Ðịa Phương Quân và Nghĩa Quân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa

 



 


Long Ðiền


 


Mục đích:


 


Bài nầy viết để vinh danh những “Anh Hùng Vô Danh” Ðịa Phương Quân và Nghĩa Quân trong cuộc chiến 1954-1975, họ là những người chịu nhiều đau thương nhất, tổn thất cao nhất so với các binh chủng khác trong QLVNCH, đồng thời họ chịu nhiều sỉ nhục từ phía cộng sản.


Vì chính CSVN xem họ là kẻ thù nguy hiểm nhất qua 2 câu vè tuyên truyền của VC thời đó:


“Ngàn hai bắt được thì tha.


Chín trăm bắt được đem ra chặt đầu”


(1200 đồng là lương hàng tháng của quân dịch Chủ Lực Quân, 900 là lương của Dân Vệ/Nghĩa Quân) thực tế CSVN chỉ tuyên truyền vậy thôi, thời kỳ chiến tranh 1945-1975 chúng bắt được ai thì hầu hết đều bị thủ tiêu chớ làm gì có tha ai đâu.


 


Giới thiệu sơ lược:


 


Ðịa Phương Quân, thời kỳ đầu được gọi là Bảo An Ðoàn, là lực lượng vũ trang địa phương của Quân Lực Việt Nam Cộng hòa trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam.


Bảo An Ðoàn được thành lập năm 1955 trên cơ sở thống nhất các lực lượng Bảo Chính Ðoàn, Nghĩa Dũng Ðoàn, Việt Binh Ðoàn do Pháp bàn giao lại, thu nạp thêm một bộ phận các tín đồ Thiên Chúa Giáo miền Bắc di cư vào Nam năm 1954. Trong thời gian từ năm 1955 đến 1964, lực lượng Bảo An Ðoàn trực thuộc Bộ Nội Vụ Việt Nam Cộng Hòa, làm nhiệm vụ bảo đảm trật tự trị an ở từng địa phương.


Từ 1964, Bảo An Ðoàn được chuyển sang trực thuộc Bộ Quốc Phòng Việt Nam Cộng Hòa và đổi tên thành Ðịa Phương Quân. Ðịa Phương Quân tổ chức thành các đại đội (khoảng 100 người). Trong thời gian từ 1968 đến 1972, lực lượng này phát triển mạnh từ 895 lên 1,823 đại đội, tương ứng với số quân 132,000 lên 301,000. Cuối 1972, một số đại đội Ðịa Phương Quân được gộp lại thành tiểu đoàn. Phần lớn các đồn lớn là của Ðịa Phương Quân do tiểu khu và chi khu điều khiển. Các đồn nhỏ do phân chi khu (xã), giao cho Nghĩa Quân phụ trách. Bộ chỉ huy quận hay còn gọi là chi khu thông thường do lực lượng Nghĩa Quân bảo vệ.


Chi khu trưởng và Ban Tham Mưu Chi Khu là những cấp chỉ huy xuất sắc của chủ lực quân đưa sang nên họ đã huấn luyện, hướng dẫn các đơn vị ÐPQ/NQ những phương thức hữu hiệu để tiêu diệt cộng sản mà họ đã có được kinh nghiệm khi còn chỉ huy các đại đơn vị tinh nhuệ như Nhảy Dù, Biệt Ðộng, Thủy Quân Lục Chiến, v.v… Do đó có nhiều Trung Ðội Nghĩa Quân đánh giặc hữu hiệu không thua gì các đơn vị chủ lực. Chính hai thành phần này mới là những người bám rễ giữ đất, chịu nhiều gian khổ và thương vong nhất trong cuộc chiến bảo vệ lãnh thổ.


Phía cộng sản xem họ là kẻ thù nguy hiểm, nhưng báo chí miền Nam Việt Nam thời đó cũng tỏ ra có nhiều ngộ nhận không ít về họ. Có báo thì cho là lính ma, lính kiểng, có báo thì cho là binh chủng lạc hậu và đặt tên là “con rùa chậm tiến” chỉ vì họ không được trang bị hiện đại bằng các binh chủng khác, luôn luôn được trang bị chậm và thiếu các loại vũ khí tối tân như M16, M79 phóng lựu và thông thường phương tiện di chuyển hay hành quân họ thảy đều dùng đôi chân của mình chớ không có phương tiện cơ hữu như quân xa, máy bay. Họ đánh giặc theo kiểu nhà nghèo. Lương thì ít ỏi không đủ sống, vì vậy đôi khi NQ còn được trợ cấp thực phẩm, có 2 câu thơ truyền miệng:


“Dân Vệ Ðoàn vì dân trừ bạo


Hai bao gạo một thùng dầu”


(Chú thích: Gạo của Hoa Kỳ trợ cấp loại 10 ký/bao, dầu là loại dầu ăn hột cải 4 lít)


Nhận định về người lính ÐPQ/NQ thuộc QLVNCH xin đơn cử một số nhận định sau đây:


1- Quân lực Việt Nam Cộng Hòa 1968-1975 (bài của nhà nghiên cứu về Việt Nam, Bill Laurie):


Bill Laurie là sử gia Hoa Kỳ, một trong những chuyên gia nghiên cứu về Việt Nam và nhân chứng được mời trình bày quan điểm trong cuộc hội thảo mang tên “Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa: Suy ngẫm và tái thẩm định sau 30 năm” (ARVN: Reflections and reassessments after 30 years) do Trung Tâm Việt Nam thuộc Ðại Học Texas Tech tổ chức tại Lubbock trong hai ngày 17 và 18 tháng 3 năm 2006.


Trong số nhiều diễn giả Việt Mỹ, ông Laurie là người nêu ra quan điểm trung thực và thẳng thắn nhất của riêng ông về một quân đội mà ông từng sát cánh với cương vị một chuyên viên tình báo cao cấp trong nhiều năm, song song với những ý kiến không quanh co che đậy về giới truyền thông và chính trị Hoa Kỳ trong thời chiến tranh tại Việt Nam. Bài này dịch thuật nguyên văn bài viết của Bill Laurie, mà ông dùng để trình bày lại, vắn tắt hơn, trong buổi hội thảo. Bill Laurie gửi tặng bài viết cho dịch giả, cho phép được dịch và phổ biến trong giới truyền thông Việt ngữ.


Sử gia Bill Laurie đã có nhận định như sau về ÐPQ và NQ:


“Cũng không hề có ai ngụ ý hay nói với tôi rằng có thể là lực lượng Ðịa Phương Quân tỉnh Hậu Nghĩa, là những dân quân của tỉnh, đã làm mất mặt chẳng những một mà tới ba trung đoàn chính quy của quân đội miền Bắc trong chiến dịch tấn công năm 1972 của Hà Nội.


“Họ đã nhai nát và nhổ phun ra nguyên cả lực lượng tấn kích của đối phương, một lực lượng có thể đã làm đổi chiều lịch sử vào thời kỳ đó. Ðịa Phương Quân không được Pháo Binh và Không Quân sẵn sàng yểm trợ như lực lượng chính quy VNCH, trong đó kể cả Nhảy Dù, Biệt Ðộng Quân, Thủy Quân Lục Chiến,… Quân địa phương chỉ dựa vào kỹ thuật chiến đấu căn bản Bộ Binh.”


2- Bài Xác Ðịnh Giá Trị Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa của Tiến Sĩ Lewis Sorley (phần nói về ÐPQ/NQ)


Tiến Sĩ Lewis Sorley tốt nghiệp Cử Nhân năm 1956 tại U.S. Military Academy, West Point; M.A. năm 1963 tại University of Pennsylvania; M.P.A năm 1973 tại Pennsylvania State University; Và Tiến Sĩ (PhD) năm 1979 tại Johns Hopkins University ông đã trình bày về những nhận xét ÐPQ/NQ như sau:


“Ông Thomas J. Barnes trở lại Việt Nam sau ba năm vắng mặt để làm việc trong chương trình bình định vào mùa Thu 1971. Ông nói với Tướng Fred Weyand là, “Tôi đã ngạc nhiên với ba tiến bộ chính, sự phồn thịnh của nông thôn, Ðịa Phương Quân và Nghĩa Quân giữ vững vị trí và phát triển sự tự trị chính trị kinh tế làng xã. Ta đã giúp làng xã lấy lại tính cách độc lập và tự lực theo tập tục Việt Nam. Ðó là việc tham gia quan trọng nhất của chúng ta trong công việc bình định.”


“Tháng 5, 1967 khi Ðại Tướng Abrams đến Việt Nam thì Quân Lực VNCH gồm có Lục Quân, Hải Quân, Thủy Quân Lục Chiến và Không Quân. Ngoài ra còn có những lực lượng diện địa bao gồm Ðịa Phương Quân (ÐPQ) và Nghĩa Quân (NQ) phụ trách an ninh lãnh thổ. Tỉnh trưởng chỉ huy Ðịa Phương Quân còn Nghĩa Quân đặt dưới quyền quận trưởng. Các lực lượng này trú đóng tại địa phương của họ và thực hiện mục tiêu “càn quét và giữ đất.” Vào năm 1970 đã có 550,000 quân số, nghĩa là một nửa QLVNCH.


ÐPQ và NQ gia tăng khả năng và thành tích của họ và phải được ghi công đầu. Trong buổi thuyết trình WIEU (dự đoán tình báo hàng tuần) cho quan khách, Tướng Abrams nói: “Ðiều tôi quan tâm nhất là vai trò của ÐPQ và NQ trong chiến cuộc luôn bị quên lãng. Người ta chỉ thường nói đến QLVNCH trong khi đã lâu nay ÐPQ và NQ gánh chịu nhiều tổn thất và đã giáng cho quân địch nhiều đòn chí tửà Tôi nói thẳng, nếu ta muốn nói đến an ninh cho dân thì đây mới là phần việc lớn!”


Cùng một lúc, ông nói rõ ràng về thành tích của các đơn vị này, “Tôi không biết có nên trang bị thêm các Ðại Ðội Lục Quân không? Nếu có thêm nhân số thì tôi nghĩ đem đầu tư vào các lực lượng diện địa (ÐPQ/NQ) này có lợi hơn.”


Cuối năm 1969, khi nhìn biểu đồ tình hình trong ba tháng vừa qua ghi rõ ai đã đem lại nhiều thành quả nhất về khí giới, tử vong, Tướng Abrams đã nói: “Thật rõ ràng và đúng. Số địch bị giết, khí giới thu được, hầm bí mật phát hiện, v.và thì QLVNCH vẫn giữ nguyên tỷ lệ 27/28% trong khi tỷ lệ của Ðồng Minh sút giảm. Sự chênh lệch là do các lực lượng địa phương và đã xẩy ra từ tháng 8 vừa qua.”


Một người trong cử tọa nói lớn: “Ðó là tính chất của cuộc chiến!”


Tướng Abrams trả lời ngay: “Ðúng lắm! Tôi luôn luôn hỏi lợi nhuận thu được từ 100,000 súng M-16 như thế nào? Như vậy hả? Vâng ta đã bắt đầu thấy kết quả!”


Ông Bill Colby cũng nhận xét rằng trong tháng 7, 1970 lực lượng địa phương cũng bảo vệ được súng của mình. Tỷ lệ khí giới mất đối chiếu với vũ khí thu được là một trên ba, khác hẳn tình trạng năm năm trước đây.


Tướng Abrams nói thêm: “Các lực lượng địa phương, các con sóc ấy tiến tới rất vững vàng. Một tình trạng đã được duy trì lâu nay là ÐPQ và NQ đã gánh chịu phần lớn trách nhiệm chiến tranh.” “NQ đã lần hồi gỡ bỏ mặc cảm của một phụ lực quân để trở thành các binh sĩ chính quy và là một bộ phận chính của bộ máy chiến tranh!”


Các sĩ quan cao cấp Việt Nam cũng nhìn nhận như Trung Tướng Ngô Quang Trưởng:


“Các ÐPQ và NQ tăng tiến về phẩm cũng như lượng và đã được các nhân vật bình luận khắt khe như Tướng Julian Ewell khen tặng: ‘Họ là mũi nhọn trên chiến trường!’”


 


Ưu điểm:


 


Sở trường của ÐPQ/NQ là đánh du kích, là triệt tiêu hạ tầng cơ sở địch, trong chiến dịch Phượng Hoàng họ là binh chủng cung cấp tin tức tình báo nhiều nhất, chính xác nhất, đồng thời cũng là đơn vị trực tiếp triển khai hành quân, thanh lọc, phục kích để tiêu diệt du kích Việt Cộng và lực lượng địa phương huyện, xã của địch. Vì sống gần dân (ÐPQ) trong dân (NQ) nên họ nhận được nhiều tin tức tình báo quý giá, những báo cáo về sự thâm nhập của quân CS vào trong xã ấp, những thói quen di chuyển của VC nên các cuộc đột kích, phục kích của ÐPQ/NQ rất dễ thành công.


– Trong thế phòng thủ đôi khi đối đầu với chủ lực CS, các chiến sĩ NQ/ÐPQ cũng đã đánh nhiều trận ngoạn mục bẻ gãy các cuộc tấn công bằng xe tăng có pháo binh yểm trợ của chủ lực CS Bắc Việt.


– Trong công tác Bình Ðịnh Phát Triển họ là thành phần xuất sắc góp phần trong các chính sách của Quốc Gia như rào ấp Chiến Lược, ấp Tân Sinh, Luật Người Cày Có Ruộng, v.v…


– Trong quốc sách Chiêu Hồi mà kết quả trên 200,000 cán binh VC về hồi chánh để trở về với đại gia đình dân tộc thì ÐPQ/NQ là có thành tích cao nhất trong việc kêu gọi cán binh VC trở về với chính nghĩa Quốc Gia.


– Trong công cuộc trường kỳ kháng chiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bảo vệ miền Nam chống lại sự xâm lăng ồ ạt của quân chính quy Cộng Sản Bắc Việt cũng như sự phá rối trị an của du kích cộng sản còn gọi là Việt Cộng (VC). Lực lượng Diện Ðịa bao gồm Ðịa Phương Quân (ÐPQ) và Nghĩa Quân (NQ) đảm nhận trọng trách lớn lao là bảo vệ làng, xã, thị xã, tỉnh lỵ, đô thị, trường học, cầu cống, quốc lộ, tỉnh lộ, trục lộ giao thông nông thôn, đường sắt, các công trình quan trọng (như Ðập Thủy Ðiện Ða Nhim, Nhà Ðèn Chợ Quán, v.v…)


Có bảo vệ an toàn nơi tuyến đầu là nông thôn thì chốn hậu phương thành thị mới yên ổn để phát triển và xây dựng, thất bại ở nông thôn là mất hậu cứ căn bản sẽ bị cộng sản bao vây và khủng bố. Chúng ta thử nghĩ hậu cứ của các đại đơn vị của QLVNCH tại thủ đô Sài Gòn, Huế, Cần Thơ, v.v… sẽ ra sao nếu không có vành đai nông thôn do lực lượng ÐPQ/NQ bảo vệ an toàn bao bọc.


Ngoài ra hàng ngàn công trình xây dựng của Quốc Gia sẽ ra sao nếu không có sự bảo vệ ngày đêm của lực lượng diện địa ÐPQ/NQ để cho chủ lực quân rảnh tay hành quân lưu động tảo trừ quân chính quy CS xâm nhập miền Nam. Nhưng thật bất công cho họ trước 1975 báo chí VNCH gần như quên lãng họ, báo chí hải ngoại sau 1975 cũng vậy, xem họ như con ghẻ, hay nhẹ hơn là xem họ như những đơn vị thứ yếu trong Quân Lực VNCH!!!


Hãy nghe lời nhận định của Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ, tư lệnh Sư Ðoàn 5 BB/QLVNCH (lúc đó đang là đại tá trung đoàn trưởng TR.Ð 8/SÐ5BB) trả lời phỏng vấn của Chuẩn Tướng Haig/QÐ Hoa Kỳ ngày 24 tháng 1, 1970: “Ông giải thích sự sắp xếp này chỉ cho thấy cần yểm trợ thêm cho NQ/ÐPQ trong các cuộc hành quân của các đơn vị này vì hiện giờ pháo binh của QLVNCH phải yểm trợ cho các đơn vị chính quy và địa phương quân trong vùng hành quân của Trung Ðoàn 8…”


“…Chỉnh đốn lại cấu trúc của tất cả các vị trí phòng thủ của NQ/ÐPQ theo tiêu chuẩn của SÐ1 BB HK để loại bỏ mọi yếu điểm hiện có trong các vị trí này. Rất nhiều vị trí hiện hữu, lô cốt và công sự phòng thủ được thiết kế và xây cất một cách yếu kém và sẽ không chống nổi bất cứ một loại tấn kích nào.”


“Nhưng ông nói nếu NQ/ÐPQ không chu toàn được phận vụ bảo toàn an ninh cho các trung tâm đông dân cư, các đơn vị QLVNCH sẽ buộc phải rút về bảo toàn an ninh cho các vùng đó và rồi các đơn vị QLVNCH trở lui lại vị thế của năm 1966”….


“Cần có yểm trợ pháo binh trực tiếp cho NQ/ÐPQ.”


Nhiệm vụ của ÐPQ/NQ thật nặng nề đó là bảo vệ an ninh cho đồng bào sống an lành trong các thôn ấp, đồng thời bảo vệ các thành thị, tỉnh lỵ, quận lỵ được an bình và chống lại những vụ pháo kích bừa bãi của Cộng Nô vào các vùng đông dân cư. Trong khi đó thì chủ trương của Cộng Sản Việt Nam là dùng nông thôn bao vây thành thị, phá hoại an ninh tại nông thôn bằng hàng trăm hình thức khủng bố, sát hại, thủ tiêu, bắt cóc, bắt thanh niên từ 14, 15 tuổi trở lên bổ sung cho lực lượng VC, cho các mật khu, du kích và chủ lực tỉnh, huyện. ÐPQ/NQ đã triệt hạ các ý đồ của Cộng Quân là làm cho nông thôn bị mất an ninh để đồng bào chạy về khu thành thị, để từ đó chúng dùng nông thôn bao vây thành thị trong chiến lược thôn tính Miền Nam theo chủ trương của Quốc Tế Cộng Sản.


 


Nhược điểm:


 


– Một khi đã chấp nhận nhiệm vụ diện địa thì phải có mặt thường xuyên trên địa bàn cố định, đồng thời phải liên tục tuần tiễu xa và gần để bảo vệ cứ điểm như đồn bót, chợ búa v.v… Lực lượng diện địa thường cố định quân số, ví du bảo vệ cầu trên quốc lộ thì từ cấp Tiểu Ðội đến Trung Ðội (từ 10 đến 30 quân nhân). Quân số ít thay đổi do đó dễ bị CS điều nghiên đem lực lượng mạnh gấp 3, 5 lần để tấn công. Quân dụng thiếu thốn, nhất là vật liệu để xây dựng hệ thống phóng thủ, hầm hố rất thiếu thốn so với chủ lực quân nên khó có thể cầm cự khi bị địch ồ ạt tấn công.


– ÐPQ/NQ sống trong quần chúng, nhận nhiều tin tức tình báo từ dân cư địa phương nhưng đồng thời cũng dễ bị rò rỉ thông tin cho cộng sản tấn công, dễ bị cài nội tuyến đánh úp đồn bót.


– Gánh nặng trách nhiệm, huấn thị phối hợp của Bộ Tổng Tham Mưu đã minh định rõ ràng là ÐPQ/NQ lực lượng bảo vệ lãnh thổ (cố định), nhưng lại được trang bị yếu kém so với chủ lực quân.


Ðó là 3 yếu tố căn bản giải thích lý do tại sao lực lượng nầy chạm địch thường xuyên và chịu tổn thất gấp rưỡi hay gấp 2 lần so với chủ lực quân (bao gồm các Sư Ðoàn Bộ Binh và TQLC, Nhảy Dù, BÐQ cộng lại) theo bảng thống kê tổn thất sinh mạng hàng năm do Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ đúc kết.


– Trong khi đó nhiệm vụ của chủ lực quân là hành quân lưu động lùng và tiêu diệt chủ lực quân của CSVN, nhờ yếu tố di động thường xuyên nên họ ít bị địch tập trung tấn công hơn so với ÐPQ/NQ. Ngoài ra lực lượng Tổng Trừ Bị gồm các Sư Ðoàn Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến thường hành quân lưu động với quân số từ cấp tiểu đoàn, trung đoàn trở lên, đây là các đai đơn vị tinh nhuệ, có hỏa lực Không Quân và Pháo Binh cơ hữu cũng như tăng phái yểm trợ tối đa khi lâm chiến nên CSVN thường tránh né các đại đơn vị nầy mà tìm cách đánh các đơn vị nhỏ của ÐPQ/NQ. Chứng tỏ trong cuộc chiến VN áp lực địch luôn đè nặng lên ÐPQ/NQ. Ngoài ra tấn công vào các vị trí như tỉnh lỵ, đô thị thì CSVN dễ dàng cướp đoạt tài sản dân chúng, chứ tấn công các đơn vị chủ lực thì vừa dễ bị thiệt hại và chẳng có tài sản gì để cướp ngoài vũ khí.


 


Những trận đánh chưa ai kể đến của ÐPQ/NQ trong cuộc chiến Việt Nam:


 


Có thể nói rất nhiều kể sao cho hết những chiến công hiển hách của anh em chiến sĩ ÐPQ/NQ trên toàn thể miền Nam từ 1954-1975, tôi chỉ lược ra đây một số những chiến công của ÐPQ/NQ chưa hề được ai nhắc tới:


– Trần Văn Tựu một chiến sĩ Nghĩa Quân quận Long Ðiền, chức vụ trung đội trưởng, trước kia là một đại đội trưởng du kích huyện Long Ðất, nhưng sau khi trở về với chính nghĩa Quốc Gia, anh đã lập nhiều chiến công hiển hách. Từng hướng dẫn lực lượng quận vào đột kích mật khu Tam Phước, Minh Ðạm như chỗ không người. Ðánh giặc đối với Tựu là một cái thích thú, không hề than van cực nhọc, được đi hành quân là vui, không thích nhiệm vụ canh gác. Tỉnh Ðội Bà Rịa, huyện đội Long Ðất từng bao lần treo giá anh Nghĩa Quân nầy còn cao hơn sĩ quan trong chi khu. Vì tất cả thói quen, đường đi nước bước của VC trong vùng anh thảy đều thuộc nằm lòng.


Trên đường đột kích mật khu Minh Ðạm năm 1965, xuất phát lúc nửa đêm, trung đội của anh nhận nhiệm vụ dẫn đường, lực lượng quận khoản 4 trung đội NQ theo sau. Anh là trung đội trưởng vừa là khinh binh đi đầu… Còn độ 500 thước nửa đến mật khu. Nhìn dấu chà chôm (chổi bằng cành cây trong rừng) vừa mới quét, anh biết ngay là sắp vào mật khu, ra lệnh cho anh em dừng lại để anh đích thân bò đi đầu tháo gỡ mìn bẫy. Anh đã áp sát và hạ thủ tên du kích canh gác dễ dàng không tiếng động, kế đó 1 tên vừa ra suối đánh răng cũng bị anh hạ thủ nhẹ nhàng. Ra thủ hiệu cho thuộc cấp bò theo, lần lượt mỗi anh NQ đứng kế bên mỗi chiếc võng của kẻ thù, bằng 1 thủ hiệu kế tiếp tiểu đội anh đã đồng loạt thanh toán gọn trên 10 tên VC còn đang ngủ trên võng bằng lưỡi lê mà không hề nổ 1 phát súng. Sau đó cắt người canh gác thay cho VC, lục soát các hầm trú ẩn, xong rồi mới báo cáo cho quận đem quân vào thanh toán phá hủy căn cứ địch.


Có đi bên cạnh anh thì mới biết khả năng tác chiến trong rừng của anh rất cao, đầy khôn khéo. Mỗi hành động đều có tính toán nhanh như sao xẹt, phản ứng rất nhanh và chính xác. Một lần đang đi cùng tiểu đội đi đến điểm phục kích đêm, anh vô tình đi ngang qua một cửa sổ có 1 tên du kích đang về thăm nhà, ngoài ra còn có 2, 3 đồng bọn canh gác ngoài xa. Tên du kích thoáng thấy dáng anh la lên hỏi: ”Ai?” Anh bình tĩnh đi chậm lại, không quay đầu, không hấp tấp trả lời: “Mình đây mà!” rồi tiếp tục đi bình thường. Tên du kích mắc lừa tưởng đồng bọn, không nổ sung. Vừa qua khỏi vách nhà, anh xoay ngang trả lời bằng 1 tràng tiểu liên Thompson kết liễu tên VC trong nhà. Bởi vì nếu anh tỏ ra hấp tấp hay chạy thì tên nầy sẽ nổ súng trước anh và sẽ hạ anh dễ dàng.


Còn hàng trăm chuyện lớn, chuyện nhỏ của anh trong đời lính đẹp như ciné, lính trong quận thi nhau kể về anh như thế! Nhưng hễ có tài thì lại có tật, trong bất kỳ cuộc hành quân nào, dù cấp chỉ huy có ra lịnh, lục soát bi đông của anh cẩn thận đến đâu, hễ đi ngang qua xóm nhà dân thì anh chàng mua bi-don rượu đế lúc nào không ai biết, rồi vừa đi vừa lén uống từ từ!


Một lần đi hành quân qua vùng An Ngãi, ta và địch chạm súng bất ngờ, địch khai hỏa trước làm cho ta bị thương 2 NQ, địch có cây cối bao che, bên ta trống trải nên đành nằm bẹp để chịu trận. Quân ta dàn hàng ngang chờ đợi vì địch đang có chướng ngại vật bao che, có gốc cây lớn làm điểm tựa, địch bắn sẻ chứ chưa dám xung phong vì hai bên ngang ngửa. Thình lình anh chàng Tựu nổi nóng vì nãy giờ phải mọp bên bờ ruộng, từ từ cởi súng, đạn ra để 1 bên chỉ đeo dây ba chạc đầy lựu đạn M26, không nói 1 lời, không xin phép cấp chỉ huy. Ðứng dậy vụt chạy cực nhanh thẳng vào vị trí địch, trong khi đồng đội thảy đều bất ngờ.


Anh ta chạy có kỹ thuật chữ chi hẳn hoi, hai tay 2 quả lựu đạn, còn cách khẩu thượng liên 10 mét, tông 2 quả lựu đạn xong rồi nằm chờ. Hai tiếng nổ long trời vừa nổ chưa hết khói là lúc anh ta phóng mình chạy vô lượm súng và thanh toán địch bằng chính AK của địch. Tới đó thì trung đội còn lại mới giật mình mà xung phong theo anh. Trận đụng độ chớp nhoáng nầy ta hạ sát được 4 tên VC, số còn lại hoảng quá chạy hết. Anh chàng Tựu đứng lên cười ha hả làm cho chúng nó nín thở mà chạy, bỏ lại khẩu thượng liên và 2 khẩu AK. Diễn tả thì dài dòng mà diến tiến ngoài mặt trận thì nhanh như chớp mắt, không ai ngờ anh Tựu lại thanh toán địch nhanh đến như vậy!


Tức mình vì anh nầy làm càn không xin phép, sĩ quan chi khu kêu anh lại quở trách. Anh chàng trả lời tỉnh bơ: “Thiếu úy ơi, em đâu có ngu, em bỏ súng lại, chạy mình không vô tụi nó, chơi cho tụi nó 2 quả, lỡ thời tụi nó bắn giỏi thì cùng lắm là chết mình em, chúng nó đâu lấy được súng em đâu!” Rồi cười hề hề làm sao mà nổi nóng với anh chàng ba gai nầy được!


Một lần VC phát loa, gần bên hông dinh quận chừng trăm thước, có lẽ đội tiểu đội du kích bò vô, phát loa tuyên truyền chừng 5, 10 phút rồi sẽ bỏ chạy, trong quận thì chưa biết phản ứng ra sao vì VC đang nấp bên nhà dân, bắn ra thì sợ trúng dân, không bắn thì cũng kẹt. Anh chàng Tựu giơ tay tình nguyện: “Xin ông thầy cho em ra lấy cái loa, đừng bắn ra tui nó, coi chừng trúng em, em hứa bắt gọn lấy cái loa nộp ông thầy mà.”


Với cây tiểu liên bá xếp anh bò ra ngoài bằng cổng hậu rồi lần mò ra tới nơi tên phát loa, đứng dậy bắn 1 phát lấy cái loa chạy vô quận, tụi du kích còn lại bắn theo nhưng không kịp với con sóc nhanh nhẹn nầy. Diễn tiến chưa đầy 10 phút thì anh đã thanh toán xong mục tiêu! Với kích thước nhỏ con độ chừng 1m55 thôi nhưng anh chàng NQ gan dạ nầy làm cho bọn VC trong vùng kinh hồn táng đởm.


– Ở chi khu Ðất Ðỏ cũng có vài anh NQ gan cóc tía, y hệt anh Tựu. Anh nầy tên gì tôi quên rồi, chỉ còn nhớ sự việc như vầy:


Khoảng năm 1967, VC bao vây Chi Khu Ðất Ðỏ ngay giữa ban ngày, vòng vây chưa thắt lại gần, chúng đã xâm nhập vào 2 xã Phước Thạnh và Phước Hòa Long cách BCH Chi Khu độ 2 cây số đường chim bay. Chúng bắn cầm chừng nhưng lực lượng thâm nhập vô Quận lỵ rất đông, có lẻ để chờ đánh lực lượng tiếp viện của tỉnh. Quân số chúng độ khoản trung đoàn. Những toán quân tuần tiễu của ta đụng độ lẻ tẻ với địch nhưng phải rút về chi khu vì quân số địch quá đông.


Ðược tin tình báo của dân và vợ lính cho biết VC đang đóng quân nhiều nơi, trong đó có 1 chỗ đặt Bộ Chỉ Huy gần nhà dân, muốn phối kiểm tin tức để có thể sử dụng pháo binh đánh chính xác địa điểm vì sợ lầm nhà dân, ông chi khu trưởng đích thân tập hợp Trung Ðội NQ Thám Báo Chi Khu để tìm 1 người tình nguyện đi ra ngoài, vào tận nơi để xem xét tình hình. Cuộc đi nầy muôn vàn nguy hiểm vì vậy ông chi khu trưởng cần 1 người tình nguyện. Trong vòng 5 phút giải thích lý do, có đến 3 anh NQ tình nguyện! Anh chàng được chọn vì anh viện cớ có vợ chưa có con, có gì thì nhờ 2 bạn kia lo giùm vợ con.


Anh giả trang người đi cày vác cuốc, mặc áo bà ba, lận lựu đạn trong người. Lấy cớ đang cày bừa, nghe nổ súng nên chạy về nhà. Anh qua mặt du kích gác dễ dàng, xăm xăm đi vào vùng địch kiểm soát, đi về hướng BCH trung đoàn địch với cây cuốc trên vai! Qua mấy xóm nhà dân, gần đến BCH thì địch khả nghi, hô đứng lại, anh vụt chạy thẳng vô căn nhà VC đóng BCH nên chúng chưa dám nổ súng sợ trúng cấp chỉ huy. Anh xông tới gần, ném 2 quả lựu đạn rồi chạy ra ngoài sau khi nổ xong, tiêu diệt trọn ổ BCH Việt Cộng. Sau đó anh chạy thoát được ra ngoài vì chúng hoảng loạn, mãi gần 4 giờ đồng hồ sau anh mới về đến được chi khu, hoàn thành nhiệm vụ tình báo!!! Nhờ tin tức chính xác, chi khu sau đó đã bắn pháo binh vào đúng tọa độ anh NQ nầy cho, đồng thời lợi dụng lúc địch đang bối rối vì BCH bị thiệt hại nặng, chi khu đã nhanh chóng điều động lực lượng ÐPQ phối hợp NQ giải tỏa vòng vây. Ðịch bỏ chạy, rút hết vì đã lộ kế hoạch.


– Ðồn Bờ Ðập thuộc xã Hội Mỹ, quận Ðất Ðỏ, do 1 trung đội thuộc Ðại Ðội 612 ÐPQ đảm trách, tối đi phục kích 2 tiểu đội, còn 1 tiểu đội ở nhà giữ đồn. Vợ lính cũng cắt gác 1 vọng vì thiếu quân số. Ðêm đó (khoảng năm 1967) VC sử dụng 1 tiểu đoàn chính quy, có súng phun lửa, DKZ, B40 cộng thêm dân công ước độ vài trăm người tấn công biển người với cái đồn nhỏ chỉ độ 10 người lính với 15 bà vợ lính, 2 tiểu đội đi phục kích bên ngoài cũng không về tiếp ứng được. Các bà vợ lính đã chiến đấu dũng cảm, con nít thì tiếp tế đạn, lựu đạn, họ đã cầm cự đến sáng chi khu mới đưa quân đến tiếp ứng kịp thời, sau đó thu gom xác VC chết chung quanh đồn gần 60 tên, mượn xe pulldozer ủi 1 cái hố chôn chung mấy tên “sinh Bắc tử Nam” nầy chung 1 hố có cấm bảng lớn ghi rõ ràng: “Mồ chôn Cộng phỉ.”


Không hiểu sau 75, VC có đào đi cải táng không thì không rõ. Phần nầy chắc chúng không dám ghi vào quân sử vì tủi hổ quá 10 đánh 1, mà một lại thắng! Mấy bà vợ lính sau đó có được tỉnh tặng bằng khen, có truyền hình từ Sài Gòn đến quay phim làm lại trận giả, quay lại trận đánh để đời nầy, không rỏ chiếu được mấy lần!


Sau trận nầy có 1 chi tiết đứng tim. Ðó là khi trên tiểu khu đến nghiên cứu trận liệt có 2, 3 sĩ quan cấp tá đến xem xét, suýt chút nữa là to chuyện, vì có 1 tên VC quá sợ trốn trong bụi cây ôm khẩu AK, trời sáng bét mới giơ khẩu AK đứng lên đầu hàng, làm ai nấy một phen hú hồn vì nó mà còn can đảm quơ 1 băng AK chắc phải có 2, 3 sĩ quan chết vì tên nầy!


Lính NQ ở các quận nói chung rất gan dạ, chiến đấu trường kỳ không hề than van, họ có ưu điểm sống gần nhà, gần quê quán nên không dám làm gì sai quấy sợ bà con chê cười. Trong khi đó lực lượng chủ lực xa nhà, xa quê, nếu cấp chỉ huy không kiểm soát kỷ dễ có tình trạng kiêu binh làm mất lòng dân. Anh em ÐPQ/NQ rất sợ mất lòng dân nên họ giữ gìn kỷ luật rất giỏi. Ðây chỉ là nhận xét chung chung, không có ý so sánh với các binh chủng đàn anh. Bởi vì các trận đánh lớn binh chủng Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Ðộng Quân, v.v… xứng đáng bậc đàn anh vang lừng trong quân sử còn NQ/ÐPQ chỉ sở trường những trận nhỏ không tên mà thôi.


– Trong trận chiến sau cùng tại Chi Khu Long Thành ngày 24 tháng 4 năm 1975, tôi đã mục kích những người lính Nghĩa Quân Long Thành, bắn cháy 4, 5 chiếc T-54 qua những màn xáp lá cà còn hay hơn phim ảnh Mỹ!!! Ai có dịp đi ngang quốc lộ 15 đoạn Quận lỵ Long Thành sau ngày 30 tháng 4, 1975 chắc đã thấy 5, 7 xác T-54 của VC cháy còng queo trước quận lỵ Long Thành, đó là chiến công của Nghĩa Quân Long Thành đánh tăng T-54 bằng M.72 và M.79 chống tăng rất giỏi. Trung Tá Sáu, quận trưởng kiêm chi khu trưởng, đã đánh một trận khiến cho Cộng Quân nhớ đời.


Trung Tá Sáu trong trận đánh đã đi từng vị trí của NQ để động viên binh sĩ, đồng thời ông cầm nón sắt đi xin các binh sĩ nào còn lựu đạn để đích thân ông đem ra cổng chánh cho binh sĩ ném vào các chiến xa địch đang tràn vào. Một chiếc T54 bị đứt xích 1 bên vì trúng M72 quay vòng vòng trước cổng Chi Khu sau đó đã bị 1 chiến sĩ NQ phóng lên thảy 1 trái lựu đạn vào buồng lái kết thúc cuộc đời của “con cua” gãy càng nầy. Hành động can đảm nầy của anh NQ đã trả giá bằng chính bàn tay của anh, vì thế Trung Tá Sáu đã xin trực thăng tản thương anh chiến sĩ can trường nầy trong khi 2 bên còn đang đánh nhau dữ dội! Sau nầy nghe kể lại còn có 1 trung đội NQ đồn trú trên Quốc lộ 15 gần quận lỵ Long Thành, hết ngày 2 tháng 5 trung đội NQ nầy vẫn kiên trì chống CS tới viên đạn cuối cùng, vừa bắn nhau vừa kéo chuông nhà thờ kêu gọi quyết tử!!!


 


Tổng kết:


 


ÐPQ/NQ là lực lượng “sinh sau đẻ muộn” của QLVNCH, có nhiều sở trường cũng như nhiều sở đoản, nhiệm vụ được giao thì nặng nề, nhưng trang bị, yểm trợ lại yếu kém do đó có nơi thì hoàn thành xuất sắc, có nơi thì chỉ trung bình. Tuy nhiên qua những điều vừa phân tích có nhiều bất công đối với họ, kể cả những bất công chung của QLVNCH bị nhóm truyền thông bất lương bôi bẩn có mục đích thương mại và chính trị, bị đồng minh xem thường và phản bội, vậy phải trả lại “Công Ðạo” cho họ. Họ là những anh hùng vô danh, không có ai cậy nhờ để phục hồi danh dự, nhưng họ cũng không xin xỏ và luôn ngẩng cao đầu mà đi vì xét cho cùng họ đã đóng góp xương máu của mình nhiều nhất cho Quốc Gia và Dân Tộc.


Vì tôi chỉ quanh quẩn trong vùng III Chiến Thuật nên chỉ mục kích những sự việc trong khu vực, nhưng chắc chắn còn nhiều, nhiều lắm những tấm gương can đảm, những trận đánh để đời của binh chủng khiêm nhường nầy. Người viết được biết trong các Vùng Chiến Thuật, các tiểu khu, các chi khu còn rất nhiều đơn vị ÐPQ/NQ xuất sắc nhưng chưa được ai biết đến. Kính mong quý chiến hữu viết nhiều bài về các đơn vị ÐPQ/NQ anh hùng để mai sau lịch sử còn biết đến các đơn vị vô danh đã góp nhiều máu xương trong công cuộc bảo vệ miền Nam Việt Nam trong suốt 20 năm trường chiến đấu gian khổ.


Trong thời điểm từ 1972 đến 1975, sự sai lầm về chiến lược trong việc sử dụng các sư đoàn Bộ Binh và các sư đoàn Tổng Trừ Bị vào nhiệm vụ bảo vệ lãnh thổ, thay vì sử dụng lực lượng ÐPQ/NQ là nỗ lực chánh trong phòng thủ diện địa để các sư đoàn Bộ Binh và các lực lượng tổng trừ bị Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến rảnh tay hoàn toàn lưu động 100% để tiếp ứng chiến trường bất cứ nơi nào cần. Khốn thay cuối năm 1974 và đầu năm 1975 chúng ta đã không còn lực lượng tổng trừ bị nào cả khi cộng sản dốc toàn lực tấn công!


Nhưng trận chiến 1975 chưa phải là trận chiến sau cùng. Những người chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa và toàn dân Việt Nam kiêu hùng sẽ dành lại quyền tự quyết, lật đổ bạo quyền để xây dựng lại quê hương và bảo vệ biên cương trước mưu đồ xâm lược của kẻ thù truyền kiếp từ Phương Bắc và thái độ hèn hạ dâng đất, dâng biển cho Tàu Cộng của bè lũ Cộng Sản Việt Gian.

Giới trẻ Nam California tổ chức ‘Ðêm Nhân Quyền Cho Việt Nam’


WESTMINSTER (NV) –
Nhân Ngày Quốc Tế Nhân Quyền lần thứ 64, các đoàn thể trẻ tại miền Nam California sẽ cùng nhau tổ chức “Ðêm Nhân Quyền Cho Việt Nam” để góp tiếng nói cùng các nhà đấu tranh trong nước đòi hỏi nhà cầm quyền CSVN phải tôn trọng và chấm dứt đàn áp quyền làm người của người dân Việt Nam, thông báo của ban tổ chức cho biết.


Theo thông báo, mục đích của đêm nhân quyền là nhằm:


-Ðánh dấu 64 năm ngày Liên Hiệp Quốc thông qua Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền Quốc Tế vào ngày 10 Tháng Mười Hai, 1948.


-Kêu gọi sự quan tâm của cộng đồng và quốc tế về tình hình vi phạm nhân quyền tại Việt Nam.


-Trau dồi kiến thức và kỹ năng đến với giới trẻ về các vấn đề nhân quyền tại Việt Nam.


“Ðêm Nhân Quyền Cho Việt Nam” sẽ được tổ chức như sau:


Thời gian: 6PM-9PM, Thứ Năm, 6 Tháng Mười Hai


Ðịa điểm: Thánh Thất Cao Ðài-Châu Ðạo California, 14072 Chestnut St., Westminster, CA 92683


Chương trình gồm các tiết mục như trích đọc Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền Quốc Tế, trình bày tình trạng vi phạm nhân quyền tại Việt Nam qua các bản án bất công gần đây đối với các tiếng nói đối lập trong nước như các blogger Tạ Phong Tần, Ðiếu Cầy, Phan Thanh Hải, các nhạc sĩ Việt Khang, Trần Vũ Anh Bình, các bạn trẻ như 19 thanh niên Công Giáo, v.v…, văn nghệ đấu tranh, và thắp nến cầu nguyện cho nhân quyền.


Ban Tổ Chức “Ðêm Nhân Quyền Cho Việt Nam” gồm có Ðại Ðạo Thanh Niên Cao Ðài, Ðoàn Thanh Niên Phan Bội Châu, Ðoàn Thanh Niên Phật Giáo Hòa Hảo, Ðoàn Thanh Thiếu Niên Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam, Gia Ðình Phật Tử Miền Quảng Ðức-Tây Nam Hoa Kỳ, Liên Hội Học Sinh Trung Học Việt Nam (VAHSA), Thanh Niên Tin Lành Lutheran, Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam Miền Nam Cali, Văn Phòng Giới Trẻ Công Giáo-Giáo Phận Orange, và VietACT.


Các đoàn thể trẻ kính mong được sự tham dự đông đảo của quý đồng hương để khích lệ tinh thần cho giới trẻ và cùng nói lên tiếng nói đoàn kết tranh đấu của cộng đồng, thông cáo cho biết.


Mọi chi tiết, thắc mắc, góp ý hoặc hỗ trợ, xin liên lạc Lý Vĩnh Phong tại số (714) 725-8389 hoặc email [email protected].

Cấm bí thư thành ủy sang sông, giám đốc giao thông bị kỷ luật


HẢI PHÒNG (NV) –
Viện cớ cơn bão Sơn Tinh đang đánh vào, nhân viên bến phà Bính ở thành phố Hải Phòng đã nói “không” khi đoàn cán bộ của thành phố này yêu cầu đưa họ sang sông, cùng với ông bí thư thành ủy. Sự việc xảy ra chiều ngày 28 tháng 10.










Dân thường được lên phà, qua sông, trừ… ông bí thư thành phố Hải Phòng. (Hình: báo Tiền Phong)


Cũng vì lý do này, chiều ngày 12 tháng 11, lãnh đạo thành phố Hải Phòng cho biết sẽ kỷ luật hai ông giám đốc và phó giám đốc Sở Giao Thông-Vận Tải thành phố Hải Phòng vì “không thực hiện tốt kế hoạch phòng, chống bão Sơn Tinh.”


Báo Người Lao Ðộng cho biết, đoàn xe chở ông bí thư thành ủy Hải Phòng đến huyện Thủy Nguyên để xem xét tình hình đối phó với cơn bão Sơn Tinh hôm 28 tháng 10. Trên đường về vào buổi chiều cùng ngày, đoàn xe dừng lại bến phà, định sang sông nhưng nhân viên phà Bính không chịu cho họ xuống phà, nại lý do “nguy hiểm.”


Trong khi đó, phà vẫn chạy và chỉ chịu chở các loại xe khác qua phà để thu tiền cước. Cuối cùng, ông bí thư đành ngồi lên xe taxi để lên phà, qua sông và móc túi trả tiền phà.


Còn theo báo Tuổi Trẻ, một ông cán bộ lãnh đạo của thành phố Hải Phòng đã dùng điện thoại di động nhưng không liên lạc được với ông Giám Ðốc Sở Giao Thông-Vận Tải Ðàm Xuân Lũy tại bến phà. Lý do này được ông giám đốc sau đó giải thích rằng điện thoại… hết pin. Dù vậy, chính quyền Hải Phòng cho hay “đang xem xét kỷ luật ông Ðàm Xuân Lũy vì thiếu sót trong việc điều hành khi bão Sơn Tinh đổ bộ.”


Vụ này làm người ta nhớ lại sự kiện trước đó đã có hai ca sĩ Trọng Tấn và Anh Thơ tự ý bỏ về nước, mà không chịu hát trong chương trình trình diễn nghệ thuật đêm 18 tháng 7, 2012 tại Vientiane, thủ đô Lào. Ðêm văn nghệ này được gọi là “chào mừng năm đoàn kết hữu nghị Việt-Lào,” có sự tham dự của các nhà lãnh đạo cao cấp Lào và Việt Nam.


Hai ca sĩ này sau đó đã bị Cục Nghệ Thuật Việt Nam cấm trình diễn một thời gian. (PL)

Giải cứu 10 trẻ sơ sinh bị bán sang Trung Quốc


VIỆT NAM (NV) –
Một đường dây mua bán trẻ sơ sinh Việt Nam gồm 43 người vừa bị khám phá tại vùng biên giới Việt-Trung mới đây. Trong số này có 10 người Việt Nam đã bị bắt.










Trẻ sơ sinh Việt bị bán sang Trung Quốc vừa được giải cứu. (Hình: báo Tuổi Trẻ)


Công an Trung Quốc mới đây cho hay đã giải cứu được 10 trẻ sơ sinh Việt Nam từ 10 ngày tuổi cho đến 7 tháng tuổi vừa được người lớn trong đường dây này đưa sang bên kia biên giới.


Báo Tuổi Trẻ cho biết, người cầm đầu đường dây mua bán trẻ sơ sinh Việt Nam đã chiêu mộ và đưa người – gồm Việt Nam lẫn Trung Quốc, đến các tỉnh miền Nam Việt Nam săn tìm mua trẻ sơ sinh. Sau đó, họ đưa trẻ từ quê nhà đến thị xã Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh, dùng thuyền vượt sông Ka Long sang bên kia Trung Quốc.


Cho đến nay, người ta chưa kết luận được đường dây này hoạt động từ lúc nào và đã đưa bao nhiêu trẻ sơ sinh Việt sang Trung Quốc để bán.


Khi bị phát giác, có 10 người Việt Nam bị công an Trung Quốc bắt, cùng với 10 trẻ sơ sinh Việt Nam. Có điều lạ là số trẻ này chỉ gồm toàn bé trai. Trong số này, nhỏ nhất mới lọt lòng mẹ được 10 ngày, và lớn nhất mới được 7 tháng tuổi.


Tất cả đều đang được tạm giữ tại một trung tâm ở Phòng Thành, Trung Quốc.


Báo Tuổi Trẻ cũng cho hay, phía Việt Nam đến nay chỉ mới tìm lại được gia đình của hai bé sơ sinh.


Phía Trung Quốc cho biết sẽ giao số trẻ mà họ vừa mới giải cứu cho công an Việt Nam tạm giữ để lần lượt trả về với gia đình. (PL)

World Bank chê công nhân Việt Nam ‘tay nghề yếu’


VIỆT NAM (NV) –
Một phúc trình của World Bank-Ngân Hàng Thế Giới vừa được công bố nói rằng trình độ công nhân Việt Nam hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu của nền sản xuất kỹ nghệ tân tiến.









Công nhân lao động phổ thông, thiếu khéo léo trong quan hệ ứng xử sẽ khó tìm việc làm trong tương lai. (Hình: VNExpress)


Phúc trình này dựa vào kết quả khảo sát 350 công ty lớn nhỏ đang hoạt động tại Sài Gòn, Hà Nội và các tỉnh phụ cận do Ngân Hàng Thế Giới và Viện Nghiên Cứu Quản Lý Trung Ương thực hiện mới đây.


Theo VNExpress, phần lớn các công ty được khảo sát đều nói “không hài lòng về trình độ chuyên môn, kiến thức” cũng như năng lực giải quyết những vấn đề phát sinh trong việc điều hành, trong việc giao tiếp, ứng xử… của nhân viên và công nhân trực thuộc.


Phúc trình này cho rằng giới nhân viên văn phòng Việt Nam hiện nay thiếu kinh nghiệm giao tiếp, lãnh đạo và năng lực giải quyết các vấn đề liên quan đến phần hành của mình.


Còn các công nhân, kỹ thuật viên thì bị chê thiếu tinh thần làm việc nhóm và kém trong việc giải quyết các vấn đề phát sinh.


Một số đại diện các công ty cũng nói thẳng rằng họ không hài lòng với cách làm việc của phần lớn kỹ sư và kỹ thuật viên tốt nghiệp các trường đại học ở Việt Nam. Theo họ, kỹ sư Việt Nam, đặc biệt là những người đang làm việc tại các công ty xuất nhập cảng, thiếu sự suy nghĩ độc lập, sáng tạo.


Trong khi đó, ông Christian Bodewig, chuyên viên “phát triển con người” của Ngân Hàng Thế Giới tại Việt Nam đổ trách nhiệm cho ngành giáo dục bậc tiểu học và trung học, không riêng bậc đại học. Ông này cho rằng Việt Nam “không nên chỉ lo dạy nghề và truyền bá kiến thức chuyên môn ở bậc đại học.” Bởi vì, theo ông, “tư duy phản biện và kinh nghiệm làm việc nhóm” thường phát triển ở cá nhân khi còn ngồi ở ghế tiểu học và trung học. Ông này cho rằng các trường đại học và trường dạy nghề chỉ cung cấp kiến thức chuyên môn để một người biết cách thực hiện công việc của riêng mình.


Các chuyên viên Ngân Hàng Thế Giới còn khuyến cáo Việt Nam cần thay đổi nền giáo dục hiện nay.


Ông Christian Bodewig nói thêm: “Nghệ thuật giao tiếp, sự khéo léo trong hành vi ứng xử và tư duy phản biện không bao giờ lỗi thời trong mọi thời đại.”


Cũng theo ông, lâu nay Việt Nam ỷ lại “giá công lao động rẻ,” bất chấp việc nâng cao tay nghề chuyên môn. Nhưng nay, theo ông, “ưu thế” lao động giá rẻ đã mất chỗ đứng trên thị trường thế giới. Nói khác đi, nền kỹ nghệ thế giới hiện nay chỉ cần công nhân, kỹ sư có phẩm chất và giỏi tay nghề. (PL)

Du khách Nhật đột tử trong khách sạn


SÀI GÒN (NV) –
Khoảng 5 giờ chiều ngày 13 tháng 11, người ta khám phá thi thể một du khách ngoại quốc nằm chết trong phòng một khách sạn ở quận 7. Giấy tờ tùy thân để lại cho biết nạn nhân tên là Coba Yashi 60 tuổi, quốc tịch Nhật Bản.










Khách sạn nơi du khách Nhật vào cùng với một cô gái để rồi sau đó qua đời đột ngột. (Hình: báo Thanh Niên)


Theo báo Thanh Niên, du khách Nhật Bản này đang trú ngụ tại khách sạn Henry, tọa lạc tại phường Tân Phong, quận 7. Cuộc điều tra sơ khởi nói rằng ông Coba Yashi thường xuyên lui tới Việt Nam suốt 10 năm nay để lo việc xuất, nhập cảng hàng thủ công mỹ nghệ.


Một số nhân chứng thì kể đã thấy ông Coba Yashi đến thuê phòng khách sạn nói trên vào buổi trưa ngày 13 tháng 11. Cùng vào khách sạn với ông còn có một cô gái trẻ người Việt Nam. Khoảng một tiếng đồng hồ sau, người ta thấy cô gái từ lầu 1 đi xuống, ra ngoài. Cho đến chiều, không thấy ông Coba Yashi xuống quầy tiếp tân trả phòng, nhân viên khách sạn lên gọi cửa. Không nghe tiếng ông trả lời, một số nhân viên phục vụ đập cửa vào thì trông thấy ông du khách Nhật nằm chết cứng.


Chiều ngày 2 tháng 8 trước đó, một du khách ngoại quốc cũng đã được tìm thấy nằm chết trên nền gạch một căn nhà ở quận Gò Vấp, Sài Gòn. Bên cạnh ông này còn có một máy trợ tim, nên người ta nghi nạn nhân bị đột quỵ thình lình vì bệnh.


Trước đó nữa, ngày 5 tháng 4, 2012, thi thể một du khách Úc cũng đã được tìm thấy bởi mùi hôi thối bốc lên từ một phòng ở cao ốc Norfolk Mansion tọa lạc tại quận 1, Sài Gòn. Các nhân viên tòa cao ốc cho biết du khách này đã đến thuê phòng để ở từ nhiều ngày trước. Vì không ai để ý, người này chết bất đắc kỳ tử mà chẳng ai hay. Khi nghe mùi hôi thối bốc ra nồng nặc, nhân viên khách sạn mới phá cửa vào trong thì nạn nhân đã chết từ lúc nào không hay. Giấy tờ để lại cho biết nạn nhân tên Kershaw Catherine 65 tuổi, quốc tịch Úc. (PL)

Alexis Zorba con người chịu chơi (Kỳ 103)


Không biết từ đời thuở nào tôi đã vô cùng ái mộ nền văn minh Hy Lạp. Hy Lạp với những đền đài uy nghi tráng lệ song lại rất giản đơn, thanh nhã. Hy Lạp với những thần linh uy mãnh song lại mỹ miều như những con người ngọc và đầy đam mê rất người. Và rồi dưới ảnh hưởng của Nietzsche, tôi biết ái mộ thêm tinh thần sáng lóa, tinh khôi của thiên tài Hy Lạp, biểu lộ một cách bi tráng, lẫm liệt qua những bi kịch gia vĩ đại, những triết gia độc đáo tiền Socrates, Plato. Cuối cùng, Henry Miller với cuốn du ký tuyệt vời “The Clossus of Maroussi” đã đưa tôi vào những vườn olive, vườn chanh thơm ngát bên bờ biển, gặp gỡ những người Hy Lạp đầy sức sống, nồng nàn tình người.


Với tình yêu Hy Lạp đó tôi đã dịch Alexis Zorba vào năm 1969.


Nguyễn Hữu Hiệu


 


Kỳ 103


 


Không, không, không phải là những tiếng thở dài hoan lạc mà nó đã rất quen, mà mụ thường thốt ra trong lúc làm ái tình, cũng không phải là tiếng gù gù dịu dàng của con bồ câu mái, cũng không phải là tiếng cười khêu gợi.


Mồ hôi lạnh nhỏ giọt đầm đìa trên khuôn mặt bà chủ nó, tóc như xơ gai, không gội, không chải, bết vào thái dương, những sự quằn quại trên giường, đó là những cái con két lần đầu tiên nhìn thấy và nó yên lặng. Nó muốn kêu to: “Canavaro! Canavaro!” Nhưng tiếng nói không thoát ra khỏi cổ họng.


Bà chủ đáng thương của nó rên rỉ, cánh tay tàn úa, bệu bạo đưa tấm khăn trải giường lên và để nó rơi xuống; mụ ngộp thở. Không phấn son, hai má song húp, mụ có mùi mồ hôi chua và thịt bắt đầu ôi. Ðôi giầy ban vẹt gót, méo mó của mụ, thò ra dưới gầm giường và lòng người ta quặn đau khi nhìn thấy chúng. Ðôi giầy ban này khiến người ta xúc động hơn cả chính chủ nó.


Zorba ngồi trên đầu giường, nhìn đôi giầy và mắt hắn không thể dời đi chỗ khác được. Hắn bặm môi để nước mắt khỏi trào ra. Tôi đi vào, ngồi sau lưng hắn, nhưng hắn không nghe thấy tôi.


Mụ đàn bà đáng thương thở một cách khó khăn. Zorba gỡ một cái mũ trang hoàng bằng những bông hồng vải để quạt cho mụ. Hắn đưa bàn tay hộ pháp qua lại rất nhanh và vụng về, như thể hắn đang cố gắng quạt cho đống than ướt bắt lửa.


Mụ mở mắt, kinh sợ, nhìn quanh. Tất cả đều tối đen, mụ không nhận ra người nào, kể cả Zorba đang quạt cho mụ bằng cái mũ hoa.


Tất cả đều tối đen và đáng sợ xung quanh mụ; những đám hơi nước xanh từ đất bốc lên và thay đổi hình thể, trở thành những cái miệng chế nhạo, những đôi chân cong như cái móc, những đôi cánh đen.


– Mụ bấm móng tay vào cái gối đã hoen ố vì nước mắt, nước bọt và mồ hôi và mụ hét lên:


– Tôi không muốn chết! Tôi không muốn!


Nhưng hai người khóc mướn trong làng đã nghe phong phanh tình trạng của mụ và vừa đến. Họ lẻn vào phòng và ngồi dưới đất, dựa lưng vào tường.


Con két nhận thấy họ, bằng cặp mắt tròn xoe của nó, nó tức giận, vươn cổ ra và kêu: “Canav…” Nhưng Zorba, phát khùng, đập vào lồng và con chim nín tắp.


Một lần nửa tiếng hét tuyệt vọng lại nổi lên:


– Tôi không muốn chết! Tôi không muốn!


Hai gã thanh niên non choẹt, rám nắng thò đầu vào cửa, chăm chú ngó con bệnh, hài lòng, chúng nháy nhau và biến mất.


Chẳng bao lâu sau, người ta nghe thấy trong sân những tiếng kêu quang quác sợ hãi và tiếng đập cánh; một người nào đó đang đuổi bắt gà.


Mụ đàn bà khóc mướn đầu tiên, mụ Malamatenia, quay sang đồng bạn:


– Dì đã thấy chúng nó chưa? Chúng vội vàng quá, những quân chết đã chết khát; chúng đang vặn cổ gà và nhai rau ráu. Cả tụi vô lại trong làng đã tụ tập, trong sân, chẳng bao lâu nữa chúng nó sẽ nhào vô vơ vét hết!


Ðoạn, quay về phía giường người đang hấp hối, mụ sốt ruột lẩm bẩm:


– Chết đi, bạn già! Lẹ lên, lẹ lên để chúng tôi cũng có cơ hội nhặt nhạnh một cái gì.


Dì Lenio chúm cái miệng móm nhỏ xíu, nói:


– Nói thật chứ, mệ Malamatenia, chúng làm vậy là phải… “Nếu mi muốn ăn cái chi, hãy xoáy; nếu mi muốn cái chi, hãy lấy trộm!” Mẹ tôi thường khuyên tôi như vậy. Chúng ta chỉ có việc hát thật mau những bài vãn ca để nhặt nhạnh một nắm gạo, một chút đường, một cái xoong, và rồi chúng ta có thể cầu phước cho vong hồn mụ. Mụ không có cha mẹ, con cái, vậy thì ai sẽ ăn những con gà và con thỏ của mụ? Ai sẽ uống rượu của mụ? Ai sẽ thừa hưởng tất cả những cuộn chỉ, lược và kẹo bánh này? Hê! Tôi xin thú thực với mệ Malamatenia, Chúa tha thứ cho tôi, đời là thế, tôi cũng muốn nhặt nhạnh!


– Chờ chút đã, đừng hấp tấp quá như vậy! Mệ Malamatenia vừa nói vừa nắm cánh tay đồng bạn. Tôi cũng thế, tôi xin thề, tôi cũng có ý nghĩ đó, đây không sợ gì phải giấu qué đâu nhé, nhưng hãy chờ cho đến lúc mụ chết xong xuôi đã.


Trong khi đó mụ đàn bà hấp hối lục lọi điên cuồng dưới gối. Vừa khi cảm thấy nguy hiểm tới, mụ lục rương lấy ra cây thánh giá bằng xương trắng bóng mà mụ hoàn toàn quên mất bao năm nay giữa những chiếc chemise rách và những tấm giẻ nhung, tận dưới đáy hòm, như thể đấng Christ là một phương thuốc người ta chỉ dùng trong trường hợp trọng bệnh và vô tích sự chừng nào người ta còn sống mạnh, ăn, uống, và làm ái tình được.


Cuối cùng mụ mò thấy cây thánh giá, mụ ghì nó vào bộ ngực đầm đìa mồ hôi.


– Giê-su yêu dấu, Giê-su yêu dấu của tôi… mụ vừa thì thầm một cách say đắm vừa ghì lấy người tình cuối cùng của mụ.


Lời nói của mụ, nửa Pháp nửa Hy Lạp, nhưng đầy dịu dàng và đam mê, vô cùng lộn xộn. Con két nghe mụ nói. Nó cảm thấy rằng giọng nói của mụ đã thay đổi, nhớ lại những đêm dài thức trắng trước kia và phấn khởi kêu lên bằng một giọng khàn khàn, tựa một con gà trống kêu gọi mặt trời:


– Canavaro! Canavaro!

Bà Maria Nguyễn Năng Du

Tin Luot

Việt Nam


Theo Bộ Y Tế Việt Nam, cứ 10 phụ nữ đến bệnh viện phá thai thì có 2 người đang ở tuổi vị thành niên.


 


46 hành khách thoát chết sau khi một chiếc xe chở khách đột ngột bốc cháy trên quốc lộ 1A đoạn qua huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên.


 


Hai mươi trẻ em bị bóc lột sức lao động trong một xưởng may ở quận Tân Phú, Sài Gòn, được giải cứu sau 2 năm làm việc tại nơi này.


 


Một dân oan là cụ bà Hà Thị Nhung, 76 tuổi, đã chết trong lúc bị công an đưa đi sau khi giăng khẩu hiệu khiếu kiện về lương hưu ở Hà Nội.


 


Cộng Ðồng/Ðịa Phương


Sau nhiều tháng thảo luận, tối Thứ Ba Hội Ðồng Thành Phố Laguna bỏ phiếu dự luật cấm trẻ dưới 18 hay 21 tuổi uống rượu.


 


Sinh viên đại học Cal State Fullerton từ khóa Mùa Xuân 2013 sẽ phải trả thêm $200 cho mỗi tín chỉ nếu ghi học nhiều hơn 18 tín chỉ.


 


Cơ quan OCTA tại thành phố Fullerton sẽ áp dụng chương trình cho mướn 165 xe đạp công cộng. Muốn sử dụng phải mua thẻ hội viên $6/ngày hay $75/năm.


 


Hoa Kỳ


Các cửa hàng bán lẻ Target loan báo năm nay sẽ bán sớm cho ngày “Black Friday” bằng cách mở cửa từ 9 giờ tối Thứ Năm 22 Tháng Mười Một.


 


Người sáng lập công ty nhu liệu McAfee Inc. bị cảnh sát Belize thẩm vấn về cái chết của một công dân Hoa Kỳ khác, vốn là hàng xóm của ông trên một phố đảo ở vùng biển Caribbean.


 


Thống đốc New Jersey được coi là có câu trả lời hay nhất tuần qua khi phỏng vấn với CNN. Ðược hỏi theo ông vì sao Mitt Romney thất bại, Chis Cristie đáp: “Tại ông ta không thu được đủ phiếu”.


 


Giáo Hội Công Giáo Hoa Kỳ, sau khi bị dư luận chỉ trích nặng nề vì tìm cách gây ảnh hưởng trong cuộc bầu cử vừa qua, tuyên bố cần tự kiểm điểm để cải cách hầu truyền đạt hữu hiệu niềm tin đến tín hữu.


 


Thế Giới


Sáu nước vùng Vịnh ở Trung Ðông công nhận tính hợp pháp của tổ chức gồm các phe nổi dậy chống chế độ Syria.


 


Lãnh tụ các nước Châu Mỹ Latin yêu cầu xét lại chính sách về ma túy, sau khi hai tiểu bang Hoa Kỳ được cử tri bỏ phiếu cho là hợp pháp.


 


Hôm Thứ Hai, lần đầu tiên chiến xa Israel đã bắn và phá hủy một xe quân sự của Syria sau khi xe này bắn đạn súng cối qua lãnh thổ Israel trong vùng đồi Golan.


 


Nhật thực toàn phần nhìn thấy tại Ðông Bắc Australia sáng Thứ Tư 14 tháng 11 kéo dài trong 2 phút. Ở Hoa Kỳ có thể theo dõi trên Internet sau buổi trưa ngày Thứ Ba.

Bà Huỳnh Công Trung

Ðộng đất cường độ 6.8 tại Myanmar

 


 




THABEIKKYIN, MYANMAR – Một bệnh nhân nằm bên cạnh con trên mặt đất của phòng khám bệnh vừa được dựng tạm, sau khi bệnh viện này đã bị phá hủy bởi trận động đất ngày 12 Tháng Mười Một tại thị trấn Thabeikkyin, Miến Ðiện. Tin cho biết khoảng một chục người đã thiệt mạng sau khi trận động đất 6.8 độ richter làm rung chuyển khu vực. (Hình: Kaung Htet/Getty Images)

Frank Fry, nghị viên lâu đời nhất quận Cam

 


Ngọc Lan/Người Việt


 


WESTMINSTER (NV) Thứ Tư, 14 Tháng Mười Một, tang lễ của ông Frank Fry, người giữ chức nghị viên lâu đời nhất địa hạt Orange County, sẽ được tổ chức tại đồi Calvary Chapel Pacific Coast, 6400 Westminster Blvd. Ngay sau đó là lễ tưởng niệm ông theo nghi thức quân đội tại Tượng Ðài Chiến Sĩ Việt-Mỹ ở thành phố Wesmtinster, nơi ghi dấu sự đóng góp lớn lao của ông đối với cộng đồng người Việt tị nạn tại đây.









(Hình: Hội Ðồng Thành Phố Westminster)


Ông Frank Fry qua đời hôm Chủ Nhật, 4 Tháng Mười Một, ở tuổi 87, sau hơn nửa đời người phục vụ trong Hội Ðồng Thành Phố Westminster.


Ðối với cộng đồng người Việt tị nạn tại Little Saigon, sự ra đi của người nghị viên này, không đơn giản chỉ là sự ngừng thở của một con người, mà còn là tiếc nuối về hình ảnh, nhân cách một người đã góp phần làm nên lịch sử cho người Mỹ gốc Việt nơi đây bằng chứng tích của Ðài Tưởng Niệm Chiến Tranh Việt Nam (Vietnam War Memorial) đặt tại công viên Freedom, mà mọi người vẫn thường gọi là Tượng Ðài Chiến Sĩ Việt-Mỹ.


***


Theo tài liệu của nhà quàn Westminster Memorial Park, ông Frank Fry sinh ngày 18 tháng 7 năm 1925 tại miền Ðông Grand Rapids, tiểu bang Michigan.


Lúc sinh thời, ông từng theo học các trường Grand Rapids Junior College, Golden West College, Orange Coast College, University of Michigan và Western Michigan College.


Trong thời gian Chiến Tranh Thế Giới lần thứ 2, từ năm 1943 đến 1946, ông Frank Fry từng là chiến binh, phục vụ trong quân đội thuộc lực lượng trinh sát Calvary.


Ông lập gia đình năm 1952 với bà Marilyn và đến sinh sống tại thành phố Westminster từ năm 1957 đến khi ông qua đời.


Theo tài liệu ghi lại của thành phố Westminster, ông Frank Fry đắc cử chức nghị viên lần đầu vào năm 1966. Ông cũng từng ba lần thắng cử chức vụ thị trưởng vào các năm 1978, 1996 và 1998, và từng nhiều lần được các đồng viện cử làm phó thị trưởng thành phố Westminster.


Ngoài chức vụ nghị viên, ông cũng là thành viên của nhiều ủy ban, hiệp hội và hội đoàn ở Westminster và Orange County.


Bắt nguồn từ những năm tháng phục vụ đất nước thời Chiến Tranh Thế Giới thứ 2, ông Frank Fry có được sự nhìn nhận, đánh giá tuyệt vời về những cựu chiến binh Hoa Kỳ đã chiến đấu và bị người đời lãng quên những gì họ phục vụ cho quê hương, trong đó có những cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hòa.


Khi thành phố Westminster ngày càng phát triển, và trong vai trò một thị trưởng, khi người Việt Nam nơi đây muốn chia sẻ với ông niềm cảm kích của họ đối với sự hy sinh của người lính Mỹ, ông Frank đã hun đúc khát vọng vinh danh cả người lính Mỹ lẫn người lính VNCH đã chiến đấu vì tự do cho đất nước Việt Nam. Ông tin thành phố Wesminster là nơi xứng đáng nhất để xây dựng đài tưởng niệm chiến tranh Việt Nam, và ông đã thực hiện được điều đó.


Dấu ấn Frank Fry để lại trên khắp thành phố này và tên ông có gần như ở mọi công trình công cộng của thành phố. Ông yêu người dân, yêu thành phố mà ông phục vụ. Ngược lại, trong thời gian này, cộng đồng Westminster cũng cho thấy họ yêu thương và kính trọng ông như thế nào.


Ông Frank Fry không tái ứng cử nghị viên Hội Ðồng Thành Phố Westminster nhiệm kỳ này, nhưng lại ứng cử vào Hội Ðồng Quản Trị Ðặc Khu Vệ Sinh Midway City trong cuộc bầu cử ngày 6 Tháng Mười Một vừa qua. Tuy nhiên, ông đã ra đi trước khi kết quả cuộc kiểm phiếu được công bố.


***


“Ông Frank Fry bề ngoài có vẻ là một người bướng bỉnh, nhưng thật ra ông như một chú gấu Teddy, hiền lành, đáng mến.” Thị Trưởng Margie Rice của thành phố Westminster nói về người đồng viện đã khuất của mình.







Cố Nghị Viên Frank Fry (thứ nhì từ trái) trong lễ kỷ niệm biến cố 30 Tháng Tư, 2010 tại Tượng Ðài Chiến Sĩ Việt-Mỹ, Westminster. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)


Bà thị trưởng cho biết bà nhìn thấy ở ông niềm say mê làm việc, phục vụ cho thành phố mà ông gắn bó, “Ông yêu thành phố này, cộng đồng này. Ông làm việc cho thành phố bằng sự say mê. Ông tranh đấu một cách mạnh mẽ cho cộng đồng, là người thúc đẩy việc xây dựng công trình đài tưởng niệm chiến tranh Việt Nam.”


Trong khi đó, nhận xét về người từng là cộng sự với mình trong nhiều năm qua, ông Tạ Ðức Trí, thị trưởng vừa đắc cử của thành phố Westminster, cho rằng “Ðiều tôi học hỏi được từ ông Frank Fry là tính ôn hòa và dễ hòa đồng với người khác.


Bên cạnh đó, ông còn là người rất lạc quan.”


“Ông Frank Fry là người có bản tính ôn hòa, dễ hòa đồng khi làm việc với các đồng viện. Ông là người gánh vác công việc của Tượng Ðài Chiến Sĩ Việt-Mỹ trong nhiều năm. Ông thường tham dự các sinh hoạt trong cộng đồng Việt. Ông là một vị dân cử tốt.” Ông Tạ Ðức Trí nói tiếp.


Theo ông Trí, trong những ngày cuối đời, “Ông Frank rất vui khi thấy có nhiều đồng viện, nhiều người Việt Nam nhớ tới ông, tới thăm ông, nhớ tới những đóng góp của ông cho cư dân, cho thành phố và cho cộng đồng Việt nói riêng.”


“Quá trình đóng góp của ông trong hơn bốn thập kỷ qua sẽ mãi là điều mà cư dân và cộng đồng người Việt ghi nhớ mãi về ông.” Phó Thị Trưởng Trí Tạ khẳng định.


Là người làm việc cùng ông Frank Fry trong quá trình xây dựng Tượng Ðài Chiến Sĩ Việt-Mỹ, ông Nguyễn Văn Giỏi, phó chủ tịch Ủy Ban Tượng Ðài Việt-Mỹ, đánh giá, “Nếu không có ông Frank Fry thì tượng đài chưa chắc đã thành công.”


Ông Giỏi lý giải, “Khi đó ông Frank làm thị trưởng, ông có cách nhìn về người cựu chiến binh trở về sau chiến tranh bằng cặp mắt của lòng biết ơn và sự kính trọng. Trong khi đó, nhiều người phản chiến lại dành cho họ những sự đối xử bất công. Tư tưởng đó của ông gặp được tư tưởng của đồng bào tị nạn Việt Nam trong những năm 1996-1997, họ là những người bỏ nước ra đi, nay muốn tưởng niệm muốn vinh danh những người lính đã xả thân cho đất nước.”


“Là một thị trưởng thành phố, ông vận động bên phía chính quyền cho phép cấp đất xây tượng đài, về phía chúng tôi thì lo vận động sự đóng góp hỗ trợ của đồng hương. Tượng đài khánh thành đáp ứng được nguyện vọng của cả hai phía. Tuy nhiều người đứng về mặt kinh tế phản đối việc duy trì tượng đài, nhưng về ý nghĩa lịch sử, tượng đài có ý nghĩa lớn vô cùng. Ðó phải nói đến công lao của ông Frank.” Ông Giỏi nói thêm.


Với anh Chris Phan, thành viên ủy ban tượng đài, người vừa thắng cử chức nghị viên hội đồng thành phố Garden Grove, thì “Thời gian tôi có với ông Frank Fry rất là quý vì ông là một người Mỹ mà lại lo chu đáo cho cộng đồng của mình, là người có nhiều đóng góp cho cộng đồng trong việc xây dựng nên Tượng Ðài Chiến Sĩ Việt-Mỹ.”


“Tinh thần làm việc, luôn chứng tỏ được vai trò của người lãnh đạo sáng suốt” cũng là điều khiến anh Chris cảm thấy “quý mến ông”.


“Ông qua đời, tôi cảm thấy rất nhớ ông vì tôi quen thấy ông là người lãnh đạo thành phố trong mấy mươi năm. Thành ra khi vắng ông, tức thành phố đã mất đi một người không chỉ chăm lo cho thành phố không mà còn là người lo cho cộng đồng của mình nữa.” Chris Phan bày tỏ.


Nghị viên thành phố Westminster, ông Andy Quách, cũng cảm thấy “Rất tiếc về sự ra đi của ông, dù ông đi rất yên tĩnh khi các thành viên trong gia đình gần như tề tựu đầy đủ bên ông.”


“Riêng về phía thành phố, không có cần Andy Quách xác nhận, không cần Margie Rice hay ai xác nhận cũng đều hiểu rằng ông Frank Fry trong hơn 40 năm qua đã có nhiều đóng góp về thời gian cá nhân cũng như đem về những dự án lớn cho cộng đồng Việt Nam cũng như thành phố Westminster. Bản thân tôi cũng rất là buồn khi thấy một người có nhiều đóng góp như vậy ra đi, dù ông đi rất yên tĩnh.” Ông Andy cho biết.


____


Liên lạc tác giả: [email protected]

BPSOS dạy thi quốc tịch và Anh văn cho đồng hương

Linh Nguyễn/Người Việt


 


WESTMINSTER (NV) Văn phòng BPSOS vừa thông báo sẽ tổ chức các lớp học luyện thi nhập tịch và lớp dạy tiếng Anh cho người Việt trong vùng Little Saigon. Vì lớp học luôn luôn mở nên học viên có thể ghi danh mà không cần phải đợi ngày khai giảng nhất định. BPSOS tọa lạc trong khu thương xá Catinat, địa chỉ 9741 Bolsa Ave., Suite 220, Westminster, CA 92683.







Học viên thực tập phần phỏng vấn thi quốc tịch tại một lớp của BPSOS, Westminster. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)


“Trong tuần, chúng tôi có nhiều lớp và giờ giấc khác nhau để có thể thích hợp cho nhiều hoàn cảnh của đồng hương có nhu cầu phải học luyện thi quốc tịch, hay học thêm ESL, ngoài giờ phải đi làm hay bận các công việc khác,” cô Khánh Doãn, giảng viên hai lớp học này, nói.


Lớp ESL từ 8:30-11:30 sáng Thứ Ba. Lớp quốc tịch từ 8:30-11:30 sáng Thứ Hai và Thứ Thứ Tư.


Cô giải thích: “Lớp quốc tịch từ 8:30-11:30 sáng Thứ Hai, Thứ Tư và chiều Thứ Ba từ 1-3 giờ chiều, chính cá nhân tôi phụ trách. Ngoài ra, cũng từ 1-3 giờ chiều Thứ Ba, chúng tôi có lớp dạy tiếng Anh đặc biệt cho người đi thi quốc tịch do cô Aileen Nguyễn tình nguyện phụ trách. Cô Aileen tốt nghiệp dạy ESL nên rất có kết quả và chuyên nghiệp.”


Ngoài hai cô giáo Khánh Doãn và Aileen Nguyễn, còn có những giảng viên khác, đều là những tình nguyện viên, hy sinh thời giờ để ôn về lịch sử Hoa Kỳ, trả lời các câu hỏi về lý lịch.


“Thầy Diệu Nguyễn rất thành công trong việc hướng dẫn các bước đi của lớp luyện thi quốc tịch. Học viên gồm đủ mọi thành phần nên rất vui, song phải rất kiên nhẫn,” cô Khánh kể.


“Ða số là các học viên lớn tuổi, học rất siêng năng nhưng quên cũng nhiều,” cô Khánh nói “Các bác thường học buổi sáng. Người thì học luyện thi quốc tịch, người thì học ESL hay lớp điện toán.”







(Từ trái) Cô Khánh Doãn, cụ Nguyễn Thị Hồng, 92 tuổi và các học viên trong lớp học ESL. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)


Có những học viên theo học một thời gian rất dài, như bác Nguyễn Thị Mua, 70 tuổi ở Garden Grove.


Cô Khánh cho biết bác Mua đậu quốc tịch hôm 15 Tháng Mười vừa qua.


“Tôi cố gắng học nhưng nhờ cô Khánh kiên nhẫn dạy tôi mới có ngày này. Tôi nhớ, nếu cô Khánh không khuyên tôi học siêng năng trong hai tuần trước ngày thi thì chắc tôi khó mà đậu nổi”, bác Mua cười nói.


Cô Khánh kể lại câu chuyện của người học viên lớn tuổi nhưng rất quyết tâm này: “Tôi nhớ có lần bác nói, có cách nào để tôi bỏ cái giọng Huế nặng của tôi để khi tôi nói tiếng Anh nghe cho giống người Mỹ không? Tôi cười và lắc đầu.”


Bác Mua nói: “Tôi học thi quốc tịch vất vả như đi cày. Trông con, trông cháu nữa! Lắm khi tôi tuyệt vọng. Trong hai tuần cuối, tôi tự nhiên học vô quá chừng. Một ngày vài lần, tôi thấy thảnh thơi, tôi hát xong rồi học tiếp.”


Bác Mua thi lần đầu là đậu quốc tịch ngay khiến mọi người nể phục. Có người phải có giấy chứng nhận có bệnh mới được Sở Di Trú xét để cho đậu. Có người ngay cả tiếng Việt cũng không viết được. Có người gốc Hoa cũng theo học tại đây.


Cô Khánh cho biết hiện nay có 6 học viên theo học lớp ESL. Ðặc biệt có bác Nguyễn Thị Hồng, 92 tuổi, theo học tại văn phòng BPSOS lâu nhất.


“Bác Hồng học siêng lắm và có tinh thần học hỏi không ai bằng. Bác đặt câu hỏi liên tục,” cô Khánh nhận xét.


“Bác Hồng hễ gặp giấy tờ gì của sở xã hội gởi về là bác đem vào lớp. Bác hỏi hết các chữ không biết. Bác nói không biết nghĩa bác tức lắm,” người nữ giảng viên kể về người học viên hiếu học dù tuổi đã trên 90!


Cô Khánh Doãn cho biết cô “tốt nghiệp đại học sư phạm Saigon về giáo dục năm 1976. Du học tại Úc và tốt nghiệp cao học ngành giáo dục năm 2000 và định cư tại Hoa Kỳ từ năm 2006”.


Mọi thắc mắc về các lớp luyện thi quốc tịch và ESL, xin gọi cho BPSOS tại số điện thoại (714) 897-2214. Văn phòng BPSOS là một tổ chức bất vụ lợi nên cũng cần nhiều thiện nguyện viên để giúp phỏng vấn học viên cho các lớp học thi quốc tịch hay máy computer.


Văn phòng BPSOS còn có thể chứng nhận nếu ai cần có giờ tình nguyện phục vụ cộng đồng, xin gọi (714) 248-7434.


–-


Liên lạc tác giả: [email protected]

Giới ‘nhà giàu mới’ ở Hà Nội xài sang nhất nước?

HÀ NỘI (NV) Trong khi cơn “bão giá” nhấn chìm hàng triệu người nghèo Việt Nam vào cảnh khó khăn, sức mua sắm của giới trung lưu, hay còn gọi là ‘nhà giàu mới’ ở Hà Nội vẫn tăng đều.







Một phụ nữ gánh hàng rong ngang qua cửa tiệm thời trang hạng sang Louis Vuitton ở Hà Nội. Cửa hàng này phục vụ cho tầng lớp nhà giàu mới ở Việt Nam. (Hình: Hoang Dinh Nam/Getty Images)


Ông Lê Xuân Nghĩa, thành viên hội đồng tư vấn chính sách tài chính-tiền tệ quốc gia, trong một bài trả lời phỏng vấn báo Pháp Luật Sài Gòn nói rằng, giới trung lưu Hà Nội rất “chịu chi”. Một trong những dẫn chứng về nhận định này là hiện tượng “mau hết hàng” tại các shop sang trọng ở Hà Nội.


Báp Pháp Luật Sài Gòn cho hay, “Mới đây nhãn hiệu thời trang xa xỉ nhất thế giới là Hermès khai trương chi nhánh tại Sài Gòn sau bốn năm mở chi nhánh ở Hà Nội. Trong bối cảnh kinh tế khó khăn, Hermès tại Việt Nam vẫn tăng trưởng đều 20%-30%. Ðiều đó cho thấy đang có một bộ phận người tiêu dùng chi tiền mạnh tay cho hàng hiệu.”


Dư luận từng đồn rằng, một bộ túi xách thời trang gồm bốn chiếc của Hermès có giá 140,000 USD chỉ mới nhập về đã có người mua.


Giải thích về việc hãng Hermès không chọn Sài Gòn trước thay vì Hà Nội? Ông Nghĩa nói rằng, “Thực ra người Hà Nội có một tâm lý tiêu dùng mạnh tay hơn, chơi ngông hơn và người Hà Nội lại giàu có hơn ở Sài Gòn.”


“Người Hà Nội rất nhiều tiền và tầng lớp trung lưu ở đây đang phát triển rất nhanh, họ tiêu dùng rất mạnh tay. Có thể nhìn thấy tất cả xe hơi, xe máy sang trọng đều có mặt ở Hà Nội trước.”


Theo ông Lê Xuân Nghĩa, tầng lớp trung lưu ở Hà Nội đang tăng lên về số lượng với đặc điểm là sẵn sàng dùng đồng tiền có được để “thực hiện giấc mơ xưa”.







Các hãng thời trang thượng lưu như Gucci thường có mặt ở Hà Nội trước khi mở ở Sài Gòn. (Hình: Hoang Dinh Nam/Getty Images)


Ông nói: “Ngày trước họ còn nghèo. Giờ đây có chút tiền, họ không thích để dành mà muốn dùng chút tiền đó tạo nên một phong cách hào nhoáng cho bản thân và gia đình mình. Họ muốn mau chóng trở thành những người thời thượng, đặc biệt là phụ nữ.”


Theo ông, quý bà trung lưu ở Hà Nội hiện nay đua nhau mua sắm các loại hàng hiệu, nổi tiếng bất chấp giá tiền cao vót.


“Họ coi chuyện mua sắm đồ nổi tiếng là mục tiêu không mệt mỏi. Và các hãng thời trang coi đây là đích ngắm của họ. Còn giới thượng lưu giàu có hơn nữa, họ coi những sản phẩm đắt tiền không có gì đặc biệt và không quan tâm nhiều đến nó, họ nghĩ đến việc đầu tư và kinh doanh nhiều hơn.”


Báo Pháp Luật Sài Gòn dẫn lời của ông Lê Xuân Nghĩa nhận định rằng những người “kiếm tiền dễ thì cũng mua sắm vung tay, thoải mái”. Theo ông, đó là tâm lý của tầng lớp mới nổi trong xã hội về mặt kinh tế ở Việt Nam, kể cả Trung Quốc hiện nay.


Ông Nghĩa còn tiết lộ, người Hà Nội kiếm tiền được nhiều nhờ kinh doanh địa ốc. Họ tung tiền “đầu cơ” mạnh vào lĩnh vực đất đai ở Hà Nội, kể cả các vùng mà họ cho rằng “đắc địa” như Ðà Nẵng, Ðà Lạt, Sài Gòn… Ông Nghĩa còn nói, “Ðó là những người có mối quan hệ nhất định với chính quyền và biết cách kiếm ra tiền từ mối quan hệ này.”


Ông Nghĩa nhận định, “Sự chênh lệch giàu nghèo trở nên rất lớn vì cơ hội làm ăn cho người giàu rất nhiều mà người nghèo dường như không có. Và khi xã hội mà tính minh bạch không cao thì khả năng tiếp cận cơ hội sẽ là lợi thế đầu tư làm ăn cho những người giàu có.” (P.L.)

Ðã đến lúc sửa đổi cách bầu cử tổng thống qua cử tri đoàn?

WASHINGTON (NV)Thống đốc Arizona, bà Jan Brewer, cuối tuần vừa qua nói là chúng ta nên dẹp quách đi cái phương cách bầu cử tổng thống theo thể thức cử tri đoàn như từ trước đến nay.







Ðại cử tri đoàn của tiểu bang Colorado bỏ phiếu bầu tổng thống ngày 15 tháng 12 năm 2008. Cử tri ở đây chuyển từ đỏ qua xanh trong cuộc bầu cử cách đây 4 năm, khi ứng cử viên Barack Obama đoạt được 365 phiếu đại cử tri so với 173 của John McCain. (Hình: John Leyba/AP)


Bà Jan Brewer là một thống đốc Cộng Hòa từng nổi tiếng với việc ký ban hành đạo luật gây nhiều tranh cãi, được coi là khắt khe đối với di dân ở tiểu bang Arizona. Theo lời bà: “Thật đáng thất vọng khi nghĩ rằng trong thực tế chỉ có một số ít tiểu bang thu hút tất cả mọi sự chú ý, vì là nơi quyết định ai sẽ được bầu làm tổng thống”.


Ðây không phải là một ý kiến mới mẻ hay ít thấy, nhưng đặc biệt sau cuộc bầu cử vừa qua, nhiều giới trong đảng Cộng Hòa nêu lại vấn đề này. Rất nhiều người không hiểu rõ và không tán thành hệ thống bầu cử mà các nhà lập quốc đã lập ra và đưa vào Hiến pháp Hoa Kỳ, nhằm quân bình quyền của dân chúng toàn quốc với vai trò của các tiểu bang. Theo họ, bầu tổng thống Hoa Kỳ bằng thể thức trực tiếp căn cứ trên số phiếu của cử tri toàn liên bang đơn giản hơn và hợp lý hơn.


Những người bênh vực hệ thống cử tri đoàn cũng có nhiều lập luận vững chắc, trong đó có một lý lẽ thực dụng nhất. Ðó là tránh khỏi phải có một cuộc bầu cử vòng thứ nhì, như hiện nay ở nhiều nước trên thế giới, nếu không thắng với đa số quá bán (50%). Ví dụ năm 1968 Nixon chỉ chiếm 43% phiếu cử tri toàn quốc nhưng được 301 phiếu đại cử tri (cử tri đoàn) và đắc cử; cũng như vậy Bill Clinton năm 1992 đắc cử với 43% phiếu cử tri và 370 phiếu đại cử tri.


Cũng nên chú ý rằng cuộc bầu cử ngày 6 Tháng Mười Một năm 2012 không đi đến một mâu thuẫn giữa phiếu cử tri toàn quốc và phiếu cử tri đoàn. Obama được 62.2 triệu phiếu cử tri toàn quốc (50.6%), Romney 58.8 triệu (47.8%); Obama chiếm 332 đại cử tri (61.7%), Romney 206 (38.2%). Trong khi đó ở cuộc bầu cử năm 2000 Bush được 50.4 triệu phiếu (47.9%), Gore 50.9 triệu phiếu (48.4%), nhưng Bush đắc cử vì chiếm 271 đại cử tri và Gore chỉ có 266 (1 đại cử tri từ chối bỏ phiếu).


Thật ra chọn phương cách nào cũng có cái hay và cái dở của nó. Nhưng cũng nên nhớ rằng sửa đổi Hiến pháp phải qua những thủ tục ở Quốc Hội và không đơn giản để đi đến kết quả. Năm 2006, một liên minh lưỡng đảng gồm những cựu thành viên Quốc Hội đã mở chiến dịch vận động ở nhiều tiểu bang, khởi đầu từ Illinois, về một dự luật bầu cử đặt trên nguyên tắc “bảo đảm đa số trong cử tri đoàn cũng là đa số phiếu cử tri toàn quốc”. Dự luật này liệu có đủ sức thuyết phục để Quốc Hội đồng ý tu chính Hiến Pháp hay không là điều chưa thể biết.


Tuy nhiên với đảng Cộng Hòa còn có một nan đề khác. Từ mấy chục năm gần đây, đảng này càng ngày càng thấy có vấn đề đối với cử tri đoàn (electoral college) trong bầu cử, bởi lẽ không thích ứng được với tình trạng đổi thay của dân chúng Hoa Kỳ về dân tộc cũng như văn hóa. Hoa Kỳ là một nước của di dân, theo thời gian tỷ lệ dân gốc Âu Châu dần dần giảm, dân gốc Phi Châu gần như không thay đổi, còn dân gốc Nam-Trung Mỹ và Á Châu tăng lên nhanh.


Qua 6 kỳ bầu cử tổng thống gần đây từ 1992, kể cả năm nay, trung bình các ứng cử viên đảng Dân Chủ chiếm được 327 đại cử tri trong khi ứng cử viên đảng Cộng Hòa chỉ chiếm được 210.


Năm 2004, Bush tái đắc cử nhiệm kỳ 2 với số đại cử tri cao nhất của Cộng Hòa là 286, Kerry thất bại nhưng cũng chiếm 252; Clinton năm 1992 đắc cử với 370 rồi tái đắc cử năm 1996 với 379- Bush (bố) và Bob Dole lần lượt chỉ có 168 và 159; Obama năm 2008 chiếm 365 đại cử tri và 2012 chiếm 332 đại cử tri.


Như thế sự sửa đổi hệ thống bầu cử sẽ là nhu cầu cấp thiết đối với đảng Cộng Hòa nếu như đảng này không có những cải cách thích đáng hợp với tình thế mới của công dân Hoa Kỳ. (H.C.)

Việt Nam tố Trung Quốc ‘bôi nhọ’ tôm xuất cảng

VIỆT NAM (NV)Tin Trung Quốc ra lệnh cấm nhập cảng tôm tươi của Việt Nam đang làm điêu đứng ngư dân lẫn các công ty thương mại.









Con tôm Việt Nam đang bị Trung Quốc tẩy chay. (Hình: Báo Dân Việt)


Mới đây, bộ trưởng Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam đã lập tức đòi “làm sáng tỏ” thực hư xung quanh lệnh cấm này.


Ðối với giới kinh doanh, đây là tín hiệu xấu cho thấy Việt Nam vừa mất một thị trường lớn quen thuộc lâu nay. Còn với ngư dân Việt, tin này bao hàm một âm mưu sâu xa của người Trung Quốc nhằm “cố tình bôi nhọ phẩm chất con tôm Việt Nam trên trường quốc tế”.


Theo báo mạng Dân Việt, đơn vị thương mại Việt Nam đầu tiên lên tiếng về việc Trung Quốc áp dụng lệnh cấm nhập cảng tôm Việt Nam là công ty Tường Hữu, tọa lạc tại quận Tân Phú, Sài Gòn. Ban giám đốc công ty này đã gửi văn thư đến Bộ Công Thương để cầu cứu, cho rằng phía công ty Trung Quốc cố tình “gây khó” khi “cấm cửa con tôm Việt Nam ở thị trường của nước họ”.


Tin này được một cán bộ Bộ Công Thương xác nhận. Ông này nói: “Lúc đầu, chúng tôi tưởng phía Trung Quốc chỉ tạm dừng nhập cảng tôm của công ty Tường Hữu. Tuy nhiên, sau đó thì đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội khẳng định rằng Trung Quốc ra lệnh ngừng nhập cảng tôm Việt Nam, bất kể của công ty nào.”


Tin này, theo báo Ðất Việt, đã làm choáng váng giới xuất cảng con tôm Việt sang thị trường Trung Quốc lâu nay.


Cũng theo tin từ Bộ Công Thương Việt Nam, phía Trung Quốc cho biết ngừng nhập cảng vì tôm Việt Nam chứa virus gây bệnh; thiếu chứng chỉ xác nhận phẩm chất tôm đạt tiêu chuẩn của người Trung Quốc và vì Việt Nam chưa cung cấp danh sách các công ty nuôi, sản xuất, chế biến tôm cho phía Trung Quốc.


Cũng theo Dân Việt, ông Trần Văn Lĩnh, tổng giám đốc công ty Thuận Phước ở Ðà Nẵng cho rằng Trung Quốc quyết định “cấm cửa” nhằm mục đích bôi nhọ phẩm chất con tôm Việt Nam. Ông Lĩnh cũng cho rằng quyết định này của Trung Quốc chắc chắn sẽ gây ảnh hưởng xấu đến vị trí con tôm Việt Nam trên thị trường thế giới.


Theo thống kê của quan thuế Việt Nam, trị giá tôm Việt Nam xuất cảng sang Trung Quốc tính đến cuối tháng 10, 2012 vừa qua lên đến $143 triệu, chiếm 8% kim ngạch của cả ngành xuất cảng con tôm.


Ông Trần Văn Phẩm, tổng giám đốc công ty thủy sản Sóc Trăng trước đây cũng đã tố cáo một số thương nhân Trung Quốc thu mua rồi bơm tạp chất vào trước khi xuất cảng sang quốc gia thứ ba để hạ tuy tín con tôm Việt Nam trên thị trường thế giới.

Dân Việt Nam sợ giá xăng hơn thất nghiệp

VIỆT NAM (NV)Phúc trình của một công ty thăm dò dư luận quốc tế Nielsen mới đây cho biết, Việt Nam là một trong năm quốc gia khu vực Châu Á-Thái Bình Dương có nhiều âu lo trước viễn cảnh u ám của thị trường nhân dụng.







Giá xăng tăng làm dân chúng Việt Nam lo lắng trước viễn ảnh giá cả leo thang. (Hình: VNExpress)


Phúc trình này nói rằng Việt Nam và 4 quốc gia khác gồm Hong Kong, Nam Hàn, Ðài Loan và Nhật Bản không mấy lạc quan về triển vọng việc làm trong thời gian tới. Niềm tin việc làm sụt giảm 18% tính từ đầu năm 2012 cho đến nay.


Tuy vậy, theo báo mạng VNExpress, bi quan về tình trạng thất nghiệp không làm dân chúng Việt Nam lo lắng bằng nỗi ám ảnh của nạn tăng giá xăng. Nhiều cư dân Việt Nam nói rằng chưa bao giờ giá xăng ở Việt Nam tăng liên tiếp tới 5 lần chỉ trong vòng ba tháng qua.


Một công chức Hà Nội xin được giấu tên nói rằng ông thích “tính ổn định” của giá cả thị trường, đặc biệt là các loại nhu yếu phẩm. Theo ông, những người lớn tuổi ở miền Bắc quen với chế độ bao cấp trước đây thường hoảng hốt khi thấy giá xăng nhích lên, dù chỉ tăng chút ít.


Ðặc biệt ở Việt Nam, giá xăng tăng vọt thường dẫn theo sự biến động về giá của nhiều loại hàng hóa, dịch vụ khác khắp các lĩnh vực, từ giao thông cho đến giáo dục…


Một bà nội trợ cư dân quận Hai Bà Trưng, Hà Nội quả quyết rằng mỗi lần xăng tăng giá thì không lâu sau đó giá điện, giá gas, than củi, rồi đến thực phẩm ùn ùn kéo nhau lên… trong khi tiền lương cũng như công lao động của người dân không hề tăng.


Cũng theo công ty thăm dò dư luận Nielsen, chỉ số tin cậy của người tiêu thụ Việt Nam tính đến đầu tháng 11, 2012 đã sụt 8 điểm, còn 87 điểm, thấp nhất kể từ đầu năm cho đến nay. (P.L.)

Học sinh xỉu hàng loạt vì thiếu ăn

SÀI GON (NV) Không chỉ xảy ra tại miền Bắc, mới đây, hàng chục học sinh trường trung học An Nghĩa, huyện Cần Giờ, Sài Gòn đua nhau ngất xỉu tại sân trường khiến mọi người cuống cuồng gọi xe cấp cứu.







Thiếu ăn là căn bệnh trầm kha của học sinh các quận huyện ngoại vi Sài Gòn.
(Hình: Báo Người Lao Ðộng)


Báo Người Lao Ðộng cho biết, tình trạng này xảy ra lẻ tẻ hồi tháng 10 qua và rộ lên thường xuyên từ đầu tháng 11 cho đến nay. Báo dẫn phúc trình của ông Ngô Tấn Hưng, hiệu trưởng trường An Nghĩa nói rằng ngay sau buổi chào cờ sáng ngày 5 tháng 11, có trên 50 nữ sinh của ba cấp lớp 10, 11 và 12 đồng loạt lăn ra xỉu. Chỉ bốn ngày sau, tình trạng này tái diễn với số học sinh bị ngất lên tới 75 em trong cùng một lúc.


Cũng theo báo Người Lao Ðộng, một bác sĩ bệnh viện tâm thần Sài Gòn xác nhận rằng có nhiều học sinh bị ngất “tập thể” là biểu hiện của cơn “rối loạn tâm thần”.


Bác Sĩ Vũ Kim Hoàn, phó phòng phân tích tổng hợp của bệnh viện này cho rằng đó là “hội chứng rối loạn tâm lý dây chuyền vì học sinh bị kích động quá mức”.


Một giáo viên trung học Cần Giờ – bà Trần Thị Tâm, còn cho biết, tất cả các trường trung học ở Cần Giờ đều xảy ra hiện tượng này, chứ không riêng gì trường An Nghĩa.


Bà Trần Thị Tâm nói thêm: “Khi đang sinh hoạt dưới cờ, một em lăn ra xỉu thì tuần tự sau đó, hết em này đến em khác thấy bị ngộp thở, run tay run chân rồi lăn ra xỉu theo.”


Trong khi đó, theo ông Ngô Tấn Hưng, hiệu trưởng trường An Nghĩa, hầu hết các học sinh bị ngất xỉu đồng loạt đều có thể trạng kém. Ông cho biết, các em thường nhịn ăn sáng hoặc chỉ nhấm nháp miếng bánh ngọt qua loa trước khi đến trường. Nhiều em nhịn cả buổi trưa, vì không có gì trong cặp để ăn, và không có cả tiền mua thức ăn của trường bán.


Còn theo Bác Sĩ Nguyễn Thị Nga Hương, trưởng khoa dinh dưỡng Trung Tâm Dinh Dưỡng Sài Gòn, một nửa trong số học sinh bị ngất xỉu vì thiếu Calcium. Bà nói: “Calci đường huyết dễ bị tuột nếu học sinh không chịu ăn sáng dẫn đến trình trạng thiếu dinh dưỡng cần thiết cho bộ não.”


Trong khi đó theo một phúc trình của Trung Tâm Dinh Dưỡng Sài Gòn, có 1/4 học sinh các trường trung học không có thời gian ăn sáng, phần lớn vì bài vở nhiều, thức khuya nên dậy muộn.


Phúc trình này còn cho biết, số học sinh trung học ở Sài Gòn nhịn ăn sáng chiếm 18%; 2.6% không ăn bữa trưa và 2.4% nhịn ăn buổi tối.


Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này thường vì yếu tố tài chính tại các quận huyện ngoại vi Sài Gòn. (P.L.)

Tưởng nhớ Ông Gioan Baotixita Đinh Văn Năng

 


Những ngày cuối đời, khi gia đình chẳng đặng đừng phải đưa ông vào Nursing Home, để ở đấy với phương tiện y khoa đầy đủ có thể giúp được phần nào kéo dài đời sống của ông ở dương thế. Xa ông, không được chính tay chăm sóc, cận kề… người thân cũng đau xót lắm, nhưng không có chọn lựa nào hơn. Vợ và bốn người con trai thương ông đứt ruột gan!




Tuy ở xa nhà nhưng ông không xa vợ con, bởi ngày nào gia đình cũng thay phiên nhau vào với ông, ngồi hằng giờ, khi thay cái áo, khi trải lại tấm drap giường, khi mang cho ông ít thức ăn ưa thích, rồi cùng ăn chung như là những ngày ở nhà. Tuy ở xa nhà nhưng gia đình có chuyện gì cũng lên hỏi ý kiến, bàn thảo với ông. Dù năm nay đã gần 100 tuổi, nhưng ông vẫn là trụ cột của gia đình, bởi dù sức khỏe có giảm đi nhiều lắm nhưng tinh thần, trí óc, ông vẫn minh mẫn, quyết định vẫn luôn sáng suốt. Gia đình vẫn còn rất cần ông. Chuyện nhà chuyện cửa, chuyện ăn ở, cư xử với bà con xóm giềng, những chuyện bất thường của con cái…nhất nhất các con đều muốn có ý kiến của ông. Phần kính phần thương, phần tin rằng quyết định của ông là sáng suốt hơn cả, phần cũng muốn cho cha ấm lòng. Những người con hiếu thảo đối với cha như thế. Có lẽ ông đạt được tuổi thọ, phần lớn cũng do sự yêu mến của vợ con mà thành nên.


Anh Đinh Đắc Đạo, người con trai trưởng cũng là người sống với cha từ năm bước chân đến Mỹ, 1992. Anh cho rằng, thất hiếm có một người cha gương mẫu như ông. Suốt một đời không bao giờ nghe ông nói một tiếng trái tai. Lúc nào cũng ăn nói điềm đạm, cư xử chừng mực, không bao giờ biết đến một lời thô tục dù cho có nóng giận bao nhiêu. Đối với vợ, một lòng chung thủy, thương yêu như những ngày đầu về sống với nhau. Đối với con, không bao giờ có một lời to tiếng. Câu mà ông nhắc nhở con là: “Thà chết chứ không ăn gian nói dối”.


Là con chiên ngoan đạo, ông thờ kính Chúa, làm việc đạo, không bỏ lễ…


Sống tốt lành gần một thế kỷ. Ngày thứ Sáu 12 tháng 10 năm 2012 Ông từ giã cõi đời hưởng đại thọ 96 tuổi. Ông không còn ở thế gian này nữa. Nhưng với lòng quấn quít gia đình, thương con, yêu vợ như thế. Chắc chắn ông vẫn còn quẩn quanh đâu đó, để giúp cho những người thân yêu đang châng lâng, lạc lỏng trong căn nhà nhỏ, nơi ông đã hiện diện như một bóng râm bao tháng ngày.


Trong niềm tin vào Thiên Chúa Giêsu Phục Sinh, nguyện cầu xin Thiên Chúa sớm đưa linh hồn Gioan Baotixita Đinh Văn Năng về hưởng nhan Thánh Chúa. Cầu xin Chúa Thánh Thần tiếp tục ban sự bình an đến cho mỗi người trong tang quyến, trong giai đoạn khó khăn hiện nay.


tp

Theo nghề bắt rắn độc vì nghèo

PHÚ YÊN (NV) Thấy rắn lớn, nhỏ, ai cũng bỏ chạy, không cần biết độc hay không độc, trừ một nhóm người đàn ông cư dân tỉnh Phú Yên. Những người này lùng sục khắp các làng quê hẻo lánh tỉnh nhà tìm bắt rắn.







Người săn rắn lùng sục khắp các hang ổ làng quê ở tỉnh Phú Yên. (Hình: Báo Tiền Phong)


Báo Tiền Phong cho biết, bắt rắn là công việc thoạt đầu giúp chính họ có “mồi” quý cho những bữa tiệc nhậu vui vầy. Lần hồi, thêm nhiều người trong làng, thương buôn thuê mướn, việc bắt rắn trở thành một nghề chuyên môn của họ. Nhóm người theo nghề này mỗi lúc một đông dần.


Báo Tiền Phong cho biết, các thành viên trong nhóm bắt rắn ở huyện Ðồng Xuân, tỉnh Phú Yên chỉ cần sắm một cây gậy nhỏ nối với cọng thép đầu cong hoặc một sợi dây thòng lọng làm bằng ruột thắng xe đạp. Gặp chú rắn bò trên mặt đất, người “săn” rắn chỉ cần nhẹ nhàng đặt dây thòng lọng vào cổ rắn. Còn rắn đang trườn trên cành cây cao thì người săn phải dùng móc hình lưỡi câu khều cho rắn rớt xuống đất rồi mới dùng nạng gỗ dí ở cổ, trước khi “thộp” chặt bỏ vào bao.


Một trong những người đàn ông săn rắn dày dạn ở tỉnh Phú Yên là ông N.V.T. cho biết đã hơn vài trăm lần lùng sục các ngõ ngách, bụi rậm, rừng cây… để lùng bắt rắn. Ðôi khi họ còn lần theo dấu bò của rắn để tìm đến tận hang ổ với hy vọng bắt được thật nhiều rắn. Rắn càng độc, càng có giá. Loại rắn hổ chúa, bán được khoảng 1.5 triệu đồng, tương đương $70 mỗi kg. Còn những loại rắn thường chỉ vào khoảng 150,000 đồng, tương đương $7/kg.


Những người săn rắn thường xuyên cho biết các loại rắn độc như hổ mang, hổ chúa, hổ trâu, mái gầm, cạp nong, cạp nia… ngày càng ít thấy vì đã bị săn, bắt gần hết. Mặc dù cũng có người bỏ mạng vì bị rắn cắn, số người theo nghề nguy hiểm này vẫn không giảm.


Một cư dân khác ở huyện Ðồng Xuân, tỉnh Phú Yên cho biết đa số quyết liệt với nghề vì quá nghèo. Họ cần một công việc để mưu sinh. Có người nghe tin ở đâu có rắn xuất hiện thì nhào tới, bất chấp lành dữ.


Có vài nhóm âm thầm lùng sục vào ban đêm, cày xới tung tóe bờ ruộng nhà dân. Họ thường ra đi từ lúc trời sụp tối, cho đến tờ mờ sáng mới trở về nhà.


Thật ra, bắt rắn để bán ra thị trường, giao cho các nhà hàng, giao cho thương lái xuất cảng sang Trung Quốc là sinh kế của dân làng xã Hợp Thành, tỉnh Nghệ An hơn 20 năm nay. Tại đây có những người có kinh nghiệm bắt rắn hàng chục năm, được gọi là ông “trùm”. Trong số này có ông “trùm” Khoa 50 tuổi sống khá giả nhờ nghề săn rắn về đêm. Nếu không tìm được rắn thì ông “úp” cá bằng nơm hoặc bắt chim bằng vợt.


Theo báo Tiền Phong, ông “trùm” Khoa ở Hợp Thành, Nghệ An nổi tiếng với nghề bắt rắn bán sang Trung Quốc suốt 20 năm nay. Ông kể: “Ðêm nào may thì bắt được vài ba con, được tổng cộng nửa kg trở lên.” Theo ông, “ớn” nhất là nghề bắt rắn hổ mang. Con mồi thường lao thẳng vào hướng ngọn đèn, dựng ngược đầu, phình hai má sẵn sàng tấn công thợ săn.


Ông quen nghề, rọi đèn vào mặt làm rắn bị chói rồi tay mặt cầm kềm kẹp cổ, tay trái bóp cổ rắn, sau đó đổi tay mặt dùng kim may chặt miệng rắn lại. Bằng những động tác giản dị này, ông “trùm” Khoa đã bắt được hàng ngàn con rắn độc đủ loại.


Nghề bắt rắn càng trở thành nghề thông dụng trong dân gian thì giới chuyên viên môi sinh càng lo lắng. Các chuyên viên của Viện Sinh Thái và Tài Nguyên Việt Nam lâu nay đã cảnh cáo về nạn săn bắt rắn sẽ làm gia tăng các loài chuột, sâu bệnh ở các đồng ruột, đe dọa mùa màng nông nghiệp.


Theo bà Hồ Thị Thu, chuyên viên của viện này, Việt Nam có 192 loài rắn, nay không còn được bao nhiêu. Bà này còn quả quyết rằng, không chỉ người săn bắt làm loài rắn bị tiệt chủng, mà nạn phá rừng cũng khiến rắn trở thành “vô gia cư,” bỏ đi lần hồi.


Tuy nhiên, vì nghèo, cần có miếng ăn hơn tất cả, người dân làng ở Nghệ An trước đây lan đến Phú Yên và nhiều địa phương khác hiện nay buộc phải theo nghề săn rắn, bất chấp nguy hiểm đến tính mạng. (P.L.)

Tin mới cập nhật