mạng của mình. Thật ra, tôi không nghe nói một điều gì xấu về anh Trung cả. Không hiểu vì sao lại xảy ra chuyện đau thương như vậy.”


Anh Michael Nguyễn tiết lộ rằng cô Emma Nguyễn từng thuê một căn phòng ở San Jose để ở. Nhưng gần đây cô dọn xuống Westminster. Cô lên San Jose để đem đứa con gái cho anh Trung được gặp con như thông lệ gọi là “baby exchange.”


Cô Emma Nguyễn từ tiểu bang New Jersey sang lập nghiệp ở San Jose từ năm 2004. Qua năm sau, cô mở hộp đêm The Abyss. Việc kinh doanh thành công vượt bực, khiến cô rất tự hào và mãn nguyện. Cô từng khoe với nhà báo rằng: “Tôi là một trong những phụ nữ Á Châu thành công nhất ở đây. Tôi đến Mỹ vào năm 14 tuổi, và bây giờ tôi trở thành một triệu phú.” Lúc bấy giờ tiền vào như nước. Năm 2005, cô bỏ tiền ra mua một căn nhà rộng 4.300 square feet trong khu Evergreen với giá $1.5 triệu đô la.


Nhưng sau đó, nhiều chuyện không may đã xảy đến cho cô Emma Nguyễn. Ðầu tiên là việc mất giấy phép bán rượu xảy ra vào năm 2009. Kế đến là việc cô bị thành phố rút giấy phép hoạt động của hộp đêm The Abyss vì những vụ đánh lộn, gây gổ thường xảy ra. Mất nguồn thu nhập chính từ hộp đêm, cô Emma không đủ sức trả tiền nhà. Cô phải chia căn nhà rộng ra làm nhiều phòng cho thuê. Ða số những người ở “share” chung trong căn nhà lớn đó là những người thất nghiệp, hay tật nguyền. Trong lúc đó, cô Emma bị ngân hàng xiết nợ lấy lại nhà.


Trong lúc điên đầu vì nợ nần, anh Nguyễn Trung lại dùng lý do này để xin tòa án phụ trách Luật Gia Ðình giành lại quyền giữ đứa con chung của hai người. Vì thế, xung đột giữa đôi vợ chồng đã ly dị càng trở nên cay đắng.


Luật Sư Warren Nguyễn là một luật sư chuyên về địa ốc tiết lộ rằng: “Cô ấy đang tìm đủ mọi cách để đổi nợ và cứu vãn tình thế. Vụ xin sửa nợ của cô sắp được đưa ra tòa để nghe điều trần thì xảy ra vụ án mạng này.”


(Nguyễn Minh Tâm tóm lược theo San Jose Mercury 20/4/2012)

Từ Bàn Viết Houston – Tuyển Tập 2


Trăng Vàng


 


Chính Trị-Tôn Giáo-Khoa Học


Việt Nguyên


 


Việt Nguyên là một nhà báo cộng tác với tờ văn nghệ bán nguyệt san Ngày Nay và cột mục “Từ Bàn Viết Houston.” Ông là cây bút đa năng vì các đề tài ông viết đa dạng, ra ngoài giới hạn của những vấn đề thuần túy văn nghệ. Với bút viết thẳng thắn, phân tích trực diện với những đề tài nóng bỏng (vấn đề liên quan đến tôn giáo) gây tranh cãi nhiều trong dư luận, ông không quan tâm tới những phản ứng tiêu cực chắc chắn sẽ xảy ra, mà xem như là trách nhiệm bổn phận của người làm báo cần có để truyền thông đến độc giả.


Trăng Vàng xin được giới thiệu tuyển tập 2, Từ Bàn Viết Houston, với ba đề tài chính: Chính trị, Tôn Giáo, Khoa Học của tác giả Việt Nguyên. Sách có nhan đề: Từ Bàn Viết Houston – Tuyển tập 2 – Chính Trị-Tôn Giáo-Khoa Học Việt Nguyên.


Sách dày 340 trang, in khổ giấy vừa cầm tay.


Những bài viết đã được tuyển chọn trong 140 bài được đăng trong tờ văn nghệ bán nguyệt san Ngày Nay.


Ấn phí 20 Mỹ kim


Muốn mua sách hoặc biết thêm chi tiết liên hệ với:


Nhà xuất bản Người Việt: 714-892-9414

Oracle đối mặt với Eric Schmidt của Google về Java

 


Theo Brandon Bailey/Mercury News
Thẩm Vân dịch


SAN FRANCISCO Chủ tịch Google, ông Eric Schmidt, đã ra làm chứng trong phiên tòa liên bang vào hôm Thứ Ba, và cho biết mặc dù Google đã không đạt được một thỏa thuận với Sun Microsystems, nhưng giám đốc điều hành của Sun Microsystems không bao giờ phàn nàn hay phản đối khi Google sử dụng các bộ phận của hệ thống lập trình Java của Sun để tạo ra các nền tảng di động Android phổ biến.








Eric Schmidt, bên phải, giám đốc điều hành Google trong 10 năm trước khi đảm nhiệm vai trò chủ tịch điều hành năm ngoái, được phác họa tại tòa khi được hỏi bởi Luật Sư Robert Van Nest của Google khi Thẩm Phán William Alsup quan sát trong một phiên tòa về bằng sáng chế liên quan đến Java tại San Francisco vào ngày 24 tháng 4, 2012. Oracle kiện Google vào tháng 8 năm 2010, nói rằng hệ điều hành di động Android của Google vi phạm bản quyền và bằng sáng chế của các ngôn ngữ lập trình Java. (Reuters/Vicki Behringer (Stringer))


Phiên tòa xử vụ Oracle kiện Google diễn ra tại Tòa Liên Bang Hoa Kỳ, Building Phillip Burton, San Francisco, đã bước sang tuần thứ hai với những tranh luận về tác quyền của các giao diện lập trình ứng dụng Java.


Schmidt nói với các thành viên bồi thẩm đoàn trong phiên tòa của một vụ kiện hàng tỷ đô la Mỹ trong đó phần mềm khổng lồ Oracle đã cáo buộc Google vi phạm bản quyền Java mà Oracle đã mua lại từ Sun trong năm 2010 rằng, thay vì cáo buộc, giám đốc Ðiều Hành Sun, ông Jonathan Schwartz, đã chúc mừng và hoan nghênh Android khi nó được tung ra sử dụng vào năm 2007:


Ông Schmidt, giám đốc điều hành lâu năm tại Sun Microsystems khi Java được phát triển trong những năm 1990 trước khi ông trở thành giám đốc điều hành của Google, cho biết: “Tôi rất thoải mái vì những gì chúng tôi làm đều rất đúng luật” và phù hợp với những đòi buộc của Sun.


Schmidt đã lấn sân các luật sư của phía Oracle ba giờ đồng hồ trong vai trò nhân chứng vào hôm Thứ Ba vừa qua mặc dù ông thừa nhận rằng không có liên doanh thương mại nào khác đã sử dụng giao diện lập trình ứng dụng Java mà không có giấy phép của Sun hoặc của Oracle. Ông cũng cho biết đã không nhớ việc tham dự một buổi thuyết trình vào năm 2005, mà qua đó một giám đốc điều hành của Google cho biết Google cần phải đàm phán về một thỏa thuận cấp phép với Sun.


Trong khi lặp lại những tuyên bố trước đây của người đồng sáng lập và cũng là giám đốc điều hành hiện tại của Google, Larry Page, ông Schmidt dường như thoải mái hơn rất nhiều trong phòng xử án, đã đưa ra những câu trả lời vừa trực tiếp và vừa chi tiết hơn ông Page đã làm hồi cuối tuần vừa qua.


Tại Thung Lũng Silicon, vụ kiện quan trọng này đang được nhiều người quan sát kỹ lưỡng vì trong tương lai, nó có thể ảnh hưởng đến việc sử dụng cả hệ lập trình đang được sử dụng rộng rãi Java lẫn hệ điều hành di động hàng đầu thế giới, Android.


Cả hai bên đã đồng ý rằng Google được quyền sử dụng miễn phí ngôn ngữ lập trình Java khi xây dựng hệ điều hành Android, vì chính ngôn ngữ này cũng đã thuộc trong phạm vi công cộng. Tuy nhiên, Oracle cáo buộc Google đã sử dụng các công cụ lập trình khác mà Java đang giữ độc quyền, trong khi Google lập luận rằng họ chỉ sử dụng các yếu tố liên quan đến ngôn ngữ không được luật bản quyền hoặc luật bằng sáng chế bảo vệ.


Schmidt, người cho rằng đã giám sát sự phát triển của Java khi còn làm giám đốc công nghệ của Sun, đã nhớ lại sự ra mắt của hệ thống lập trình tiên phong này “gần giống như một phong trào tôn giáo.” Ông cho biết, để Java được chấp nhận, Sun đã đưa ra các điều khoản mà qua đó sẽ đơn giản hóa khi các nhà phát triển phần mềm khác sử dụng nó. Sun đòi hỏi các nhà phát triển cần xin giấy phép nếu họ muốn sử dụng nhãn hiệu Java và được chứng nhận là tương thích với Java. Nhưng Schmidt cho rằng điều rõ ràng là các nhà phát triển có thể sử dụng ngôn ngữ Java để tạo ra các chương trình riêng của họ, như Google đã làm, miễn là không sao chép các chương trình độc quyền của Sun. Ông nói: “Bạn có thể sử dụng Java theo giấy phép hoặc bạn có thể làm ra phiên bản của riêng bạn và không gọi nó là Java.”


Theo Schmidt, thoạt đầu Google đã cố gắng thương lượng giấy phép với Sun vì họ muốn sử dụng nhãn hiệu Java và một số các chương trình độc quyền của Sun. Nhưng dù cho quan hệ cấp cao giữa Schmidt, Schwartz và chủ tịch Sun là Scott McNealy – người được ông Schmidt mô tả như là một cố vấn và bạn tốt – Schmidt cho biết các cuộc đàm phán đã bất thành bởi vì Sun không đồng ý kế hoạch phát hành Android của Google dưới giấy phép nguồn mở của mình.


Ông Schmidt nói: “Ở cấp độ cao nhất, vấn đề chính là kiểm soát” và thêm rằng Google đã chuẩn bị để trả cho Sun $30 triệu đến $50 triệu để được cấp giấy phép.


Android được cho là có giá trị hơn nhiều so với Google, và một số nhà phân tích đã định mức con số có thể lên đến hàng tỷ. Hôm Thứ Ba, ông Schmidt thừa nhận rằng Android tăng tiến việc sử dụng công cụ tìm kiếm trên Internet của Google, và đã đem lại doanh thu quảng cáo. Ông không đưa ra chi tiết cụ thể, nhưng nhiều chi tiết về tài chính có thể sẽ được tiết lộ trong giai đoạn sau của phiên tòa.


Schmidt làm chứng rằng Sun biết Google đã sử dụng ngôn ngữ lập trình Java và các giao diện lập trình ứng dụng liên quan vì Google đã phát hành đoạn mã đó ra công khai. Nhưng mặc dù thường xuyên liên lạc với nhau, Schmidt cho biết ông chưa bao giờ nghe một khiếu nại từ Schwartz, cũng là một giám đốc điều hành khác của Sun.


Trong lời khai trước đó được đọc cho bồi thẩm đoàn, Schmidt nói rằng: “Theo tôi, vào thời điểm việc quản lý của Sun còn dễ dãi, những gì chúng tôi thực hiện đều miễn phí và không vi phạm bất kỳ tài sản trí tuệ nào của Sun.”


Theo đòi hỏi của Luật Sư David Boies đại diện phía Oracle, ông Schmidt đã không thể trích dẫn một cuộc trò chuyện cụ thể nào, mà qua đó ông Schwartz đã bày tỏ sự ưng thuận. Tuy nhiên, luật sư phía Google đã trích dẫn một bài đăng trên blog, qua đó ông Schwartz đã ca ngợi Google và cho biết việc phát hành Android “như đeo thêm một tập hợp các tên lửa khác” vào cộng đồng Java.

Nghi can đã bị bắt sau khi bắt một phụ nữ mang thai làm con tin

 


 


Theo Chris De Benedetti – The Daily Review


HAYWARDCảnh sát cho biết một nghi can có thủ dao đã bắt giữ một phụ nữ mang thai làm con tin hôm sáng Thứ Ba, 24 tháng 4, 2012 bên trong ngân hàng Wells Fargo sau khi âm mưu cướp ngân hàng bất thành và sau đó đã nhanh chóng đầu hàng cảnh sát. Tin cho hay không có ai bị thương.









Các nhân viên cảnh sát tại hiện trường (Hình: Aric Crabb/Staff)


Thiếu Úy Cảnh Sát Roger Keener cho biết người đàn ông đã đưa ra một lời nhắn viết tay cho nhân viên giao dịch ngân hàng vào lúc 11g30 sáng tại ngân hàng Wells Fargo ở số 1172 đường A, gần đường Second, và ra lệnh cho mọi người nằm úp mặt xuống đất. Sau đó ông la lớn cho mọi người biết rằng ông sẽ cho nổ tung ngân hàng này.


Keener cho biết các nhân viên giao dịch đã cố nhấn nút báo động ngầm, một vài khách hàng đã vụt chạy ra ngoài và đã gọi 911.


Hai thám tử cảnh sát chìm đang công tác trong khu vực về một vụ không liên hệ, đã đến và nhìn vào ngân hàng thấy khách hàng cùng nhân viên đang nằm úp mặt xuống đất.


Cảnh sát nói họ cũng thấy nghi can đang chỉa con dao vào một phụ nữ mang thai đang bị bắt làm con tin. Các thám tử chìm đã đi vào bên trong ngân hàng với súng cầm tay và ra lệnh cho nghi can thả người phụ nữ, nhưng ông ta đã từ chối.


Theo một người cũng ở bên trong ngân hàng yêu cầu được giấu tên cho hay người phụ nữ mang thai đã nói với nghi can, “Tôi đang có baby, tôi đang có baby.”


Keener cho biết thêm một lúc sau, các thám tử đã thuyết phục được nghi can thả người đàn bà đang mang bầu ra và sau đó ông đã đầu hàng.


Cảnh sát cho biết ông đã bị bắt về tội nghi cướp có vũ trang và tấn công với vũ khí nguy hiểm. Ðến chiều Thứ Ba, các quan chức vẫn chưa cho biết tên tuổi của nghi can vì căn cước của ông ta chưa được xác nhận qua xét nghiệm dấu tay.


Ðội Y Tế Chữa Cháy Hayward đã khám bệnh cho người đàn bà mang thai và cho biết bà không bị thương tích gì và đã cho về nhà ngay sau đó.


Trong khi nghi can bị còng tay và ngồi phía sau xe cảnh sát, một con chó chuyên truy tìm chất nổ thuộc Ðội Cảnh Sát Alameda đã được dẫn vào bên trong ngân hàng để tìm xem có chất nố còn cất giấu đâu đó không, nhưng chú chó đã không tìm thấy gì.


Ngân hàng đã đóng cửa hầu như suốt ngày khi các nhân viên điều tra phỏng vấn 20 nhân viên ngân hàng trong khuôn viên bãi đậu xe bên đường Russell và đường A, những con đường đã bị đóng khi vụ việc xảy ra.


 

Dịch vụ xã hội cho người tị nạn



Mai Hoàng


 


Trong công tác phục vụ xã hội, Cơ Quan Xã Hội Việt Nam Minnesota đã cung ứng nhiều dịch vụ xã hội cho đồng hương Việt Nam rất hữu hiệu.



Quang cảnh bàn tiệc


Tuy nhiên một tổ chức lâu đời hơn với damh xưng là South East Asian Refufee Community Home (Search) cũng góp phần không nhỏ cho lãnh vực này không riêng gì cho Người Việt mà còn cả các sắc dân tị nạn khác. Ðặc biệt thành phần sáng lập và điều hành của cơ quan đa số là gốc người Việt Nam. Trong bữa tiệc cám ơn những lãnh đạo về hưu của SEARCH vào ngày Thứ Sáu, 20 tháng 4, 2012 tại nhà hàng Hoa Biển thuộc thành phố St. Paul.


Cơ quan này đã thể hiện sự gắn bó giữa Hội Ðồng Quản Trị, các sáng lập viên và những người hưu trí.


Cơ quan xã hội SEARCH đang cung cấp những chương trình thuộc công ăn việc làm (Emploment services), dạy điện toán (Computer Literacy), dạy người giữ trẻ (Child Care Provider Training Program) và chương trình hướng dẫn thanh thiếu niên (Youth Intervention Sevices).


Qua phần giới thiệu ông Huỳnh Sĩ Nghị trong tư cách chủ tịch (Chair of the Board of Directors) đã cám ơn các sáng lập viên, hội đồng quản trị và những vị trong ban điều hành. Ông cho rằng những người sáng lập có tấm lòng, nhưng những nhân vật lèo lái đã đóng góp khả năng vào sự trướng tồn của tổ chức. Nhân dịp hội ngộ đặc biệt này ông đã bày tỏ sự căm ơn đến bà Laura Wittstock, out going Chair; ông Yanat Chhith, out going President và Luật Sư Trần Kim Hoàng, founder and former President.


Ngoài sự cám ơn, nhiều ý kiến xây dựng cũng được nêu ra để bày tỏ các yếu tố nhằm duy trì và phát huy hoạt động của SEARCH. Ông Kouthong Vixayvong, acting President, thì “quyết tâm nới rộng tầm hoạt động bằng cách huy động nhân viên tích cực tối đa” và “thành lập nhiều chương mới cũng như thuyết phục các cơ quan tài trợ ủng hộ các chương trình của SEARCH.” Luật Sư Trần Kim Hoàng cũng hứa “giúp thiện nguyện trong việc phác họa chương trình và tìm ngân quỹ.”


Ðược biết SEARCH được thành lập vào năm 1992 do các ông Nguyễn Ðình Trí (Cựu Chủ tịch Cộng Ðồng Việt Nam MN), Trần Kim Hoàng (Luật sư – Nguyễn Trần Law Firm), Huỳnh Sĩ Nghị (Chủ nhiệm/Chủ bút Tuần báo Asian American Press), Yanat Chhith (Chủ tịch Cộng đồng Miên) và bà Irene Long (Nhân viên Hã hội – Big Brothers/Big Sisters).


Hiện tại cơ quan có 3 người Việt Nam trong Hội Ðồng Quản Trị (Board of Dirctors): Ông Phạm Văn Yến – Trưởng ủy ban Ðiều hành (Chair of Management Team), ông Phan Thanh Tâm – Trưởng ủy ban Thông tin Báo chí (Chair of Media relation Commmittee) và ông Huỳnh Sĩ Nghị – Chủ tịch Hội đồng Quản trị (Chairman of the Board of Directors). Ngoài ra còn có ông Phạm Văn Vy trong Hội đồng Cố vấn và Luật Sư Trần Kim Hoàng trong chức vụ cố vấn chuyên môn (Consultant).


Mọi người tìm thấy bữa tiệc trong bầu không khí gia đình, thông cảm và đồng thời thưởng thức bữa cơm theo lối gia đình đúng hương vị Việt Nam.

Lễ Hội Hoa Anh Ðào tại San Francisco, Bắc Cali

 


Trung Cang/Người Việt San Jose


SAN FRANCISCOHàng năm, cộng đồng người Mỹ gốc Nhật tại San Francisco cũng như nhiều thành phố khác tại Mỹ đều tổ chức Lễ Hội Hoa Anh Ðào. Ðây là một trong những lễ hội lớn của cộng đồng người Á Châu tại Mỹ nói chung và tại Bắc Cali nói riêng. Năm nay, đánh dấu lần thứ 45 Lễ Hội Hoa Anh Ðào được tổ chức tại San Francisco, ngoài cộng đồng người Mỹ gốc Nhật tại Bắc California, một số đoàn thể tại Nhật cũng đã được phái đến để kết hợp tổ chức trong các ngày 14, 15, 21 và 22 Tháng Tư trước tòa thị sảnh San Francisco. Theo lịch trình, cuộc thi hoa hậu được tổ chức trong các ngày 14 và 15 Tháng Tư, và cuộc diễn hành qui mô được tổ chức vào ngày 22 Tháng Tư năm 2012.









Ðoàn xe hoa các hoa hậu Nhật Bản. (Hình: Ducte Le/Người Việt San Jose)


Sáng Chúa Nhật, 22 Tháng Tư, 2012 vừa qua, buổi lễ đã bắt đầu vào lúc 11g sáng tại Tòa Thị Sảnh và cuộc diễn hành tiếp diễn sau đó vào lúc 1g chiều với sự tham dự của nhiều đoàn xe hoa mang đủ sắc màu rực rỡ, đủ loại âm thanh náo nhiệt của đàn banjo shamisen, đội sáo trúc Shakuhachi, đội biểu diễn trống Taiko; ngoài ra, còn có màn biểu diễn võ thuật của các môn phái Judo, Aikido, Karate và Kendo. Ðoàn xe hoa của phái đoàn Hoa Hậu Nhật được tháp tùng bởi những phụ nữ xinh đẹp trong những bộ Kimonos truyền thống qua những điệu múa đặc trưng nét văn hóa độc đáo của xứ phù tang… đã tăng thêm vẻ tưng bừng của ngày lễ, được diễn hành qua các khu phố dọc theo đường Polk, đường Post rồi hướng thẳng đến Japan Town trong một ngày nắng đẹp tại thành phố San Francisco.







Phái đoàn các hoa hậu Mỹ gốc Nhật đến từ các thành phố trên nước Mỹ. (Hình: Ducte Le/Người Việt San Jose)


Lễ Hội Hoa Anh Ðào năm nay còn đánh dấu kỷ niệm 100 năm Ngày Hội Hoa Anh Ðào Quốc Gia (National Cherry Blossom Festival) tại Washington D.C. và cũng tưởng nhớ đến một năm biến cố sóng thần và động đấu Tsunami tại Nhật.


Theo ban tổ chức cho biết, buổi lễ được sự tài trợ của các công ty Toyota, Best Buy Japan Airlines, Union Bank, Grants Arts, Bia Sapporo, Xfinity, hãng truyền hình NBC Bay Area, Asahi Ryokuken, Kaiser Permanente, Otsuka, Citibank, Siêu thị Safeway, Verizon v.v… cùng nhiều công ty khác nữa. Ước tính có khoảng 15,000 người đã đến tham dự.

Lò bánh mì Pháp


Ala Francaise


 


Mai Hoàng


 


Bánh mì là một loại thức ăn thông dụng cho người Việt Nam dù trong nước hay ở hải ngoại. Do đó nhu cầu sản xuất bánh mì rất cần thiết.


Chẳng những cho người Việt Nam mà cho nhiều sắc dân khác kể cả người Mỹ. Dựa theo nhu cầu anh Nguyễn Minh Phan và gia đình đã thành lập và điều hành cơ sở Ala Francaise suốt 27 năm qua.


Hiện tại lò bánh mì cung cấp hàng sỉ cho các chợ, các tiệm bánh, các nhà hàng ở Song Thành Minneapolis/St. Paul và phụ cận. Ðược biết lò bánh mì Ala Francaise thành lập vào tháng 6 năm 1985 tại góc đường Lexington và University. Ðể nới rộng và phát triển thương vụ, chủ nhân đã tậu mãi một cơ sở quy mô trên đường University St. Paul vào tháng 8 năm 1995.


Ðược hỏi về thương vụ anh Phan cho biết: “Mọi việc đều tốt. Giúp được một số công ăn việc làm cho bà con, đồng hương, và nhất là gia đình được có lợi nhuận tương đối khả quan.” Mùi vị của bánh mì Ala Francaise cũng không thua gì bánh mì Bưu Ðiện trước 1975.


Ðịa điểm: Ala Francaise


823 University Avenue W.


St. Paul, MN 55104


651-291-2661

Canh Chua Cá

 


Bảo Liên thực hiện


 


(Cho 4 phần ăn – Thời gian thực hiện khoảng 1 giờ)


 


Nguyên liệu:


– 1 con cá Bông Lau chừng 3 lbs. có đầu hay đầu cá salmon/sturgeon (tùy ý thích).


– Ðậu bắp 20 cái


– 2 trái cà chua chín


– 1/2 lb giá sống


– 2 cây bạc hà


– 1/2 trái khóm tươi


– 1 cup nước khóm (hiệu Dole bán trong chợ)


– 6, 7 củ tỏi


– Bột me


– 1 bó ngò om


– 3 tép hành lá


– 1 trái ớt


– 3/4 cup dầu Olive


– 1 lon chicken broth (tùy thích)


 









Hình: Bảo Liên/Người Việt San Jose


Cách làm:


*Ướp cá:


– Cá làm sạch với muối, nếu còn nhớt thì rửa lần nữa với giấm, cạo cho thật sạch nhớt, rửa lại, lau khô để một bên.


– Ðập giập đầu hành lá, xắt nhỏ cho vào tô lớn với 1 muỗng canh nước mắm + 1/2 muỗng canh bột nấm + 1/2 muỗng cà phê tiêu + 1 muỗng canh đường, cho cá đã làm sạch vào, trộn đều ướp, bọc giấy kiếng và để vào tủ lạnh chừng 1 tiếng.


– Rửa thật sạch các loại rau, cắt theo chỉ dẫn sau đây và để qua 1 bên:


Bạc hà tước vỏ, xắt lát xéo dày độ 5cm.


Giá rửa sạch.


Thơm chẻ làm đôi, cắt miếng nhỏ theo chiều ngang.









Hình: Bảo Liên/Người Việt San Jose


Ðậu bắp cắt đầu đuôi, để nguyên trái.


– Tỏi đập giập, bầm nhuyễn.


– Cho 3/4 cup dầu Olive vào chảo. Chờ nóng chừng 1′, cho tỏi bằm vào phi cho thơm, khi tỏi vừa ngả sang màu vàng thì nhắc xuống, tỏi sẽ tiếp tục nấu và trở nên vàng đều và giòn, để qua một bên. Sẽ dùng cả dầu lẫn tỏi cho công thức này.


– Hành lá và ngò om xắt nhỏ, để qua một bên.


– Ớt xắt lát, để qua một bên.









Hình: Bảo Liên/Người Việt San Jose


*Nấu canh:


– Cho 1 lít nước vào nồi, sau khi nước sôi, cho vào 1/4 cup bột me + 1/4 cup nước mắm + 1 muỗng cà phê bột nêm nấm + 1/4 cup đường (đong đường cho đầy) + 1 cup nước khóm. Nêm lại cho vừa miệng, gia giảm tùy thích.


– Khi nước sôi, thả cá vào đun (bỏ phần nước mắm ướp cá vì sẽ làm tanh nồi nước).


– Cá vừa sôi lên, vớt bọt cho thật sạch xong cho đậu bắp + bạc hà vào ngay.


– Ðể nồi canh sôi chừng 2′, cho cà chua và giá vào chừng 1′ xong nhắc xuống.


Trình bày:


– Múc cá và các loại rau vào tô lớn, cho hỗn hợp hành và rau om, ớt và dầu tỏi phi thơm vào trên mặt. Nhớ cho chút tiêu vào cho thơm.


Ðem ra dùng ngay với cơm trắng hay bún và nước mắm nhỉ. Món này thường dùng kèm với cá kho tộ.









Chú thích: Không nên cho nhiều nước khi nấu vì rau cải sẽ ra nước khi nấu, cá chín rất nhanh cho nên khoảng thời gian nấu chừng 15′ là xong. Rau, giá đừng nấu lâu, để giòn mới ngon; dùng khóm tươi sẽ ngon hơn nhiều. Canh chua phải thật chua, ngọt và đậm đà mới đúng khẩu vị, đừng ngại khi nêm đường nhiều. Lượng nước mắm có thể giảm ít hơn 3/4 vì cá chấm với nước mắm nhỉ sẽ làm độ mặn tăng lên. Nếu dùng chicken broth thì gia giảm cân lượng nêm cho vừa miệng vì chicken broth đã có muối.

Cờ Vàng trên đỉnh Everest, nơi cao nhất thế giới


Bùi Quốc Hùng


 


Ngày 17 tháng 5 năm 2004, trưởng đoàn leo núi Craig Van Hoy, 46 tuổi và các đoàn viên, từ phía Nam, đã đặt chân lên nóc nhà thế giới: Ðỉnh núi Everest, trên dãy Hi Mã Lạp Sơn.


Ngay lập tức, anh Craig đã cùng người đồng hành giương ra một tấm vải nhựa có in Cờ Vàng Việt Nam nổi bật trên nền bạt ngàn tuyết trắng, xác nhận sự chinh phục đỉnh cao nhất của Everest.


Hơn nửa thế kỷ trước đó, ngày 29 tháng 5, 1953, Sir Edmund Hillary, New Jealand và Tenzing Norgay, một người dân Nepal thuộc bộ tộc Sherpa, trở thành hai người đàn ông đầu tiên chinh phục đỉnh Núi Everest, cũng từ sườn phía Nam, nơi được mệnh danh là không thể trèo lên được “unclimbable.”


Dưới đây là câu chuyện đầy cảm xúc trong sự việc gởi gấm ý nguyện tôn vinh một lá cờ thân yêu của hàng triệu người Việt Nam ở hải ngoại trên đỉnh cao Everest nổi tiếng thế giới.


Chàng trai trẻ Huỳnh Lương Vinh, cư dân thành phố Hoa Hồng, Portland, Oregon, giã từ Sàigòn ngày 27 tháng 4, 1975, cùng đại gia đình đến Hoa Kỳ năm 17 tuổi. Năm 1979 Vinh được bầu chọn là học sinh ưu tú ngành kỹ nghệ họa của liên trường trung học, hằng năm Sở Học Chánh bang Oregon, Nha Ðiện Lực (Portland General Electric) và Bộ Thủy Lợi đập nước Boneville Dam bảo trợ và cấp bằng. Trước đây thường là các học sinh bản xứ người Mỹ được chọn đều là xuất thân từ trường kỹ thuật Benson Industry. Nhưng năm đó lại lọt vào tay một người Việt Nam. Sau đó Vinh được trường University of Oregon nhận thẳng vào phân khoa kiến trúc và anh đã ra trường kiến trúc vào năm 1984 và làm việc tại Portland, Oregon. Chính tại nơi đây, Huỳnh L. Vinh có dịp quen biết anh Craig V. Hoy, sinh quán tại Tacoma, Washington, nhưng hiện nay anh là cư dân Portland, Oregon. Anh lập gia đình với một thiếu nữ Lào, tên Malaysone; anh chị có hai cháu bé: cháu trai Josiah, 6 tuổi, và cháu gái Bethany, 4 tuổi. Các cháu rất ngoan; tính tình và cách sinh hoạt của các cháu thì đặc trưng như những trẻ em được hướng dẫn và giáo dục của các gia đình Á Châu thuần túy.


Anh Craig V. Hoy làm việc cho Sở Giáo Dục Vancouver, Washington. Ngoài 3 tháng làm việc cho Sở Giáo Dục, 9 tháng còn lại, Anh dành toàn thời gian cho việc huấn luyện và hướng dẫn cho từng nhóm hoặc từng cá nhân cũng có ý ưa thích phiêu lưu, mạo hiểm như anh. Họ là những người yêu thích môn thể thao leo núi đến từ khắp nơi trên thế giới, đều mong ước chinh phục ngọn núi cao nhất thế giới Everest.


Núi Everest được đặt theo tên của Sir George Everest (1790-1866), giám định viên trưởng người Anh của Ấn Ðộ. Người Tibet gọi núi Everest là Chomolungma, người Nepal gọi là núi Sagarmatha, cao 29,035 feet (5.5 miles= 8.9 km), trên mực nước biển, trên biên giới Tibet và Nepal, phía Bắc Ấn.


Nhiều năm trước đây, anh Craig thường lui tới vùng núi này, tự nghiên cứu và học đàm thoại với dân bản xứ. Người dân Nepal ở đây thường sử dụng 3 ngôn ngữ khác nhau. Họ nói được tiếng Anh, tiếng Cherpe của người Tibet láng giềng và tiếng Nepal của người địa phương. Về thực phẩm, dân bản xứ có món khoai lang chiên giống như các tiệm hamburger của Mỹ, ăn cơm cà-ry kiểu Ấn và món thịt bò hầm. Ðó là các món ăn thuần túy, họ ăn hàng ngày như người Việt Nam ăn cơm vậy.


Năm 1987, anh Craig hướng dẫn một nhóm 8 người đi từ bang Arkansas, và năm 1991, Anh trở lại vùng này với 9 người Mỹ, 2 Tân Tây Lan và 1 người Úc. Trong những lần đó, đoàn của Craig chỉ leo qua những rặng núi thấp hơn về phía Bắc của núi Everest.


Trong tình thân quen, Huỳnh Vinh hiểu được ý chí kiên định của người bạn, Craig sẽ quyết tâm chinh phục đỉnh cao nhất của ngọn Everest, từ sườn phía Nam, nơi mà từ trước tới nay rất ít người thực hiện được. Theo Craig, chuyến leo núi lần này sẽ đầy kỳ thú và mạo hiểm nhất. Do đó, anh chuẩn bị thật chu đáo. Ðoàn của anh gồm 1 người Ðài Loan, 4 người Mỹ đến từ các tiểu bang khác nhau và 5 người thổ dân. Chuyến đi này cũng được các đài truyền hình NBC, Discovery Channel và Universal Picture theo dõi tường thuật trong suốt cuộc hành trình. Trong thời gian hai tháng tại đây, Craig huấn luyện và hướng dẫn cho các thành viên trong đoàn về những kỹ thuật, động tác và cách xử trí mà đoàn sẽ phải đương đầu trong những ngày sắp tới.


Vào lúc Craig chuẩn bị cho chuyến đi leo núi của anh, Chiến Dịch Cờ Vàng khởi đi từ tiểu bang Virginia vào đầu năm 2003, đã như một vết dầu loang trên cùng khắp các tiểu bang, quận hạt và các thành phố Hoa Kỳ. Huỳnh Vinh chợt có một ý tưởng tuyệt vời, đó là đem tâm nguyện của anh ấp ủ về lá cờ Vàng, biểu tượng cao quý về Tự Do, Dân Chủ và là di sản của người Việt ở hải ngoại, trở thành hiện thực tung bay trên đỉnh núi Everest một khi đoàn thám hiểm của người bạn Craig thành công. Huỳnh Vinh đem tâm nguyện của mình nói với Craig, và Craig đã hân hoan nhận lời. Craig thích thú nói: “Tôi sẽ trân trọng đem lá cờ mang ý nghĩa tranh đấu cho Tự Do này lên tới đỉnh Everest và sẽ chụp cho anh một tấm ảnh, chắc chắn đây là lần đầu tiên trong lịch sử, anh hãy hãnh diện.” Craig cũng có nhiều hiểu biết và rất kính trọng Ðức Ðạt Lai Lạt Ma, nhà lãnh đạo tinh thần của người Tibet. Hiện ngài đang lưu vong ở Ấn Ðộ để tranh đấu giành tự do cho xứ sở Tibet của ngài.


Cuộc hành trình bắt đầu từ trạm đầu tiên, lên tới đỉnh Everest phải mất hết ít nhất 6 ngày. Craig kể rằng, trời tờ mờ sáng, đoàn của anh lên đường, đất trại với cao độ là 17,600 feet. Nhiệt độ vào lúc này xuống tới 5 độ Faraheit. Ðể tranh thủ thời gian, trong suốt 17 giờ, anh chỉ ăn một thỏi chocolat và uống 1 lít nước lọc.


Từ chân núi lên đến đỉnh phải dựng lều trại nghỉ ngơi qua đêm, ít nhất là 4 lần. Ðến trạm thứ nhì coi như leo đã được nửa đường. Trang phục quần áo, như các phi hành gia không gian, trang bị nhiều loại dây leo núi khác nhau, giầy có móc sắt, búa, gậy, mặt nạ, bình dưỡng khí và 50 chiếc thang nhôm. Khi gặp đoạn nứt lớn của các hố sâu, các thang này sẽ được cột nối tiếp các đầu thang lại với nhau để đoàn băng qua dễ dàng hơn.


Tháng 5 là mùa mưa lũ tại những khu rừng già hoặc những khu đồi núi vùng Á Châu, nhưng may mắn thay, ngày hôm đó trời trong, khí hậu tương đối tốt, không có mưa lớn hoặc có bão tuyết như các năm trước. Ðoàn của Craig vẫn tiếp tục leo cao lên, cao hơn nữa. Thật xa, chân trời như một dải lụa màu xám bạc, trước mặt là những rặng núi nhấp nhô, mờ ảo. Cũng vào giờ này, bên dưới, dân làng đang yên giấc ngủ say như cùng hòa nhịp thở nhẹ của Craig qua ống dẫn khí mà anh đang đeo.


Ðến đúng ngày thứ 6 (17 tháng 5, 2004), Craig và đoàn leo núi đã đặt chân lên đỉnh cao nhất của núi Everest, nơi còn được gọi là “Nóc Nhà Thế Giới.”


Trong giây phút thành công này, anh Criag V. Hoy nghĩ đến vợ, con anh tại Portland, Oregon. Anh nghĩ đến những người thổ dân ở đây đã cùng anh chia sẻ bao tháng ngày và nhất là vị cao tăng Phật Giáo đã theo truyền thống làm lễ ban phước lành cho anh mỗi lần anh leo núi tại đây. Và đặc biệt, anh nghĩ đến một người bạn mà theo anh biết, lúc nào cũng mong ngóng, trông đợi ngày anh thành công trở về với hình ảnh Cờ Vàng rực rỡ trên đỉnh cao chót vót của Núi Tuyết Everest hùng tráng.


Ngay lập tức, trưởng đoàn leo núi Craig lấy từ trong túi đeo lưng ra một tấm vải nhựa có lá cờ Vàng Ba Sọc Ðỏ cùng một người đồng hành giương ra trong ánh tuyết sáng trắng trên nền trời bao la trong xanh. “Vinh ơi… tấm ảnh này tôi chụp riêng tặng cho anh và những người Việt Nam Tự Do ở hải ngoại đó!”


Chỉ hai ngày sau khi thành công cuộc chinh phục đỉnh Everest, khi vẫn còn đang cheo leo trên đường trở về của đoàn leo núi, ngày 19 tháng 5, 2006, Nghị Ciên Andy Quách ở thủ đô của Người Việt tỵ nạn đã thành công trong nghị quyết cấm cửa các phái đoàn CSVN đến Little Sàigòn. Hai sự thắng lợi ở hai phương trời cách biệt, xa hàng ngàn vạn dặm nhưng thực sự có ý nghĩa vô cùng đối với những người Việt yêu chuộng dân chủ, tự do và đặc biệt là một niềm hạnh phúc đối với người tuổi trẻ Huỳnh L. Vinh của thành phố Hoa Hồng Portland, Oregon.


(Bùi Quốc Hùng-VBMN, viết theo Huỳnh Lương Vinh và tài liệu từ The World Book Encyclopedia – M Volume 13, World Book, Inc.)

Nhà văn Dương Thu Hương: ‘Chế độ cộng sản là chế độ man rợ và phi nhân’

 


 


Ðinh Quang Anh Thái


 


LTS: Nhà văn Dương Thu Hương đã có lần công khai bầy tỏ rằng, Tháng Tư năm 1975, bà đã ngồi trên lề đường của Sàigòn ôm mặt khóc vì khám phá ra rằng, chế độ chiến thắng cuộc chiến chẳng qua chỉ là một thể chế man rợ. Từ đó, bà chọn cho mình một hướng đi riêng, là đấu tranh cho một nước Việt Nam tự do dân chủ.


Nhà văn Dương Thu Hương, nổi tiếng không những về những tác phẩm như “Thiên Ðường Mù,” “Bên Kia Bờ Ảo Vọng,” “Khải Hoàn Môn,” mà còn do thái độ can đảm và thẳng thắn phê bình giới lãnh đạo Hà Nội. Bà từng bị chế độ giam giữ gần một năm. Hiện nay, bà Dương Thu Hương sống đơn độc tại Paris và hầu như không giao du với ai.


Nhân đánh dấu 26 năm ngày 30 Tháng Tư 1975 và cũng là dịp Ðảng Cộng Sản Việt Nam khai mạc Ðại Hội 9, nhà văn Dương Thu Hương dành cho Little Saigon Radio cuộc phỏng vấn đặc biệt và do biên tập viên Ðinh Quang Anh Thái (ÐQAT) thực hiện.


Tuy bài phỏng vấn đã cũ, nhưng vẫn có giá trị trong thời điểm hiện nay. Tuần báo Người Việt San Jose xin đăng lại nguyên văn sau đây.








Nhà văn Dương Thu Hương nói chuyện với giới cầm bút Hoa Kỳ tại New York năm 2007 (Hình: Ðinh Quát)


ÐQAT: Ðảng Cộng Sản Việt Nam sẽ chính thức khai mạc Ðại Hội 9 vào ngày 19 Tháng Tư (2001) này tại Hà Nội, là một người sống ngay tại thủ đô và là người luôn trăn trở đối với tình hình của đất nước, bà có nhận xét gì về đại hội này?


Dương Thu Hương: Nếu bảo rằng nhận xét thì tôi không dám nhận xét, bởi vì mấy năm nay tôi không theo dõi sinh hoạt của đảng Cộng Sản, mà tôi cũng không đọc báo. Nói chung, hoạt động của đảng Cộng Sản thì nó rất nhàm chán nên tôi không theo dõi. Nhiều người cũng thờ ơ nhưng người ta không dám nói như tôi (cười…). Tính tôi vốn dĩ nghĩ gì nói nấy nên thành thật thưa với quý đài là tôi không chú ý tới đại hội của họ. Nhưng mà tôi biết có một số người chú tâm tới những cuộc đấu đá giữa những phe phái trong đảng Cộng Sản, xem là kẻ nào ngã ngựa, kẻ nào thì lên ngựa… đại khái như thế.


ÐQAT: Lý do nào khiến cho một người như bà, một người đã có thời hết mực tận tụy với đảng Cộng Sản Việt Nam và tự nhận là “thuộc thế hệ xẻ Trường Sơn đánh Mỹ,” để rồi bây giờ hoàn toàn không chú ý tới sinh hoạt của đảng Cộng Sản, mặc dù bà đang sinh sống ngay tại lòng của thủ đô Hà Nội?


Dương Thu Hương: Chuyện này thì ông Thái lầm đấy. Thứ nhất là chưa bao giờ tôi tận tụy với đảng Cộng Sản. Tôi vào chiến trường năm 1968 là vì lòng yêu nước truyền thống. Lúc ấy đó tôi tưởng rằng đó là cuộc chiến tranh chống xâm lược của Mỹ đối với Việt Nam. Cho nên giống như cha ông chúng ta, hễ quân Minh, quân Thanh đến là đánh thế thôi. Khi vào trong Nam, năm 1969, họ có nhã ý kết nạp tôi vào đảng, nhưng tôi đã thẳng thắn trả lời với chi bộ Văn Hóa Quảng Bình nơi tôi phục vụ là “cái chi bộ này đảng viên đàn ông còn có người tư cách khả dĩ, chứ còn đảng viên đàn bà thì toàn những đồ ăn mày ăn nhặt, toàn những con đĩ thì tôi vào làm gì cho nó bẩn người tôi ra.” Cho nên tôi không vào đảng. Ðến năm 1977, khi tôi chuyển vào Xưởng Phim Giải Phóng, thì chính những anh em ngoài đảng cứ tha thiết nói tôi phải vào đảng để đấu tranh cho mọi người. Vì thế tôi vào đảng với tinh thần rất thực dụng. Lúc bấy giờ, tất cả lương bổng, tất cả những chuyến đi nước ngoài béo bở, có thể buôn bán kiếm tiền để đạt một cái thiên đường vật chất nhỏ bé nào đó, tất tật những bổng lộc ấy đều tùy thuộc vào các chi bộ quyết định, vì vậy, anh em ngoài đảng bảo tôi vào để đấu tranh với họ chống lại những tệ nhũng lạm, cửa quyền, đút lót xẩy ra trong đảng. Và tôi vào và đã làm được việc ấy. Tính tôi có lẽ vì không tham và thẳng thắn nên thứ trưởng, bộ trưởng, gặp thằng nào tôi chửi thằng ấy nên họ phải im thôi. Huống hồ các cấp lãnh đạo đối với tôi (cười) thì tôi thấy cái gót chân Achille của họ có tới bẩy, tám, chín gót cơ, bản thân họ mềm yếu có lẽ vì họ có nhiều dục vọng quá.


Tôi nói lại với ông Thái rằng tôi vào đảng không vì tận tụy với đảng, mà lúc đấy tôi thấy đảng thối lắm rồi và tôi vào để làm những việc cụ thể là đấu tranh cho anh em, là những người thấp cổ bé họng. Khi tôi bộc lộ một cách rõ ràng quan điểm của tôi chống lại cái nhà nước độc quyền và đấu tranh cho một chế độ dân chủ, một chế độ đa đảng, một chế độ nhất thiết phải có đối trọng thì lúc bấy giờ tôi có làm một bản kiểm điểm mà tôi nghĩ là nó thành công, vì tôi đứng trong đảng, như người ta nói trong chăn mới biết chăn có rận, cho nên với tính cách đảng viên, tôi nói được quan điểm của mình và tôi đã làm được việc đó.


ÐQAT: Mặc dù bà nói rằng không hề chú tâm đến các hoạt động của đảng Cộng Sản Việt Nam, tuy nhiên, chúng tôi nhớ không lầm thì trong một bài viết của bà cách đây khoảng 10 năm, bà phát biểu rằng không có gương mặt nào của Bộ Chính Trị Ðảng Cộng Sản Việt Nam tiêu biểu cho nguyện vọng của dân tộc, vậy thì bà nhận định ra sao nếu như trong Ðại Hội 9 này, ông Nông Ðức Mạnh sẽ lên thay ông Lê Khả Phiêu trong chức vụ tổng bí thư đảng?


Dương Thu Hương: Những nhân vật mà ông vừa đề cập đến, tôi chưa hề trực tiếp gặp họ, tôi chỉ nhìn ảnh của họ, mà cũng hãn hữu thôi tôi mới ném một cái nhìn vào ảnh của họ. Theo tôi, giữa những cái mặt của những người đó, thì cái mặt của Nông Ðức Mạnh còn có vẻ là sáng sủa hơn. Ðôi khi tôi thấy ông ta có cái nhìn buồn rầu, có lẽ vì ông ta thấy nước non thối tha quá, và đảng của ông ta thối tha quá. Có lẽ cái nhìn buồn rầu ấy chứng tỏ người ta còn một chút lương tâm, chứ nó không phải là những bộ mặt nham nhở, lúc nào cũng nhăn nhở cười hềnh hệch, xin lỗi phải nói lời của các cụ ngày xưa là “xằng xằng như… cái gì phải nước sôi ấy.” Tóm lại, những người do đảng cử ra đại đa số là họ tự bầu cho nhau, nhân dân không bầu họ. Cho nên cái mặt của họ trông tăm tối lắm, ăn nói thì nham nhở, ngu độn, nói chung là câu nọ chửi bố câu kia, chẳng ra cái thể thống gì cả. Nó ngớ ngẩn đến mức độ tất cả những người dân Việt Nam, dù người mù chữ đi nữa cũng xấu hổ vì vua chúa sao mà tối tăm ngu dốt đến thế. Tôi cũng chẳng biết ông Nông Ðức Mạnh có lên cầm quyền được không nhưng vấn đề là ngay cả trường hợp ông Nông Ðức Mạnh nắm quyền đi chăng nữa thì cơ chế này vẫn cứ phải thay đổi. Không một cá nhân nào có thể tử tế được. Vấn đề phải có cơ chế để buộc con người phải tử tế. Trước sau tôi vẫn nghĩ phải có một chế độ để cho dân chúng được quyền bầu lên những người đại biểu của mình. Có nhứ thế thì bản thân những người đại biểu ấy khi họ được bầu, họ cũng có cái sự tự tin của họ. Bởi vì họ được đảm bảo bởi lá phiếu của người dân, do đó, mặt họ dù có xấu xí chăng nữa thì ánh sáng của lòng tự tin cũng làm họ khá hơn. Ngoài ra, trí tuệ của 80 triệu dân cũng không ngu dốt gì mà lại đi bầu cho những khuôn mặt tối tăm quá, hoặc những kẻ ngu dốt quá. Cho nên, đất nước Việt Nam muốn tiến bộ thì phải xóa bỏ chế độ độc đảng và người dân phải có quyền bầu cử thực sự. Lúc ấy giờ thì tôi mới có thì giờ nhìn lại những khuôn mặt lãnh đạo, chứ bây giờ thì tôi không có thì giờ nhìn mặt những người lãnh đạo hiện nay.


ÐQAT: Bà là người mang nhiều trăn trở về tình trạng tụt hậu hiện nay của đất nước và con người Việt Nam, theo nhận định của bà, làm sao để có được một bước đột phá nhằm đưa đất nước đến một cơ chế dân chủ tự do như ước vọng chung của mọi người, khi mà giới lãnh đạo tại Hà Nội lúc nào cũng khăng khăng là Việt Nam phải nhất quyết tiến lên Xã Hội Chủ Nghĩa, phải đeo đuổi chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh?


Dương Thu Hương: Tất cả những lời lẽ của giới lãnh đạo vừa ngu xuẩn vừa dối trá. Bản thân họ biết sự dối trá đó. Tất cả những kẻ mở mồm nói Xã Hội Chủ Nghĩa thì con cái chúng nó đều buôn bán, đều làm mọi cách tận thu, tận dụng, ăn cắp thật là nhiều tiền và trở thành những thằng tư bản. Chúng nó phát huy tối đa khả năng ăn cắp, ăn cướp, biến tất cả tiền tài, của cải của nhân dân trở thành vốn liếng riêng của chúng nó, hoặc là gởi tiền ra nước ngoài để sau này bỏ trốn, hoặc là nếu tình hình còn thuận tiện thì chúng nó sẽ ở lại trong nước để giữ một vốn liếng to lớn trực tiếp lấy từ xương máu của dân chúng. Như thế có nghĩa là không biết bao thế hệ nữa của con cháu chúng tôi, nhất là con cháu của hơn 60 triệu nông dân, phải trả nợ cho hành động nhũng lạm của bọn chúng. Còn về Xã Hội Chủ Nghĩa thì những người nào không ngu lắm thì họ cũng đều biết rằng chủ nghĩa này chỉ là câu nói đầu lưỡi. Tại sao giới lãnh đạo đảng nói thế? Họ nói thế vì họ dựa vào sự hèn hạ, sự hèn nhát của dân chúng. Dân chúng sợ hãi họ vì bản thân của chế độ này là chế độ dựa trên nòng súng theo đúng nguyên tắc của Lênin, cho nên người dân vì sợ hãi mà phải hèn nhát cúi đầu, cho dù dân chúng biết rằng, cả người nói và người nghe đều biết những điều ấy là những điều giả dối. Người nói thì trơ tráo vô liêm sỉ, còn người nghe thì vì sợ hãi nên đành nuốt nước bọt thôi. Tôi nghĩ rằng ai cũng biết, toàn thành phố Hà Nội này người ta biết từng con cái đám lãnh đạo, con “thằng” Phan Văn Khải thì thế nào, con rể “thằng” Ðỗ Mười thì như thế nào.v.v … dân chúng người ta biết từng chi tiết một. Tóm lại, không có gì đáng bàn về cái thứ Chủ Nghĩa Xã Hội, tất cả chỉ là trò lừa bịp của danh từ và sự lừa bịp này còn tồn tại vì nó dựa trên hai vế. Vế thứ nhất, kẻ cầm quyền thì dùng sức mạnh và bạo lực đàn áp dân chúng, còn vế thứ hai là dân chúng cam phận, hèn nhát vì sợ bạo lực và vì tinh thần nô lệ nó đã tẩm nhiễm quá lâu rồi.


ÐQAT: Hình ảnh đất nước và con người Việt Nam như bà vừa phát biểu ảm đảm và u tối quá. Bản thân bà, bà có tin tưởng vào tương lai của Việt Nam không?


Dương Thu Hương: Nếu không có một chút niềm tin nào thì chẳng ai sống nổi. Theo tôi, dân tộc ta là dân tộc nhỏ, nên năng động hơn những nước lớn như nước Tầu. Nhưng mà tôi không biết dân tộc ta đã hết vận số tận cùng dưới đáy chưa. Còn những năm vừa qua thì quá tăm tối. Cứ nhìn mặt những người lãnh đạo thì cũng đủ thấy nhục nhã và đau đớn như thế nào cho 80 triệu dân. Tôi không phải là nhà tiên tri nên tôi không biết bao giờ thì cuộc hạnh ngộ với tương lai mới đến với dân tộc chúng ta. Nếu chúng ta có sự thay đổi thì tôi cho rằng vì là dân tộc nhỏ nên chúng ta sẽ thoát khỏi quá khứ một cách gọn nhẹ hơn. Ðó là điều hy vọng của tôi cho tương lai.


ÐQAT: Khi cuộc chiến Việt Nam chấm dứt ngày 30 Tháng Tư năm 1975, lúc đó bà ở đâu, đang làm gì và có cảm tưởng gì?


Dương Thu Hương: Lúc đó tôi ở Quảng Bình, và một vài tuần sau đó thì tôi tìm cách vượt qua cầu Hiền Lương để vào Sàigòn với mục đích thăm những người thân và tìm hiểu xem người dân miền Nam sống như thế nào. Trong suốt một tuần lễ đi đường, tâm trạng của tôi là cả một mớ hỗn độn. Bởi vì một khi thông tin có quá nhiều thì nó trở thành hiện tượng bị nhiễu trắng. Còn về cảm tưởng khi nghe chiến tranh chấm dứt thì khó nói vắn tắt lắm, nhất là cuộc chiến quá dài. Nhưng khi tham dự cuộc chiến chống Mỹ, tôi nghĩ rằng đây là cuộc chiến chống xâm lược, tôi đã từ bỏ cuộc sống ở hậu phương mà tôi cho là hèn hạ, hoặc đi ra nước ngoài là hèn hạ, để rồi tôi dấn thân vào chốn chông gai như thế. Nhưng mà sau khi vào Sàigòn, thì tôi biết rằng một cuộc chiến tranh khác lại nẩy nở trong tôi. Tôi nghĩ là cuộc chiến tranh trong lòng tôi nó lâu dài và khốc liệt hơn, vì lúc bấy giờ, khi người khác vui sướng nhất thì tôi hiểu rằng tôi hoàn toàn lầm lạc. Theo tôi, cái mô hình xã hội của cái miền đất bại trận mới chính là mô hình của nền văn minh, và chúng tôi là người trong đội ngũ chiến thắng thì thực ra chúng tôi đã chiến đấu cho một mô hình xã hội man rợ. Và điều đó khiến tôi hết sức cay đắng. Tất nhiên ngay lúc ấy cảm tưởng nó còn mù mờ, nhưng sau này, càng ngày thì sự hồ nghi của tôi nó càng rõ rệt hơn, cho nên tôi phải nói thật là trong ngày 30 tháng Tư, cái khoảnh khắc vui sướng như mọi người qua đi rất nhanh, nhưng đối với tôi thì trong nội tâm đã xẩy ra một chiến mới và nó đã kéo dài mãi cho đến 10 năm sau đó thì nó mới biến chuyển hoàn toàn và khiến tôi trở thành một người “dissident” quyết liệt như vậy.


ÐQAT: Tâm trạng của bà có phổ biến trong hàng ngũ những người chiến thắng không ạ?


Dương Thu Hương: Tôi chắc là nếu tâm lý của tôi mà phổ biến quá trong hàng ngũ đó thì chế độ này đã bị lật đổ từ lâu rồi. Vì họ cũng nhìn rõ như tôi thì không thể tồn tại mãi cái chính quyền dựa trên nòng súng như thế này được. Tôi không khinh bỉ con người đâu, có điều là con người ta nói chung, thường an phận và có lẽ bản chất con người bao giờ cũng nương theo phe mạnh, bản chất con người bao giờ cũng tìm những lý lẽ để bào chữa cho mình để được sống còn. Cho nên không phải là ít người đã nhìn ra cái khía cạnh phi lý của cuộc chiến tranh, không phải là ít người đã khám phá ra chế độ cộng sản là chế độ man rợ và phi nhân đâu, nhưng nói chung con người là hèn yếu, gió chiều nào che chiều ấy. Cho nên để nói ra miệng thì cũng khó, nhất là người Việt Nam hay nghĩ vụng, nghĩ lén, chứ bảo họ nghĩ thẳng thắn thì cũng khó.


ÐQAT: Bà đã viết một bài tựa đề là Tiếng Vỗ Cánh Của Bầy Quạ Ðen, nhận định rằng các “nhà Việt Nam học” thường băn khoăn trước một nghịch lý là tại sao một dân tộc dũng cảm biết bao trong chiến tranh như dân tộc Việt Nam mà lại tỏ ra hèn mọn như thế trong cuộc sống thời bình. Bà có lý giải được hiện tượng này không?


Dương Thu Hương: Ðiều thứ nhất, cuộc chiến tranh vừa rồi nó quá khốc liệt, người chết quá nhiều, chết vì bom đạn, vì đói ăn, chết vì căn bệnh tâm thần .. v.v.. Khi nó quá khốc liệt thì nó như một cái lò làm cho nhiều thế hệ tan chẩy trong đó. Con người là hữu hạn, cuộc đời là hữu hạn và sức lực của con người cũng hữu hạn, lòng can đảm của con người cũng hữu hạn. Tóm lại, con người là một thực thể rất dễ dao động, vì thế khi đã ra khỏi lò lửa chiến tranh thì rất dễ nẩy sinh ra tâm lý dầu sao thì sống vẫn hơn chết. Người Việt Nam mình, nghĩa là cả tôi lẫn cả ông Thái nữa, dũng cảm bao nhiêu trong chiến tranh thì hèn nhất bấy nhiêu khi hòa bình, đó cũng là tâm lý dễ hiểu. Là vì họ đã khổ đau, họ đã lội qua địa ngục rồi nên thà họ cam chịu sự thống trị của một chính quyền hà khắc để còn được tồn tại, còn ăn được miếng cơm với nước mắm hơn là chết. Người Việt Nam dễ hài lòng, và vẫn chưa ý thức được quyền sống, chưa ý thức về nhân phẩm, chúng ta không thể đòi hỏi những người quá nghèo khổ có ý thức được về quyền tự do, một thứ quyền xa xỉ mà phải ở cấp độ nào đó người ta mới yêu được tự do, còn khi người ta đói quá thì người ta chỉ cần một bát cơm chan nước mắm cua hoặc một tý muối ớt, một tý mỡ ngoáy vào cơm là đủ qua ngày rồi. Người Việt Nam trong suốt cuộc chiến tranh đã sống cùng khổ như thế cho nên là khi đã lội qua địa ngục thì phải rất lâu người ta mới phục hồi lại cuộc sống bình thường như là các dân tộc khác. Ðấy là mặt tâm lý.


Ðiều thứ hai, đất nước chúng ta chịu chiến tranh liên miên nên nó sản sinh ra hai loại tâm lý con người. Tâm lý của lớp tướng và tâm lý của lớp quân sĩ. Chiến tranh dạy cho con người ta tâm lý tuân lệnh. Thái độ tuân lệnh là một gông cùm đào tạo ra phẩm chất nô lệ. Cho nên sau khi hòa bình, lập tức người lính rất ngoan cường trong chiến tranh đã trở thành những công dân hèn nhát. Họ chưa có khái niệm về quyền công dân, chưa có tri thức để làm một công dân như công dân của các nước tự do.


Ðiều thứ ba là thói quen tuân lệnh, tuân lệnh và tuân lệnh đã tẩm nhiễm vào tâm hồn họ rồi cho nên họ chỉ trở thành những người lính trong thời bình, nghĩa là những kẻ hèn, chỉ biết cúi đầu tuân lệnh mà thôi. Những người lính này sẽ lại ra lệnh cho con cái của họ, hoặc những kẻ yếu thế hơn họ. Nói cách khác, tâm lý đó là, hoặc là làm sếp của những người bên dưới, hoặc là làm con ở, đầy tớ cho những thằng bên trên. Một dân tộc mà mang cái tâm lý song trùng đó thì rất là khó trở thành một dân tộc có tự do dân chủ, bởi vì muốn có tự do dân chủ thì xã hội phải hình thành được những người công dân tự do, biết quyền của mình, biết mình được được hưởng những gì và như thế họ phải có ý thức về quyền công dân đã. Và lúc đó họ mới khao khát làm công dân.


ÐQAT: Trong một bài viết khác của bà tựa đề là Tự Do Ảo Khoảng Sinh Tồn Của Ngòi Bút, bà thiết tha cho rằng không có khát vọng nào phải trả giá đau đớn cho bằng khát vọng tự do, cũng như không có thách thức nào khắc nghiệt hơn là tự do. Bà có lạc quan về tương lai tự do của dân tộc mình không?


Dương Thu Hương: Tôi cũng không dám lạc quan lắm. Bởi vì dân tộc ta gần 90% là dân cầy, cho nên không thể đòi hỏi những người nông dân một sớm một chiều có ý thức về quyền công dân được. Tất cả mọi việc đều phải cần thời gian. Những người nông dân chỉ đòi hỏi một lãnh chúa, một minh chúa thôi. Còn muốn dân chủ thì cần có tri thức về xã hội, về quyền sống của con người và tri thức về quyền công dân. Chúng ta phải tập, phải chờ đợi. Tất nhiên tôi cũng không đến nỗi tuyệt vọng. Tôi nghĩ bây giờ với phương tiện của văn minh tràn vào Việt Nam, dù muốn hay không muốn thì cộng sản không thể giữ được cái chế độ ngu dân tuyệt đối như trước nữa. Bây giờ đã có TV, có radio, bây giờ nhân dân người ta đã nghe đài của các ông, đài VOA, đài RFI, RFA .v.v.. cũng nhiều rồi, không đến nỗi người ta bị chọc mù mắt, bị bịt tai như ngày xưa đâu. Thành ra người dân cũng tỉnh ra, nhưng cũng cần phải có thời gian, không thể đốt cháy giai đoạn được.


ÐQAT: Câu chót xin phỏng vấn bà Dương Thu Hương; mỗi năm, cứ đến dịp 30 tháng Tư, nhà nước Hà Nội lại tổ chức những lễ hội kỷ niệm biến cố lịch sử này, tâm trạng của bà về những ngày này như thế nào, và ngày 30 Tháng Tư liệu còn mang ý nghĩa nào trong lòng bà hay không ạ?


Dương Thu Hương: Ngày 30 Tháng Tư là một ngày mà tôi nhìn thấy sự trớ trêu của số phận đất nước Việt Nam. Ngày 30 tháng Tư là một kỷ niệm nặng nhọc và buồn phiền. Tôi nghĩ rằng sau này lịch sử sẽ nhìn lại ngày 30 Tháng Tư là một ngày đau khổ và cuộc chiến tranh bấy giờ là một cuộc chiến tranh tồi tệ nhất của người dân Việt Nam. Những người Việt Nam có lương tri, dù là chống cộng hay dù là cộng sản, sau này họ chết đi, họ cũng nên lội qua vạc dầu một lần để hiểu thế nào là chân lý.


ÐQAT: Cám ơn bà đã trả lời phỏng vấn của chúng tôi.

Vàng Ðen (Kỳ 80)


“Vàng Ðen” là tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Dũng Tiến, được xây dựng trên những tư liệu cùng huyền thoại liên quan tới vùng “Tam Giác Vàng,” một trong những nguồn sản xuất và cung cấp thuốc phiện (“vàng đen”) lớn nhất thế giới. Ngoài việc viết văn, tác giả Nguyễn Dũng Tiến cũng là một trong những người Việt Nam đầu tiên có công gầy dựng vườn cây ăn trái cho người Việt ở xứ người. Ông hiện là chủ nhân vườn cây LA Mimosa Nursery, 6270 East Allston Street, Los Angeles, CA 90022-4546. Tel: (323) 722-4543. Ðược sự cho phép của tác giả, Người Việt hân hạnh giới thiệu tiểu thuyết “Vàng Ðen” trên mục truyện dài của Nhật Báo Người Việt cũng như Người Việt Online.

 

Kỳ 80

 

12

 

Giữa lúc Hồ Mông, một địa danh thất lạc, nhỏ như một chấm kim trên bản đồ thế giới, đang sôi sục dù trời đêm với đầy sương mù bao phủ, giam cái lạnh căm căm lên vạn vật. Ðúng hơn, điểm sôi sục đó còn nhỏ hơn cả chấm kim trên bản đồ, vì tư dinh cùng hoa viên của Khun Sa đang đổ lửa.

Giữa cái đổ lửa ấy, một vài nơi khác trên địa cầu, thật xa, thật xa với Hồ Mông, có nhiều người đang nói, bàn tán, thảo luận về địa danh mịt mù đó, cùng những gì liên quan đến nó.

Tại California, quận Riverside, trong căn cứ của đơn vị lính đánh thuê gốc Việt.

Từng sợi khói thuốc lá mầu xanh lơ lửng treo giữa khoảng không trong phòng họp của đơn vị. Người đơn vị trưởng ngửa lưng, tiếp tục thả từng hơi khói dài lên trên trần. Cuộc họp đã có vẻ quá lâu, dăm, bẩy người ngồi quanh chiếc bàn dài chừng đã quá uể oải. Người đại úy tên Vi, tính tình xem chừng nóng nẩy cũng ngồi lơ đãng gãi đầu. Những tách cà phê trên bàn có lẽ cũng đã được đổ thêm nhiều lần, vì hai bình cà phê lớn trên chiếc bàn nhỏ cạnh đó đã cạn đến đáy.

-Thôi, chúng ta tạm giải tán và chờ đợi, cùng lắm trong bốn mươi tám tiếng nữa, bên đó sẽ báo cáo về.

Vừa nói, trung tá chỉ huy trưởng vừa đẩy lùi chiếc ghế để đứng dậy. Những người khác cũng lục tục đứng dậy theo. Tất cả lần lượt nối nhau rời phòng họp.

-Trình trung tá, tôi vẫn cho rằng, thằng nhỏ nó sẽ không đốn Khun Sa.

Trả lời cho câu nói của đại úy Vi, người chỉ huy trưởng cũng chỉ lấp lửng:

-Tôi đã nói với anh rồi, hắn theo tôi khá lâu, chân cẳng của hắn tôi phải biết. Hắn đã từng làm được nhiều cú động trời, nhưng cũng có nhiều cái khùng làm tôi muốn điên. Chuyện hắn đốn Khun Sa hay không cũng tùy thuộc vào hoàn cảnh của hắn ngay bây giờ. Tất cả những gì A Sán báo cáo về chiều hôm qua, anh cũng biết như tôi vậy.

-Kẹt nhỉ, thằng nhỏ lại còn mang theo cái lá đa. Xui thấy mẹ.

Câu nói của đại úy Vi làm ông Thanh, thiếu tá phó cười nhạt, rồi bỏ nhỏ:

-Lá đa làm anh xui mấy lần rồi?

-Ờ, ờ, cũng phải bị vài lần mới có kinh nghiệm chứ thiếu tá. Phải bị bể ống khói vài lần mới biết, máng vào lá đa chỉ có bù.

Trong khi các sĩ quan khác đã tách rời khỏi phòng họp, mỗi người một hướng, cả ba vẫn thong thả thả bộ, tiếp tục nói chuyện.

-Tôi rất lo âu cho hắn, hai đứa nhỏ người Lào của hắn bị bắt cóc, bị giết như vậy mà chính hắn cũng như mình đều không có một chút manh mối nào hết. Còn người đàn bà nào đó, do hắn cứu về đến Vạn Tượng cũng bị giết kiểu tùng xẻo, chết không ai hay. Hiện giờ, cùng những gì đã xảy ra, tôi dám chắc đến tám mươi phần trăm, nguồn tin bị hở từ bên ngoài, không phải do mình. Trên nguyên tắc, sau khi bị cảnh cáo ngay tại đơn vị, mình đã chính thức hủy bỏ khế ước hạ Khun Sa với tụi C.I.A., vì tôi tưởng nguồn tin bị hở từ phía chúng ta…

-… Nhưng sau đó, tôi đã liên lạc trực tiếp thẳng với giám đốc của tình báo Mỹ, cho hắn biết sự việc đã bị lộ trước khi mình động thủ. Tôi quy kết, nguồn tin bị lộ từ phía hắn, do đó tôi chỉ chấp nhận làm nếu dư luận được phổ biến là khế ước đã được hủy bỏ giữa hai bên. Chính hắn đã vui vẻ chấp nhận và hứa sẽ vô cùng kín đáo. Kết luận, tụi nhỏ của mình bị đón ngay từ Vạn Tượng, bị bắt cóc, bị phục kích, vì tin đã bị hở ngay tại Mỹ.

Cả ba giữ im lặng hồi lâu dù vẫn thong thả đi.

-Những gì trung tá vừa nói làm tôi lẫn trung tá băn khoăn vô cùng. Chúng tôi đã âm thầm xét lại từng đường dây, mối nhợ, nhưng tuyệt không một điều gì, hay một ai có thể khả nghi được. -La Diabla này quả thật làm chúng tôi điên đầu. Do đó, trong phiên họp, chúng tôi không đả động gì đến khế ước ngầm với C.I.A., cũng như không đả động gì đến việc sẽ cử anh đem hai trung đội sang đấy hầu tiếp ứng, nếu cần.

-Khi nào, thiếu tá?

-Chúng tôi chỉ muốn báo trước cho anh để anh âm thầm chuẩn bị tụi nhỏ. Không chừng trong vòng vài phút nữa, hay có khi đến ngày mai. Tùy theo tin từ Chiang Mai gởi về.

-Anh Vi cứ chuẩn bị sẵn hai trung đội cho tôi, vũ khí nhẹ, cùng lắm đem theo hai cây cối. Tôi và ông phó nhẩy vào vụ này không phải vì Khun Sa. Chúng tôi muốn -La Diabla phải lộ diện. Cũng có thể, một trong những chân tay thân tín của Khun Sa là -La Diabla, đang hoạt động vòng ngoài cho hắn. Riêng bản chất của Khun Sa, hắn không đến nỗi tàn độc như vậy.

-Nếu không cho tôi đi liền, sợ rằng đến nơi có quá trễ chăng?

-Thằng Sơn hãy còn nguyên trung đội đủ đang nằm căng ngang ở biên giới Thái Miến. Tôi không cho trung úy Phong biết chuyện hắn đánh Khun Sa chỉ là việc phụ. Mình cũng chưa biết chắc “La Diabla” ở phía nào, nếu con quỷ cái ấy thuộc cánh Thái Lan, cùng bọn với thằng dân biểu Thanon Kitthaton, thằng nhỏ của mình sẽ bị nằm giữa hai gọng kềm.

-Tên dân biểu ấy đã từ chức rồi.

Một sự phản bội

 


Lê Phan


 


Ðã mấy năm nay rồi tôi không muốn viết và không viết về ngày 30 tháng 4. Không viết bởi sau bao nhiêu năm, những điều mình muốn nói đã nói rồi. Không viết bởi càng viết chỉ càng thấm thía với lời của ông Võ Văn Kiệt, vì mình nằm trong số cả triệu người buồn.


Vả lại, ba mươi mấy năm sau, bây giờ, ở một khía cạnh nào đó, tôi không còn có cảm tưởng mình là người Việt nữa. Việt Nam của tôi là Việt Nam của quá khứ. Việt Nam đó không còn nữa.


Nhưng khổ một nỗi, ở một góc cạnh nào đó Việt Nam vẫn nằm trong tim tôi. Làm sao có thể quên được khi ngày ngày vẫn còn cầm bút viết tiếng Việt, đọc tin tức về Việt Nam và dầu muốn dầu không, vẫn bâng khuâng về đất cũ.


Hôm nọ, ngồi xem những đoạn video được đưa lên Internet về cuộc biểu tình phản đối của người dân ba xã của huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên, rồi sau đó, cũng trong lúc làm tin, chợt được xem một đoạn về phản ứng của miền Nam Việt Nam, cả dân chúng lẫn chính quyền trước việc Trung Quốc chiếm quần đảo Hoàng Sa, tôi bỗng cảm thấy mừng mình là dân miền Nam chứ không phải là dân miền Bắc. Tôi có thể mất nước, phải bỏ xứ mà đi sống tha phương cầu thực và ngày nay nhận đất lạ làm quê hương, nhưng ít nhất tôi không phải sống trong một quốc gia, dưới một chế độ, đã đòi sự hy sinh tột đỉnh của dân mình rồi phản bội.


Ðoạn video mà tôi thấy về Văn Giang là lúc đoàn dân chúng của các xã bị cưỡng chiếm tụ tập về để bảo vệ mảnh vườn của mình. Họ từng đoàn từng lớp kéo nhau đi, tay cầm gậy, cuốc, xẻng. Ðoạn clip khá dài, người quay đứng yên một chỗ, quay đoàn người đi qua. Họ đủ cả, già có, trẻ có, đàn ông có, đàn bà cũng có. Có khá nhiều người đội nón an toàn, một số khá đông phụ nữ khoác thêm một cái khăn ở dưới nón an toàn, trông ra có lẽ cũng có lý vì ít nhất nón an toàn bảo vệ không bị công an đánh bể đầu. Giữa đám nón an toàn hay nón baseball có lác đác một số đội nón cối. Trong số người đội nón cối, có vài người đứng tuổi. Họ đội nón cối, mặc quần áo bộ đội. Có lẽ có thiếu là họ mang quân hàm và huy chương đeo lên ngực. Một vài cái nón cối còn cả lá cờ, rõ ràng là nón của một cựu quân nhân.


Một số trông họ có lẽ là những chiến sĩ đã bị chính quyền gọi nhập ngũ để chống lại xâm lăng của đoàn quân phương Bắc, một số già hơn, có thể đã bị chính quyền gọi nhập ngũ, không phải để bảo vệ tổ quốc, mà để tham gia vào một cuộc chiến tương tàn, một cuộc nội chiến mà trong đó anh em gặp nhau trên bãi chiến trường.


Cuộc chiến tranh Bắc Nam mà ngày 30 tháng 4 là ngày kết thúc, mặc cho chính quyền có khoác cho nó cái áo tuyên truyền gì chăng nữa cũng vẫn là một cuộc nội chiến, người Việt giết người Việt. Như lời ca phản chiến hồi nào có thể “kẻ thù tôi mang áo màu chủ nghĩa” nhưng họ vẫn là người Việt. Và cũng xin đừng bảo tôi sai. Tôi có hai ông chú, một ông là sĩ quan quân đội miền Bắc, một ông là sĩ quan quân đội miền Nam. Cũng may là hai chú tôi chưa từng tham chiến chung ở một chiến trường nào cả, những chuyện đó hẳn đã xảy ra cho nhiều gia đình trên đất Việt trong những năm chiến tranh.


Ðã ba mươi mấy năm rồi, tôi không còn muốn tranh cãi cho chính nghĩa của miền Nam nữa bởi chuyện đó đã qua rồi, nhưng ngồi nhìn những cựu quân nhân miền Bắc lầm lũi vác gậy đi tranh đấu để bảo vệ mảnh đất, mảnh vườn, kế sinh nhai của mình, tôi bỗng cảm thấy tuy mất nước, xa nhà nhưng vẫn còn không xấu số bằng họ. Họ là những người đã đem hết cả tuổi thơ dâng cho chế độ. Chế độ và đảng cầm quyền đã khởi xướng cuộc chiến tranh Bắc Nam dẫn đến việc cả triệu người ở hai bên chiến tuyến cũng như dân lành gục ngã. Nếu miền Bắc không nhất quyết đòi chiếm miền Nam thì làm gì có chiến tranh.


Nhưng sau khi đòi hỏi sự hy sinh tối thượng đó của người dân dưới quyền cai trị của mình, đảng Cộng sản Việt Nam và những người lãnh đạo chính quyền ở miền Bắc đã thất hứa với nhân dân. Tôi còn nhớ một lần về Việt Nam, một bà thím sau ngày đổi mới, lương công chức không đủ sống, mở một quán bán tạp hóa bên cửa ngách của nhà mình, đã mỉa mai, “Hồi đó các ông ấy bảo ‘Ðánh thắng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng đất nước bằng năm bằng mười năm xưa’! Bây giờ đã ‘Ðánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào’ ấy vậy mà vẫn không đủ ăn!”


Khác với những năm đó, Việt Nam trong những năm cho đến gần đây quả đã phát triển bằng năm bằng mười lúc trước. Cứ đi về thành phố Hà Nội ngày nay so với Hà Nội của những năm đầu thập niên 1990, khi lần đầu tiên tôi trở về Hà Nội thì cũng thấy rõ sự thay đổi. Có điều những phát triển to lớn đẹp đẽ đó người dân không được chia hưởng. Trong khi ruộng vườn của họ bị chiếm đoạt để xây khu “đô thị mới” EcoPark, một khu hẳn là rất sang trọng vì partner của họ là công ty địa ốc Savills ở Luân Ðôn, một trong những công ty mà nhìn quảng cáo của họ ở Luân Ðôn toàn là nhà cỡ trên một triệu bảng Anh.


Ecopark quảng cáo là “thành phố xanh tươi, cuộc đời trọn vẹn.” Họ quảng cáo “không gian phố trong vườn” và những khu như “Rừng cọ: luxury apartment; Phố Trúc là shopping mall, Vườn Tùng và Vườn Mai: biệt thự detached or semi-detached villas.” Trang quảng cáo của Ecopark mở đầu với một đoạn nhạc thật êm tai. Tiếc thay tiếng nhạc đó không làm át nổi tiếng than khóc của người dân Văn Giang.


Bây giờ tôi mới hiểu cái uất ức và thấm thía cái nỗi đau của những người như ông Trần Ðộ hay Nguyễn Hộ. Họ là những nhà trí thức, mang tuổi thơ và lý tưởng đi để cứu nước khỏi họa ngoại xâm, rồi để thống nhất đất nước vì đảng cộng sản bảo với họ là không thể để đất nước chia đôi, là miền Nam đang quằn quại trong áp bức của Mỹ Ngụy.


Tôi cũng chưa quên những bà con vào Nam sau năm 1975, gom góp một ký đường, vài lon sữa, tưởng là quý hóa lắm, ai dè miền Nam đâu có thiếu thốn và khổ cực như họ bị đánh lừa. Ðã có những người, thẹn quá, giấu luôn quà, không dám đem ra cho bà con trong Nam nữa.


Tôi cũng vẫn còn chưa quên người anh họ của ông xã tôi, một cán bộ trung kiên, làm việc cho ban tuyên giáo trung ương, ban tuyên truyền của đảng cộng sản, hỏi nhỏ chú em, “Vậy chú có bao nhiêu nợ máu với nhân dân. Nhà cửa này là do Mỹ nó cho đấy à?”


Nhưng cái vỡ mộng khi vào Nam sau năm 1975 có lẽ cũng một phần nào được xoa dịu vì dầu sao cũng là kẻ thắng. Cái vỡ mộng sau đó, khi vào năm 1979, người anh em “môi hở răng lạnh” dạy cho một bài học kinh hồn. Cho đến bây giờ chính quyền Hà Nội vẫn chưa công nhận số tử vong của trận chiến biên giới, cả về quân nhân lẫn thường dân.


Và sau cùng, giọt nước làm đầy ly là khi chính quyền bỏ rơi chủ thuyết, chạy theo “định hướng thị trường” và chỉ còn muốn làm giàu. Thật là đau đớn vì sau cùng họ mới thấy là những gì họ hy sinh cả cuộc đời đã chỉ là những cái bánh vẽ.

Viện bảo tàng dân tộc Việt Nam

Pao Lâm (sưu tầm)

 

Ðược đánh giá là bảo tàng độc đáo và giầu hình tượng nhất Việt Nam, Viện Bảo Tàng Dân Tộc Học là điểm đến yêu thích của mọi thế hệ, cuốn hút không những người dân địa phương mà cả du khách nước ngoài.

Nhà rông Bana trong khuôn viên Viện Bảo Tàng Dân Tộc Học. (Hình: Ciao Travel cung cấp)

Viện bảo tàng được xây dựng năm 1997, tọa lạc tại đường Nguyễn Văn Huyên, quận Cầu Giấy, Hà Nội. Ðây là nơi trưng bày và giới thiệu những nét văn hóa đặc sắc và đa dạng của các dân tộc sinh sống ở Việt Nam trong một không gian thoáng đãng, rợp bóng cây xanh với những hồ nước và con suối nhỏ quanh co hòa quyện với một khu trưng bày sinh động, giầu hình tượng.

Hình tượng người H’mong dệt vải. (Hình: Ciao Travel cung cấp)

Bảo tàng dân tộc học có ba khu trưng bày. Khu trưng bày trong tòa nhà chính được thiết kế mô phỏng hình Trống Ðồng là không gian trưng bày những tinh hoa văn hóa 54 dân tộc ở Việt Nam trải rộng trên hai tầng của tòa nhà. Các hiện vật được trưng bày theo từng nhóm ngôn ngữ mang biểu tượng văn hóa của các dân tộc thuộc từng nhóm ngôn ngữ.

Ðể tìm hiểu về văn hóa của một dân tộc thì không gì hơn là tìm hiểu về đời sống thường ngày của họ qua lao động, tìm hiểu về phong tục và tập quán qua những hoạt động tín ngưỡng, về thói quen và đặc điểm cư trú qua kiến trúc nhà ở. Chính vì lẽ đó mà các hiện vật tại khu trưng bày trong nhà đều được sắp xếp xuyên suốt ba chủ đề nổi bật là công cụ lao động, tín ngưỡng và kiến trúc.

Cối giã gạo nước. (Hình: Ciao Travel cung cấp)

Một trong những đặc điểm hấp dẫn du khách nhất của bảo tàng chính là các hiện vật được trưng bày và cách thức trưng bày các hiện vật hết sức sinh động, độc đáo với nhiều cách tiếp cận khác nhau. Không dừng lại ở việc đơn giản đưa ra các hiện vật một cách đơn điệu với những ghi chú tẻ nhạt mà còn có các mô hình phác họa sống động các hoạt động và một hệ thống màn hình trình chiếu chi tiết, cụ thể những nghi lễ đặc trưng của mỗi hệ dân tộc trên chính vùng đất nơi họ cư trú. Chính sự tiếp cận đa chiều đã khiến du khách thăm viếng không chỉ được nhìn, được xem mà còn như được hòa mình vào cuộc sống, được viếng thăm những địa danh mà dân tộc đó sinh sống.

Dụng cụ trong lễ đâm trâu của người Bana. (Hình: Ciao Travel cung cấp)

Tầng một của bảo tàng là không gian trưng bày của ba hệ ngôn ngữ dân tộc chiếm tỷ lệ dân số lớn nhất Việt Nam (khoảng 90% dân số) thuộc người Việt (người Kinh), người Thổ-Chứt, người Mường. Ngoài ra, vẫn có riêng một không gian trong tòa nhà dành cho các chương trình triển lãm, trưng bày theo chuyên đề đặc trưng như trưng bày về thời kỳ bao cấp ở Việt Nam, trưng bày các trò chơi dân gian.

Hình tượng đám ma của người Mường. (Hình: Ciao Travel cung cấp)

Tầng hai của bảo tàng là một không gian đa chiều, chất chứa bất ngờ, đan xen cảm xúc với sự đa dạng của các dân tộc được trưng bày tại đó. Sự rộn ràng và ngập tràn sắc màu với khu người H’mong, Chăm, Hoa, Khmer, cộng với sự ấm cúng, thân thiện với khu của người Tày, người Thái, sự giản dị, gần gũi với khu người Hán, người Tạng, người Môn và sự huyền bí, hoang dã của khu ngôn ngữ Nam Ðảo.

Khu trưng bày ngoài trời của bảo tàng là một khuôn viên rộng với những rặng cây, thảm cỏ mát rượi đan xen với hồ nước mát lành. Ẩn hiện sau màu xanh dịu dàng là những ngôi nhà truyền thống, cổ kính, đặc sắc nhất được quy tụ về đây. Ngôi nhà rông được xem như linh hồn của người Bana vút cao đầy kiêu hãnh hay khung cảnh nên thơ và lãng mạn của ngôi nhà người H’mong, người Dao dưới gốc hoa đào. Ngôi nhà dài của người Ede tự hào phô diễn sự giầu có và sung túc trong khi nhà của người Hà Nhì lại mang đến sự chắc chắn và kiên cường. Ngôi nhà mồ của người Giarai dường như trở nên vui tươi hơn bên tiếng nước róc rách của chiếc cối giã gạo. Ngôi nhà năm gian của người Kinh thoáng đãng, mát mẻ bên thủy đình rộn rã tiếng hát chèo của buổi biểu diễn múa rối nước làm tái hiện một làng quê thu nhỏ đang nhộn nhịp tiếng trống hội làng.

Hình tượng lễ lên đồng của người Kinh. (Hình: Ciao Travel cung cấp)

Cùng trong một khuôn viên và mang kiến trúc đặc trưng riêng của mỗi dân tộc, nhưng những ngôi nhà lại hòa quyện, đan xen và tô điểm cho nhau thật nhịp nhàng, duyên dáng. Có lẽ, đất nước Việt Nam đã được thu nhỏ về đây, quy tụ 54 dân tộc cùng chia sẻ, sinh sống đầm ấm và hòa thuận trong khung cảnh tự nhiên đẹp nên thơ và thanh bình.

Nhà dài của người Ede. (Hình: Ciao Travel cung cấp)

Viện Bảo Tàng Dân Tộc Học còn là cái nôi gìn giữ những tinh hoa văn hóa truyền thống qua việc tổ chức, tái hiện thường xuyên các hoạt động mang đậm chất dân gian như lễ hội trăng rằm, tổ chức các trò chơi dân gian, viết thư pháp mỗi dịp Tết Nguyên Ðán, tổ chức các hoạt động giới thiệu làng nghề như tranh Ðông Hồ, gốm Bát Tràng… Với khung cảnh đẹp thơ mộng, viện bảo tàng còn là lựa chọn yêu thích của nhiều đôi uyên ương khi muốn có những bộ ảnh cưới lãng mạn.

Hình tượng người làm nón ở Hà Tây. (Hình: Ciao Travel cung cấp)

Chỉ với vài giờ ở đây sẽ không đủ để khám phá hết chiều sâu của một nền văn hóa đa dạng, đặc sắc của Việt Nam, nhưng sẽ đủ để hiểu về những giá trị truyền thống vô giá của 54 dân tộc trên mảnh đất hình chữ S và gieo mầm cho tình cảm đượm nồng với đất nước nhiều cảnh quan xinh đẹp, thấm đẫm tinh hoa văn hóa.


 

CIAO TRAVEL

Add: 1st Floor, 3 Phan Huy Ich Street, Hanoi, Vietnam

Tel: 84-4-39290270; Fax: 84-4-39290271

E-mail: [email protected]

Website: www.ciaotravels.com

 

Hát bội miền Nam và hát bội Bình Ðịnh, miền Trung

 


Ngành Mai


 


Hát bội có trước cải lương hằng trăm năm trước, nhưng đâu ai biết rõ từ lúc nào. Ðó là lời của nhiều khán giả cao tuổi từng theo dõi biết qua về hoạt động của 2 bộ môn văn hóa nghệ thuật dân tộc này.










Hát bội Bình Ðịnh, miền Trung. Một cảnh trong tuồng “Hồn Tuồng” trình diễn tại Qui Nhơn năm 1992, nhân tưởng niệm ngày mất của cụ Ðào Tấn. (Hình: Bộ sưu tập của Ngành Mai)


Từ trước năm 1940 trong chương trình phát thanh tiếng Việt của đài phát thanh Sài Gòn (thời Pháp) đã có những suất hát của “Ban Nghệ Thuật Hát Bội Sài Gòn,” đó là những suất hát không định kỳ, mỗi tháng có đôi ba lần do nhạc sĩ Sáu Vững phụ trách.


Do ảnh hưởng cuộc Thế Chiến Thứ Hai, các cuộc vui chơi giải trí bị đình chỉ suốt thời gian dài. Mãi đến năm 1948 đài phát thanh Sài Gòn mới phục hồi, và Ban Vân Hạc của nhạc sĩ Sáu Vững chính thức thành lập với những tay nghề từ gánh Bầu Thắng hát thường trực ở Ðình Cầu Quan, gần bờ tường rào nhà ga xe lửa.


Theo yêu cầu của đài phát thanh, trình diễn phải có kịch bản đưa trước rồi mới được hát, chứ đào kép không được cương. Vấn đề khó khăn trước mắt là lúc bấy giờ dễ gì kiếm cho ra những vở tuồng có kịch bản văn học hoàn chỉnh, đầy đủ các vai từ chính đến phụ. Cũng may, kép Thành Tôn từ tỉnh lên Sài Gòn, vốn là người có ăn học lại có óc cầu tiến, từng sao chép được nhiều tuồng xưa, lại thêm thông hiểu cấu trúc hành văn, đã nghiễm nhiên trở thành soạn giả thường trực của Ban Vân Hạc.


Vấn đề khó khăn thứ hai là thu nhận đào kép, bởi diễn viên thời đó rất nhiều người có tài, hát hay diễn giỏi, ngặt nỗi hiếm ai đọc được Quốc ngữ. Chọn mãi rồi cũng phải có, do sáu đào kép bắt đầu học quốc ngữ, và sáu người này trở thành nòng cốt của ban suốt thời gian dài, đó là các nam như nghệ sĩ: Ba Út, Hai Nhỏ, Ba Sáng, Chín Luông, Hữu Thoại, Thành Tôn là những diễn viên tài giỏi, yêu nghề nên dễ dàng thành công khi diễn trên đài phát thanh.


Cái hay của Ban Vân Hạc là tại phòng thu thanh của đài, các nghệ sĩ chỉ hát trước máy theo tiếng nhạc của đờn, trống, kèn tức là ngồi một chỗ chứ đâu có ra bộ tịch, đi đứng múa may như trên sân khấu, cũng không có áo mão, cờ quạt gì hết. Vậy mà thính giả nghe Radio họ vẫn hình dung được nhân vật ấy ở sân khấu với trang phục và đang làm gì, có nghĩa là họ vẫn hiểu được câu chuyện, xúc động với từng sự kiện, dù chỉ nghe thôi.


Chương trình hát bội Ban Vân Hạc có đều hàng tuần trên đài phát thanh Sài Gòn. Về tuồng tích hầu hết được viết theo truyện Tàu: Thuyết Ðường, Tiết Nhơn Quí chinh Ðông, Tiết Ðinh San chinh Tây, Phản Dường, Tam Quốc, Chung Vô Diệm,… người ta vẫn mở Radio nghe tuồng nối tiếp từ hồi nọ đến hồi kia, có nghĩa là một buổi hát chỉ vài đoạn nào đó trong bộ truyện mà thôi.


Từ đầu thập niên 1960 trở về sau, diễn viên Ban Vân Hạc nhiều người già không còn hát nổi nữa, cũng như có những người qua đời.


Ở trong Nam với những đoàn hát bội chuyên hát cúng đình cúng miễu, và hàng tuần trên đài phát thanh, đài truyền hình cũng có chương trình hát bội Ðinh Bằng Phi, hát bội Ban Vân Hạc.


Song song đó thì ở ngoài Trung cũng có nghệ thuật hát bội mà người ta gọi nôm na là “Hát Bội Bình Ðịnh,” cả hai môn nghệ thuật đặc thù trên đã một thời được khán giả mến chuộng.


Nếu như ở trong Nam có những nghệ sĩ hát bội vang bóng một thời như kép Thành Tôn, đào Ba Út, Năm Ðồ, Năm Nhỏ… thì hát bội Bình Ðịnh cũng có đào kép lừng danh là đào Ngọc Cầm, Thu An, và kép Long Trọng… Thế nhưng, thời kỳ cải lương xuống dốc thì hát bội Nam Phần lẫn hát bội Bình Ðịnh cũng xuống theo, mà còn trầm trọng hơn nhiều, gần như tê liệt.


Chính quyền thời kỳ trước 1975 đã có nhiều biện pháp nhằm cứu vãn hai thành phần hát bội này để không sớm bị mai một, mà cụ thể là vào khoảng đầu năm 1972, phủ Quốc Vụ Khanh đặc trách văn hóa đã tổ chức 3 đêm trình diễn hát bội tại Trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn, gọi là “đối chiếu nghệ thuật hát bội hai miền Nam và miền Trung.”


Ðêm đầu là vở hát “Ngũ Hổ Bình Tây” do nghệ sĩ Bình Ðịnh, kịch đoàn Tây Sơn, Hội Khổng Học trình diễn. Ðêm thứ hai cũng vở hát “Ngũ Hổ Bình Tây” do nghệ sĩ miền Nam, Hội Khuyến Lệ Cổ Ca trình diễn. Và đêm sau cùng thì nghệ sĩ Bình Ðịnh trở lại trình diễn vở tuồng “Tiết Cương tế Thiết Khưu Phần.” Khán giả trong lúc xem một số người nói rằng hát bội Bình Ðịnh thì rất nghề, nhưng thiếu phần huê dạng như hát bội trong Nam.


Nhờ cái hôm trình diễn đối chiếu hát bội Nam-Trung này, người ta mới gặp lại cặp tài danh hát bội Bình Ðịnh là Long Trọng-Thu An. Hỏi dạo này “Ý Hiệp Ban,” tức ban hát bội nổi tiếng một thời ngoài Trung có còn hoạt động hay không, thì nghệ sĩ Long Trọng lắc đầu chán nản đáp: “Dạo này hát khó sống cho nên vợ chồng tôi đây đã mở quán cà phê hủ tiếu để kiếm ăn, thỉnh thoảng có lễ hội mời thì vợ chồng tôi mới hát thôi.”


Người ta lại hỏi thăm cô đào tài sắc của miền Trung là Ngọc Cầm thì cặp Long Trọng-Thu An cho biết cũng mở quán phở như vợ chồng anh thôi. (Thu An ở đây là đào hát bội Bình Ðịnh, chớ không phải soạn giả Thu An).

Henry Mancini trong lãng quên

Tạp Ghi Quỳnh Giao

 

 

Nếu hỏi các khán thính giả Việt Nam rằng Henry Mancini là ai thì có lẽ ít người trả lời được. Thật ra, chúng ta cũng giống khá nhiều người Hoa Kỳ đời nay trong sự mơ hồ này.

Nhưng nếu nghe thấy đâu đó giai điệu lãng mạn của bài “Moon River” hay nhịp tiết nghịch ngợm của “The Pink Panther,” con báo màu hồng, thì nhiều người trong chúng ta có thể lâm râm theo tiếng nhạc hoặc nhớ lại rằng mình đã biết các điệu này. Chúng ta có thể là “fans,” là khách mộ điệu, của Henry Mancini mà chẳng biết. Lý do đơn giản là người nhạc sĩ tài hoa này ít xuất hiện và khuôn mặt của ông không là một dấu ấn của nhạc để trở thành tiết mục quảng cáo.

Henry Mancini không ưa quảng cáo. Biết đâu, ông chẳng cần quảng cáo qua các “talk show” trên truyền hình như nhiều nghệ sĩ khác. Ông soạn nhạc rồi để tác phẩm tự chinh phục người nghe. Nhìn theo khía cạnh nào đó, ông cũng giống Dương Thiệu Tước hay Vũ Thành của chúng ta.

Thật ra, trên đài danh vọng của các ngôi sao nổi tiếng nhất như Elvis Presley, Frank Sinatra hay các ban hợp ca The Beatles và Rolling Stones, nhạc của Henry Mancini đã đứng riêng một cõi rất cao.

Ông được tuyển 72 lần cho giải Grammy, một kỷ lục, và đoạt 20 giải, Ðược tuyển 18 lần cho giải Oscar về nhạc phim, ông ôm về nhà bốn pho tượng vàng. Ngoài ra, ông còn đoạt một giải Golden Globe và được tuyển vào hai giải Emmy. Dù sinh thời ông là người kín đáo, năm 2004, Bưu Ðiện Hoa Kỳ đã phát hành một cái tem tưởng niệm với hình ảnh người nhạc trưởng đang điều khiển dàn nhạc cho các bộ phim hay chương trình truyền hình nổi tiếng của mình.

Mà Henry Mancini là ai vậy?

Là con trai gia đình di dân gốc Ý Ðại Lợi, Enrico Nicolas Mancini sinh năm 1924 trong khu phố Ý của thành phố Cleveland ở Ohio rồi cùng cha mẹ qua sinh sống tại một trung tâm sản xuất thép gần Pittsburgh, nơi người cha làm công nhân ngành thép. May cho cậu bé là ông bố lại có máu nghệ sĩ, thích nhạc và ngạc nhiên vì thấy con trai tự học nhạc bằng cách viết ra giấy những cảm nghĩ của mình khi được nghe các đĩa nhạc cổ điển. Chính người cha đã bấm bụng cho con đi học dương cầm với một ông thầy gốc Ðức, trước sự cảm thông dịu dàng của bà mẹ.

Nhưng cậu con trai đam mê hơn vậy và rất khoái dàn nhạc Glenn Miller nên muốn học đòi. Có lần cậu còn lẻn vào rạp hát để trình cho nhạc trưởng Max Adkins những khám phá của mình. Nhờ vậy mà được ông ta dạy thêm về căn bản phối khí, và cả cách ăn nói cư xử trong một xã hội văn minh của nghệ thuật.

Sau đó, Mancini được học trong ngôi trường nhạc khét tiếng là Julliard nhưng chỉ được một năm là nhập ngũ vào năm 1943, rồi tham gia giải phóng miền Nam nước Ðức vào năm 1945.

Khi chiến tranh kết thúc, nhờ là cựu chiến binh, Mancini được học bổng G.I. Bill để vào trường Westlake School of Music. Nơi đây, ông học với các bậc thầy theo lối chân truyền. Alfred Sendry, một bạn học của Bela Bartok thì dạy về lý thuyết và hòa âm. Con rể Gustav Mahler là Ernst Krenek dạy ông về soạn nhạc cho một ban hòa tấu. Sắc thái đa diện và tài hoa của Henry Mancini kết tụ từ đấy và tỏa hương thơm sang các lãnh vực điện ảnh, nhạc kịch và truyền hình.

Về Henry Mancini, một nhạc trưởng đã để lại câu nói đáng nhớ. Rằng “tất cả các nhạc sĩ viết nhạc phim đều phải chiêm bái bàn thờ của Ông Mancini!” Mà người nhạc trưởng này cũng thuộc loại xuất chúng. Ðó là John Barry.

Ông là nhà soạn nhạc kiêm nhạc trưởng nổi tiếng người Anh, đã viết 12 nhạc phim James Bond trong 15 năm và đoạt giải âm nhạc trong các tác phẩm thời danh như Midnight Cowboy, Dances With Wolves, The Lion in Winter và Out of Africa. Dù đã vĩnh viễn sống tại Mỹ, người nhạc sĩ này được quê nhà phong tước nhưng vẫn có lời ngưỡng mộ nhất dành cho Henry Mancini.

Khi đọc truyện, chúng ta ưa lối “phục bút” của nhà văn. Nếu chịu khó nghe kỹ, mình cũng có thể cảm thấy cách “phục nhạc” của Mancini. Trong lối viết bằng ký âm pháp, hình như Henry Mancini còn có cả… dấu hỏi.

Ông giải thích rằng giai điệu của ông khiến người nghe phải tự hỏi, đầu tiên là “nhạc gì vậy ta?”

Rồi mới là câu hỏi “cái gì sẽ xảy ra vậy?” Khi đã tò mò như vậy rồi, người nghe lại thường đoán sai vì nhạc dẫn qua ngả khác nên họ mới càng thích. Cho nên, nếu có nói Mancini soạn nhạc như nhà văn viết truyện trinh thám thì cũng không quá lời. Phải chăng vì vậy, chúng ta còn ưa mãi nhạc phim của Arabesque hay Charade, là hai cuốn trinh thám rất vui với nhạc của Mancini? Nếu có cơ hội, xin quý vị nêm xem và nghe lại hai cuốn phim đó…

Thế thì vì sao kỳ này Quỳnh Giao lại tạp ghi về Mancini? Vì sự lãng quên của người đời chăng?

Sau mấy chục năm sáng chói, sự nghiệp của Henry Mancini bắt đầu đổ dốc từ đầu thập niên 80.

Vì sau đấy, nghệ sĩ soạn ra loại nhạc ồn ào và dễ dãi hơn cho một quần chúng đông đảo ưa thích lối nghẹn ngào hay gào thét trên sân khấu. Viết nhạc trau chuốt như Henry Mancini, với lời từ thật đẹp của một người như Johnny Mercier, đã trở thành chuyện xa xỉ hoặc xa lạ.

Hình như trong tiềm thức, các nghệ sĩ lớn đều có phút tiên tri. Mancini có cả một ca khúc về chuyện này.

Năm 1979, Henry Mancini soạn nhạc cho cuốn phim có tên rất lạ là “10” của đạo diễn Blake Edwards. Cốt truyện là về một nhạc sĩ hết còn khả năng viết ca khúc! Mancini soạn ra bài “It’s Easy To Say” nhưng ca khúc đã chẳng dễ hát lại còn bị chìm trong nhạc phim lấy chủ đề từ bài “Boléro” lừng danh của Maurice Ravel. Từ đấy, ông lui dần vào lãng quên cho đến khi tạ thế vì ung thư lá lách, ở tuổi bảy mươi vào năm 1994 khi ông đang soạn nhạc cho vở nhạc kịch Victoria/Victoria mà không được xem trên sân khấu Broadway.

Mở đầu bài này, người viết nhắc đến Dương Thiệu Tước và Vũ Thành. Thật ra, đấy là hoàn cảnh của nhiều nhạc sĩ khác của chúng ta khi còn sống mà đã hết muốn viết. Nhái lại lời của Nguyễn Khuyến, “viết cho ai, ai hát mà nghe?”

Ðến Henry Mancini mà còn như vậy thì mình cũng chẳng nên buồn. Hãy tự an ủi với bài “Moon River” bất hủ của Mancini trong phim Breakfast at Tiffany’s và câu “…after the rainbow’s end…”

Granada Wood & Cabinets


NSL Trading Corp.


Ðặc biệt thiết kế nhà bếp và sàn nhà gỗ


Tiết kiệm đến 35% lót sàn, tủ bếp và counter top


Nhân viên nói tiếng Việt và tiếng Trung Hoa


 


Bài: Việt Linh/Người Việt


Hình: DanHuynh/Người Việt


 


Chỗ ở là một nơi chốn rất quan trọng cho hạnh phúc gia đình. Vì thế, chúng ta thường nghe: “An cư, lạc nghiệp!” để nói lên nhu cầu mà ai cũng cần một nơi thoải mái để trở về, sau một ngày làm việc mệt nhọc tại sở làm. Cách trang trí cũng như vật dụng trong nhà phải được chính chủ nhà chọn lựa cho vừa ý và hợp với vẻ mỹ thuật của mình.










Mặt tiền của Granada Wood & Cabinets


Công ty NSL Trading Corp. với phần hành Granada Wood & Cabinets ra đời để đáp ứng nhu cầu rất quan trọng ấy. Ðầy đủ mặt hàng. Phẩm chất tốt, giá cả phải chăng và phục vụ hết mình là chủ trương của công ty NSL. Công ty NSL Granada Wood & Cabinets tọa lạc tại 2240 E. Winston Road, Anaheim, CA 92806, chuyên bếp và phòng tắm, cùng với các sản phẩm sàn gỗ.


 


Ðủ mặt hàng gỗ – Phẩm chất chọn lọc


 










Ða số sản phẩm đều tốt, bền, đẹp và giá cả phải chăng.


Theo thống kê, nhà bếp là nơi quý bà đặc biệt quan tâm nên Granada Wood & Cabinets hiện có 5 kiểu nhà bếp tuyệt đẹp với nhiều màu gỗ khác nhau, có kiểu giá chỉ từ $1,500 cho diện tích 10’x10′. Màu gỗ Beech Espresso có nét sang trọng quý phái và tự nhiên mang lại nét ấm áp cho nhà bếp, còn màu Chocolate Mahogany thì thấp thoáng nét hiện đại với màu gỗ nâu sậm. Các màu Coffee Glaze, Sunset Beech, và Natural Maple Shaker nhẹ nhàng hơn nhưng không kém phần thẩm mỹ. Ngoài ra, còn có các màu cổ điển như Cherry, Oak, hay Antique White.


Granada Wood & Cabinets có trưng bày rất thứ tự, nhiều mầu gỗ đẹp mắt khác nhau để khách tha hồ chọn lựa.


 


Giá hạ – Sẵn sàng “match” giá!










Phòng tiếp khách rộng rãi khang trang.

 


“Tất cả các kiểu tủ tại đây đều sử dụng gỗ đặc, rất bền tốt. Tuy dùng các loại gỗ phẩm chất cao nhưng giá của chúng tôi lại rất rẻ dù bán sỉ hay lẻ. Giá cả không chỗ nào bằng!” cô Fae Chen, quản lý cho biết thêm với giọng tự tin: “Nếu khách mang giá của những tiệm khác đến để so sánh thì Granada Wood & Cabinets sẽ bán bằng giá hay thấp hơn.”


Một nhân viên khác, anh Kody vừa là một nhà thiết kế, cho biết: “Ðối với khách hàng Việt Nam khi mua tại đây, nếu nói đọc quảng cáo của chúng tôi trên nhật báo Người Việt, sẽ được giá đặc biệt, bớt 25% đến 35%!” Ðó là chưa kể: “Giá của chúng tôi chỉ bằng nửa giá tại Home Depot!”


 


Sản phẩm được bảo đảm – Nhận làm theo ý khách


 










Kitchen Cabinet với nhiều mẫu mã mới và khác nhau.


Cô Fae Chen cũng cho biết những mẫu thiết kế tại tiệm đều được bảo đảm trong một năm. Ngoài ra, Granada Wood & Cabinets cũng nhận đến tái thiết kế lại nhà bếp nếu khách có nhu cầu, dù là một phần hay toàn diện.


 


Kho hàng vĩ đại


 


Người quản lý khả ái còn đề cập đến một điểm độc đáo mà các tiệm khác muốn cạnh tranh cũng khó lòng bì kịp: “Granada Wood & Cabinets không những là một show room, trưng bày mẫu mã, chúng tôi còn có một nhà kho vĩ đại, chứa sẵn các sản phẩm. Khách muốn là có hàng liền.”


Với diện tích rộng trên 70,000 sq. ft., Granada Wood & Cabinets quả là một công ty lớn nhất tại miền Nam California chuyên cung cấp tất cả các vật liệu dùng cho việc thiết kế nhà bếp và sàn gỗ. Công ty tính đến nay đã hoạt động được 12 năm nên đã tạo được uy tín của khách hàng trong lãnh vực làm tủ nhà bếp và sàn nhà.










Sản phẩm được thiết kế mỹ thuật sang trọng cho nhà của bạn.

 


Phục vụ ân cần & Ðịa điểm gần Little Saigon


 


Nhân viên cũng sẵn sàng chỉ dẫn tận tình cách lắp ráp hay thiết kế nếu chủ nhà muốn tự làm. Nói chung là: “Chúng tôi cố gắng cống hiến những sản phẩm tốt và giúp khách tiết kiệm bằng mọi cách.” lời cô Fae Chen.


Ðể thiết kế một gian nhà bếp vừa đẹp, vừa chất lượng và giá lại rẻ, không gì bằng hãy ghé đến Granada Wood & Cabinets nằm trên đường Winston thuộc thành phố Anaheim, chỉ cách Little Saigon khoảng 20 phút lái xe.


 


Sơ lược về công ty NSL Trading Corp










Một sản phẩm tủ kệ với mẫu mới nhất.

 


Công ty NSL Trading Corp tự hào là nhà nhập cảng độc quyền cho cơ sở sản xuất đặt ở Châu Á để sản phẩm có giá thành thấp, khách hàng được lợi. Phương châm của công ty bao gồm ba yếu tố: phẩm chất ổn định, nguồn cung cấp ổn định, và giá cả ổn định.


Công ty luôn cải tiến bằng cách thay đổi màu sắc, thiết kế theo kịp thị hiếu của khách hàng: “Tủ bếp, và trang hoàng nội thất cũng không khác gì thời trang. Thị hiếu và lối sống thay đổi. Công ty chúng tôi nhận thức được nhu cầu này nên luôn được khách hàng ủng hộ vì sản phẩm của chúng tôi có cung cách không thể tìm được ở nơi khác.” cô Fae Chen giải thích.


Granada Wood & Cabinets là nơi giúp quý vị có được một dàn bếp tuyệt đẹp hay sàn gỗ phẩm chất theo ý thích. Nếu muốn thiết kế lại nhà bếp, lót lại sàn nhà thì quý vị còn chần chờ gì, hãy ghé thăm Granada Wood & Cabinets ngay hôm nay! Có nhân viên nói tiếng Việt và tiếng Trung Hoa.


 







NSL Trading Corp.


GRANADA WOOD & CABINETS


Ðịa điểm: 2240 E. Winston Rd.,


Anaheim, CA 92806


Nhân viên nói tiếng Việt và tiếng Trung Hoa


Ngày/Giờ mở cửa:


Thứ Hai – Thứ Sáu: 8:30AM – 5PM


Thứ Bảy: 10AM-2PM


Chủ Nhật: Ðóng cửa


Ðiện thoại: (714) 772-3888 hoặc (714) 772-8999


Fax: (714) 772-6888


Email: [email protected]


Website: www.granadawood.com


 

TNS Lou Correa tổ chức hội thảo ngăn chặn lừa gạt người cao niên


ANAHEIM, California –
Thượng Nghị Sĩ Tiểu Bang Lou Correa cùng “Contractors State License Board” sẽ tổ chức một buổi hội thảo với đề tài ngăn chặn nạn lừa gạt, giả mạo thường gặp trong cuộc sống, nhất là đối với người cao niên.

Buổi hội thảo sẽ được tổ chức từ 9 giờ sáng đến 11 giờ chiều hôm nay, Thứ Sáu, 27 Tháng Tư, tại West Anaheim Senior Center, 2271 W. Crescent Avenue, Anaheim, CA 92801.

Ðến với buổi hội thảo, quý vị sẽ có cơ hội nói chuyện với Thượng Nghị Sĩ Lou Correa về các thông tin lập pháp vừa được ban hành. Quý vị còn có thể tìm hiểu thêm về những công việc mà văn phòng địa hạt của thượng nghị sĩ có thể giúp đỡ quý vị.

Quan trọng hơn hết, cư dân sẽ nghe các chuyên gia trình bày về cách thức tự bảo vệ mình trước tình trạng lừa đảo, giả mạo thường xảy ra cho quý vị cao niên trong việc sửa nhà, bảo hiểm, tín dụng, căn cước cá nhân và nhiều việc khác.

Ðể biết thêm chi tiết và ghi danh cho buổi hội thảo này, xin vui lòng liên lạc văn phòng Thượng Nghị Sĩ Lou Correa tại số điện thoại (714) 558-4400.

Nếu không thể đến tham dự buổi hội thảo, quý vị có thể tìm hiểu về vấn đề này bằng cách vào trang mạng của “Contractors State License Board” tại www.cslb.ca.gov/consumers.

Thượng Nghị Sĩ Lou Correa đại diện cho hơn 900,000 cư dân trong Ðịa Hạt 34 bao gồm các thành phố Anaheim, Buena Park, Fullerton, Garden Grove, Santa Ana, Stanton và Westminster.

Tin mới cập nhật