Ðừng để người ta khinh


Bình luận

 

 

Ngô Nhân Dụng

 

Tuần trước, các ngư phủ Việt Nam lại bị tấn công, cướp bóc khi đánh cá ở gần quần đảo Hoàng Sa. Khi họ tìm đường vào trốn bão, lại bị quân đội Trung Quốc ngăn cản. Nhà cầm quyền Việt Nam đã phải chính thức và công khai phản đối, chứ không đổ cho các “tàu lạ” nữa.

Hành động hiếm hoi này có thể chứng tỏ họ cũng biết phải chứng tỏ có bảo vệ chủ quyền quốc gia; cố tránh không để xảy ra những cuộc biểu tình chống Trung Quốc mới; nhất là trong khi lòng người dân vẫn đang sôi nổi về cảnh oan ức của gia đình Ðoàn Văn Vươn.

Sau khi đại sứ Trung Quốc ở Hà Nội nhận được công hàm phản đối, họ đã chối bay chối biến. Họ nói: Lính Trung Quốc không làm gì cả? Vậy thì con ma nào tấn công những người đánh cá Việt Nam? Giống ma nào cướp bóc họ? Bắc Kinh vẫn trở về với kịch bản “tàu lạ!” Chỉ những tàu lạ vô danh đi ăn cướp! Chỉ có những tàu lạ ngăn không cho ngư dân Việt Nam tìm nơi tránh bão! Trước đây “tàu lạ” từng là kịch bản Hà Nội đem ra diễn trên báo đài của đảng nhiều lần. Không ngờ chính Trung Quốc viết kịch bản này!

Nhưng ngay sau đó, ngày Thứ Ba vừa qua, mùng 7 Tháng Ba, một nhóm nhà trí thức văn nghệ họp mặt đón ngày Phụ Nữ Quốc Tế, đã bị công an đến làm khó dễ. Blogger Nguyễn Xuân Diện và nhà văn Nguyễn Tường Thụy bị bắt giữ, đến tối mới được trả về; chỉ cốt làm cho họ không có dịp tham dự cuộc họp mặt. Công an chìm nổi vây cái quán họp mặt. Ngày Phụ Nữ Quốc Tế có cái gì mà làm cho guồng máy công an phải hành động phá rối, đem cả đàn tới canh chừng như vậy?

Một nguyên nhân, như nhiều người tham dự nói, là đảng cộng sản lo ngại trong cuộc họp mặt này, người ta có thể bàn đến các vụ tấn công vào tàu đánh cá của ngư dân Việt Nam!

Một mặt gửi công hàm phản đối chiếu lệ. Mặt khác, vẫn ngăn cấm không cho dân bày tỏ thái độ đối với các hành động ăn cướp của nước đồng chí anh em! Một chính quyền hai mặt như vậy làm sao bảo vệ được chủ quyền quốc gia?

Vô tình hỗ trợ cho công tác của công an Hà Nội, nhật báo Quân Ðội Nhân Dân ở Bắc Kinh đã đăng một bài của Thiếu Tướng La Viện (Luo Yuan) với các đề nghị củng cố việc xâm lược vùng biển Ðông của nước ta với luận điệu hung hăng và cụ thể nhất từ trước đến nay.

Tướng La Viện đưa ý kiến phải lập một “đặc khu hành chánh” để quản lý các quần đảo Nam Sa, Tây Sa (tức là Trường Sa, Hoàng Sa của nước ta) cùng với Ðông Sa của họ; và tất cả vùng biển chung quanh. La Viện đề nghị phải gửi thêm quân đội tới các quần đảo này; đưa hải quân đi tuần phòng liên tục; đặt cột mốc đánh dấu chủ quyền và treo cờ chiếm chỗ. Trung Quốc phải khuyến khích ngư dân tới đánh cá ở vùng này, tổ chức du lịch, thăm viếng, yêu cầu các công ty dầu lửa quốc doanh tới đó khai thác dầu. Tất cả các hoạt động đó phải được phổ biến trên báo chí để toàn dân biết và ủng hộ. Chắc ông La Viện cũng biết hiện nay Bắc Kinh đã thiết lập một đài phát thanh mang tên Vịnh Bắc Bộ nhắm vào mục đích tuyên truyền này.

Ông La Viện là ai mà hung hăng như vậy? Về cấp bậc, ông ta chỉ là một thiếu tướng, nhưng cũng đóng vai một nhà nghiên cứu và đang làm giám đốc điều hành của Viện Khoa Học Quân Sự, đồng thời cũng là thành viên Nghị Hội Tham Vấn Chính Trị Quốc Gia. Nhưng La Viện cùng với các ông tướng Dương Nghị và Bành Quang Khiêm đã nổi tiếng về những bài tham luận và lời tuyên bố “diều hâu” được phổ biến trên báo đài và Intrenet ở Trung Quốc.

Khác với chủ trương “che giấu sức mạnh” (thao quang dưỡng hối) trong chính sách đối ngoại được Ðặng Thiểu Bình dặn dò, mấy ông tướng này thường đưa ra những ý kiến đòi bành trướng thế lực quân sự của Trung Quốc và luôn luôn công kích chính sách của Mỹ ở Á Ðông. Tháng Ba năm ngoái, 2011, La Viện đã nói: “Báo chí nước ngoài gọi tôi là diều hâu! Tốt, tôi chấp nhận danh hiệu đó, vì tôi là một chiến binh với con mắt diều hâu và nanh vuốt của diều hâu!” Thái độ diều hâu đó biểu lộ khi ông ta luôn luôn yêu cầu Bắc Kinh phải gia tăng ngân sách quốc phòng. Năm ngoái, Trung Quốc đã tăng số chi phí về quân sự thêm 13%, so với 7.5% năm 2010. Và theo viện nghiên cứu chiến lược toàn cầu Jane, trong ba năm tới Bắc Kinh sẽ tăng ngân sách quân sự với tỷ số trung bình gần 19% mỗi năm.

Ðầu năm 2012, La Viện đã báo động, một lần nữa, về “âm mưu” của Mỹ nhắm bao vây và ngăn chặn không cho Trung Quốc phát triển ảnh hưởng trong vùng Á Ðông. Ông ta nhấn mạnh tới những lời tuyên bố của Tổng Thống Barack Obama tại Inodnesia vào cuối năm 2011, long trọng xác định “Mỹ trở lại vùng này, và sẽ ở lại đây”. Ngoài các căn cứ vẫn đóng ở Nhật Bản và Nam Hàn, Mỹ đã mở rộng thêm khả năng quân sự ở phía Bắc Australia, và liên minh quân sự với Indonesia. La Viện nói với người Trung Hoa: “Không nên hoảng hốt!” Ngược lại, ông viết, “Trung Quốc phải phản công bằng một chiến dịch hữu nghị với các nước trong vùng, quyến rũ họ đứng ra xa, không rơi vào quỹ đạo của Mỹ.”

Ông La Viện có vẻ ngây thơ khi nghĩ rằng Bắc Kinh có thể quyến rũ các nước Ðông Nam Á bằng cách củng cố sức mạnh trên vùng Lưỡi Bò với đề nghị đặc khu hành chánh của ông ta. Ðứng trước hành động bành trướng đó, chắc chắn các nước Ðông Nam Á phải đoàn kết với nhau để chống lại.

Chính quyền Việt Nam phải biết nhân cơ hội này chính thức lên tiếng phản đối việc báo Quân Ðội Nhân Dân Bắc Kinh đăng các đề nghị của La Viện. Bắc Kinh đã từng phản đối như vậy trước những hành động nhỏ bé hơn trong nước Việt Nam. Mỗi khi một số thanh niên, sinh viên, văn nghệ sĩ đến trước sứ quán Trung Quốc ở Hà Nội với các biểu ngữ “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam” thì Bộ Ngoại Giao Bắc Kinh đã làm ầm lên đòi Hà Nội phải đàn áp dân Việt. Mà đó chỉ là mấy trăm thường dân tự ý biểu tình trong một buổi. Còn bài báo do La Viện viết là của một vị tướng có chức trách lớn trong bộ tham mưu nghiên cứu quốc phòng của Trung Quốc. Bài đó lại được đăng trên tờ báo chính thức của quân đội Trung Quốc; rõ ràng là rất quan trọng, so với một cuộc biểu tình tự động.

Không những phải chính thức phản đối việc phổ biến bài báo trên, chính quyền Việt Nam còn phải biết nhân cơ hội này thể hiện chiến lược trường kỳ là kết hợp các nước lân bang cùng chống lại sự bành trướng của Trung Quốc. Việt Nam phải nhân bài báo của La Viện kêu gọi các nước Ðông Nam Á cùng lên tiếng yêu cầu chính phủ Trung Quốc xác định thái độ của họ. Nhân dịp này, các nước Ðông Nam Á sẽ xác nhận một lần nữa là họ hoàn toàn bác bỏ hành động tiếm quyền trên vùng biển mà người Trung Quốc gọi là “Cửu Ðoạn Tuyến” (Ðường Chín Ðoạn). Các nước Ðông Nam Á có thể yêu cầu Trung Quốc phải xóa bỏ đường ranh giới đó trên bản đồ trước khi diễn ra các cuộc thương lượng sắp tới về chủ quyền và quyền lợi kinh tế.

Một chính quyền Việt Nam khôn ngoan cần phải lợi dụng bất cứ cơ hội nào để liên kết với Phi Luật Tân. Malaysia, Indonesia; trong các cuộc thương lượng về các quyền lợi ở biển Ðông. Những đề nghị của La Viện, như tăng cường quân số, đơn phương khai thác dầu khí, được đăng trên tờ báo chính thức của quân đội Trung Quốc, là một lý do đủ mạnh để Việt Nam mở cuộc tấn công ngại giao ngay lập tức.

Một mình nước Việt Nam, phản đối một cách lẻ loi và yếu ớt thì không đủ khả năng bắt buộc giới lãnh đạo ở Bắc Kinh phải chú ý để ra lệnh cho quan chức địa phương và quân lính của họ ngưng tấn công, cướp bóc các ngư phủ nước ta. Càng phản ứng yếu ớt thì càng bị khinh thường! Một chính quyền chỉ lo bảo vệ ngôi vị, quyền lợi của bè đảng, mà đe dọa đàn áp các nhà trí thức yêu nước, ngay cả khi người ta chỉ họp mừng ngày Phụ Nữ, thì chỉ làm trò cười cho cả nước và cả thế giới! Làm vương làm tướng gì cũng không nên để người ta khinh rẻ và chê cười.

Tieng Viet Dau Yeu


EM VIẾT VĂN VIỆT

Những bài viết của học sinh các trường Việt ngữ

 

Nhằm tạo một diễn đàn cho các em tập viết tiếng Việt, Ban Biên Tập trang Tiếng Việt Dấu Yêu kêu gọi quý phụ huynh và quý thầy cô khuyến khích các em viết văn, diễn tả bằng tiếng Việt những cảm nghĩ và ước vọng trong đời sống của các em. Ước mong nơi đây một sân chơi được mở ra và khu vườn văn hóa Việt sẽ được quý phụ huynh và quý thầy cô góp tay vun trồng, khuyến khích.

Trong các bài nhận được và chọn để đăng, chúng tôi cố ý giữ nguyên văn những gì các em viết. Vì thế, khi đọc đến những ngôn từ, lỗi chính tả và sai văn phạm, chúng tôi mong được phụ huynh và thầy cô chia sẻ và sửa chữa cho các em tại nhà hay trong lớp học.

Tất cả các bài viết dưới dạng MSWord, font Unicode; và hình ảnh dạng .jpg, xin gởi về địa chỉ email: [email protected](Xin đừng gởi dạng .pdf vì không tiện cho việc layout).

Trân trọng cảm ơn quý vị.

Nguyễn Việt Linh

 

Tập đặt câu

 

Tập đặt câu với các chữ sau đây:

Bà nội, hiếu thảo, đồng bào, liên hệ, nướu răng, vẫy vùng, hình bầu dục, hiền lành, Mũi Cà Mau, Trường Sa.

 

Bài tập đặt câu

Trương Hoàng Nyny,

Thi sinh lớp Ba của Giải Khuyến Học-2011

 

Bà nội em thích trồng cây ngoài vường

Ở trong trường em, chỉ có một người là người hiếu thảo.

Minh phải thương yêu đồng bào với mọi người.

Bạn em và em nói chuyện để lien hệ vơi nhau.

Bủi sang hôm nay, nướu răng của em đau lấm,

Giạ con khong có biết chữ vẫy vùng có í nghĩa gi.

Qura trứng going hinh bầu dục.

Tính tình của mẹ em rất là hiền lành va vui lòng.

Về mùa hạ, gia đình em lên Mũi Cà Mau để trơi.

Giạ con khong biết Trường Sa ở đâu.

____________________________

 

Tâm tình Thầy Cô

 

Một lớp học tiếng Việt tại Trung Tâm Văn Hóa Hồng Bàng. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)

 

Phương pháp dạy tiếng Việt

 

GS Trần Ngọc Dụng

 

Có thể nói làm việc mà có phương pháp thì dễ thành công hơn. Vấn đề làm sao hiểu được thế nào là phương pháp. Nói nôm na, phương là “lối đi” và pháp là “cách,” tức là đi đúng lối và đi đúng cách thì dễ tới đích vậy.

Cụ thể trong việc giảng dạy tiếng Việt cho trẻ em hiện nay tại Hoa Kỳ, chưa có ai đề ra một phương pháp nào để có thể áp dụng một cách hữu hiệu mặc dầu chúng ta đã có mặt trên xứ này trên 30 năm!

Qua nhiều lần quan sát các lớp tại các Trung Tâm Việt Ngữ miền Nam California, tôi có một số nhận xét thô thiển như sau:

– Thời lượng của các lớp tiếng Việt quá ít. Một thực tế không thể thay đổi là các lớp chỉ có vài giờ vào cuối tuần so với gần 30 giờ học tiếng Anh trong tuần của các trường. Ðể giúp các em học nhiều hơn, các bậc phụ huynh cần cho các em thêm giờ học tiếng Việt ở nhà.

– Nội dung, có nhiều lớp quá xa lạ với các em. Tuy Ban Ðại Diện các Trung Tâm Việt Ngữ đã dày công soạn được một bộ sách khá đầy đủ và rõ ràng, nhưng cách áp dụng các sách này vào lớp học thì gặp trở ngại. Ngoài ra cách trình bày nội dung mỗi giáo viên một khác và có vẻ tùy tiện chứ không theo phương pháp nào hết. Ðặc biệt, các giáo viên không biết “tương kế tựu kế” để làm cho bài học trở nên hữu ích cho học sinh hơn.

– Khung cảnh lớp học quá nhạt nhẽo, có tính cách đóng khung: thầy hoặc cô nói, học trò nghe, ghi, chép, hết giờ ra về. Thiếu tính cách sinh động. Thỉnh thoảng có tiếng thước gõ lên bảng kêu phẹt phẹt không khác gì âm thanh trường làng ngày xưa. Có lẽ nết nhà giáo đều ẩn hiện đâu đó trong mỗi người Việt hay sao!

– Tốc độ giảng dạy không đồng đều. Nhiều lớp cô hoặc thầy đi quá mau; một số vị khác thì quá chậm. Mau quá hay chậm qua đều không gây hứng thú cho học sinh. Ðôi khi học sinh còn sợ đến lớp.

– Thái độ đứng lớp của các cô, thầy không đồng đều. Một số có vẻ yêu nghề thật sự; một số khác thì có vẻ thờ ơ.

– Bản thân lớp học, thật tội nghiệp. Ðiều này nói lên nỗ lực rất lớn của các trung tâm khi phải vật lộn với khó khăn để có một “cơ sở vật chất” tạm chấp nhận được cho các em học tập.

Trong các điểm nêu trên, ba điểm đầu tiên là quan trọng nhất và tôi muốn góp ý để chúng ta cùng tìm một giải pháp nhằm giúp con em mình giỏi tiếng Việt chừng nào tốt chừng nấy.

Hiện nay Quốc Hội tiểu bang California đã chính thức ban hành đạo luật AB 815 có tên là Seal of Biliteracy, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1, 2012. Theo tinh thần đạo luật này, học sinh nào tốt nghiệp trung học mà giỏi hai thứ tiếng thì trên bằng tốt nghiệp được mang khuôn dấu của tiểu bang có tên là State Seal of Biliteracy. Do đó, việc giúp con em trau giồi tiếng Việt trở nên cần thiết hơn bao giờ hết.

Hẹn gặp lại quý vị trong bài kế tiếp liên quan đến phương pháp giảng dạy tiếng Việt.

LTS: Các nơi GS Trần Ngọc Dụng đã giảng dạy Anh ngữ và Việt ngữ:

*Tại Việt Nam: Trường Sinh Ngữ Quân Ðội, Trường Quân Y, Trường Sư Phạm Mẫu Giáo, Trường Ðại Học Tổng Hợp từ 1972 đến 1991;

* Tại Hoa Kỳ: từng dạy tại UCLA, UCI, UCR, Lincoln Education Center, School of Continuation of North Orange County Community College, và đang dạy tại Santa Ana College và Coastline Community College).á

________________________________á

 

Loạt bài giới thiệu các Trung Tâm Việt Ngữ

 

LTS: Nhằm phổ biến thông tin về các trung tâm dạy Việt ngữ trong vùng Orange County, giúp phụ huynh có thể chọn địa điểm thuận tiện khi muốn gởi con em theo học Việt ngữ, trang Tiếng Việt Dấu Yêu lần lượt giới thiệu một số trung tâm tiêu biểu trong cộng đồng. Các trung tâm Việt ngữ có thể tham gia và tự giới thiệu về sinh hoạt tại trung tâm của mình bằng cách gởi bài và hình ảnh, qua email về địa chỉ: [email protected]

Kính mời quý phụ huynh và thầy cô theo dõi và bổ túc, nếu cần, để thông tin được cập nhật và chính xác. Nếu có sơ suất xin quý vị thông cảm và chỉ giáo cho.

 

Học sinh Việt ngữ BYA tham dự cắm trại. (Hình: Mỹ Hạnh, BYA, cung cấp)

 

Giới thiệu lớp Việt ngữ Tuổi Trẻ Phụng Sự (BYA)

 

Nguyễn Việt Linh

 

Các bạn trẻ thuộc nhóm Tuổi Trẻ Phụng Sự (Bodhi Youth of America) thành lập cách đây hai năm các lớp học tiếng Việt (VSL) như một ngôn ngữ thứ hai nhằm giúp các em học sinh được sinh ra và lớn lên tại Hoa Kỳ, do các phụ huynh người Việt yêu cầu. Ðịa chỉ: 4745 E. Wesley Dr., Anaheim, CA 92708.

Người trẻ tuổi của nhóm này có trách nhiệm đã tổ chức được hai lớp học là Angela Mỹ Hạnh Vũ, từng sinh hoạt với các bạn ở Gia Ðình Phật Tử chùa Phổ Ðà, cô nói: “Mục đích để các em nhớ đến cội nguồn, gìn giữ tiếng Việt và học hỏi văn hóa Việt Nam.”

Hiện nay, chỉ có hai lớp dành cho các em từ 7-9 tuổi và từ 10-12 tuổi. Ðặc biệt các lớp học đều gắn liền với các sinh hoạt ngoài trời cho các em tuổi thiếu niên qua các cuộc dã ngoại, mỗi tháng một lần. Nhóm bạn trẻ này cũng cho biết đã mua được đất trại ở Wrightwood và sẽ tổ chức nhiều cuộc cắm trại tại đây.

Học sinh được 4 giáo viên tình nguyện hướng dẫn và dùng nhu liệu Rosetta Stones để dạy tiếng Việt. Thêm vào đó là việc sử dụng tự điển bằng hình (Oxford pictionary). Chương trình chú trọng dạy từ ngữ càng nhiều càng tốt để giúp các em nghe và nói tiếng Việt.

Các lớp VSL học mỗi Chủ Nhật từ 10 giờ sáng đến 12 giờ trưa. Các học sinh sẽ có bữa ăn trưa lành mạnh để tìm hiểu thêm về món ăn và văn hóa Việt Nam. Buổi chiều từ 1 giờ đến 4 giờ, các em sẽ tham gia những hoạt động khác nhau của nhóm Tuổi Trẻ Phụng Sự.

Lệ phí mỗi học sinh là $60/tháng, gồm áo thun, sách, đĩa CD, các giải thưởng, phí tổn vận chuyển, ăn trưa, thức uống và ăn nhẹ, cùng vật liệu hoạt động.

Liên lạc các số điện thoại 909-233-4223 hay 909-251-4885 – Fax: 909-753-0359 – Email: [email protected]

_____________________________

 

Hình ảnh các học sinh xuất sắc

 

Học sinh Aliso Viejo Middle School, ba gốc Việt, một gốc Trung Hoa, của học khu Capistrano vào chung kết Spelling Bee. (Ðứng từ trái) Miranda Lao, Katie Ma, Sarah Tran, và Dylan Tran (ngồi).

 

Các con cháu xuất sắc nhận phần thưởng của Hội Ðồng Hoàng Tộc Nguyễn Phước Hải Ngoại dịp lễ Hiệp Kỵ Vua Gia Long năm thứ 210 tại nhà hàng Seafood World.

 

Bác Sĩ Vĩnh Thừa trao bảng vinh danh cho em Tôn Nữ Huyền Thy, lớp 12, GPA 4.466, Irvine High School tại Lễ Hiệp Kỵ Vua Gia Long. Huyền Thy từng là học sinh Việt ngữ tại TTVH Hồng Bàng, Garden Grove.

 

Cũng tại buổi lễ, em Bành Quỳnh Mai, lớp 12, Fountain Valley High School, nhận bảng vinh danh từ Bác Sĩ Vĩnh Thừa.

Ham trúng 720 triệu đồng, bị lừa 2.6 lượng vàng


ÐÀ LẠT (NV) –
“Cào trúng thưởng với số tiền lên tới 720 triệu đồng, hai phụ nữ yêu cầu gia chủ phải lấy tiền, vàng đặt lên bàn thờ cúng bái để tạ lòng biết ơn đối với tổ tiên. Trong lúc khổ chủ vào phòng thay đồ hai kẻ lừa đảo đã nhanh tay cỗm số tiền, vàng đang đặt trên bàn thờ nhanh chân trốn thoát”.

Bà Nhòng đang kể lại chuyện bị lừa đảo. (Hình: Người Lao Ðộng)

Báo điện tử Bee.net kể câu chuyện như vậy về một vụ lừa đảo kiểu “cào trúng thưởng” mới xảy ra tại thành phố Ðà Lạt ngày 7 tháng 3, 2012 vừa qua, một hình thức lừa gạt không mới nhưng thấy xảy ra hoài tại Việt Nam.

Theo Bee.net, có hai phụ nữ khoảng 30 tuổi tới nhà ông Bùi Chánh, 59 tuổi, ở xã Xuân Thọ thành phố Ðà Lạt. Họ tự giới thiệu là người của “đoàn từ thiện quốc tế”, thấy gia đình ông nghèo nên có ý giúp.

Hai phụ nữ “từ thiện” đưa cho ông Chánh một thẻ cào. Sau khi ông cào trúng số tiền $720 triệu đồng, họ “tỏ ra hết sức vui mừng rồi yêu cầu gia chủ phải lấy hết tiền, vàng trong nhà bỏ lên bàn thờ để cúng bái tạ ơn với tổ tiên”.

Nguồn tin nói “Nghĩ hai phụ nữ này nói đúng, ông Chánh gom hết số vàng trong nhà được 2.6 lượng và trên 14 triệu đồng bỏ lên bàn thờ. Tiếp đó, hai phụ nữ này khuyên vợ chồng ông Bùi Chánh vào phòng thay đồ mới để thắp hương cúng vái và chuẩn bị đón người đến phát thưởng. Tuy nhiên, khi quay trở ra thì toàn bộ số vàng, tiền để trên bàn thờ đã biến mất cùng hai người phụ nữ này.”

Mới 12 ngày trước, có thể cũng hai phụ nữ nói trên, đã giả làm phóng viên truyền hình, đến nhà một cặp vợ chồng già ở đường Lý Tự Trọng thành phố Ðà Lạt, thông báo gia đình ông vừa trúng thưởng với số tiền lớn của một chương trình truyền hình.

“Họ yêu cầu ông Nguyễn Mãi và vợ là bà Nguyễn Thị Nhòng (77 tuổi) đem hết tiền, vàng bạc đồ trang sức ra đeo và để lên bàn quay phim lên hình cho đẹp. Do nhẹ dạ nên ông Mãi, bà Nhòng đã gom tất cả số tiền hai ông bà dành dụm được khoảng trên 12 triệu đồng bỏ lên bàn.” Nguồn tin kể như vậy và nói “Hai đối tượng trên lại yêu cầu ông Mãi, bà Nhòng vào phòng trong thay quần áo mới để quay phim. Trong lúc hai người vào thay đồ, các đối tượng này đã nhanh chân ôm số tiền trên lên xe biến mất.”

Thời gian gần đây cũng như mấy năm qua, những vụ lừa gạt qua trò thông báo trúng thưởng trên tin nhắn điện thoại di động khá phổ biến tại Việt Nam. Có thể trúng thưởng bằng tiền Việt Nam hoặc cả bằng đô la Mỹ lên hàng chục ngàn đô la khiến nhiều người bị trò lừa mà tiền mất tật mang. (T.N.)

Tranh chấp quần đảo, Trung Quốc, Ðài Loan đả kích Nhật


BẮC KINH (AFP) –
Trung Quốc và Ðài Loan tuần qua đả kích chính phủ Nhật vì đã dùng tên bằng tiếng Nhật cho các đảo ở vùng biển đang có tranh chấp giữa ba quốc gia.










Ðảo tranh chấp giữa 3 nước.


Trung Quốc và Nhật lâu nay vẫn có tranh cãi về quần đảo không người ở nhưng có vị trí chiến lược là Diaoyu hay Tiaoyu (tiếng Hoa) và Senkaku (tiếng Nhật).


Ðài Loan cũng cho các đảo nơi đây là của mình và các nhà tranh đấu Ðài Loan từng tìm cách đi thuyền đến nơi đây để xác định chủ quyền của Ðài Bắc.


Bộ Ngoại Giao Trung Quốc nói rằng hành động của Nhật khi đặt tên tiếng Nhật hàng chục hòn đảo nhỏ nơi nay là “bất hợp pháp và không giá trị”.


Phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Trung Quốc, Hong Lei, cho hay “bất kể Nhật đặt tên cho các đảo ở Diaoyu là gì, điều này sẽ không thay đổi được thực tế là những đảo này thuộc về Trung Quốc”.


Ðài Loan trong khi đó cũng lên tiếng chỉ trích Nhật về hành động này. “Chúng tôi đã đưa ra lời phản đối mạnh mẽ và tái khẳng định lập trường là quần đảo Diaoyu thuộc về chúng tôi,” theo thông cáo của Bộ Ngoại Giao Ðài Loan.


Nhật cho hay sẽ hoàn tất việc loan báo tên 39 đảo hiện không có người sinh sống vào cuối Tháng Ba này. (V.Giang)

Quan chức chơi cờ tiền tỉ từng ‘chung độ’ 6 mảnh đất


SÓC TRĂNG (NV) –
Vụ ông Nguyễn Thanh Lèo, cựu phó giám đốc Sở Giao thông Vận Tải Sóc Trăng, chơi cờ tướng chung độ bạc tỉ, vừa có thêm tình tiết mới.











Biệt thự của ông Nguyễn Thanh Lèo. (Hình: VNE)



Theo Vnexpress, kết quả điều tra cuối cùng của công an phát giác thêm ông Lèo từng “chung độ” 6 miếng đất trị giá 16 tỷ đồng, 1.3 tỷ tiền mặt và 6 lượng vàng.


Ông Nguyễn Thanh Lèo bị bắt vào tối 23 tháng 12, 2011, khi ông đánh cờ tướng ăn tiền với ông Trần Văn Tân (nguyên giám đốc Trung Tâm Sát Hạch và Cấp Phép Lái Xe hạng 3, Sóc Trăng). Công an thu giữ tại hiện trường 50 triệu đồng. Kiểm tra xe và người hai “kỳ thủ,” cơ quan công an phát hiện nhiều giấy tờ sang bán, chuyển nhượng đất.


Theo Vnexpress, các bị can khai nhận, cuối năm 2008, ông Tân với ông Lèo đánh cờ tướng ăn vé số. Nhưng chỉ thời gian ngắn sau, hai ông bắt đầu đấu ăn tiền tại quán bida Cón trên đường Nguyễn Huệ, bida Thy Tài 2 đường Phú Lợi và nhà bà Ngô Huệ Phấn ở khu đô thị 5A, phường 4, thành phố Sóc Trăng.


Mỗi ván cờ họ cá độ 500 ngàn đồng rồi sau đó tăng dần lên 5 triệu, 50 triệu, một tỷ và cao nhất là 5 tỷ đồng mỗi ván. Do thua số tiền quá lớn nên sau ba năm ông Lèo thua ông Tân trên 20 tỷ đồng. Trong đó, ông Tân đã nhận tiền mặt từ ông Lèo 1.3 tỷ đồng, 6 lượng vàng 24K và 6 mảnh đất đều nằm trên địa bàn thành phố Sóc Trăng trị giá 16.1 tỷ đồng.


Mở rộng điều tra, ông Lèo còn bị phát hiện đánh cờ tướng ăn tiền với ông Ðinh Văn Mười, nguyên phó chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Thành ủy Sóc Trăng. Ngoài những địa điểm trên, ông Lèo với ông Mười còn sát phạt tại quán cà phê Tố Thanh, cà phê Hạnh, Hoa Kiểng đều trong Hồ Nước Ngọt, TP Sóc Trăng.


Ban đầu ông Lèo với ông Mười đánh cờ hơn thua 50-100 tờ vé số, sau đó tăng lên 5 triệu rồi 50 triệu mỗi ván và mỗi lần đánh từ 6 ván trở lên. Có lần ông Lèo thua phải mượn 40 triệu đồng của bà Phấn để trả cho ông Mười. Khi tiền cược của hai “kỳ thủ” này nâng lên 80 triệu rồi 200 triệu đồng mỗi ván, có hôm ông Lèo phải “chung độ” cho ông Mười đến 1.1 tỷ đồng.


Một lần ông Lèo thua hết tiền nên gọi bạn mang lại 50 triệu đồng thì ông Mười mới chịu đánh tiếp. Tuy nhiên, sau đó hai người cãi nhau, người bạn kia vứt bỏ con cờ rồi bỏ về nên ông Lèo kéo lại. Bực bội, ông Mười chộp lấy cây len trong quán cà phê đánh chảy máu tay bạn cờ.


Vnexpress dẫn lời cơ quan điều tra nói rằng, cả 3 ông quan là Tân, Lèo và Mười đều phạm tội đánh bạc theo khoản 2, điều 248, Bộ Luật Hình Sự. (KN)

Tản mạn nhân ngày 8 Tháng Ba

 

Song Chi

 

Ở Việt Nam, việc kỷ niệm ngày Quốc Tế Phụ Nữ 8 Tháng Ba hàng năm được “du nhập” từ Liên Xô và các nước trong khối xã hội chủ nghĩa cũ. Sau năm 1975, dân miền Nam mới được biết đến ngày này.

Tại một số quốc gia, ngày Quốc Tế Phụ Nữ thường được kỷ niệm bằng những hoạt động, những cuộc diễu hành đòi quyền bình đẳng với nam giới trong cơ hội học tập, công việc, mức lương, hay điều kiện an sinh xã hội…

Nghĩa là rất thực tế, và đúng với tinh thần, ý nghĩa lịch sử của sự ra đời ngày Quốc Tế Phụ Nữ – là thành quả đấu tranh lâu dài hàng chục năm của hàng triệu phụ nữ trên thế giới từ những năm cuối thế kỷ XIX cho đến đầu thế kỷ XX, đòi cải thiện điều kiện làm việc, tăng lương, giảm giờ làm, đòi quyền bầu cử cho phụ nữ, v.v…

Trong khi đó, ở Việt Nam, 8 Tháng Ba là ngày phái nam chiều chuộng phụ nữ, chị em phụ nữ được tặng hoa, quà, nhận những lời chúc tụng từ những người đàn ông của họ, bạn bè, đồng nghiệp nam giới… Các cơ quan đoàn thể cũng tổ chức nhiều hoạt động nhân ngày này nhưng chủ yếu có tính biểu dương, khích lệ phụ nữ về mặt tinh thần.

So với một số quốc gia Hồi Giáo ở vùng Trung Ðông hay một số quốc gia ở Châu Phi, cho đến nay người phụ nữ vẫn bị thiệt thòi rất nhiều so với nam giới, bị lệ thuộc từ trong gia đình ra ngoài xã hội, thậm chí vẫn còn bị xem như một món hàng để đổi chác, gả bán… VN được đánh giá tốt hơn về bình đẳng giới.

Trong công việc, phụ nữ VN có thể làm việc ở mọi ngành nghề, lĩnh vực, có thể tham gia vào mọi hoạt động xã hội đoàn thể như đàn ông. Kể cả những ngành nghề, lĩnh vực vốn vẫn phù hợp hơn với nam giới như giám đốc, phi công, công an, đạo diễn phim, hay hoạt động chính trị.

Trong đời sống cá nhân, phụ nữ VN có thể yêu và lấy người mình yêu, có thể “sống thử” mà chưa cưới, có thể ly dị, và sau đó làm lại cuộc đời với người khác. Trong rất nhiều gia đình, người phụ nữ VN vẫn đóng vai trò là “nội tướng,” tay hòm chìa khóa, dạy dỗ chăm sóc con cái, thậm chí là trụ cột kinh tế…

Tuy nhiên, phụ nữ VN vẫn chịu rất nhiều áp lực trong đời sống. So với thời đại cách đây năm, sáu thập niên, phụ nữ bây giờ thật ra lại vất vả hơn nhiều.

Ngày xưa, người phụ nữ chỉ cần “công dung ngôn hạnh,” tam tòng tứ đức, làm tốt vai trò người vợ người mẹ, chăm sóc gia đình. Ngày nay phần lớn phụ nữ VN bên cạnh việc phải làm tốt thiên chức làm vợ làm mẹ, còn phải chia sẻ trách nhiệm gánh vác kinh tế cùng với chồng. Và nếu có nghề, có sự nghiệp riêng thì họ còn phải phấn đấu trong công việc, sự nghiệp như đàn ông.

Nhìn vào các gia đình tại các quốc gia văn minh, tiến bộ ở phương Tây, người đàn ông – chồng hay con trai thường tự giác vui vẻ chia sẻ mọi công việc lặt vặt trong nhà với vợ, mẹ hay chị em gái. Trong khi ở VN, phần lớn những công việc tề gia nội trợ này người phụ nữ vẫn phải đảm nhận, cho dù họ cũng đi làm như chồng.

Nếu tại nông thôn, vùng sâu vùng xa thì sự bất bình đẳng sẽ nặng nề hơn. Nhiều gia đình vẫn quý con trai hơn vì con trai mới là người nối dõi tông đường, “con gái là con người ta.”

Khi cô gái lớn lên thì lại đối mặt với những nỗi khổ khác. Từ quan niệm hẹp hòi về chữ trinh mà mới đây, câu chuyện một gia đình giàu có ở Cần Thơ trả dâu chỉ vì cho rằng con dâu/vợ mình không còn trong trắng, hư hỏng, là một ví dụ. Tình trạng phổ biến là phụ nữ phải gánh hết việc nhà, thậm chí cả việc đồng áng, vườn tược… Cho đến nạn bạo hành gia đình…

Hoàn cảnh kinh tế nghèo đói, cơ cực cộng với tương lai không mấy sáng sủa trước sự bất bình đẳng trong hôn nhân gia đình đã khiến hàng ngàn cô gái trẻ VN ở những vùng quê từ miền Tây cho đến những làng mạc sát biên giới phía Bắc nhắm mắt tính chuyện đổi đời. Bằng những cuộc hôn nhân vội vã không tình yêu với những chú rể xa lạ người Hàn Quốc, Ðài Loan, Trung Quốc,… Phần lớn là không hạnh phúc do ngôn ngữ văn hóa bất đồng, chưa kể có những trường hợp bị chồng bạo hành, giết chết mà báo chí trong nước đã đăng tải.

Nhiều người bảo vì lý do kinh tế. Kinh tế là một phần nhưng nếu đời sống hôn nhân ở những vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa của VN thật sự bình đẳng tốt đẹp thì chưa chắc nhiều cô gái đã chấp nhận lấy chồng xa xứ một cách liều lĩnh đến vậy.

Dù sao, những cuộc hôn nhân đó cũng có sự tự nguyện của các cô gái. Còn nhiều trường hợp các em gái, cô gái bị bắt cóc, bị lừa, thậm chí bị chính gia đình vì nghèo túng đã bán con qua biên giới Campuchia vào các động mãi dâm, hay biên giới phía Bắc, cho những người đàn ông Trung Quốc mua về làm vợ.

Phụ nữ vẫn chưa thật sự được tôn trọng, bảo vệ. Nạn xâm hại tình dục, nhất là đối với các bé gái đang có khuynh hướng ngày càng gia tăng.

Mới đây, trong cuộc họp của Quốc Hội “giải trình việc thực hiện chính sách pháp luật về phòng chống bạo lực, xâm hại trẻ em giai đoạn 2008-2010,” báo cáo của Ủy Ban Văn Hóa-Giáo Dục-Thanh Thiếu Niên và Nhi Ðồng cho biết, mỗi năm có khoảng gần 1000 vụ xâm hại tình dục trẻ em, kể cả hiếp dâm (theo báo Ðại Ðoàn Kết). Ðó chỉ mới là con số chính thức. Trong thực tế, con số có thể lớn hơn vì có nhiều gia đình khi xảy ra chuyện, vì lý do này lý do khác, đã không làm đơn tố cáo.

Chính vì vậy, 8 Tháng Ba thay vì được kỷ niệm như một ngày mà người phụ nữ được tặng hoa, tặng quà, được đàn ông chiều chuộng… sẽ hay hơn và đúng với tinh thần của ngày Phụ Nữ Quốc Tế hơn nếu các cơ quan đoàn thể, Hội Phụ Nữ… tổ chức những hoạt động thiết thực cho phụ nữ. Như đòi quyền bình đẳng giới thật sự ở nông thôn vùng sâu vùng xa, hoặc yêu cầu nhà nước phải có những biện pháp, chính sách cụ thể ngăn ngừa nạn buôn người, nạn xâm hại tình dục trẻ em… chẳng hạn.

Nhưng đó là một điêu rất khó thực hiện, trong một chế độ độc tài như VN. Và ngược lại, việc không thể có những hoạt động như vậy diễn ra đã chứng tỏ VN là một quốc gia độc tài, rất giỏi mỵ dân bằng những lễ lạt mang tính hình thức. Từ ngày Quốc Tế Phụ Nữ 8 Tháng Ba, Quốc Tế Thiếu Nhi 1 Tháng Sáu, Quốc Tế Lao Ðộng 1 Tháng Năm hay ngày Hiến Chương Thầy Giáo 20 Tháng Mười Một,… ngày gì ở VN cũng có. Nhưng trong thực tế, đời sống của phụ nữ, trẻ em, người lao động hay thầy giáo ra sao, có được đảm bảo đầy đủ những quyền lợi của mình hay không lại là chuyện khác.

Trong khi đó, có vẻ như cộng đồng blogger, những người quan tâm tới tình hình chính trị của đất nước tại Hà Nội đã chọn ngày 8 Tháng Ba năm nay để nhớ đến những người phụ nữ đã dấn thân trên con đường dài đòi tự do dân chủ cho đất nước. Bằng việc tổ chức buổi gặp mặt và chúc mừng những người phụ nữ quả cảm, đi thăm và tặng hoa cho chị Bùi Thị Minh Hằng, người biểu tình chống Trung Quốc bị đi đưa đi giáo dục cải tạo ở trại cải tạo phục hồi nhân phẩm Thanh Hà, tỉnh Vĩnh Phúc. Hay tặng hoa cho Luật Sư Nguyễn Thị Dương Hà, người vợ can trường của Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ…

Những việc làm đó, nếu được tiếp tục duy trì và mở rộng cho tất cả những người phụ nữ đã vì việc chung của đất nước mà phải trả giá bằng chính sự tự do của mình hay của người thân yêu nhất là chồng, cha, con của họ, sẽ thật sự có ý nghĩa.

Trong một xã hội mà sự sợ hãi, sự vô cảm vẫn còn bao trùm, những người dám lên tiếng luôn luôn phải chịu nổi cô đơn giữa một đám đông chọn sự an toàn cho bản thân là trên hết. Vì vậy, một hành động chia sẻ, ủng hộ về mặt tinh thần cũng trở thành nguồn sức mạnh to lớn để người đó có thể chịu đựng những năm tháng dài trong trại giam hoặc chờ đợi người thân của mình trở về…

Bà Lê Phương Mai

 

Israel hạ sát chỉ huy phiến quân ở Gaza


GAZA (Reuters) –
Quân đội Israel hôm Thứ Sáu hạ sát cấp chỉ huy một nhóm phiến quân Palestine khi bắn vào chiến xe người này đang đi ở dải Gaza, theo một giới chức Israel.









Một người Palestine bên cạnh thi hài của Zuhair al-Qaissi, một viên chỉ huy phiến quân ở dải Gaza bị không kích Israel hạ sát. (Hình: AP photo/Hatem Moussa)


Một người khác cũng thiệt mạng trong cuộc tấn công, với người thứ ba bị thương tích trầm trọng. Cuộc tấn công diễn ra sau khi có hai hỏa tiễn từ phía Gaza bắn vào Israel nhưng không gây thiệt hại hoặc tổn thất nhân mạng gì.


Phía Israel cho hay một trong những người thiệt mạng là Zuheir al-Qessi, đứng đầu một ủy ban phối hợp các nhóm võ trang ở vùng này.


Nhân viên cấp cứu nói rằng người thứ nhì thiệt mạng là Ahmed al-Halani. Dân chúng địa phương cho hay người này quê quán ở vùng Tây Ngạn và vừa được Israel thả ra hồi năm ngoái trong vụ đổi 1,000 tù nhân Palestine để lấy về 1 tù nhân Israel. (V.Giang)

Tranh chấp Biển Ðông: Bắc Kinh sẽ dùng cả kinh tế, quân sự

 


 

BẮC KINH (NV) – Trung Quốc sẽ dùng cả áp lực kinh tế và quân sự để đối phó khi có các diễn biến về tranh chấp Biển Ðông không đi theo chiều hướng Bắc Kinh muốn.

Ðảo Phú Lâm (Trung Quốc gọi là Vĩnh Hưng đảo) nhìn từ trên cao, hiện đã được xây dựng phát triển rất mạnh về mọi mặt. Việt Nam nhiều lần phản đối nhà cầm quyền Bắc Kinh có các hành động bất hợp pháp đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nhưng phương Bắc vẫn coi như không có. (Hình: China Military)

Tướng La Nguyên (Luo Yuan), một tướng lãnh được coi là thuộc phe diều hâu trong quân đội Trung Quốc đưa ra ý kiến như vậy trong một cuộc phỏng vấn của hãng tin China News Services (CNS) và được đăng tải trên tờ Hoàn Cầu Thời Báo, một phó bản Anh ngữ của tờ Nhân Dân nhật báo.

Nhân khi được hỏi về lý do tại sao ông ta lại đề nghị Trung Quốc thành lập một bộ phận tuần biển thống nhất (national coast guard) thay vì thuộc trách nhiệm nhiều cơ quan khác nhau như hiện nay, La Nguyên nói: “Giải quyết tranh chấp Biển Ðông (theo cách gọi của Việt Nam hay Nam hHải theo cách gọi Trung Quốc và Biển Tây theo cách gọi của Philippines) không thể tùy thuộc hoàn toàn vào các phương tiện quân sự mà Trung Quốc còn có thể các phương cách khác. Tuy Trung Quốc cam kết phát triển hòa bình không có nghĩa là họ sẽ không bao giờ sử dụng võ lực.”

Khi được hỏi về quan điểm của ông ta đối với việc Philippines loan tin cương quyết cho đấu thầu dò tìm và khai thác dầu khí cả khu vực mà Trung Quốc tuyên bố chủ quyền dù chỉ cách đảo Palawan của Phi chỉ từ 72 hải lý đến 80 hải lý, La Nguyên nói: “Trung Quốc phải nói rõ với Philippines rằng các vấn đề kinh tế sẽ không hoàn toàn tách biệt khỏi các vấn đề quân sự. Nước họ không thể kiếm lợi bằng cách giao thương với Trung Quốc và lôi cuốn đầu tư từ Trung Quốc trong khi vi phạm các lợi ích cốt lõi của Trung Quốc. Trung Quốc sẽ lập một danh sách đen để đánh dấu ai là người gây thiệt hại cho lợi ích quốc gia Trung Quốc, kể cả các công ty ngoại quốc hợp tác với Philippines để khai thác Biển Ðông. Nếu họ vẫn có khiêu khích Trung Quốc, họ đáng bị trừng phạt kinh tế.”

Câu trả lời này cũng có thể hiểu gián tiếp cho cả Việt Nam. Việt Nam cũng như Philippines lệ thuộc rất lớn vào mậu dịch hàng năm với Trung Quốc. Việt Nam phần lớn cung cấp nông sản, quặng mỏ, nguyên liệu thô cho Trung Quốc và đổi lại mua nguyên liệu biến chế, máy móc, hóa chất, hàng điện tử và cả thực phẩm, nói chung đủ loại hàng hóa.

Năm 2007, thâm thủng mậu dịch từ Trung Quốc của Việt Nam là $9.145 tỷ USD, bằng 64% tổng mức nhập siêu cả năm, năm 2008, đó là con số $11.16 tỷ USD và tỷ lệ là 61%. Năm 2009, con số này đã tăng tiếp lên $11.532 tỷ USD, bằng 90% tổng nhập siêu cả năm, được cho là mức báo động.

Nhưng năm 2010, thâm thủng mậu dịch với Trung Quốc được báo chí tại Việt Nam mô tả cao “ngất ngưởng” và đã nâng lên mức báo động đỏ: $12 tỷ USD, bằng 105% mức nhập siêu cả năm của Việt Nam. Không dừng ở đây, Tổng Cục Thống Kê Hà Nội cho hay 11 tháng đầu của năm 2011, nhập khẩu từ Trung Quốc gần $22.048 tỷ USD (tăng gần 30% so với cùng kỳ) còn xuất khẩu chỉ thu về gần $9.681 tỷ USD (tăng 53% so với cùng kỳ). Càng ngày càng lún sâu vào sự lệ thuộc nền kinh tế của Trung Quốc dù các lãnh tụ Hà Nội nhiều lần kêu gọi giải quyết cán cân mậu dịch quá chênh lệch, có hại cho nền kinh tế của Việt Nam.

Nếu Trung Quốc trở mặt, đánh đòn kinh tế, Việt Nam sẽ xoay trở vô cùng khó khăn.

Trong cuộc phỏng vấn của CNS, Tướng La Nguyên khi được hỏi về sự cáo buộc của Việt Nam gần đây khi tàu đánh cá (của tỉnh Quảng Ngãi) bị tàu tuần Trung Quốc bắt giữ, cướp đoạt tài sản và đánh đập ngư dân khi người ta chạy tới đảo Phú Lâm tránh gió, ông ta biện hộ rằng: “Không có gì sai khi Trung Quốc bảo vệ chủ quyền trên Biển Ðông. Biện pháp nào sẽ được áp dụng, còn tùy các hoàn cảnh.”

Dịp này, ông ta giải thích lý do Trung Quốc xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa rằng, “Năm 1974, Trung Quốc đụng độ hải quân với VNCH ở Hoàng Sa. Bắc Việt Nam hậu thuẫn Trung Quốc, công nhận Trung Quốc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Bây giờ, do lợi ích kinh tế, nhu cầu cần tài nguyên và các tình cảm quốc gia, quần đảo Hoàng Sa trở thành vấn đề phức tạp.” (TN)

‘Touch’ revisited




Photo courtesy of www.blogs.nailsmag.com


By NGUYEN KHOA THAI-ANH

 

     Two years ago, I saw the film “Touch,” which has stayed with me since. For those who didn’t see it, there is another opportunity.

 

     “Touch” is the second (the first being “Norwegian Woods” by Trần Anh Hùng) great and serious Vietnamese cinéma vérité by an overseasVietnamese filmmaker that attempts to grapple with the psychological study and affective side of human relationship and development.

     Though I’d find it unlikely that an exclusively English-speaking person such as (Tâm) Porter Lynn would look for a job in a Vietnamese-speaking nail salon, overall the acting is good, particulary by Lynn and John Ruby, who plays Brendan. In terms of real-life happenings, it is a bold, albeit overdue treatment of interracial relationship. “Touch” does a good job in building up the momentum for the two kindred spirits, simmering at first then electrifying into sexually charged scenes.

 Though, “Touch” realistically deals with the chance meeting between the protagonist and his/her heroine (or vice versa), in the end, the great protagonist left his heroine to become his own antagonist, and his own worst enemy.

     Viewers could shudder at two improbabilities: First, the very thought that Brendan deservedly has found his soul mate, Tâm, just so he can go awol at the last anti-climatic minute, not by doing what is right and natural for love, but by the implausible self-constraint and boring spousal calling, reenergized by his lessons of love, taught by Tâm. Then, Brendan’s wife, Sandie’s (Melinda Bennett) change of heart somehow seems miraculously forced, given her lack of respect and loathing of Brendan lowly ‘grease monkey’ status. In this sense, he has not learned of love to save himself from self destruction, and the build up to his wife’s conversion seems unconvincing.

     On the home front, the love-hate and filial-piety relationship between Tâm and her father – is revealed to the viewers toward the end as to why it has become difficult and trying: father is gnawing by a guilt-ridden conscience that he has caused the death of his loving wife. Though understandable, it’s slightly off course when it comes to his treatment of our insufferable heroine-daughter Tâm, and her clinging affection for her mom in childhood. While this may explain Tâm disposition toward reticence in adulthood, it did not do justice nor explain the father’s cruelty toward his daughter.

     The dénouement does not seem pyschologically fit, particularly when Tâm falls back to her second-string nerdy man Kỳ (Tony LaThành), but for the sake of keeping the Vietnamese tradition intact, Nguyễn Đức Minh, the director may have gained for himself an auspicious stature, and his film debut some social values and poetic expression to the seventh art.

See link for more information: http://www.touchthemovie.com/blog/

Sự thật về Thác Bản Giốc (kỳ cuối)

 


Mai Thái Lĩnh (gởi cho Người Việt)


 


2) Việc Trung Quốc chiếm cồn Pò Thoong và Thác Bản Giốc không phải là hành động ngẫu nhiên, cũng không phải là chủ trương của một cá nhân hay một phe phái nào trong Ðảng cộng sản Trung Quốc.


Kế hoạch này đã được chuẩn bị ngay từ những năm 1955-56, nghĩa là vào lúc quan hệ Việt-Trung được coi là “hữu hảo,” và được thực hiện từng bước qua từng giai đoạn như đã trình bày ở phần trên. Ðiều này cho thấy đây là chủ trương chung của Ðảng Cộng Sản Trung Quốc qua nhiều thời kỳ, nhiều thế hệ lãnh đạo.


Nhưng Thác Bản Giốc không phải là trường hợp duy nhất. Căn cứ vào bản sơ đồ in ở trang 8 cuốn bị vong lục (giác thư) năm 1979, chúng ta được biết Thác Bản Giốc và Ải Nam Quan chỉ là 2 trong số 12 trường hợp lấn chiếm điển hình. Nếu tính tất cả các vi phạm lớn nhỏ, tính từ 1949 đến 1979 phía Trung Quốc (tức Trung Hoa cộng sản) đã lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam ở 90 điểm trên toàn tuyến biên giới Việt-Trung (24). Như vậy không thể nói là quan hệ Việt-Trung chỉ xấu đi trong giai đoạn 1979-1989. Ngay từ giữa thập niên 1950, nghĩa là giữa lúc tình cảm cộng sản Việt-Trung còn nồng thắm, đã bắt đầu hình thành những mầm mống xấu, những âm mưu đen tối. Tương tự như thế, trong vấn đề lãnh hải, ngay khi công bố “hải phận 12 hải lý” vào năm 1958, Ðảng cộng sản Trung Quốc đã nuôi dưỡng những mưu đồ quỷ quyệt. Ngay tại điều 4 của Bản tuyên bố, họ đã ghi rõ “Tây Sa” (tức Hoàng Sa) và “Nam Sa” (tức Trường Sa) thuộc lãnh thổ Trung Quốc. Ðó chính là sự chuẩn bị cho việc hải quân Trung Quốc chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974 và chiếm đảo Ðá Gạc Ma (Johnson South Reef) thuộc quần đảo Trường Sa vào năm 1988.


Vấn đề đặt ra là: trước một chính sách xâm lược nhất quán như thế, tại sao Ðảng Cộng Sản Việt Nam vẫn thừa nhận quan hệ “16 chữ vàng” (láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai) và tinh thần “4 tốt” (láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt), coi đó như những nguyên tắc căn bản chi phối toàn bộ đường lối ngoại giao giữa hai quốc gia?


Có thể nói khi chấp nhận một chính sách đối ngoại như thế, Ðảng Cộng Sản Việt Nam đã đặt quyền lợi của đảng cao hơn quyền lợi của tổ quốc, đã hy sinh quyền lợi của quốc gia – dân tộc để bảo vệ quyền lợi của chính mình. Thử hỏi: với tình hình thực tế đó, làm sao nhân dân có thể tiếp tục tin tưởng vào “sự lãnh đạo của đảng” trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền ở Biển Ðông – nơi mà hàng ngày hàng giờ các thế lực dân tộc chủ nghĩa của Trung Hoa cộng sản đang lăm le tiếp tục thực hiện kế hoạch xâm lược mà họ đã chuẩn bị công phu từ hơn nửa thế kỷ?


3) Quá trình xâm lấn đường biên giới Việt-Trung đã diễn ra từ rất lâu, nhưng mãi đến ngày 15 tháng 3, 1979, nghĩa là gần một tháng sau khi Trung Quốc tấn công trên toàn tuyến biên giới phía Bắc, người dân mới biết được phần nào sự thật thông qua bản “bị vong lục” do Bộ Ngoại Giao công bố. Từ thời điểm đó cho đến nay, ngoài những chi tiết được công bố trong cuốn sách, nhân dân không được biết thêm điều gì khác. Không có công trình nghiên cứu mang tính độc lập nào để người dân có thể có thể so sánh, đối chiếu.


Thật ra, có một số công trình nghiên cứu có thể giúp người dân tìm hiểu vấn đề, nhưng những công trình này thường bị xếp vào ngăn kéo, không được công bố rộng rãi. Vào năm 1996, khi cộng tác với nhà xuất bản Thuận Hóa để tái bản cuốn Ðất nước Việt Nam qua các đời của học giả Ðào Duy Anh, Viện Sử học đã viết trong Lời dẫn như sau: “Năm 1975 tác giả có bổ sung và sửa chữa bản in lần thứ nhất, với ý định tái bản ở miền Nam. Sau khi xem lại tác giả đã bỏ chương nói về biên giới Việt Nam qua các đời vì thấy tài liệu chưa được đầy đủ. (…)Trong lần tái bản này, chúng tôi đã thực hiện theo di cảo của tác giả lưu lại sau khi qua đời.” (sđd, tr. 15). Việc lược bỏ chương về biên giới ấy là ý muốn thật của tác giả hay vì một áp lực nào khác? Ðối chiếu với “sự quên lãng” được dành cho những trận chiến đẫm máu trong suốt thập niên 1980 như trận chiến tại dải đồi Núi Ðất (Lão Sơn) ở Hà Giang năm 1984, cuộc xâm chiếm đảo Ðá Gạc-Ma ở Trường Sa năm 1988, v.v… chúng ta có quyền hoài nghi tính chất tự nguyện của việc lược bỏ này.



 Bản đồ xã Ðàm Thủy do Ủy ban Biên giới Quốc gia công bố. (Hình: Tác giả cung cấp)


Mãi cho đến ngày nay, hơn một thập niên sau ngày “Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa CHXHCN Việt Nam và CHND Trung Hoa” được ký kết (30 tháng 12, 1999), thông tin về đường biên giới Việt-Trung vẫn là cái gì rất mờ mịt. Mặc dù người dân có thể truy cập vào Internet để xem hình ảnh vệ tinh của khu vực giáp giới giữa hai quốc gia, nhưng vẫn không thể nào xác định được đường biên giới mới một cách chính xác. Ngay cả khi truy cập vào cổng thông tin điện tử của chính phủ hay trang mạng của Ủy ban Biên giới Quốc gia, người ta cũng chỉ có thể tìm ra một thứ “bản đồ” mù mờ và kém chính xác như tấm “sơ đồ” xã Ðàm Thủy đăng kèm theo đây (ảnh 31) (25).


Trong khi nhiều vị trí hiểm yếu ở vùng biên giới Việt-Trung đã trở thành “chợ trời biên giới” (vd: cửa khẩu Tân Thanh), trong khi hai bên đang tích cực thúc đẩy sự ra đời của các “khu hợp tác kinh tế xuyên biên giới” thì bản đồ chi tiết về vùng biên giới Việt-Trung vẫn còn là “bí mật quốc gia,” thông tin về vùng này vẫn là thông tin một chiều, mù mờ và không có giá trị khoa học. Người ta có cảm tưởng các cấp có thẩm quyền vẫn tìm cách che giấu, không muốn cho người dân hiểu biết rõ ràng, cụ thể về tình hình đường biên giới mới. Việc vội vã nhổ bỏ các cột mốc cũ để đưa vào “viện bảo tàng” lại càng làm tăng thêm sự nghi ngờ đó.


Câu hỏi đặt ra là: trong tình trạng bưng bít, che giấu thông tin như thế, giới trí thức – nhất là các nhà khoa học nhân văn, phải làm gì để có thể bảo vệ Tổ quốc, giữ vững chủ quyền quốc gia? Trông chờ Bộ Chính Trị Ðảng Cộng Sản Việt Nam thành tâm thiện ý “nhìn thẳng vào sự thật” để thực hiện một đường lối cởi mở hơn? Tha thiết “cầu xin” nhà cầm quyền gia ân ban phát một “không gian tự do có giới hạn” để trí thức có thể góp ý hay phản biện? Hay trí thức phải noi gương cụ Phan Châu Trinh và các sĩ phu của phong trào Duy Tân hồi đầu thế kỷ trước bằng cách tự mình vạch đường đi, nghĩa là mạnh dạn đảm nhận vai trò tiên phong trong công cuộc nâng cao dân trí, chấn hưng dân khí bằng cách phá vỡ ách nô lệ tinh thần đã bao trùm đời sống tinh thần của cả nước ta từ gần nửa thế kỷ nay?


Có một bài học mà chúng ta có thể rút ra từ lịch sử: tự do có được bằng sự gia ân chỉ có thể là một thứ tự do bị kiểm soát, chân lý có được bằng sự thỏa hiệp chỉ là chân lý nửa vời hay một nửa của sự thật. Mà trong lĩnh vực khoa học thì tự do bị khống chế hay một nửa – sự thật chỉ có thể đem lại một thứ khoa học giả hiệu, một thứ khoa học hào nhoáng nhưng phù phiếm với những huy chương và phẩm hàm tuy bề ngoài rất “hoành tráng” và hấp dẫn, nhưng không thể trường tồn qua thời gian và hoàn toàn vô nghĩa nếu xét trên bình diện lợi ích của toàn dân tộc. Bài học của học thuyết Lysenko (Lysenkoism) đã từng ngự trị trong ngành sinh học Liên Xô từ cuối thập niên 1920 cho đến tận năm 1964 trước khi bị vứt vào thùng rác của lịch sử, là một ví dụ cực kỳ sinh động của thứ khoa học thừa nhận sự lãnh đạo của một đảng chính trị trong một chế độ độc tài toàn trị.


Ðà Lạt, mùa xuân năm Nhâm Thìn, 9 tháng 2, 2012


Mai Thái Lĩnh


 


Chú thích:


(1) Bản Giốc chờ ngày cất cánh, Thanh Niên 23/10/2011:


http://www.thanhnien.com.vn/pages/20111023/ban-gioc-cho-ngay-cat-canh.aspx


(2) Lê Bá Thảo, Thiên nhiên Việt Nam, Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội 1977, tr. 43-44.


(3) VASC Orient chính là tiền thân của trang mạng VietNamNet hiện nay.


(4) “Thứ Trưởng Ngoại Giao Lê Công Phụng trả lời phỏng vấn của VASC Orient chiều 28 tháng 1, 2002.” Mặc dù đã bị bóc gỡ, bài phỏng vấn này vẫn được lưu truyền trên mạng Internet trong suốt một thập niên qua.


(5) Nguyễn Trường Giang, “Hoàn thành công tác phân giới cắm mốc biên giới đất liền Việt Nam và Trung Quốc,” Tạp chí cộng sản, 27/2/2009:


http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/PrintStory.aspx?distribution=9072… print=true


(6) Nguyễn Hồng Thao, “Việt-Trung và đường biên giới pháp lý, công bằng, hữu nghị,” Vietnam Net 02/01/2009: http://vnn.vietnamnet.vn/chinhtri/2009/01/821775/


Ông phó giáo sư tiến sĩ này về sau thăng chức phó chủ nhiệm Ủy ban Biên giới Quốc gia thuộc Bộ Ngoại Giao và gần đây, được bổ nhiệm làm đại sứ Việt Nam tại Malaysia.


(7) Au Tonkin et sur la frontière du Kwang-si, par le Commandant Famin, Vice-Président de la Commission d’Abornement des Frontières Sino-Annamites en 1894, Paris, Auguste Challamel, Editeur, Librairie Coloniale, 1895. Ảnh chụp lại hai trang 12 và 13 đã được công bố trong “Thư ngỏ của nhà khoa học Thái Văn Cầu gửi PGS TS Nguyễn Hồng Thao, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Biên giới, Bộ Ngoại giao nước CHXHCN Việt Nam”: Bauxite Vietnam, 07/01/2011: http://www.boxitvn.net/bai/15750.


(8) Người Pháp thành lập ở vùng thượng du Bắc Việt 4 khu quân sự (territoires militaires): (1) Móng Cái, (2) Cao Bằng, (3) Hà Giang và (4) Lai Châu. Về sau, còn thành lập thêm khu thứ 5 ở Phong Saly (Lào). Ðào Duy Anh gọi là đạo quân sự thứ hai (Xem Ðào Duy Anh, Ðất nước Việt Nam qua các đời, Viện Sử học VN – Nxb Thuận Hóa, 1996,tr. 219).


(9) Trương Nhân Tuấn, “Biên Giới Việt Nam: vùng tiếp giáp tỉnh Quảng Tây,” phần I, 29-08-2009: http://vn.360plus.yahoo.com/truongnhantuan/article?mid=95… fid=-1


(10) Quốc sử quán Triều Nguyễn, Ðại Nam Nhất Thống Chí, tập 4, Nxb Thuận Hóa 1997, tr. 403.


(11) Hàn Vĩnh Diệp, “Tấc đất tấc vàng.” Bài này được đăng trên Mạng Ý kiến (ykien.net) vào năm 2005, nhưng đến nay trang mạng này không còn tồn tại vì bị tin tặc đánh phá. Có thể tham khảo bản đăng lại tại địa chỉ: http://www.freewebs.com/tinvn/TacDatTacVang.htm


(12) Vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc, Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội, 1979, tr. 11-12. Cuốn sách này chính là toàn văn của bản “bị vong lục” (giác thư, memorandum) của Bộ Ngoại Giao Việt Nam công bố ngày 15 tháng 3,1979.


(13) Trương Nhân Tuấn, “Tìm hiểu chủ quyền thác Bản Giốc,” 1 tháng 11, 2011:


http://vn.360plus.yahoo.com/truongnhantuan/article?mid=815


(14) Trung Khanh Phu (topographic) Sheet 6354-4, 1:50,000 U.S. Army Map Service 1964 (10.1MB) [GeoPDF]:


http://www.lib.utexas.edu/maps/topo/vietnam/trung_khanh_phu-6354-4.pdf


(15) AMS 1:50000 Maps in Vietnam Archive Map Collection:


http://www.vietnam.ttu.edu/resources/maps/maps1-50000.pdf


(16) Những địa danh in nghiêng là địa danh ghi trên bản đồ.


(17) Do không có trong tay bản sao nhật ký của Détrie cho nên đoạn văn này hoàn toàn dựa vào nguyên văn do ông Trương Nhân Tuấn công bố. Trong bản văn này, dòng sông Quây Sơn được ghi là Qui-Xuan chứ không phải là Qui-Thuan như trong cuốn sách của Thiếu tá Famin. Nếu quả thật Détrie ghi là Qui-Xuan thì tên sông này đã xuất hiện từ cuối thế kỷ 19 chứ không phải chỉ mới xuất hiện gần đây.


(18) Vấn đề biên giới…, sđd, tr. 14.


(19) Tấm bản đồ về đường biên giới mới đã được công bố trong bài viết của nhà văn Trần Nhương nhan đề “Bên cột mốc biên giới Bản Giốc,” Blog Trần Nhương 1 tháng 11, 2011:


http://trannhuong.com/news_detail/11528/B%C3%8AN-C%E1%BB%98T M%E1%BB%90C-BI%C3%8AN-GI%E1%BB%9AI-B%E1%BA%A2N-GI%E1%BB%90C


(20) Ông Lê Công Phụng sau khi hoàn thành sứ mạng “đàm phán” đã được bổ nhiệm làm đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ một thời gian trước khi về hưu.


(21) Theo thống kê năm 2010, mặc dù tổng sản phẩm nội địa (GDP) của Quảng Tây xếp thứ 18, nhưng nếu tính GDP trên đầu người, thì Quảng Tây đứng thứ 27 trong tổng số 31 thành phố, tỉnh và khu tự trị, chỉ đứng trên Tây Tạng, Cam Túc, Vân Nam và Quý Châu.


(22) Người Choang (壯 âm Hán-Việt đọc là Tráng) là dân tộc thiểu số đông nhất Trung Quốc với dân số 18 triệu. Người Choang có cùng nguồn gốc với người Tày và người Nùng ở Việt Nam, tập trung đông nhất ở tỉnh Quảng Tây. Tên gọi chính thức của tỉnh Quảng Tây là Khu tự trị dân tộc Choang (Guangxi Zhuang Autonomous Region).


(23) Trong các trang quảng cáo du lịch của Trung Quốc, chiều cao của thác nước được ghi là 60m, thậm chí 70m, trong khi những người Pháp đầu tiên viết về thác nước chỉ phỏng đoán đến mức 40-50m, và các sách địa lý của nước ta xác định con số 34m.


(24) Vấn đề biên giới…., sđd, tr.8.


(25) Bản đồ này là bản đồ được cung cấp bởi địa chỉ www.gis.chinhphu.vn.

Ðám thiêu của người Chăm Bàlamôn

 

Ban Vy

 

Theo nghi lễ vòng đời của người Chăm Bàlamôn thì lễ hỏa táng được xem quan trọng hàng đầu. Tang lễ này là một hệ thống lễ rất phong phú và phức tạp, cũng tốn kém tiền của. Có sự khác nhau giữa các đám tang của các tầng lớp trong xã hội do ảnh hưởng chế độ đẳng cấp của Ấn Ðộ.

Hài cốt được đặt lên đống củi và đốt cháy. Với người Chăm Bàlamôn, thì lễ hỏa táng được xem quan trọng hàng đầu theo nghi lễ vòng đời của họ.

Lễ hỏa táng của người Chăm Bàlamôn được tổ chức trong bốn ngày ba đêm. Và hỏa táng vào buổi sáng ngày cuối cùng. Lễ này bắt đầu diễn ra vào sáng ngày Chủ Nhật hoặc sáng Thứ Tư, miễn là có sự cho phép lấy ngày của thầy cả sư.

Ngày đầu tiên tang lễ được bắt đầu vào khoảng 6 giờ sáng. Gia đình sẽ ra nơi chôn cất để lấy hài cốt đã được chôn khoảng từ 1 năm rưỡi đến 2 năm rưỡi tùy theo đất chôn như thế nào mà có thể làm lễ hỏa táng. Cũng trong khoảng thời gian này, sẽ bắt đầu dựng nhà lễ và trang trí theo đúng quy định của tín ngưỡng Bàlamôn. Nhà lễ được dựng lên ngoài người trong gia đình còn có sự giúp đỡ từ họ hàng và bà con láng giềng (tùy vào mối quan hệ của gia đình mà bà con đến nhiều hay ít). Theo quy định thì hướng mở của nhà lễ hướng về phía Bắc. Phía Nam nhà lễ là nơi để hài cốt người chết. (Theo trình tự, ngày thứ nhất bắt đầu sẽ là ngày “Lễ cho ăn” Harei blei huak) được bốn thầy Paseh làm lễ. Theo quan niệm của người Chăm thì khi chết là sự đầu thai trở lại và sẽ sang một thế giới khác. Ðể cho người chết khỏi khổ, thì phải làm sao để người chết không bị đói khát. Vì thế “Lễ cho ăn” được làm vào ngày thứ nhất. Vật phẩm trong “Lễ cho ăn” chỉ có nước, gạo và muối. Các mâm lễ sẽ được trang trí theo quy định. Sau đó ông thầy chủ lễ bắt đầu làm lễ đề mời gọi thần linh về chứng giám.

Bốn người khiêng hài cốt (halan char) được quấn khăn màu đỏ đã được làm bùa phép.

Trước khi làm “Lễ cho ăn” các thầy sẽ làm lễ tẩy uế (tẩy thể). Trong lễ này mỗi thầy sẽ có một mâm lễ riêng. Vật lễ trên mâm có lửa trầm, trầu, cau, hạt nổ, cơm vắt, muối hạt. Mủng gạo thì được chia làm hai phần: Một phần để thầy cho ăn và một phần để con cháu trong gia đình cho người chết ăn. “Lễ cho ăn” được diễn ra trong tiếng tù và, tiếng chiêng trống nghe rất linh thiêng và não ruột.

Sau “Lễ cho ăn” tiếp tục là lễ thức dâng cơm cho các thầy paseh. Người bưng cơm (pok lisei) thứ tự sẽ bưng các mâm lễ dâng cho các thầy, trước hết là rượu, trầu cau và sẽ có một mâm dành cho người chết. Các thầy Paseh làm nghi thức tụng kinh và làm phép trước khi ăn. Sau đó người bưng cơm tiếp tục dâng cơm cho ban nhạc (Gru adaoh), bà đơm cơm, thợ trang trí, chủ tang. Còn những người trong gia đình, bà con láng giềng và khách sẽ ăn cơm chung.

Bên trong nhà lễ, nơi được dựng lên nhằm phục vụ cho những nghi thức tổ chức đám thiêu cho người đã chết.

Buổi tối ban nhạc bắt đầu thực hiện công việc của mình. Lập bàn tổ cúng để hát tang ca từ khoảng 19 giờ đến 21 giờ. Nội dung là kể lại vòng đời người từ lúc sinh ra cho đến chết và sau khi chết được đầu thai lại. Sau khi ban nhạc kết thúc thì mọi người bắt đầu dọn mâm ăn chè đêm. Và người chết cũng được dâng. Cái thú vị của đêm ăn chè là gia đình sẽ nấu để mời tất cả mọi người đến ăn. Ðặc biệt là cũng là địa điểm tập kết của các em độ tuổi tiểu học trong làng đến ăn chè (Yaong beng). Mỗi khi có Lễ hỏa táng của ai đó thì thú vui của các em là chờ đến lúc ăn chè.

Kết thúc ngày thứ nhất thì ngày thứ hai sẽ là ngày nghỉ, chỉ có ban nhạc hát tang ca. Trong ngày hôm nay hoạt động diễn ra cũng rất đơn giản. Lễ hát xướng sẽ hát ba buổi: Sáng, chiều, tối. Nhưng giai điệu tang ca nghe rất não nề, đưa người nghe cảm nhận được sự mất mát. Bên cạnh đó hướng người nghe đến sự linh thiêng như đang thoát ra khỏi trần tục…

Người bưng cơm đang dâng cơm cho thầy Paseh và Po Dhia (Cả Sư).

Tiếp tục là ngày thứ ba: Lễ chém cây (Tak Kayau). Ngày này cũng rất quan trọng vì sau Lễ Chém Cây sẽ là Lễ tiễn đưa (Palao) dân làng và khách khứa từ các làng khác đến rất đông và gia đình sẽ thết đãi (tùy theo mối quan hệ gia đình mà khách ở các palei khác đến).

Bắt đầu với Lễ Tak Kayau: Lễ này sẽ do một Po Adhia và một thầy Paseh đảm nhiệm. Sau đó hai thầy Paseh cầm một cây chà gạt, một cây mốc trượng bước ra đứng ở giữa rạp và đọc vài câu thần chú, sau đó mỗi ông sẽ chặt tượng trưng ba lần rồi giao lại cho thợ làm đòn khiêng. Cũng trong thời gian này On Hang (thợ làm nhà) cất một cái nhà mồ (dùng để khiêng người chết đem đi hỏa táng). Bốn gốc nhà mồ có dán hình con hăng (con rồng được cách điệu lại) và cuối cùng là hai thầy Paseh đến ngã ba đường đào một cái lỗ, họa hình người chết, đặt ba đoạn tre rồi lắp lại để trấn yểm tà ma.

Giờ ăn của Po Adhia, các thầy Paseh, ban nhạc.

Tiếp theo đó là bắt đầu lễ Palao. Người ta làm một chiếc nhà táng bằng tre, có dán hình con hăng bay lên trời (mang ý nghĩa những con hăng sẽ đưa hồn người chết lên thiên đàng). Buổi tối các thầy Paseh sẽ phân công nhau lo việc làm phép mặc đồ trang phục tăng lữ Bàlamôn, cổ quàng chiếc khăn đỏ, tay cầm gậy trúc có gắn thỏi sáp. Tiếp đến là nhạc Kanhi cùng ban nhạc sẽ cất tiếng ca. Ðược kéo dài khoảng hai tiếng đến ba tiếng thì chấm dứt. Kết thúc thì gia đình có chương trình ca nhạc sống để những con, cháu, họ hàng hát để gởi lời và cầu mong cho người chết đi về cõi thiên đàng được thuận lợi (thực chất chương trình này không có trong lễ hỏa táng của người Chăm. Nó chỉ được tổ chức trong vài năm đổ lại đây nhằm giúp cho đêm cuối cùng của đám thiêu được đông vui và nhộn nhịp hơn, bà con láng giềng đến xem rất đông ở lại cho đến khuya).

Ngày cuối cùng: Lễ hỏa táng (Ndam chuh) được bắt đầu từ 6 giờ sáng các thầy Paseh bắt đầu thực hiện các lễ nghi và thủ tục ăn cơm. Trong khi các ban nhạc hát bài tang ca tiễn đưa cuối cùng, những người thân mặc đồ tang trắng hướng về người chết và nằm lạy trước khi tiễn đưa. Sau khi hết giờ hát tang ca, gia đình sẽ làm lễ tạ ơn cho ban nhạc. Trong lúc đó, ở nhà người chết thầy cúng giữ nhà (On khik sang) cũng lập một mâm lễ ở giữa sân và lớp bùa phép trên các cây chùm bầu đã được chặt và làm hàng rào trấn giữ tám hướng để không cho tà ma vào nhà.

Trẻ con từ trong làng đến ăn chè tại nhà lễ.

Bốn ông khiêng hài cốt (hala char) quấn chăn, mình cởi trần, trên cổ quấn một băng vải đỏ (đã được thầy Paseh làm bùa), đầu quấn khăn Chăm đến trước cửa nhà nhận một ống tre đã được chôn ở cổng nhà trước đó. Một ông đại diện tốp bốn người khiêng đến bên mâm lễ của ông thầy cúng giữ nhà để thỉnh lệnh đi khiêng hài cốt. Sau khi khấn xong, ông thầy cúng đưa cho 4 ông hala char 4 miếng trầu têm làm bùa hộ mệnh, và trở lại nhà lễ đưa 4 miếng trầu đó cho thầy Paseh. Sau đó các thầy chủ lễ và 4 người khiêng làm lễ tắm rửa và tẩy uế để chuẩn bị làm lễ chuyển hài cốt đi hỏa táng. Sau khi các nghi lễ hỏa táng hoàn tất thì chiêng trống nổi lên, con cháu và người thân đến lạy và khóc lóc thảm thiết. Ông thầy paseh làm phép cho dỡ nhà lễ. Nhà lễ được dỡ rất nhanh. Vì hầu như đa số những người có mặt đều phụ giúp cho việc tháo dỡ nhà lễ nên chỉ vài phút là đã xong. Và hài cốt được khiêng ra khỏi làng tới một khu đất khá rộng (ở đây là cũng là nơi chôn người chết và cũng để làm hỏa táng). Sau khi đến nơi hỏa táng, dựng nhà lễ tạm nhỏ để các thầy tiếp tục làm lễ nghi và hô thần chú. Sau đó khiêng đặt lên đống củi đã để sẵn và châm lửa vào. Ngọn lửa bùng cháy khá lớn và sau khi cháy một lúc thì thầy Paseh cầm một cây rựa cán dài chặt đầu người chết ra khỏi cổ và móc ra. Người ta lấy miếng sọ đập ra từng mảnh trên trán và lấy dao gọt cho tròn như đồng tiền rồi đem mài cho nhẫn. Ðàn ông thì lấy bảy miếng, còn đàn bà thì lấy chín miếng. Những mảnh xương trán này được rửa sạch và cất giữ vào hộp nhỏ bằng đồng, sau đó đem chôn tại một nơi kín đáo chờ đến ngày nhập Kút.

Chương trình nhạc sống thu hút đông đảo khán giả đến tạo không khí vui vẻ cho đêm Tak kayau.

Từ những lễ nghi và phong tục của đám hỏa táng của người Chăm Bàlamôn cho thấy sự phong phú và phức tạp. Và những người còn sống vẫn còn trách nhiệm trọn vẹn với người đã khuất. Mong muốn người chết đi đến với Mukei (những người họ hàng đã chết trước) được trọn vẹn và về với nơi thiên đàng. Tuy nhiên chúng ta vẫn thấy rằng với thời gian bốn ngày ba đêm thì chi phí cho lễ tang này cũng không phải thấp so với thu nhập của cộng đồng Chăm. Ðặc biệt tình nghĩa làng xóm, láng giềng cũng thể hiện rõ ràng của cộng đồng Chăm cho chúng ta thấy sự đoàn kết của họ.

Sự thật về Thác Bản Giốc (kỳ 4)

 


 


Mai Thái Lĩnh (gởi cho Người Việt)


 


5. Trung Quốc xâm chiếm Thác Bản Giốc như thế nào?


Dựa theo những tin tức do Ðảng Cộng Sản Việt Nam công bố qua nhiều thời kỳ, chúng ta có thể tóm tắt quá trình xâm chiếm Thác Bản Giốc của phía Trung Quốc như sau:


Bước 1: Sửa bản đồ:


“Năm 1955-56, Việt Nam đã nhờ Trung Quốc in lại bản đồ nước Việt Nam tỷ lệ 1/100,000. Lợi dụng lòng tin của Việt Nam, họ đã sửa ký hiệu một số đoạn đường biên giới dịch về phía Việt Nam, biến vùng đất của Việt Nam thành đất Trung Quốc. Thí dụ: họ đã sửa ký hiệu ở khu vực Thác Bản Giốc (mốc 53) thuộc tỉnh Cao Bằng, nơi họ định chiếm một phần Thác Bản Giốc của Việt Nam và cồn Pò Thoong” (18).


Ðó là một đoạn được trích từ bản “bị vong lục” (hay còn gọi là giác thư, mémorandum) do Bộ Ngoại Giao Việt Nam công bố vào năm 1979. Ðiều chưa được làm rõ là Trung Quốc đã “sửa ký hiệu” như thế nào? Cho đến nay đã trải qua hơn 30 năm, tài liệu này vẫn còn nằm trong vòng bí mật.


Việc bản đồ Việt Nam tỷ lệ 1/100,000 bị Trung Quốc sửa chữa với ý đồ không tốt chính là lý do khiến cho phía Việt Nam lâu nay không dám công bố bản đồ của mình, hầu hết các bản đồ được công bố đều là bản đồ của Trung Quốc. Hơn thế nữa, vẫn còn một câu hỏi chưa được trả lời: phía Việt Nam đã biết được hành vi “sửa bản đồ” này vào thời điểm nào và tại sao mãi đến năm 1979 mới công bố?


Bước 2: Thực hành việc lấn chiếm:


Năm 1976, Trung Quốc bắt đầu tiến hành kế hoạch lấn chiếm mà họ đã chuẩn bị từ giữa thập niên 1950. Theo lời tố cáo của Bộ Ngoại Giao Việt Nam, “phía Trung Quốc đã huy động trên 2,000 người, kể cả lực lượng vũ trang lập thành hàng rào bố phòng dày đặc bao quanh toàn bộ khu vực Thác Bản Giốc thuộc lãnh thổ Việt Nam, cho công nhân cấp tốc xây dựng một đập kiên cố bằng bê-tông cốt sắt ngang qua nhánh sông biên giới, làm việc đã rồi, xâm phạm lãnh thổ Việt Nam trên sông và ở cồn Pò Thoong và ngang nhiên nhận cồn này là của Trung Quốc.”


Việc Trung Quốc chiếm cồn Pò Thoong 20 năm sau khi đã “sửa bản đồ” cho thấy kế hoạch xâm chiếm Thác Bản Giốc được chuẩn bị từ trước chứ không phải là hành động ngẫu nhiên.


Bước 3: Dời cột mốc 53:



Ðường biên giới mới với các cột mốc mới. (Hình: Tác giả cung cấp)


Ðể tăng cường thêm bằng chứng cho “hồ sơ pháp lý” nhằm hợp pháp hóa việc lấn chiếm, nhà cầm quyền Trung Quốc đã dời cột mốc số 53 từ vị trí như ta đã thấy trên bản đồ đến một vị trí khác xa hơn về phía thượng lưu nhằm “chiếm một phần thác Bản Giốc của Việt Nam và cồn Pò Thoong,” đúng như kế hoạch đã hoạch định từ giữa thập niên 1950. “Cột mốc biết đi” này chính là căn cứ để “hai bên đàm phán” xác định cột mốc mới 835 như chúng ta đã thấy ở phần trên, bởi vì hai cột mốc 53 cũ và 835 mới nằm sát cạnh nhau.



So sánh hai đường biên giới mới và cũ. (Hình: Tác giả cung cấp)


Thử so sánh bản đồ về đường biên giới mới và các cột mốc mới tại vùng này (ảnh 25) với bản đồ “Trùng Khánh 6354-IV” năm 1979 do Quân Ðội Nhân Dân Việt Nam in năm 1980 (19). Mặc dù địa hình của cồn Pò Thoong và khu vực lân cận cũng như vùng đất phía tả ngạn ở hạ lưu của Thác Bản Giốc đã bị phía Trung Quốc làm biến đổi khá nhiều nhằm che giấu việc chiếm đất, chúng ta vẫn có thể dễ dàng nhận ra sự khác biệt giữa hai đường biên giới mới và cũ. Cột mốc số 53 đã bị dời về phía Tây-Nam để tạo ra cột mốc mới 835 đối diện với cồn Pò Thoong. Vì thế, đường biên giới đáng lẽ chỉ trùng với trung tuyến của dòng sông ở hạ lưu thác lại đi ngang cồn Pò Thoong ở phía thượng lưu và sau đó chia cắt một nửa phần thác chính cho phía Trung Quốc.


Hơn thế nữa, về phía Tây-Bắc của Thác Bản Giốc, ở gần Bản Mom, cột mốc mới 831 cũng xâm phạm vào lãnh thổ Việt Nam một cách hết sức rõ ràng. Việc thay đổi cột mốc này giúp cho phía Trung Quốc chiếm gọn cao điểm 787 (Yao Tan Shan) trong khi đường biên giới cũ chia đôi ngọn núi này, mỗi bên một nửa.


Tóm lại, cột mốc 53 cũ không nằm đúng vị trí của nó, và việc dời cột mốc chỉ nhằm để hợp lý hóa cho việc chiếm cồn Pò Thoong và một phần Thác Bản Giốc. Thế nhưng ông Lê Công Phụng lại hết sức nhiệt tình che đậy sự vi phạm trắng trợn này của “nước bạn” bằng cách khẳng định rằng, “Cột mốc đang tồn tại đã được cắm từ thời nhà Thanh, xác định chỉ có chưa được một nửa thác Bản Giốc là ở bên phía ta.” Ðể củng cố cho lập luận của mình, ông ta còn biện bạch: “Chúng ta phải căn cứ vào những thỏa thuận pháp lý Thanh-Pháp, căn cứ vào biểu đồ, căn cứ vào cột mốc hiện có mà dân địa phương nói là cột mốc đó từ xưa đến nay chưa ai thay đổi cả.” Không rõ “người dân địa phương” nào lại dám khẳng định cột mốc đó từ xưa đến nay chưa ai thay đổi?


Cũng theo lời ông Lê Công Phụng: “Cuối cùng, lãnh đạo chúng ta cũng nhất trí trong tất cả các điều kiện ấy, không thể đòi hỏi Thác Bản Giốc phải là của chúng ta hoàn toàn được.” Vì không có một nhân vật cấp cao nào trong đảng đính chính lại lời phát biểu này, chúng ta có thể hiểu đây chính là quan điểm chung của các nhà lãnh đạo Ðảng Cộng Sản Việt Nam chứ không phải là ý kiến riêng của một cá nhân nào (20).



Khu vực Thác Bản Giốc (ảnh chụp từ vệ tinh). Vùng được đánh dấu là phần thác chính. (Hình: Tác giả cung cấp)


Có một điều mà các nhà lãnh đạo Việt Nam cố tình tránh né: đó là ý nghĩa của cồn Pò Thoong và bờ Bắc của sông Quây Sơn xét về mặt quốc phòng. Không cần phải là chuyên gia về quân sự, chúng ta có thể thấy rõ: với việc lấn chiếm 3 phần 4 cồn Pò Thoong và toàn bộ phần đất ở tả ngạn – từ thượng lưu cho đến hạ lưu Thác Bản Giốc, phía Trung Quốc chẳng những có được lợi thế từ trên cao mà còn có được một đầu cầu ngay phía trên thác (cồn Pò Thoong) để khi cần, có thể làm bàn đạp đưa quân từ phía hạ lưu nhằm tấn công vào bất cứ điểm nào trong vùng thung lũng dọc sông Quây Sơn (xem ảnh 28). Ðó là chưa kể đến việc lấn chiếm cao điểm Yao Tan Shan (cao độ 787m) giúp cho phía Trung Quốc có được một vị trí để có thể dùng pháo binh khống chế vùng thung lũng này từ phía Tây-Bắc.



 Toàn cảnh Thác Bản Giốc chụp từ phía Trung Quốc. (Hình: Tác giả cung cấp)


Bước 4: Hợp pháp hóa hành vi lấn chiếm:


Như trên đã dẫn chứng, trong thực tế quân Trung Quốc đã chiếm đóng cồn Pò Thoong kể từ năm 1976. Vì vậy việc đàm phán suy cho cùng chỉ xoay quanh vấn đề: Trung Quốc tiếp tục chiếm đóng toàn bộ cồn Pò Thoong hay trả lại chút ít cho phía Việt Nam?


Tương tự như trường hợp ở Ải Nam Quan, nơi đây họ đã trả lại một phần: thay vì lấy tất cả cồn Pò Thoong, họ trả lại cho Việt Nam 1 phần 4; thay vì lấy “phần lớn” thác chính thì lấy một nửa thác chính. Các nhà lãnh đạo thuộc thế hệ Hồ Cẩm Ðào-Ôn Gia Bảo xem ra có phần khôn ngoan hơn cha ông của họ: làm ra vẻ nhún nhường, nhân nhượng để có tiếng là “ôn hòa,” nhưng vẫn thực hiện được mục đích “chiếm một phần Thác Bản Giốc của Việt Nam và cồn Pò Thoong.”


Ðường biên giới mới được hoạch định theo thế có lợi cho phía Trung Quốc đã được hiện đại hóa bằng một loạt các cột mốc dày đặc, được định vị bằng các kỹ thuật hiện đại. Ðiều này sẽ khiến cho các thế hệ người Việt Nam trong tương lai gặp khó khăn hơn rất nhiều trong việc đòi lại các phần đất đã bị chiếm đóng – nhất là khi “ván đã đóng thuyền” bởi Hiệp Ước 1999.


Cùng với Ải Nam Quan, trường hợp của Thác Bản Giốc cho thấy trong việc đàm phán về biên giới, phía Việt Nam đã nhượng bộ cho phía Trung Quốc đến mức cao nhất, phá bỏ hoàn toàn các nguyên tắc mà Ðảng cộng sản Việt Nam đã đề ra trước đó trong bản bị vong lục năm 1979.


Bước 5: Thác Bản Giốc biến thành Thác Ðức Thiên:



Thác nước Bản Giốc riêng của Việt Nam nay đã trở thành “Thác lớn xuyên-quốc gia Ðức Thiên” (Ðức Thiên khóa quốc đại bộc bố). Sự mất mát này là do ai? (Hình: Tác giả cung cấp)


Không rõ khi vạch kế hoạch chiếm một phần Thác Bản Giốc, các nhà lãnh đạo thuộc thế hệ Mao Trạch Ðông-Chu Ân Lai có nhắm đến mục tiêu kinh tế-du lịch hay không? Nhưng vào đầu thế kỷ 21, vài thập niên sau khi tiến hành đường lối cải cách do Ðặng Tiểu Bình vạch ra, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đương nhiên phải nghĩ ngay đến việc kinh doanh du lịch để góp phần phát triển kinh tế cho tỉnh Quảng Tây, một vùng đất kinh tế còn kém phát triển (21) nhưng lại là địa bàn chủ yếu của dân tộc Choang – dân tộc thiểu số đông nhất ở Trung Quốc hiện nay (22).


Ngay sau khi ký hiệp định 1999, phía Trung Quốc đã bắt đầu chuẩn bị cho kế hoạch đưa Thác Bản Giốc vào khai thác du lịch chứ không chờ giải quyết trọn vẹn việc cắm mốc ở vùng này. Ngay từ năm 2003, họ đã bắt đầu xây dựng các cơ sở du lịch nghỉ dưỡng như khách sạn, nhà nghỉ, thủy đình, nhà nổi,… bên bờ Bắc.


Mặt khác, để cắt đứt mối quan hệ xa xưa, xóa dấu vết của cuộc xâm chiếm bẩn thỉu, nhằm tô son trát phấn cho một lịch sử mới chỉ gồm toàn những yếu tố “hữu nghị, anh em,” họ đặt cho thác nước một cái tên mới: (Detian, Ðức Thiên). Ngày nay, chỉ cần lên mạng Internet, dùng một công cụ tìm kiếm nào đó như Google hay Yahoo, chúng ta có thể thấy vô số bài viết của các du khách nước ngoài về “Detian Falls” hay “Detian Waterfall” (Thác Ðức Thiên), được coi là thác nước biên giới lớn thứ tư trên thế giới sau các thác nước Iguazu (Argentina-Brazil), Victoria (Zambia-Zimbabwe) và Niagara (Hoa Kỳ-Canada), và là thác nước xuyên quốc gia lớn thứ nhất ở Châu Á (23).



 Blogger Ðiếu Cày tại Thác Bản Giốc. (Hình: Tác giả cung cấp)


Khi đặt tên mới cho Thác Bản Giốc, vẽ lại đường biên giới mới tại vùng này, các nhà lãnh đạo của Trung Hoa cộng sản hy vọng sẽ xóa sạch các vết tích đường biên giới cũ, để vài mươi năm nữa, các thế hệ trẻ người Việt cũng như người Hoa không còn nhớ gì đến quá trình xâm lược của một cường quốc chuyên thi hành chính sách đạo tặc đối với các quốc gia lân bang – nhất là các quốc gia nhỏ bé mà ngày xưa các hoàng đế Trung Hoa vẫn thường coi là “phiên thuộc.”


Thay lời kết:


Mặc dù sự thật đã dần dần được bộc lộ theo thời gian, nhưng câu chuyện về Thác Bản Giốc chưa hẳn đã đến hồi kết thúc. Vẫn còn nhiều điều chưa sáng tỏ, nhiều câu hỏi cần được giải đáp:


1) Trước hết, về căn cứ pháp lý để chứng minh chủ quyền của nước ta đối với Thác Bản Giốc, Bộ Ngoại Giao và Bộ Quốc Phòng có trong tay ít nhất là 4 hồ sơ: [1] Tài liệu về việc Trung Quốc “sửa bản đồ” vào năm 1955-56 để âm mưu chiếm cồn Pò Thoong và một phần Thác Bản Giốc, [2] Tài liệu về việc xây dựng trạm thủy văn trên cồn Pò Thoong vào thập niên 1960, [3] Tài liệu về việc Trung Quốc lấn chiếm cồn Pò Thoong vào năm 1976 và [4] Hai tờ bản đồ Trùng Khánh số hiệu 6354-IV do Quân đội Nhân dân Việt Nam in vào những năm 1976 và 1980.


Chúng ta có thể đặt câu hỏi: tại sao các nhà lãnh đạo của Ðảng cộng sản Việt Nam cũng như Bộ Ngoại Giao, Bộ Quốc Phòng đã bỏ qua, không sử dụng những tài liệu này trong đàm phán?


(còn tiếp)

Sự thật về Thác Bản Giốc (kỳ 3)



Mai Thái Lĩnh (gởi cho Người Việt)


 


4. Ðâu là vị trí thật sự của cột mốc số 53?



 Bản đồ Sông Quây Sơn. (Hình: Tác giả cung cấp)


 


Nhìn vào tấm bản đồ trích từ Bản đồ Giao thông năm 2004 (ảnh 16), chúng ta thấy dòng chính của sông Quây Sơn chảy vào lãnh thổ Việt Nam tại một điểm gần cửa khẩu Pò Peo và rời lãnh thổ nước ta tại một điểm gần cửa khẩu Lý Vạn.


 Ðiều đáng chú ý là tại một điểm ở gần Thác Bản Giốc, dòng sông lại trở thành đường biên giới (có nghĩa là trung tuyến của dòng sông chính là đường biên giới). Ðiểm đó có liên quan đến cột mốc số 53, vì thế cột mốc này là căn cứ chủ yếu để xác định chủ quyền đối với Thác Bản Giốc. Nói cách khác, nếu cột mốc này bị dời đến một vị trí khác thì chủ quyền của Việt Nam đối với Thác Bản Giốc sẽ bị ảnh hưởng.


Trong khi sưu tầm tài liệu về Thác Bản Giốc, tác giả Trương Nhân Tuấn đã tìm được một số chứng cứ quan trọng liên quan đến vị trí của cột mốc số 53 (13):


 



Trích biên bản Pháp-Thanh 19 tháng 6, 1894. (Hình: Tác giả cung cấp)


– Trước hết là biên bản Pháp-Thanh ký ngày 19 tháng 6, 1894 trong đó xác định: cột mốc số 53 có tên là Pan-Ngô (Bách-Nga Khẩu), được cắm “bên lề một con đường, ở phía Tây-Nam và trên phần nối dài của một khu rừng nhỏ” (Au bord du chemin et au SO et sur le prolongement d’un petit bois). Cột mốc số 54 có tên là Lung Trang (Lũng Tằng Sơn) được đặt tại vị trí “giữa chân của các núi đá và ranh giới của các ruộng lúa phía trước mặt Ban Mong” (Entre le pied des rochers et la limite des cultures en face Ban-Mong).


– Cuốn “Nhật Ký của Trung Úy Détrie về đoạn biên giới từ Lũng-Ban đến Ðèo-Lương, nhân dịp đảm nhận việc cắm mốc (28 tháng 6, 1894),” trong đó có một đoạn xác định vị trí của các cột mốc, được trích dẫn như sau: “Après la porte de Dốc-Khánh la frontière est tracée à l’intérieur du massif rocheux, laissant au Tonkin de petit cirques peu importants débouchant dans Lung-Piac, près les deux cirques difficilement accessibles de Lung-Deng et Lung-Moi que traversent les chemins conduisant à Thin-Thang par Ai-Thin-Thap (56) et Lung-Moi (55) jusqu’à l’abornement, les habitants de Lung-Deng et Lung-Moi payaient l’impôt aux Chinois. La frontière regagne ensuite le pied des rochers en face du village de Ban-Mong (54) longe le pied de ces rochers et au pied du blockhaus chinois de Pia-Mu, suit la lisière d’un petit bois et coupe le chemin de Hang-Dong-Quan (53) pour atteindre la rivière qu’elle suivra jusqu’à Ly-Ban. Le chemin qui de la borne 53 conduit à Dốc-Khánh (57) à travers de très belles rizières devra être l’objet d’une surveillance constante. (…)A partir de la belle cascade de 50m qui se trouve un peu en aval de la borne 53, le sông Qui-Xuân coule resserré entre des mamelons élevés.” (Ðoạn văn này sẽ được dịch ở phần sau)


Câu hỏi đặt ra là: cột mốc 53 nằm ở thượng lưu hay hạ lưu của thác? Theo suy luận của ông Trương Nhân Tuấn thì “cột mốc chỉ có thể ở phía hạ lưu của thác Bản Giốc.” Thế nhưng điều này lại mâu thuẫn với ý kiến của trung úy Détrie vì ông này ghi nhận thác nước “nằm cách một chút về phía hạ lưu của cột mốc 53” (qui se trouve un peu en aval de la borne 53), nghĩa là “cột mốc nằm nhích một chút về phía thượng lưu của thác nước.”


– Về bản đồ: có một tấm bản đồ tìm được trong một thư khố ở Pháp liên quan đến vùng này (xem ảnh 18). Theo ghi chú của tác giả, đây là bản đồ có tỷ lệ 1/50,000 do Nha địa dư Ðông Dương (Service géographique de l’Indochine) thực hiện. Thật ra, nếu so sánh tấm bản đồ này với các bản đồ của miền Nam Việt Nam phát hành trước năm 1975, chúng ta có thể thấy rõ đây không phải là bản đồ tỷ lệ 1/50,000.


Ðể độc giả dễ phân biệt, tôi đã trích đoạn và phóng to một phần nhỏ của bản đồ và xoay bản đồ cho đúng hướng bắc-nam (ảnh 19). Chúng ta có thể nhận thấy: từ cột mốc 54 (B.54) phía Tây-Bắc đến cột mốc 53 (B.53, chữ viết tắt của borne 53) phía Ðông-Nam, có một dải đất ven sông nằm trong lãnh thổ Việt Nam. Ðiều này giải thích lý do tại sao trước đây người Việt có thể qua lại giữa hai bờ sông một cách dễ dàng. Ngoài ra, còn có một chi tiết khiến chúng ta có thể bác bỏ ý kiến của ông Lê Công Phụng cho rằng “cột mốc nằm trên một cồn giữa suối cách thác vài trăm mét.” Trên tấm bản đồ này, cột mốc 53 (B.53) hoàn toàn nằm trên bờ trái (tả ngạn của sông Quây Sơn), không liên quan gì đến một “cồn” nào đó trên sông Quây Sơn. Tấm bản đồ này cũng cho thấy có một đồn của Trung Quốc (Fort Chinois) nằm trên đỉnh núi.



 Bản đồ SGI do tác giả Trương Nhân Tuấn công bố. (Hình: Tác giả cung cấp)



Trích đoạn bản đồ SGI – khu vực Thác Bản Giốc. (Hình: Tác giả cung cấp)


 


Nhược điểm của tấm bản đồ này là thiếu các vòng cao độ (contour lines, courbes de niveau) cũng như các tọa độ địa lý cần thiết để xác định một cách chính xác vị trí của cột mốc. Mặt khác, nó cũng không ghi rõ vị trí của Thác Bản Giốc, cho nên rất khó xác định vị trí của cột mốc số 53.


Thật ra, có một tấm bản đồ có thể giúp chúng ta tìm hiểu đường đi của biên giới từ cột mốc 57 cho đến cột mốc 53. Ðó là tờ bản đồ địa hình (topographic map) mang tên Trung Khanh Phu, sheet 6354-4 được tìm thấy ở Thư viện của Ðại học Texas ở Austin (The University of Texas at Austin) (14). Tờ bản đồ này (ảnh 20) có tỷ lệ 1/50000, do quân đội Hoa Kỳ in vào năm 1965, dựa vào thông tin thu thập được vào năm 1964.



 Trích bản đồ Trùng Khánh Phủ – sheet 6354-4 (U.S. Army Map Service)


Làm thế nào mà quân đội Hoa Kỳ có được tờ bản đồ này? Căn cứ vào ghi chú trên tờ bản đồ, chúng ta có thế ước đoán bản đồ này được biên soạn dựa trên dữ liệu của Nha Ðịa Dư Ðông dương (Service géographique de l’Indochine) trước kia và cả trên những thông tin do chính quân đội Hoa Kỳ thu thập được.


Ngoài ra, còn có một tờ bản đồ mang tên Trùng Khánh, số hiệu 6354-IV do Cục Bản Ðồ thuộc Bộ Tổng Tham Mưu Quân Ðội Nhân Dân Việt Nam in năm 1980, rất giống với tờ bản đồ nói trên. Tờ bản đồ này nằm trong Bộ Sưu Tập Bản Ðồ Việt Nam (Vietnam Archive Map Collection) do Ðại Học Kỹ Thuật Texas (Texas Tech University) sưu tầm và công bố (15). Tờ bản đồ này được “in lần thứ hai” (1980) dựa theo bản đồ 1/50,000 in năm 1976 đã được “chỉnh lý bổ sung thực địa vào năm 1979.” Chúng ta có thể phỏng đoán tờ bản đồ này được biên soạn dựa vào bản đồ Trung Khanh Phu, sheet 6354-4 của quân đội Hoa Kỳ, vì sau ngày 30 tháng 4, 1975 quân đội miền Bắc đã tiếp quản toàn bộ kho bản đồ lưu trữ tại Nha Ðịa Dư Quốc Gia ở Ðà Lạt.


Cần lưu ý là bản đồ này được in lần thứ nhất vào năm 1976 – cùng thời điểm với việc Trung Quốc tấn công cồn Pò Thoong, có lẽ vì thế trên bản đồ có ghi dòng chữ “quốc giới chưa xác định (vẽ sơ lược).” Ðể độc giả dễ theo dõi, tôi trích bản đồ Trùng Khánh 6543-IV và phóng lớn thành hai tấm: từ mốc 58 đến mốc 54 (ảnh 21) và từ mốc 54 đến mốc 53 (ảnh 22).



 Trích bản đồ Trùng Khánh 6354-IV (QÐNDVN) – từ mốc 58 đến mốc 54. (Hình: Tác giả cung cấp)


Dựa vào bản đồ, chúng ta có thể thấy rõ đường biên giới từ cột mốc 57 (M. 57) đến cột mốc 55 (M.55) đúng như Détrie mô tả: “Sau cửa Dốc-Khánh, đường biên giới được vạch trong lòng dãy núi đá, để lại cho Bắc Kỳ các thung lũng hẹp ít quan trọng mở ra phía Lung-Piac (Lũng Phiắc). (Ðường biên giới) chạy gần hai thung lũng rất khó thâm nhập là Lung-Deng (Lung Den) và Lung-Moi (Lung Noi); băng ngang qua các thung lũng này là những con đường dẫn đến Thin-Thang (T’ien-teng) qua ngõ Ai-Thin-Thap (mốc 56) và Lung-Moi (Lung Noi, mốc 55) đến tận vùng cắm mốc. Người dân của Lung-Deng (Lung Den) và Lung-Moi (Lung Noi) đóng thuế cho người Trung Hoa” (16).



 Trích bản đồ Trùng Khánh 6354-IV (QÐNDVN) – từ mốc 54 đến mốc 53. (Hình: Tác giả cung cấp)


Détrie viết tiếp: “Tiếp đó, đường biên giới trở lại chân các núi đá trước mặt làng Ban-Mong (Bản Mom, mốc 54), chạy dọc theo chân của các núi đá ấy và dưới chân của đồn Pia-Mu của Trung Hoa, chạy dọc theo bìa của một khu rừng nhỏ và cắt con đường Hang-Dong-Quan (mốc 53) để đi đến dòng sông – dòng sông mà đường biên giới chạy xuôi theo cho đến tận Ly-Ban (Lý Vạn). Con đường đi từ mốc 53 dẫn đến Dốc-Khánh (mốc 57) đi ngang qua những ruộng lúa xinh đẹp sắp đến phải được giám sát thường xuyên. (…)Từ thác nước đẹp cao 50 m – nằm nhích một chút về phía hạ lưu của cột mốc 53, sông Qui-Xuân (17) chảy thu hẹp lại giữa những ngọn đồi cao. ”


Nhìn vào bản đồ, chúng ta thấy rõ con đường đi từ mốc 53 ở phía Ðông-Nam đến mốc 57 ở phía Tây-Bắc “đi ngang qua những ruộng lúa xinh đẹp.” Con đường này chạy dưới chân các dãy núi đá, men theo các thung lũng, có ý nghĩa quan trọng về mặt quốc phòng; vì thế Détrie cho rằng “sắp đến cần phải canh phòng thường xuyên.” Chúng ta cũng có thể thấy rõ đường biên giới cắt ngang “con đường Hang-Dong-Quan” (le chemin de Hang-Dong-Quan) tại cột mốc số 53. Sau khi vượt qua biên giới ở mốc 53 gần Thác Bản Giốc, con đường Hang-Dong-Quan chạy men bờ sông (tả ngạn sông Quây Sơn), trên phần đất thuộc lãnh thổ Trung Hoa. Vào thời kỳ đó (cuối thế kỷ 19) và có thể mãi cho đến năm 1979 (là lúc phát hành tờ bản đồ Trùng Khánh 6354-IV của QÐNDVN), con đường đó chỉ là đường đất hoặc đường mòn.



 Dải đất dưới chân thác ở tả ngạn thuộc lãnh thổ VN. (Hình: Tác giả cung cấp)


Có thể nói hai tờ bản đồ 6354-4 mang tên Trùng Khánh Phủ và Trùng Khánh hoàn toàn ăn khớp với những gì trung úy Détrie đã mô tả trong nhật ký. Cả hai tờ bản đồ này cũng cho thấy thác nước “nằm nhích một chút về phía hạ lưu của cột mốc 53.” Ðiều đó có nghĩa là cột mốc “nằm nhích một chút về phía thượng lưu của thác,” nhưng không nằm sát bờ sông. Từ cột mốc 53, đường biên giới chạy theo hướng Tây Bắc-Ðông Nam dựa theo đường rãnh giữa thác nước và ngọn đồi tiếp giáp, cắt một diện tích đất ở phía dưới chân thác cho phía Việt Nam trước khi nhập vào đường trung tuyến của dòng sông (xem ảnh 23).


Như vậy, toàn bộ thác Bản Giốc đều thuộc về Việt Nam, toàn bộ dải đất chạy dài từ dưới chân thác lên đến cột mốc 53, dọc theo chân dãy núi đá cho đến tận cột mốc 54 cũng thuộc phía Việt Nam. Ðiều này giúp chúng ta lý giải được tại sao toán lính người Việt dưới quyền chỉ huy của một người Pháp lại có thể đi tuần tra từ bên kia sông và quay trở về bờ bên này trong mùa nước cạn. Rõ ràng toán lính này đã tuần tra trên con đường mòn ở phía tả ngạn mà Détrie đã nhắc đến, đi từ phía trên thác để xuống chân thác, lội sông trở về phía hữu ngạn của sông Quây Sơn (xem bưu ảnh số 832 của P. Dieulefils). Cũng nhờ đứng trên mảnh đất này, nhà nhiếp ảnh mới chụp được tấm ảnh về Thác Bản Giốc được đăng trong cuốn sách của nhà địa lý học Lê Bá Thảo (ấn bản năm 1977). Ngày nay, chúng ta không thể đứng trên lãnh thổ Việt Nam để chụp được một tấm ảnh tương tự, bởi vì dải đất này đã bị cắt cho phía Trung Quốc.



 Thác Bản Giốc nhìn từ phía Việt Nam. Bờ Bắc (tả ngạn) là những núi cao chót vót. (Hình: Tác giả cung cấp)


Mặt khác, đường biên giới từ mốc 54 đến mốc 53 chạy dọc theo chân của dãy núi đá vôi. Với địa thế hiểm trở như ở vùng này (xem ảnh 24), cho dù phía Trung Quốc có thể đóng đồn ở trên núi cao (trong bản đồ của Hoa Kỳ ghi chữ fort, trong bản đồ của Việt Nam in chữ đồn), quân đội của họ cũng không thể xâm nhập vào các thung lũng bên dưới. Thế nhưng, tình hình hoàn toàn sẽ đổi khác nếu phía Trung Quốc đặt được một đầu cầu xuống vùng thung lũng bên dưới. Ðầu cầu đó giúp họ có thể tấn công bất cứ điểm nào ở những thung lũng dọc sông Quây Sơn, với sự yểm trợ của pháo binh đặt trên những điểm cao. Ðiều đó giải thích được nguyên do tại sao phía Trung Quốc từ lâu đã có âm mưu chiếm cồn Pò Thoong, một cồn có diện tích khoảng 2,6 hec-ta nằm ngay phía trên thác.


(còn tiếp)

Mạn đàm văn học dân gian để tìm về đạo sống Việt

Nguyên Huy/Người Việt

 

WESTMINSTER (NV) Một buổi sinh hoạt văn học, mang tên “Sắc Thái Văn Hóa Việt,” sẽ được các thân hữu với nhà văn Ðinh Khang Hoạt và Nhóm Nghiên Cứu Văn Học Dân Gian ở Portland, Oregon, đứng ra tổ chức vào lúc 10 giờ 30 sáng Chủ Nhật, 18 Tháng Ba, tại nhà hàng Paracel Seafood, 15583 Brookhurst St., Westminster, CA 92683.

Hai cuốn sách sẽ được ra mắt trong buổi sinh hoạt văn học tìm về đạo sống Việt. (Hình: Nguyên Huy/Người Việt)

Theo nhà thơ Thái Anh Duy, cựu chủ tịch Văn Bút Nam California và là thành viên ban tổ chức, cho biết, đây là một buổi giới thiệu sách của nhà văn Ðinh Khang Hoạt lần đầu tiên tại Nam California.

Ông nói: “Nhà văn Ðinh Khang Hoạt là một văn hữu của chúng tôi từ lâu nay. Biết ông qua hàng chục tác phẩm nghiên cứu về văn học Việt Nam. Chúng tôi đã có ý định từ lâu là muốn giới thiệu công trình của ông với đồng hương độc giả, đặc biệt là ở Nam California, nhưng mãi nay mới có dịp. Vì thời gian trong buổi sinh hoạt này có hạn nên sẽ chỉ là một buổi mạn đàm với nhau về những vấn đề mà văn hữu Ðinh Khang Hoạt đã bỏ công nghiên cứu lâu nay. Ðó là ‘Tìm Về Ðạo Sống Việt, Bản Sắc Việt Nam và Vấn Ðề Văn Học Dân Gian.’”

“Trong dịp này, sau phần giới thiệu tác giả, cựu Luật Sư Ðỗ Thái Nhiên sẽ phân tích nội dung các tác phẩm được ra mắt trong buổi sinh hoạt này. Như chúng tôi đã nói vì thời gian eo hẹp nên chỉ là những lời mạn đàm của chúng tôi với nhà văn Ðinh Khang Hoạt, góp ý với ông về những quan điểm của ông dựa trên những quan điểm của Lý Ðông A. Sau đó phần lớn thời gian là để anh em chung vui trong một buổi sinh hoạt văn học nghệ thuật với thơ nhạc của anh chị em thân hữu với tác giả mà lâu nay không có dịp gặp gỡ,” nhà thơ Thái Anh Duy nói tiếp.

Nhà văn Ðinh Khang Hoạt, tự Duy Khang, là một nhà nghiên cứu văn học dân tộc. Ông là tác giả gần 20 cuốn sách viết về văn hóa, văn học dân tộc như Việt Sử Trường Ca (1994), Vấn Ðề Văn Hóa Việt (viết chung với Hoài Nguyên, 1994), Tinh Hoa Sử Việt (1999), Hai Dòng Văn Chương Việt, Bác Học và Bình Dân (viết chung với Võ Quí Hân, 2009), Bản Sắc Việt Nam (2010), Ðạo Sống Việt (Minh Triết Việt)…

Nhà văn Ðinh Khang Hoạt cũng là một thành viên trong Nhóm Nghiên Cứu Văn Minh, Văn Hóa, Văn Hiến, Văn Học Việt Nam được “đào xới” lên từ kho tàng văn học dân gian.

Trong cuốn “Vấn Ðề Văn Học Dân Gian,” do Nhóm Nghiên Cứu Văn Hóa Việt gồm Ðinh Khang Hoạt, chủ biên, Võ Quí Hân tổng duyệt, Lê Phước Huệ hiệu đính và Trinh Mạnh Ái, bổ túc ấn hành, tuy chỉ có trên 300 trang nhưng nhóm đã tóm gọn được sự phân tích văn học dân gian qua nhiều cái nhìn mới như từ địa bàn và chủ thể để thấy văn học dân gian Việt trong sắc thái bản địa với những đức tính rất riêng về hiếu đễ, tính lạc quan yêu đời, nền luân lý bình dân không phải từ Khổng Giáo, Lão Giáo hay các tôn giáo lớn.

Trong chương II của tập khảo luận này đề cập đến khái niệm về văn học dân gian qua các thể loại thành ngữ, ngạn ngữ, phương ngôn, cách ngôn, ca dao, dân ca và các dạng ngâm, bình văn, hát giao duyên, hát đối, ví, vận, trống quân, quan họ, chèo, để thấy lịch trình tư tưởng Việt qua các thời đại.

Ðến chương IV là một chương có những quan điểm rất mới. Ðó là nêu ra những “di hại của các tư tưởng hội nhập” trong các thời kỳ Hán thuộc, Tây thuộc và Cộng Sản thuộc đã biến cải cái tính hồn nhiên, thành tín, chất phác trong tình tự Việt Nam mà chuyển hóa thành những gian dối, lừa bịp, tàn ác trong cuộc tranh sống để sống còn hiện nay ở trong nước.

Trong cuốn “Tìm Về Ðạo Sống Việt” của Ðinh Khang Hoạt, tác giả phân tích rõ ràng và cụ thể rằng lòng nhân ái Việt khác hẳn với từ bi trong nhà Phật và lòng nhân ái trong Thiên Chúa Giáo.

Theo tác giả thì ngày nay “những nhân bản, nhân quyền, nhân đạo, bác ái, hòa bình… và biết bao danh từ hoa mỹ khác lại được cổ động, hô hào ầm ĩ nhưng trên thực tế chỉ là những tiếng vang, vọng từ đáy vực. Ðã đến lúc lấy loài người làm gốc, trở về với đạo sống Việt để phục hồi và ứng dụng điều ‘thương người như thể thương thân,’ không điều kiện, không giáo điều, không lý thuyết suông thì cuộc sống mới thực sự an lành và thực sự thanh bình.”

Theo nhà thơ Thái Anh Duy, những chủ trương này nhuốm đầy luận điểm của triết gia Lý Ðông A (Minh Triết Việt) nhưng thực tế ra sao thì xin mời quí độc giả hãy đến mạn đàm cùng tác giả trong buổi sinh hoạt văn học này.

––-

Liên lạc tác giả: [email protected]

Nhiều con đường đến dân chủ

 

Lê Phan

 

Có một cái gì thật hứng khởi khi giới thanh niên quyết định tham gia chính trị dân chủ. Và đó chính là việc đã xảy ra ở Moscow trong những ngày gần đây. Trong khi nhiều người trong phong trào chống đối đang phân vân không biết chọn đường nào để tiến lên sau khi ông Vladimir Putin lại một lần nữa thắng cử, có một nhóm đối thủ của điện Kremlin ở ngay chính thủ đô đang bận rộn tham gia chính trị địa phương.

Gợi hứng bởi những cuộc phản đối gần đây chống lại ông Putin, nhưng không hài lòng với chỉ có những cuộc xuống đường, dầu đầy kịch tính, nhiều trăm thanh niên Moscow đã quyết định ra ứng cử tại các cuộc bầu cử hội đồng nhân dân địa phương. Và điều đã làm họ sửng sốt là họ đã thắng, hay ít nhất vài chục người trong họ đã thắng.

Vera Kichanova, một sinh viên báo chí 20 tuổi, tranh cử một ghế trong hội đồng quận Yuzhnoe Tushino, công nhận “quả thật hoàn toàn ngạc nhiên. Mọi người nhìn chúng tôi và bảo là chúng tôi không phải là đối thủ thực sự, ấy vậy mà chúng tôi thắng”.

Việc một người như cô Kichanova có thể thắng cử, chưa kể là đang tìm cách tham gia công việc chính quyền địa phương, đã cho thấy nước Nga đã thay đổi đến mức nào kể từ tháng 12, khi nhiều chục ngàn người dân thủ đô, trước kia vẫn bị chê là lờ vờ, không có lập trường, đã đổ xuống một quảng trường ở trung tâm thành phố để phản đối chống lại chính quyền Putin.

Hầu như qua đêm, một nền văn hóa chính trị mới đã thành hình, ít nhất là ở thủ đô Moscow. Ðiều đáng nói hơn nữa là trong cái thành vốn chỉ biết có tiền và danh vọng, nay có một sự hăng say mới trong số các thanh niên có học của thủ đô sẵn sàng theo đuổi lý tưởng của mình, ngay cả việc đó có nghĩa là tham gia vào cái thế giới bẩn thỉu và khó khăn của chính quyền địa phương.

“Lý tưởng nhất, chúng tôi phản đối để vào một lúc nào đó bắt được Putin hãy ra và nói ‘Tôi mệt quá rồi, tôi bỏ cuộc’,” cô Kichanova nhận xét. Người con gái chỉ thích đeo kính dày cộm thời sang và tights bó chẽn nhiều màu thêm “Nhưng chuyện đó sẽ không xảy ra, thành ra cũng có những bước nhỏ mà chúng tôi có thể làm. Nếu bạn thấy một lỗ hổng trên bức tường sắt, hẳn là có lý khi tìm cách chui qua cái lỗ đó.”

Ngày nay, thay vì cắm cúi viết những tấm bảng chống điện Kremlin bằng tay hay lo ngại bị bắt, cô Kichanova đang bàn luận những kế hoạch để thành lập một diễn đàn cộng đồng online và làm sao tổ chức các apartment kiểu hợp tác xã, vốn là hai chuyện mà quận của cô chưa từng có. Cô cũng muốn thành lập một đường dây điện thoại nóng về việc bắt quân dịch của nhà nước.

Cô là một trong số khoảng 200 ứng cử viên độc lập ở Moscow đã ra ứng cử cho những quận bầu cử nhỏ trong một sáng kiến mang cái tên rất giản dị “Thành phố của chúng ta”, đã được thành lập hồi năm ngoái bởi các đối thủ của ông Putin. Hơn 70 người trong số họ đã đắc cử.

Cũng xin nói ngay đây không phải là một tiến bộ cách mạng vượt bực, khi ta phải tính đến là có 1,500 ghế tại các hội đồng quận của thủ đô, hầu hết là do các tay chân bộ hạ của ông Putin hay những đảng viên cộng sản tóc bạc nắm. Và cũng phải nói ngay là cơ hội thăng quan tiến chức lên một bậc thang chính trị cao hơn rất giới hạn. Nhưng với sự trẻ trung của họ và với một thái độ về thời trang hoàn toàn không thích hợp với bầu không khí xám xịt và ảm đạm của các hội đồng quận, họ đã mang lại một chút gì mà cử tri cảm thấy rất hấp dẫn.

Mikhail Velmakin, 30 tuổi, sáng lập viên của sáng kiến “Thành phố của chúng tôi” giải thích “Tôi nghĩ điều chúng tôi đang làm và cái mà chúng tôi đạt được, cái sự chiếm đóng một phần nhỏ của các hội đồng địa phương, không phải là chuyện nhỏ, nhất là trong khi chúng tôi đang sống dưới một chế độ độc tài.” Ông Velmakin đã thắng cử lần thứ nhì ở một hội đồng địa phương trong một quận ngoại ô khá giả và nổi tiếng bảo thủ. Ông thắng mặc dầu mái tóc bù xù, ăn mặc lôi thôi.

Ông cũng cho biết là số bạn trẻ tham gia việc ứng cử các hội đồng địa phương tăng vọt sau khi phong trào phản đối bắt đầu hồi tháng 12, cũng như số cử tri sẵn lòng bỏ phiếu cho các ứng viên đối lập cũng tăng theo.

Không mấy ai trong số họ có ảo tưởng gì là công việc của họ trong các hội đồng quận lại dẫn đến thay đổi nhanh chóng. Hầu hết các quyết định quan trọng ở Moscow được áp đặt bởi các quan chức không được bầu lên tại các cơ quan chịu trách nhiệm với ông đô trưởng cũng không được dân bầu lên. Các hội đồng quận, vốn toàn các người tình nguyện được dân bầu lên, không có được cả uy quyền để quyết định việc đặt một cái ghế đá ở một công viên hay trồng một cái cây nào đó.

Nhưng một lợi thế duy nhất là các hội viên hội đồng quận có quyền và thường xuyên gặp cử tri và với đủ hăng say và nghị lực, có khả năng vận động họ, ông Velmakin giải thích. Thành công lớn nhất của ông là đã vận động cử tri chặn việc xây dựng một bãi đậu xe vốn có nghĩa là sân đá banh rất được ưa chuộng sẽ bị phá hủy. Ông kể lại là khi ông ăn sinh nhật 30 tuổi hồi tháng rồi, cử tri của ông, hầu hết là các bà cụ, đã đến mừng ông và trân trọng bảo ông là lần tới ông đi biểu tình chống ông Putin họ sẽ đi theo!

Ông Velmatin giải thích “Chúng tôi có thể mơ tưởng đạt được mục tiêu với xe tăng và phi cơ hay với các nguyên tắc đấu tranh bất bạo động của Gandhi. Có rất nhiều triển vọng nhưng không có bao nhiêu biện pháp chiến thuật. Chúng tôi phải làm sao nói chuyện được với dân chúng và giải thích cho họ chuyện gì đang xảy ra.”

Cũng phải nói đó chính là sự sai lầm lớn nhất của các lãnh tụ phong trào phản đối ông Putin. Ðược tăng sức nhờ những thành công lúc đầu, họ đã không có cố gắng nào để đưa thông điệp của họ ngoài khu trung tâm thủ đô Moscow và một vài thành phố lớn khác. Sở dĩ vậy là vì họ có lẽ đã tin là, trong cái phản xạ chán ghét ông Putin và chính quyền bẩn thỉu của ông, họ nghĩ là toàn dân cũng chia sẻ phản ứng đó.

Ðiều làm cho họ sửng sốt là tuy quả là có những sự gian lận thật sự đó, ông Putin, ngay cả không gian lận cũng đã có đủ phiếu để thắng cử.

Cái mà các cử tri có vẻ muốn là có những thay đổi từ từ, cũng như là có thêm một chút lương thiện.

Maksim Kats, tự nhận mình sống nhờ đánh poker, đã thắng một ghế ở quận Shchukino, một phần theo ông là bởi đã không chịu nói dối. Trong các truyền đơn tranh cử ông nhấn mạnh đến việc mình chả có kinh nghiệm gì cả và nhắc nhở mọi người đến cái tên rõ ràng là Do Thái của mình, vốn là một điều không tốt trong chính trị Nga. Truyền đơn viết “Tôi được cố vấn đừng nói thẳng quá, thay đổi tên họ và mặc bộ đồ suit, và hứa là sẽ tranh đấu để tăng lương hưu và lương bổng. Các chính trị gia của chúng ta và cách làm việc của họ là tôi chán ngán vô cùng, thành ra tôi nói thật và nói thẳng.”

Khi được một phóng viên của tờ New York Times hỏi, ông Kats nói nay ông đang tập trung làm sao cho lề đường thân thiện với khách bộ hành hơn bằng cách ngăn cản không cho xe hơi dùng lề đường làm bãi đậu xe. Ông bảo ông muốn thấy ông Putin từ chức nhưng ông sẵn sàng chờ. “Tôi mới có 27 tuổi. Tôi còn nhiều thời gian lắm,” ông thản nhiên trả lời.

Cô Kichanova thì nóng lòng hơn. Cô đã tìm được một cái pin theo kiểu Mỹ hình một con rắn độc đang cuộn lại với hàng chữ “Ðừng đạp lên tôi”. Lý tưởng nhất, cô tin là phong trào phản đối có thể huy động đủ người để chiếm đóng một quảng trường của thành phố và dựng lều như là người Ukraine đã làm trong cuộc Cách mạng Cam năm 2004. Cô điềm tĩnh nói “Chỉ vì tôi đã trở thành một nghị viên không có nghĩa là tôi không tham gia. Tôi đã có sẵn lều rồi!”

Nước Nga thật may mắn vẫn còn có những thanh niên như họ.

Nữ cảnh sát viên Los Angeles bị kết tội giết tình địch 25 năm trước


LOS ANGELES (AP) –
Một phần tư thế kỷ sau khi xảy ra vụ một phụ nữ bị giết ở Los Angeles, bồi thẩm đoàn ở thành phố này hôm Thứ Năm kết án một cựu cảnh sát viên tội sát nhân, nhờ vào kết quả thử nghiệm DNA và việc bà từng mê say theo đuổi người chồng của nạn nhân.

Cựu cảnh sát viên Stephanie Lazarus trong tấm hình chụp ngày ra tòa hồi năm 2009. Hôm Thứ Năm, Lazarus bị kết tội giết vợ của người yêu cũ với bằng chứng là DNA trong vết cắn trên tay nạn nhân. (Hình: AP Photo/Nick Ut)

Bà Stephanie Lazarus không biểu lộ cảm xúc gì khi nghe phán quyết của tòa. Người tình cũ từ nhiều năm trước đây, ông John Ruetten, cũng hiện diện trong tòa cùng gia đình của người vợ bị giết hại.

Bà Lazarus, 51 tuổi, bị nhận diện là thủ phạm khi giới hữu trách mở lại cuộc điều tra vụ án mạng bị bế tắc từ nhiều năm, thử nghiệm mẫu DNA lấy được từ một vết cắn trên tay nạn nhân là bà Sherri Rasmussen.

Chỉ huy trưởng cảnh sát Los Angeles, ông Charlie Beck, người từng làm việc chặt chẽ với thám tử Lazarus trong Sở Cảnh Sát, ngỏ lời xin lỗi gia đình bà Rasmussen về sự chậm trễ trong việc điều tra tìm thủ phạm.

Ông Beck cũng cho hay “vụ án này là một thảm kịch về mọi mặt. Gia đình Sở Cảnh Sát Los Angeles cảm thấy bị phản bội khi có một nhân viên gây ra một tội ác ghê gớm như vậy.”

Bà Rasmussen bị đánh vào đầu và bị bắn chết năm 1986 trong căn chung cư ở với người chồng mới cưới chỉ ba tháng.

Các điều tra viên lúc đầu nghĩ rằng có hai kẻ cướp, từng tấn công một phụ nữ khác ở khu vực này, là hung thủ. Nhưng hai thập niên sau đó, một toán điều tra các vụ án chưa tìm ra thủ phạm, khi sử dụng các kỹ thuật phân tích DNA biết được rằng nước miếng trên vết cắn ở tay nạn nhân là của một phụ nữ, đã xem lại các quan hệ tình cảm trước đó của chồng bà Rasmussen và tìm ra bà Lazarus.

Bà Lazarus có thể bị án từ 27 năm đến chung thân, nhưng cũng có thể được cứu xét cho thả sớm sau khi ở tù hơn 16 năm. Bà bị giam từ năm 2009 đến nay. (V.Giang)

Anh giải cứu con tin bất thành, bị tổng thống Ý lên án


ROME (Reuters) –
Tổng Thống Ý Giorio Napolitano hôm Thứ Sáu mạnh mẽ lên án việc chính phủ Anh không báo trước việc cùng với lực lượng Nigeria mở cuộc đột kích giải cứu con tin nhưng bất thành khiến một công dân Ý và một công dân Anh thiệt mạng.

Tòa nhà xây dở dang, nơi những kẻ bắt cóc con tin bỏ chạy trong cuộc giải cứu bất thành khiến hai người bị bắt cóc – một Anh, một Ý – thiệt mạng. Tổng thống Ý gọi việc Anh tự tiện tiến hành không báo trước cho Ý là “không giải thích nổi”. (Hình: EMMANUEL AREWA/AFP/Getty Images)

Công dân Anh, Chris McManus và Franco Lamolinara, người Ý, đã bị bắt cóc hồi Tháng Năm khi đang làm việc cho một công ty xây cất ở khu vực Tây Bắc Nigeria. Họ bị nhóm cầm giữ hạ sát khi lính Anh và Nigeria khởi sự cuộc tấn công, theo lời Thủ Tướng Anh David Cameron cho hay hôm Thứ Năm.

Trong lời phát biểu mạnh mẽ nhất từ chính phủ Ý, ông Napolitano cho báo chí hay: “Thái độ của chính phủ Anh khi không thông báo cho Ý là điều không thể chấp nhận.”

Thủ Tướng Ý Mario Monti cho hay Ý chỉ được cho biết sau khi cuộc đột kích khởi sự tại thị trấn Sokoto ở Nigeria.

Trong khi giới truyền thông Ý chỉ trích Anh về việc có hành động đơn phương, các bình luận gia cũng cho rằng điều này cho thấy ảnh hưởng ngày càng giảm sút của Ý trên trường quốc tế. (V.Giang)

Thêm 4 tướng lãnh Syria bỏ chế độ


BEIRUT/PARIS (Reuters) –
Có thêm bốn sĩ quan cấp tướng từ bỏ chế độ cai trị ở Syria để gia nhập hàng ngũ dân chúng nổi dậy chống Tổng Thống Bashar al-Assad, theo tin từ hai nhóm nổi dậy hôm Thứ Năm.









Thành viên FSA, Quân Ðội Syria Tự Do thuộc phe chống đối ở Syria, tại Idlib. Có thêm 4 tướng lãnh quân đội chính phủ đào nhiệm và gia nhập FSA. (Hình: BULENT KILIC/AFP/Getty Images)


Những sĩ quan này trong thời gian ba ngày qua đã vào một căn cứ của các cựu quân nhân chế độ đặt ở khu vực phía Nam Thổ Nhĩ Kỳ, theo Trung Úy Khaled al-Mamoud, một phát ngôn viên của lực lượng Quân Ðội Syria Tự Do (FSA). Ông cho báo chí hay là cuộc đào thoát của những người này nâng tổng số các tướng lãnh cấp chuẩn tướng bỏ sang hàng ngũ nổi dậy lên thành bảy người.


Ðây là các sĩ quan cao cấp nhất rời bỏ chính quyền Assad cho đến nay. Mustafa Sheikh là chuẩn tướng đầu tiên loan báo việc bỏ ngũ.


“Chúng tôi hiện có sáu chuẩn tướng ở Thổ Nhĩ Kỳ và một người khác ở trong lãnh thổ Syria để chỉ huy một số tiểu đoàn,” theo nguồn tin trên.


“Chúng tôi dự định thành lập một hội đồng cố vấn để đón nhận những người này và các sĩ quan cao cấp khác, và họ sẽ đặt kế hoạch hoạt động cho FSA.”


Trong khi đó, một phát ngôn viên tại Paris của tổ chức do Chuẩn Tướng Sheikh thành lập, Hội Ðồng Quân Nhân Tối Cao Syria, Fahad al-Masri, cho hay có bốn chuẩn tướng mới đào thoát hiện vẫn do chính quyền Thổ Nhĩ Kỳ kiểm soát và chưa thể tiết lộ danh tánh của họ.


Các phát ngôn viên cũng bày tỏ sự lo ngại về an ninh của gia đình những người bỏ ngũ hiện vẫn còn ở Syria. Có tin cho hay gia đình của Chuẩn Tướng Faez Amro, người trốn sang Thổ Nhĩ Kỳ tháng qua, đã bị bắt. Cũng có các tin khác cho biết thân nhân của một số sĩ quan bỏ ngũ đã bị giết chết. (V.Giang)

Dân Nam Hàn phản đối Trung Quốc trả người tỵ nạn về Bắc Hàn


SEOUL, Nam Hàn (AP) –
Các nhà tranh đấu, và ngay cả một số minh tinh tài tử Nam Hàn, hầu như ngày nào cũng tụ tập trước cửa Tòa Ðại Sứ Trung Quốc ở Seoul từ hai tuần nay, giằng co xô đẩy với cảnh sát, xé hình chủ tịch nhà nước Trung Quốc, khi phản đối việc chính quyền Bắc Kinh giam giữ một số người tị nạn Bắc Hàn và có ý định trả họ về nước.

Biểu tình trước Tòa Ðại Sứ Trung Quốc ở Seoul chống lại việc nước này bắt 31 người tỵ nạn Bắc Hàn và trả họ về nước. Ở giữa, trên xe lăn là Dân Biểu Park Sun-Young; tuần rồi bà bị xỉu sau 11 ngày tuyệt thực. (Hình: Jung Yeon-Je/AFP/Getty Images)

Phía Trung Quốc không cho biết danh tánh những người này, cũng như tên tuổi hay các chi tiết khác về họ. Hiện cũng không ai biết rõ là có bao nhiêu người bị Trung Quốc cầm giữ, hoặc có bao nhiêu người đã bị Trung Quốc gửi trả về Bắc Hàn, nơi số phận của họ sẽ vô cùng đen tối, theo các nhóm tranh đấu bảo vệ nhân quyền.

Kể từ khi một nhà lập pháp Nam Hàn lên tiếng hồi tháng qua cho hay Trung Quốc dự trù trả về hàng chục người Bắc Hàn thay vì để họ tìm đường sang Nam Hàn, vấn đề này đã tạo rắc rối trong mối quan hệ giữa Bắc Kinh và Seoul, vốn có liên hệ chặt chẽ về mặt thương mại và thường cộng tác với nhau trong các vấn đề ngoại giao liên quan đến khu vực Á Châu, tuy nhiên thường có bất đồng ý kiến trong cách thức đối phó với Bắc Hàn.

Bộ Ngoại Giao Bắc Hàn cảnh cáo các nhà tranh đấu là đừng tìm cách “hâm nóng vấn đề.”

Trung Quốc lo ngại việc sẽ có làn sóng người dân Bắc Hàn tràn qua Trung Quốc trên đường đi tị nạn ở các quốc gia khác.

Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc (UNHCR) hồi tháng qua cho hay họ đang theo dõi tình trạng của một nhóm gồm khoảng 25 người Bắc Hàn bị bắt ở Trung Quốc hồi Tháng Hai. Các nhà tranh đấu khác nói rằng số người này vào khoảng từ 30 đến 40 người và một số đã bị Bắc Kinh trả về. (V.Giang)

Tin mới cập nhật