Vài suy nghĩ về Thảo Trường và truyện ngắn ‘Cái hố’

Trần Doãn Nho/Người Việt

KENNEDALE, Texas (NV) – Các truyện ngắn đầu tiên của Thảo Trường xuất hiện ở Sáng Tạo. Theo Nguyễn Văn Trung, Mai Thảo là người “đã khám phá ra Thảo Trường do một tình cờ nhân một hôm ngồi buồn lục lại chồng thơ, truyện của muôn vàn tác giả vô danh gửi tới tạp chí.” (1)

Nhà văn Thảo Trường. (Hình: Nguyễn Xuân Hoàng)

Thành thật mà nói, giữa ảnh hưởng đang mỗi ngày mỗi rõ nét của văn chương Mai Thảo, Dương Nghiễm Mậu, Thanh Tâm Tuyền, Duy Thanh… trong giới trẻ các thành phố miền Nam, sự xuất hiện của Thảo Trường trên Sáng Tạo có phần hơi chỏi.

Khác với lối viết tân kỳ, khác lạ, chứa đầy những thao thức hiện sinh, đôi khi có phần khó hiểu, của hầu hết những cây bút Sáng Tạo, văn phong Thảo Trường giản dị, dễ hiểu, đầy tính hiện thực, thậm chí có phần dễ dãi, tùy tiện.

Nguyễn Văn Trung cho rằng “Những truyện anh viết đều ‘sống’ và ‘chân thành’ (…) Thảo Trường có lời văn y như những câu nói hàng ngày, câu nói đi liền với một cử chỉ, thẳng thắn, gãy gọn, cộc lốc.” (2)

Đặng Tiến cũng có cùng một nhận xét: “Lối kể chuyện [của Thảo Trường] tự nhiên, chân thành đến mức nhiều người đọc ngờ là chuyện tình của tác giả.” (3)

Văn chương Thảo Trường không phải là văn chương tu từ, mà thuộc loại “có sao nói vậy (người ơi),” một thứ văn chương “nguyên liệu” (raw material), văn chương “tươi sống,” không kinh qua kỹ thuật chế biến và xào nấu chữ nghĩa cầu kỳ. Trong hầu hết các truyện của ông, những chi tiết gây ấn tượng nhất đều gắn liền với sự kiện (hoặc do hư cấu hoặc ghi lại từ cuộc sống thật), hay nói cho chính xác, gắn liền với cách ông mô tả sự kiện với tất cả cái chất nguyên xi, cụ thể của chúng.

Không những thế, có khi, chúng trần trụi, thô, chơn chất: “Khi trở về hai người ôm hai xoong cơm, liếc nhìn không thấy thi đua trật tự đâu, đến một chỗ hàng rào khu, kẽm gai đơn thưa thớt mấy sợi, chị bèn đứng lại khom lưng xuống chổng mông sang phía anh, xoong cơm của đội chị vẫn ôm nơi bụng, từ bên kia những sợi kẽm gai, anh luồn tay sang níu hai bên hông chị ghì tới… Chị nghe có tia nước ấm áp phóng sang và chị cảm thấy thành công và thắng lợi. Hai tay anh buông lỏng ra, chị còn nghe tiếng anh thở hổn hển, chị đứng thẳng người lên, vẫn ôm xoong cơm của đội nơi bụng, chị liếc nhìn sang anh, miệng cười như mếu rồi bước vội về buồng giam của mình. Anh ta cũng lật đật cài áo mưa lại, cầm cái xoong cơm treo trên cột hàng rào rồi cũng quay bước về phòng mình. Hai người hai hướng câm lặng và xót xa. Đứa con được tạo thành trong những cơn mê mẩn ấy.” (Những đứa trẻ đầu thai giữa hàng rào)

Nhưng nếu chỉ như thế, ta sẽ không có Thảo Trường.

Sự kiện cụ thể chỉ là phương tiện được ông khai thác tối đa để bày tỏ nhận thức của mình. Ở nhiều chỗ, cách diễn tả sự kiện của ông, tự nó, đã hàm chứa tính tư tưởng: sự kiện tự phát biểu cho chính mình (The facts speak for themselve).

Nói chung, những ý tưởng của ông thường nảy sinh “từ” và “trong” sự kiện, nghĩa là những gì ông thu tóm được trong cuộc sống bên ngoài, chứ không hẳn xuất phát từ một lý thuyết hay quan điểm có hệ thống nào đó của những nhà lập thuyết. Qua thời gian, ngôn ngữ của ông trau chuốt, mạch lạc và tinh tế hơn, nhưng chất văn nói chung thì vẫn thế, ngồn ngộn hiện thực đan xen với những ý tưởng nảy sinh.

Người đọc thường bắt gặp hiện tượng “nhảy vọt” từ sự kiện sang tư tưởng và ngược lại, trong văn Thảo Trường: đang mô tả chi li một sự kiện nào đó, bỗng dưng ông ngang xương cho chen vào một ý tưởng vừa bật lên, và rồi sau đó, lập tức trở về lại với sự kiện.

Có thể nói, trong văn Thảo Trường, sự kiện vừa là chất xúc tác vừa là trung gian vừa là nơi ươm mầm của tư tưởng. Trong “Trong hẻm,” một truyện ngắn khác viết ở hải ngoại sau này, khi nghe người chủ cắt cỏ động viên nhân vật (xưng “tôi”) là nghề cắt cỏ không có gì khó, chỉ chịu khó tập luyện là ra nghề được thôi, Thảo Trường viết: “Quả thật cái gì tôi cũng phải tập cho quen thôi. Tập thức sớm, tập dậy trễ. Tập siêng năng, tập lười biếng. Tập khôn ngoan, tập khờ khạo. Tập tự do, tập độc đoán. Tập đôn hậu vồn vã, tập tàn nhẫn lạnh lùng. Tập khoan dung, tập bất nhân. Tập hiền, tập ác. Tập lo âu, tập thây kệ… Phải tập tành tất. Tập đồng minh, tập phản bội. Tập can thiệp, tập tháo chạy…”

Từ chuyện “tập làm nghề” để kiếm sống, Thảo Trường nhảy một mạch đến những cái “tập” khác trong cuộc nhân sinh và xa hơn nữa, ông xem việc làm “đồng mình” hay “phản bội,” “can thiệp” và “tháo chạy” của người Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam cũng phải “nhờ” và “do” tập luyện mà có. Nhận định bất ngờ này biết đâu chẳng giúp người Việt Nam chúng ta nhìn rõ hơn bản chất của người bạn Mỹ!

***

“Cái hố” (4) là một trong những truyện ngắn xuất hiện vào thời kỳ đầu khi Thảo Trường mới bước vào làng văn, khoảng năm 1960. Văn phong cùa Thảo Trường trong “Cái hố” chưa được gãy gọn, nhiều chỗ còn khá tùy tiện và bố cục còn lủng củng, có đoạn kéo dài không cần thiết nhưng có đoạn lại quá cô đọng.

Tuyển tập “Những Miểng Vụn Của Tiểu Thuyết” – tác phẩm quan trọng nhất và cuối cùng của nhà văn Thảo Trường, được Người Việt xuất bản vào năm 2008. (Hình: Tài liệu)

Nhưng phong cách riêng của Thảo Trường đã định hình. Đó là một truyện ngắn khá ngắn, chỉ trên 3,000 chữ, nhưng chứa đựng một số lượng chi tiết cụ thể, đặc thù, đưa đến sự hình thành nhiều sự kiện hoặc biến cố, mà nếu muốn, tác giả có thể khai triển ra thành nhiều truyện ngắn khác nhau hay ngay cả một truyện dài nghiêm chỉnh. Xin nêu lên vài nét chính:

-Bi kịch gia đình: Do ngoại tình, gia đình tan vỡ hoàn toàn đến nỗi cả cha lẫn mẹ, không ai chịu nuôi con, buộc phải gửi Lại, nhân vật chính, đến sống nhờ ở nhà một người bạn.

-Lại có cá tính rất bất thường: thích cảnh dâm đãng, cảnh người đánh người, bạo động (tự hành hạ mình và hành hạ người khác).

-Quan hệ tình cảm phức tạp giữa Lại và Hồng, con của chủ nhà. Do sự khác biệt về hoàn cảnh, cá tính và sở thích, hai đứa trẻ vừa thân nhau, lại vừa kỵ nhau. Lại tự ti mặc cảm, Hồng khôn ngoan điềm tĩnh. Lại tỏ tình, nhưng Hồng không tích cực đáp ứng, để lại một “vết thương dậy thì” sâu đậm trong lòng Lại.

-Mối tình không đi đến đâu. Hồng lấy chồng lính, Lại cũng đi lính như một hình thức trả thù và trở thành một tên lính tàn ác.

-Trong một trận đánh nhau, bị cái hố chận đường rút quân trong lúc địch gấp rút đuổi theo, Lại đốc thúc binh sĩ lấp hố bằng mọi giá, kể cả xác chết đồng đội, và chôn sống luôn viên chỉ huy trưởng của đơn vị, là chồng của Hồng.

-Để trả giá cho hành vi “tàn ác” của mình, Lại chọn lựa một quyết định cũng “tàn ác” không kém: tự bắn nát đôi chân của mình.

-Lại hối hận, viết thư cho Hồng thú nhận đã “chôn sống” chồng của cô.

-Để trả thù cho chồng, Hồng mang súng định bắn chết Lại, nhưng khi Lại nhắc đến hai chữ “ngày xưa,” Hồng cảm động, dừng tay.

Từ đầu đến cuối, nhân vật hầu như sống trong và sống bằng những hoàn cảnh cực đoan và đối phó với chúng cũng bằng những hành động cực đoan: bạo động với người cũng như với chính bản thân.

Xây dựng một nhân vật bất thường như thế, Thảo Trường muốn tìm cách dùng nó để lý giải những khía cạnh ẩn giấu của con người: khi bị hoàn cảnh gia đình tan vỡ dồn ép đi đôi với mặc cảm thua sút và thất vọng trong tình yêu, con người trở nên hư hỏng, tàn ác, thù người và ghét mình.

Cố tình chôn sống viên chỉ huy trưởng của mình được nhân vật giải thích như là giải pháp duy nhất để đơn vị được sống còn, thực ra, là “hành vi trả thù” của nhân vật Lại đối mối tình đầu thất bại của mình. Nói một cách khác, nếu viên chỉ huy đơn vị bị thương kia không phải là chồng của Hồng, thì mọi sự có thể diễn ra một cách hoàn toàn khác. Nhưng đây là một hành vi hoàn toàn vô thức, nằm ngoài ý định của nhân vật và theo tôi ức đoán, nằm ngoài cả ý định của người khai sinh ra nó là Thảo Trường.

Như ta biết, Lại rất yêu Hồng, nhưng do mặc cảm và vụng về nên không được Hồng đáp ứng. “Cứ như vậy đến một hôm tôi thấy trong mắt em có ánh đèn mầu và tôi nói tôi không thích sân-khấu trên cuộc đời dưới này, có em, với cuộc đời và quyền-hành. Cái đêm em nhìn kịch và tôi xem người nhìn kịch là kỷ-niệm sâu đậm thực thà nhất của tôi đấy.”

Thái độ dửng dưng của Hồng khi Lại tỏ tình đã để lại một “vết thương dậy thì” sâu đậm, tăng cường thêm mối tự ti mặc cảm vốn sẵn về hoàn cảnh gia đình tan vỡ của mình. Bình thường thì vết thương này nằm im trong vô thức và có thể mãi mãi nằm im như thế. Nhưng cuộc lui quân, cái hố chận đường, kẻ tình địch bị thương khiến cho vết thương cũ được khơi dậy một cách mạnh mẽ vào một thời điểm vô cùng sinh tử, chi phối mọi hành động của Lại.

“Chúng tôi lấp bằng đất, bằng gỗ, bằng đá và bằng xác binh sĩ, kể cả cái khối thịt bị thương ở vai. Tất cả chỉ là phương tiện, viên chỉ huy và xác binh sĩ, lúc đó, với tôi có giá trị như một khúc gỗ, một tảng đất, một thể khối choán được một khoảng trống nguy hiểm trong cái hố chướng ngại kia.”

Tóm lại, hình tượng cái hố và nỗ lực lấp hố, “xương sống” của câu chuyện, dẫu có đôi điều chưa được hợp lý, đã tạo nên nét độc đáo riêng của một truyện ngắn, khiến Thảo Trường có ngay một chỗ đứng trong lòng độc giả, lúc mới khởi đầu văn nghiệp. (Trần Doãn Nho) [qd]

—–

Chú thích:

(1) Nguyễn Văn Trung, “Vài cảm nghĩ của người đọc,” tập truyện “Thử lửa,” nhà xuất bản Trình Bày 1962.

(2) Nguyễn Văn Trung, bài đã dẫn.

(3) Đặng Tiến, Nhà văn Thảo Trường, art2all.net/tho/dangtien/dt_thaotruong2.htm

(4) damau.org/103971/cai-ho



Nhà văn Thảo Trường tên thật Trần Duy Hinh, sinh ngày 25 Tháng Mười Hai, 1936 (giấy tờ ghi 1938) tại Nam Định trong một gia đình đông con, ông là người thứ chín. Ông mất ngày 26 Tháng Tám, 2010 tại Huntington Beach, California, Hoa Kỳ, hưởng thọ 74 tuổi.

Thân phụ ông mất sớm. Năm 1954 ông di cư vào Nam để lại mẹ và người chị ở quê nhà lo phụng dưỡng ông nội và coi sóc mồ mả tổ tiên. Nhưng sau đó, mẹ ông bị đấu tố, bị tịch thu hết nhà cửa ruộng vườn, phải ra ở ngoài gò đất giữa cánh đồng nước mênh mông. Vào Nam, nhà văn Thảo Trường gia nhập quân đội theo học Khóa 6 Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Và chính thức viết văn.

Truyện ngắn “Hương Gió Lướt Đi” là tác phẩm đầu tiên của ông đăng trên tạp chí Sáng Tạo do nhà văn Mai Thảo làm chủ bút. Nhà văn Thảo Trường vừa là người chứng kiến vừa là người tham dự vào cuộc chiến Việt Nam suốt 17 năm. Ngày 30 Tháng Tư, 1975 ông là tù binh gần 17 năm, trải qua 18 nơi giam giữ từ Nam ra Bắc rồi từ Bắc vào Nam. “Thử Lửa” là tác phẩm đầu tay của ông được xuất bản năm 1962.

Các tác phẩm đã xuất bản gồm: “Người Đàn Bà Mang Thai Trên Kinh Đồng Tháp” (1966), “Vuốt Mắt” (1969), “Chung Cuộc” (1969, xuất bản chung với Du Tử Lê), “Th. Trâm” (1969), “Bên Trong” (1969), “Ngọn Đèn” (1970), “Mé Nước” (1971), “Cánh Đồng Đã Mất” (1971), “Bên Đường Rầy Xe Lửa” (1971), “Người Khách Lạ Trên Quê Hương” (1972), “Lá Xanh” (1972), “Hà-nội, Nơi Giam Giữ Cuối Cùng” (1973) và “Cát” (1974).

Sau khi ra tù một năm ông sang Mỹ đoàn tụ với vợ con theo diện IMMI vào năm 1993. Năm 1995 nhà xuất bản Tin ở Paris đã xuất bản “Tiếng Thì Thầm Trong Bụi Tre Gai,” kế đó là các nhà Đồng Tháp, Quan San, Đầm Sét và Quyên Book ở vùng Little Saigon, California, xuất bản “Đá Mục” (1998), “Tầm Xa Cũ Bắn Hiệu Quả” (1999), “Mây Trôi” (2002), “Miểng” (2005), “Thềm Đá Xanh Rêu” (2007), “Thử Lửa” (2007), “Những Miểng Vụn Của Tiểu Thuyết” (2008).

Ông cũng còn một số tác phẩm chưa kịp ra mắt: “Cây Bông Giấy Trước Nhà” (truyện dài), “Bên Ngoài Nghĩa Trang” (truyện dài), “Bố Cáo Thất Tung” (truyện dài), “Thân Thể Người Ta” (truyện dài), “Bà Phi” (trường thiên tiểu thuyết).


 

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT