Chuyện vui, buồn trong gánh mì Quảng Phú Chiêm



Phi Khanh/Người Việt


 


QUẢNG NAM (NV) –Người ta thường nói vui rằng, đến Quảng Nam mà chưa ăn mì Quảng thì xem như chưa từng đến. Còn người Quảng Nam hay “nói dóc” rằng, ăn mì Quảng mà chưa từng ăn mì Phú Chiêm thì đừng kể gì hết.










Mì Quảng Phú Chiêm ngon, rẻ, 10 ngàn đồng 1 tô. (Hình: Phi Khanh/Người Việt)


Không biết khi nói với nhau câu này, cảm nhận về mức độ ngon của người nói với tô mì Phú Chiêm cỡ nào không rõ. Nhưng nhìn vào đời sống cơ cực, lam lũ nhưng thấm đẫm tình người, tình đất của những người bán mì Phú Chiêm, có lẽ câu nói ấy không ngoa!


Thường thì mì Quảng có nhiều loại, cái tên của nó gắn liền với nước nhưn, tên thôn, ví dụ như mì cá lóc, mì gà, mì thịt heo, mì tôm, mì trứng cút, mì thịt bò, mì Phú Chiêm… Nói chung, tùy mỗi vùng miền, điều kiện kinh tế và khẩu vị cũng như thức hàng, gia vị có sẵn để làm nhưn mà tạo ra từng loại mì, từng tên gọi.


Không biết từ bao giờ, người Quảng có thói quen tráng mì mỗi dịp Tết, lễ, cúng làng, đám giỗ, kỵ, chạp mả… Mì Quảng trở thành thức ngon không thể thiếu trong những dịp này, ngoài chức năng là món ăn giúp no bụng, mì Quảng còn là thông điệp về giềng mối tình làng nghĩa xóm, tình quê, lòng hiếu hỉ, thiện chí.


Ðó là những gì cảm nhận được qua tô mì xứ Quảng. Nhưng, khi mà thị trường phì đại, mọi thứ “fast food” được tận dụng tối đa để tiết kiệm thời gian, mì Quảng rơi vào cô đơn, ít ai nghĩ đến trong dịp giỗ, Tết, hiếu hỉ…


Thay vào đó, người ta cũng làm tiệc, nhưng là nấu lẩu, nấu bún giò, nấu cà ri bánh mì… Càng lúc, tô mì Quảng càng vắng bóng trên bàn ăn của người Quảng. Không ngoại trừ chuyện người Quảng chê mì Quảng kém ngon!


Bà Chín Qua, người có thâm niên ba mươi năm nấu mì Quảng, mì Phú Chiêm ở Quảng Nam, chia sẻ: “Bây giờ nghề nấu mì càng lúc càng đi vào ngõ cụt. Vì nó kiếm lãi không nhiều, tiền thuê mặt bằng lại đắt quá, nhiều người mở một quán mì, mấy tháng phải đóng cửa vì thua lỗ.”


“Chỉ có những người nghèo mới tồn tại được bằng nghề bán mì, thậm chí làm giàu lên được nếu biết kinh doanh hoặc gặp may mắn. Chỉ có ngưởi nghèo mới có được gánh mì nước nhưn thơm phưng phức mùi cua đồng, mùi khói rạ, thịt heo, tôm, trứng cút và gia vị xứ nghèo.”


Chúng tôi lấy làm lạ vì thường thì người giàu có luôn đi đôi với tính năng động, mạnh mẽ, tự tin hơn so với người nghèo, nhưng sao lại có chuyện người nghèo thì kinh doanh mì Quảng, mì Phú Chiêm có lãi, mà người giàu lại thất bại?


Bà Chín Qua cười: “Thức ăn nào cũng có hồn vía và số phận của nó, mì Phú Chiêm, mì Quảng gắn với số phận dân nghèo, cái này tui cũng không hiểu vì sao như thế, có lẽ dân nghèo chịu khó, mà quá trình làm nên tô mì, qua nhiều công đoạn vất vả, nếu chỉ một người làm từ ngâm gạo, xay bột, lấy trùng, làm bếp, tráng mì thì tốn công vô cùng, có lẽ do vậy mà người ta bỏ dần, chọn thứ gì dễ làm, nhanh có ăn.”


 


Hồn cốt xứ nghèo…


 


Bà Hai Tuyết, một người bán mì gánh Phú Chiêm khác cho biết thêm: “Chỉ có người nghèo mới chịu thương chịu khó làm ra món ăn ít tốn kém nhưng lại ý vị này, chứ người giàu, phần lớn người ta bỏ món này từ lâu nên e rằng khó mà làm cho được tô mì có hồn. Chính vì thế mà người giàu muốn kinh doanh món này kể ra cũng khó, người nghèo thì chỉn chu, nắm rõ hồn cốt của món này hơn.”


“Hơn nữa, mì Phú Chiêm có cái lợi thế là muốn ngon phải là mì gánh, người bán gánh mì đi khắp nẻo, bán giá rẻ, ngon thì mới được. Chính vì vậy, người giàu thường thuê mặt bằng, kinh doanh mì, bán giá trên trời, không mấy người ăn, người nghèo gánh đi bán, giá chỉ có 10 ngàn đồng một tô hiện nay, vẫn có lãi, lấy công làm lãi!”


Chị Sáu Thu, người bán mì gánh Phú Chiêm từ Ðiện Phương (nơi có làng mì Phú Chiêm, thôn Phú Chiêm, cũng là nơi có nhà thờ Phước Kiều, giáo sĩ Alexandre de Rhodes đã ở để truyền giáo và nghiên cứu, hoàn thiện bản chữ cái tiếng Việt vào năm 1651 tại đây) ra tới Hòa Vang-Ðà Nẵng để bán từ sáng sớm đến chiều tối. Cái tên Sáu Thu trở thành “biểu tượng” của mì Phú Chiêm hiện nay đối với người yêu thích món này.


Chị Sáu Thu kể: “Nghề này vui, thật sự vui nếu như người bán mì yêu nghề. Cứ sáng sớm, không cần biết giờ, tùy mùa, Ðông thì muộn hơn, Hè thì sớm hơn, tui gánh gánh mì lên đường, củi lửa reo lách tách, thi thoảng chó sủa, nghe vui tai lắm.”


“Mỗi ngày kiếm được từ 70 ngàn đồng đến 100 ngàn đồng, ngày nào cũng như ngày nào, kể ra cũng tốt cho những người nghèo như mình, thu nhập cũng tạm ổn định nữa, như vậy là quí lắm rồi, thời buổi khó khăn mà!”


“Thường thì tui gánh đi bộ trung bình mỗi ngày chừng ba chục cây số cả đi lẫn về, đi riết thành quen, chẳng có chi là mệt, thích nhất vẫn là mùa gặt, bà con nông dân gọi mình đến chỗ họ làm, họ ngồi trên rơm rạ, mình làm mì cho họ ăn, nhìn cảm giác ăn ngon lành của những người nghèo giống mình, thấy cảm động lắm!”


“Người giàu cũng có nhiều người hay lắm, họ cũng ăn mì nhìn ngon lành, trả tiền lịch sự và trân trọng mình lắm. Nhưng vẫn thấy thích người nghèo ăn mì của mình hơn. Cái này không lý giải được!”


Trong làng Phú Chiêm, nơi chị Sáu Thu ở, có chừng trên dưới một trăm gánh mì bán khắp nơi từ các huyện ở Quảng Nam đến Quảng Ngãi, Ðà Nẵng. Phần lớn họ có đời sống khó khăn, không nghèo thì cũng cận nghèo. Nhưng có một nét chung dễ nhận biết ở họ là mì của họ có giá 10 ngàn đồng mỗi tô, nhưn mì nước cua, có thịt heo xắt mỏng, tôm, trứng cút trông rất ngon mắt, họ luôn vồn vã, hồn hậu và nói chuyện thật tình.









Người bán mì phú Chiêm thường là người nghèo, chịu thương chịu khó gánh đôi quang đi trong nắng mưa. (Hình: Phi Khanh/Người Việt)


Chị Ba Hiếu, một người bán mì gánh Phú Chiêm khác cho biết: “Nói chung, nghề bán mì bây giờ cũng tạm sống được. Nhưng kể từ ngày nhà nước nhúng tay vào, làm những làng nghề truyền thống, rồi mấy người nhà giàu cũng xông ra làm làng mì Phú Chiêm, bán ở các hội chợ, mì Phú Chiêm mất dần vị gốc, không còn ngon nữa, uy tín mất dần!”


“Chính vì những làng nghề của nhà nước mà người có tâm huyết với nghề đâm ra nản chí và dần dần mất mọi thứ. Ðời sống dân bán mì gánh như chúng tôi càng ngày càng khó khăn, chuyện nuôi con ăn học bắt đầu trở nên nặng nề trên gánh mì. Nhiều người bỏ nghề kiếm sống bằng cách khác để nuôi con ăn học!”


Tâm sự của chị Ba Hiếu cũng là nỗi niềm chung của nhiều người bán mì gánh Phú Chiêm bây giờ. Không biết còn bao lâu nữa, hình ảnh những người mẹ, người chị với gánh mì bốc khói nghi ngút, lửa reo tí tách đi dọc đường quê, tiếng rao dài theo nắng trưa, mưa chiều. Âm thanh rất riêng, một thuở Phú Chiêm!

Ðào kép thành vợ chồng, bầu gánh phải mời luôn một cặp



Ngành Mai


 


Tựa đề bài viết này là thực tế trong làng cải lương thời thập niên 1950-1960 nhưng về sau thì bầu gánh không chấp nhận nữa, thà đi tìm người khác.










Nữ nghệ sĩ Thanh Hương. (Hình: Bộ sưu tập của Ngành Mai)


Sau mấy năm chỉ ca hát ở đài phát thanh, đến khoảng 1955 cặp vợ chồng nghệ sĩ Văn Chung, Thanh Hương, có dịp lên sân khấu ra mắt khán giả, thay vì thời gian qua thiên hạ chỉ nghe tiếng mà không thấy hình dạng người nghệ sĩ ra sao.


Số là năm ấy ba đào kép chánh gánh Thanh Minh là Út Trà Ôn, Kim Chưởng, Thúy Nga cùng lúc rời khỏi đoàn tách ra cùng với Thanh Tao lập gánh Kim Thanh (cả bốn người đều là giám đốc).


Ðào kép cột trụ bỏ đi hết, tạo cho gánh Thanh Minh của bầu Năm Nghĩa một lỗ hổng lớn, tình trạng xuống dốc thấy rõ bởi đêm nào cũng lưa thưa người coi hát, thay vì trước đó luôn đầy rạp.


Năm Nghĩa cũng là nghệ sĩ nổi danh, nhưng lúc ấy căn bệnh đã vương vào người không thể hằng đêm lên sân khấu được. Lâu nay ông từng nghe người trong giới đồn đãi rằng ở đài phát thanh có giọng ca Thanh Hương đang được thính giả khắp nơi mến chuộng. Năm Nghĩa đến hãng dĩa hát ở gần đài để gặp Văn Chung, Thanh Hương mời đôi nghệ sĩ trẻ này về cộng tác. Văn Chung được giao cho vai Vũ Khanh là vai chánh trong tuồng “Người Nô Lệ” thay thế Út Trà Ôn. Thế nhưng Văn Chung làm sao thay thế được đệ nhứt danh ca chứ! Thành thử ra gánh Thanh Minh vẫn tình trạng đi xuống.


Cũng nên biết rằng thời đó khán giả đi coi cải lương mục tiêu là nghe ca vọng cổ, còn tuồng hay dở chỉ là phụ thôi. Với Thanh Hương thì dễ dàng giao vai chánh, vì làn hơi ca Thanh Hương ăn bứt Kim Chưởng, Thúy Nga, nhưng hơi ca của Văn Chung mà so với Út Trà Ôn thì chắc rằng khán giả đâu chấp nhận được.


Khổ nỗi thời đó, khi nghệ sĩ đã thành vợ chồng rồi thì bầu gánh muốn mời về phải mời luôn cả hai, chớ không thể mời một người, chẳng hạn như bầu Sinh thành lập gánh Hương Hoa, ông muốn mời đào Ngọc Nuôi, bắt buộc phải mời luôn Việt Hùng thì bà Ngọc Nuôi mới chịu về cộng tác. Và trong trường hợp Năm Nghĩa cũng vậy, muốn mời Thanh Hương về đoàn Thanh Minh thì phải mời luôn cả Văn Chung.


Một thời gian ở đoàn Thanh Minh thì cặp Văn Chung, Thanh Hương về đoàn Năm Châu, tức đoàn hát của thân phụ Thanh Hương. Lúc gánh Năm Châu rã gánh, cặp này đầu quân gánh Kim Thanh và khi đoàn Kim Thanh rã, đào Kim Chưởng lập gánh mời cặp Văn Chung, Thanh Hương gia nhập và đoàn lấy bảng hiệu Kim Chưởng-Thanh Hương. Tiếp đó thì hai người đi gánh Hữu Tâm của bầu Ba Khuê.


Ở đoàn Hữu Tâm thì Văn Chung không còn đóng vai chánh, bởi trong tuồng “Nắm Cơm Chan Máu” của 2 soạn giả Bạch Diệp-Minh Nguyên, hai vai nam nữ chánh do Thanh Hương và Bửu Tài đóng (Bửu Tài là rể của Bảy Cao, nguyên là kép độc của đoàn Hoa Sen, đã bất mãn ông già vợ thế nào đó mà từ bỏ đoàn, đi theo Ba Khuê sang đoàn Hữu Tâm).


Thanh Hương trong vai nàng Ðỗ Lệ thì quá hay, mà kép Bửu Tài thì không tương xứng. Chợt lúc Hùng Minh vừa chiếm giải Thanh Tâm 1959, bầu Ba Khuê mời về thay thế Bửu Tài trong vai Trần Ai. Hùng Minh vừa đẹp trai vừa có làn hơi ca hay lại mới chiếm giải, nên đóng cặp với Thanh Hương được khán giả khen đáo để, và tuồng “Nắm Cơm Chan Máu” hát cả chục đêm vẫn còn đông khán giả.


Lúc đang hát tuồng này thì Thanh Hương bỏ Văn Chung, sang ngang với Hùng Minh. Vấn đề gây sôi nổi dư luận một dạo. Văn Chung mất vợ rồi không hiểu sao ông trở thành hề, từ biệt luôn vai trò kép mùi.

Một đệ nhất phu nhân

 


Tạp ghi Quỳnh Giao


 


Trung Quốc vừa trải qua một cuộc cách mạng nữa!


Lần trước là cuộc cách mạng “long trời lở đất” của ông Mao Trạch Ðông khiến mấy chục triệu người mất mạng. Nhưng dù có đầy tinh thần cách mạng như vậy, ông ta vẫn sợ cái chữ “xướng ca vô loài” của chế độ phong kiến. Trong chế độ cũ, kẻ xướng ca thì chỉ ở trên mấy người bán phấn buôn hương được có một bậc thôi. Mà “bán phấn buôn hương” cũng chẳng là nghề nghiệp của các bà các cô bán mỹ phẩm như Shiseido hay Christian Dior, hoặc Avon hay Hermes.


Người viết nhớ lại như vậy về Mao Trạch Ðông vì một nàng Giang Thanh. Ông lãnh tụ háo sát và háo sắc này đã lấy một ả đào loại trung bình về tài nghệ. Nhưng ông vẫn sợ thần dân và thiên hạ đàm tiếu nên ra lệnh thủ tiêu mọi tin tức liên quan đến sự nghiệp diễn xuất của bà vợ Giang Thanh.


Các ông cứ ưa bình luận về chính trị mà ít chú ý đến tâm lý phụ nữ.


Phải chăng vì tài nghệ không được công nhận, bà Giang Thanh mới trổ tài khác bên trong hậu trường chính trị? Có lẽ đấy cũng là một lý do khiến Ðệ Nhất Phu Nhân Giang Thanh trở thành nhân vật lịch sử trong cuộc Cách Mạng Văn Hóa! Bà nổi tiếng chả thua gì nhiều đệ nhất phu nhân khác của lịch sử Trung Hoa như Lã hậu hay Võ hậu hay Từ Hy Thái Hậu, và bà kết thúc sự nghiệp chính trị bằng cách tự sát ở trong tù.


Cuộc cách mạng mới của Trung Quốc đã xuất hiện tuần qua mà cũng chẳng thấy mấy ông bình luận gì cả. Ðó là khi một đệ nhất phu nhân mới đã lên ngôi trong xiêm y tráng lệ của một đào hát và với quân hàm của một thiếu tướng!


Ông Tập Cận Bình vừa lên lãnh đạo Trung Quốc là người ít nổi danh trong quần chúng. Ít ra thì không nổi danh bằng bà vợ là nàng Bành Lệ Viện. Nàng là nghệ sĩ khét tiếng trên sân khấu tân nhạc phổ thông của Trung Quốc và chẳng che giấu gì cái nghề xướng ca vô loài của mình. Các lãnh tụ cao cấp của xứ này cũng chẳng thủ tiêu lý lịch hay con người đang trở thành đệ nhất phu nhân Trung Quốc. Ðấy là một cuộc cách mạng văn hóa!


Theo lời chỉ của một ông anh ở nhà đã từng dạy trong đại học Mỹ về văn chương Pháp và Trung Hoa, người ta có hai cách đọc tên của nàng họ Bành, là Lệ Viện nay Lệ Viên. Người viết thì chợt nhớ đến Lệ Xuân Viện trong truyện Vi Tiểu Bảo nên gọi tránh là Lệ Viên, mà nếu có sai thì chẳng ai mang tội cả.


Gốc người Sơn Ðông, Lệ Viên gia nhập quân đội từ tuổi 18, vào năm 1980. Nhưng cô lại có nhan sắc và giọng ca nên thành con họa mi cho loại nghệ thuật tuyên truyền rồi cứ thế mà lên lon trên sân khấu truyền hình. Ngày nay, nàng là một hàm thiếu tướng của quân đội giải phóng, mà nổi tiếng nhất là nhờ tiếng hát và dáng vẻ của một người mẫu trong xã hội tư bản. Nàng nổi tiếng đến độ người dân loan truyền một giai thoại.


Năm năm về trước, khi Tập Cận Bình được thăng quan tiến chức vào hàng ngũ lãnh đạo, người dân đã hỏi nhau rằng đồng chí họ Tập này là ai vậy. Câu trả lời là “Ðấy là phu quân của nàng Lệ Viên!” Nếu có nằm mê, các nữ ca sĩ trong Biệt đoàn Văn nghệ Trung ương của chúng ta vào năm xưa cũng khó mơ tưởng đến một sự nghiệp hiển hách như vậy! Quả là con đường cách mạng của Trung Quốc đã trải qua những ngõ ngách rất lạ.


Tuy nhiên, sau khi ông chồng nên quan thì nàng Lệ Viên này đã kín đáo lui dần khỏi sân khấu và màn ảnh truyền hình. Từ đó, quan bà xuất hiện trong vai trò xã hội, để chăm lo cho muôn dân và bá tánh và năm ngoái còn tích cực hoạt động cho Tổ Chức Y Tế Thế Giới.


Nhưng dù cách mạng đến mấy thì Trung Quốc cũng không cho đệ nhất phu nhân của mình xuất hiện như nàng Jackie Kennedy năm xưa và nàng Lệ Viên cũng chẳng được nổi tiếng như Marilyn Monroe, một trong nhiều người tình của Tổng Thống Kennedy.


Một chi tiết có thể an ủi dân Mỹ là sau 25 năm thành hôn, nàng Lệ Viên có đứa con gái nay đang là sinh viên tại Ðại Học Harvard của Hoa Kỳ. Chi tiết không được cách mạng lắm là cô sinh viên này phải dùng tên giả và có khi được mật vụ Hoa Kỳ kín đáo bảo vệ bằng tiền thuế của người dân Mỹ!

Chelsea sa thải huấn luyện viên Di Matteo

– Rafa Benitez tạm thời thay thế


 


TỔNG HỢP – Thời kỳ dẫn dắt đội bóng câu lạc bộ đại gia giải Premier League Anh quốc của Roberto Di Matteo thật sự chấm dứt vào ngày Thứ Tư vừa qua, ngay sau trận thua tệ hại 0-3 trước đội Juventus trong ngày Thứ Ba trước đó.










Huấn luyện viên đội bóng Chelsea FC trong trận đấu vòng bảng E giải vô địch bóng tròn Châu Âu cấp câu lạc bộ – UEFA Champions League với đội Juventus diễn ra trên sân Juventus Arena, Turin, Italy ngày 20 tháng 11, 2012. Chelsea thua 3-0 và vài giờ sau đó, ông bị sa thải. (Hình: Claudio Villa/Getty Images)


Di Matteo bị sa thải chỉ sau sáu tháng cầm quân đội bóng Chelsea và đội này hiện đang có nguy cơ rất lớn bị loại khỏi giải Champions League 2012-13.


Nhà tỷ phú Nga, Roman Abramovich, chủ nhân của Chelsea, cho Di Matteo “đi chỗ khác chơi” sau khi Chelsea đang trên đà tụt dốc thảm hại nhất là đối với trận thua trước Juventus khiến cho Chelsea có thể trở thành đội đương kim vô địch giải – lần đầu tiên bị loại ngay sau vòng đấu bảng.


Hơn nữa tại mùa giải Premier League năm nay, sau khởi đầu chói sáng với tám trận thắng liên tục, Chelsea gần như bị khựng lại với hai trận hòa, hai trận thua, bị tụt xuống hàng thứ ba trên bảng xếp hạng sau Manchester City và Manchester United.


Trong một thông báo, ban lãnh đạo Chelsea cho biết: “Qua những trận đấu mới đây của đội bóng với kết quả thật sự không tốt đẹp và chủ nhân cũng như ban điều hành cảm thấy cần phải có sự thay đổi ngay bây giờ để giữ cho đội trở lại đúng hướng đi của mình trong thời gian còn lại.”


Và chỉ 10 giờ sau khi cho Di Matteo ra đi, ban lãnh đạo Chelsea công bố chính thức chỉ định huấn luyện viên Rafaf Beniterz tạm thời dẫn dắt đội bóng cho đến hết mùa giải Premier League này trong khi chờ đợi huấn luyện viên nổi tiếng thế giới vừa rời khỏi đội Barcelona trong mùa bóng vừa qua là Pep Guardiola có lên tiếng đồng ý đảm nhận chiếc ghế nóng hổi này hay không.


Pep Guardiola, ngay sau khi rời khỏi Barcelona cho biết ông cần nghỉ ngơi một năm mới quyết định tương lai sự nghiệp của mình.


Tỷ phú Abramovich là một chủ nhân nhiều tham vọng và không kiên nhẫn, luôn luôn đòi hỏi một kết quả tốt, nổi tiếng là ông chủ sa thải huấn luyện viên nhiều nhất trên thế giới. Qua chín năm sở hữu Chelsea, đây là lần thứ chín ông tìm kiếm tân huấn luyện viên mới để thế chỗ của Di Matteo.


Năm rồi, khi Di Matteo còn là phụ tá cho huấn luyện viên Andre Villa-Boas, Chelsea thi đấu tuộc dốc thảm hại nên tỷ phú Abramovich cho Villa Boas về nhà “đuổi gà cho vợ,” và Di Matteo – người Italy sinh trưởng tại Thụy Sĩ, tạm thời đóng thế vai trò này – đưa đội Chelsea trở lại chói sáng với chiếc cúp vô địch FA Cup và lần đầu tiên vô địch Champions League 2011-12 sau khi đá bại Barcelona ở bán kết và Bayern Munich ở chung kết.


Hiện tại Chelsea đang bị tụt dốc. Với giải Premier League, Chelsea, 24 điểm, sau bốn trận không biết thắng, đã tụt xuống xếp thứ ba sau hai đội bóng thành Manchester, kém đội đầu bảng Manchester City 4 điểm và Manchester United 3 điểm.










Tân huấn luyện viên tạm thời của Chelsea, Rafael Benitez tại buổi họp báo diễn ra tại Stamford Bridge, London, ngày 22 tháng 11, 2012. (Hình: Claudio Villa/Getty Images)


Với vòng đấu bảng Champions League, Chelsea cũng chơi bết bát, đứng thứ ba ở bảng E sau đội Shakhtar Donetsk và Juventus với chỉ một trận còn lại. Trận cuối cùng sẽ gặp đội bóng Ðan Mạch FC Nordsjaelland, nhưng Chelsea nếu kiếm được ba điểm cũng sẽ bị loại nếu như Juventus chỉ cần có được một điểm hòa trong trận đấu tại Ukraine.


Trong khi đó, vị tân huấn luyện viên tạm thời người Tây Ban Nha, Rafael Benitez, cho biết mục tiêu trước mắt của ông là phải đưa Chelsea đạt được chiến thắng trong trận đấu sắp tới.


Benitez, 52 tuổi, từng là huấn luyện viên của các đội Valencia, Liverpool và Inter Milan, trở thành huấn luyện viên thứ chín của Chelsea kể từ khi Abramovich sở hữu đội bóng này.


Khi còn dẫn dắt đội Liverpool năm 2005, trong trận chung kết giải Champions League 2005, tại Istanbul, Liverpool đã thực hiện cú lội ngược dòng ngoạn mục sau khi bị AC Milan dẫn trước 3-0 ngay trong hiệp đầu, gỡ hòa 3-3 và thắng lại bằng những quả đá phạt đền luân lưu. Năm 2007, Liverpool cũng vào chung kết giải này, nhưng lại thua Milan, đội đá bại Chelsea ở bán kết. Trong năm này, Liverpool đoạt giải FA Cup.


Lúc trông coi Valencia, Benitez hai lần cùng đội này đoạt chức vô địch Tây Ban Nha và UEFA Cup nhưng ông trở nên thất nghiệp từ lúc đó khi bị đội Inter sa thải trong tháng 10, 2010 – chỉ 6 tháng sau khi ngồi trên ghế huấn luyện viên trưởng đội này. (TD)

Johannesburg và công viên quốc gia Kruger, Nam Phi (kỳ 2)


Trần Nguyên Thắng/ATNT Tours & Travel


 


Hình ảnh sinh hoạt của “gia đình sư tử” này làm tôi nhớ đến một số hình ảnh các gia đình Việt Nam xưa, trong đó có gia đình tôi.










Chàng và nàng tê giác (Rhinocros). (Hình: ATNT Tours & Travel)


Ngày xưa còn bé không bao giờ tôi dám nói chuyện với bố, cũng không bao giờ dám ngồi ăn cơm chung với bố vì “tinh thần gia trưởng” của ông rất mạnh. Sang Mỹ thì tinh thần gia trưởng của bố bị suy tàn, bị cách mạng xã hội Mỹ “vùi dập” nên tinh thần gia trưởng của ông cụ phải thay đổi để “sống bình yên” với gia đình. Nhìn cảnh gia đình sư tử, tôi chợt nghĩ các nàng sư tử nếu “di dân” được sang Mỹ thì các nàng cũng sẽ đi ngay. Còn chàng sư tử kia chắc chắn chàng vẫn yêu cái xứ safari này, chàng yêu cái không gian yên tĩnh không bị phiền hà, chàng ích kỷ muốn làm gì thì làm và nhất là đâu muốn mất đi cái “tinh thần gia trưởng.”










Loại beo đốm tròn (Cheetah) chạy nhanh với tốc độ 120km/h. (Hình: ATNT Tours & Travel)


Hoặc giả du khách gặp ngày chàng/nàng beo đốm (Cheetah) đã no nê vì vừa mới làm thịt xong một chú Impala (một loại linh dương Châu Phi) thì căng da bụng chùng da mắt, beo đốm nhà ta tìm nơi nghỉ ngơi, du khách mà gặp đúng lúc này thì quả thật không có duyên để nhìn thấy loại beo này. Loại beo đốm này cũng lạ, tôi có ghé qua một chỗ nuôi và huấn luyện loại beo đốm (Cheetah) này nên mới biết đời sống chàng beo đốm và nàng beo chúng không cần nhau ngoại trừ chuyện sinh con đẻ cái. Vì thế họ chia beo đực beo cái ở các khu khác nhau. Chúng không có nhu cầu “nói chuyện” với nhau và nếu có gặp nhau thì cơ hội “choảng” nhau xảy ra bất cứ lúc nào, chàng và nàng chẳng ai chịu ai; nên người ta bắt buộc phải chia chúng riêng ra. Nghe chuyện hoang dã mà sao cứ tưởng như quanh quẩn đâu đây gần mình, đời sống con người cũng có những hình ảnh và âm thanh quen quen như thế.










African Buffalo sống theo bầy, có thể nặng đến 800kg. (Hình: ATNT Tours & Travel)


Cần phân biệt hai loại beo, một loại là Cheetah (beo đốm tròn, có vết đen dài từ trên mắt), một loại là Leopard (beo có đốm gần như hình vuông). Nhưng Cheetah là một loại beo chạy rất nhanh, chúng có thể tăng tốc độ chỉ trong 4 giây đồng hồ lên đến 115km/h, còn nhanh hơn cả xe Porches. Các con thú khác gặp Cheetah vào lúc nó đói là kể như xong đời, nhìn hình ảnh nó chạy vồ mồi mới thấy tạo hóa sinh cho Cheetah một cơ thể đặc biệt mà không một loài thú nào có được. Tôi bắt gặp một nàng beo Cheetah đang dùng bữa ăn trưa chú Impala, tôi chụp rất nhiều hình, nhưng tôi chỉ dám đưa hình ảnh thoáng qua về bữa ăn chiều của Cheetah lên mặt báo. Nhìn lại những hình ảnh đã thu vào trong ống kính tôi cũng cảm thấy sờ sợ, không dám để mắt mình quá lâu vào những tấm hình đó. Còn Leopard là loại beo thích nằm thu mình trên các cành cây, cũng là loại không hiền lành gì khi chúng đói. Nhưng lần này tôi không có duyên gặp beo Leopard.


Nếu sư tử đực cho tôi sự ngưỡng mộ về cái nét oai phong của nó thì ngược lại tôi lại ngưỡng mộ tài lãnh đạo của con voi-cái trong đàn voi. Voi cũng như nhiều loại thú khác (Buffalo, Impala..) thường hay đi thành đàn, voi-cái-lớn luôn đi dẫn đầu và chăm lo, ra lệnh cho cả đàn. Ðó là điểm đặc biệt mà du khách có thể nhận ra ngay trong sinh hoạt của đàn voi. Còn voi đực thường đi sau cùng để bảo vệ cho các con voi nhỏ. Tôi gặp một đàn voi có đến hơn hai mươi con đi đứng rất thứ tự, hình ảnh con voi đực đứng quay ngang chận đường không cho bất cứ loài thú nào đến gần đàn của nó tạo một cho tôi ấn tượng không quên trong trí nhớ. Loài vật vẫn có một tình cảm riêng biệt của chúng lo lắng bảo vệ cho nhau. Nhìn những cây cao trong rừng bị gẫy đổ, người hướng dẫn cho biết đó là tác phẩm của các con voi lớn, chúng đã quật đổ hay bẻ gẫy các cành cây xuống để các con voi nhỏ có thể đưa vòi đến ăn được. Một điểm chú ý, voi Phi Châu khác hẳn các loài voi ở nơi khác nhờ vào cái vành tai quá lớn của nó. Tai voi trở thành cái quạt giúp nó quạt làm giảm nhiệt độ trong cơ thể nó vì bầu không khí quá nóng của Phi Châu. Mùa Hè nóng nên thường thường đàn voi rủ nhau ra các ao đầm tắm, nhờ thế người ta biết nơi chốn chúng sinh hoạt và dễ dàng bắt gặp chúng hơn các loài thú khác.









Hươu cao cổ (Giraffe). (Hình: ATNT Tours & Travel)


Tê giác (Rhinoceros) và African Buffalos là hai loại thú khác được xếp vào “big 5” của Phi Châu và hai loại này đều có thể thấy ở Kruger National Park (South Africa). Trong hành trình safari buổi chiều, trời đã nhá nhem tối, tôi bắt gặp chàng và nàng tê-giác đang hạnh phúc ăn cỏ bên nhau, chúng mải ăn mà không thèm biết đến mọi chuyện chung quanh, có lẽ chúng đã quá quen với các xe ranger safari chạy gần đến chúng. Trước đó tôi cũng đã bắt gặp một con tê-giác khác trong rừng, loại black Rhino, nhưng khi thấy tiếng động tê-giác đã bỏ đi. Tê-giác cũng chia làm hai loại: black Rhinocero và white Rhinocero, loại “black” có vẻ hung tợn hơn loại “white.” Tuy trông dáng nó có vẻ to lớn phục phịch nhưng khi chạy chúng cũng có thể đạt đến tốc độ 55km/h. Bạn có tin chắc bạn chạy nhanh hơn nó chăng!


Còn African Buffalo là một chủng loại trâu Phi Châu khá lớn, con lớn có thể nặng đến 800kg. Chúng sống thành bầy và luôn bảo vệ nhau. Các con sư tử lớn khi săn mồi lúc nào cũng nhắm tấn công các con buffalo nhỏ, nhưng nhiều lần chúng không thành công vì các con buffalo lớn sẵn sàng lao vào, họp lại tấn công sư tử để bảo vệ đàn. Tôi nhớ có xem trên web-site của một người bạn gửi, một đoạn video clip nào đó diễn tả lại cảnh các con buffalo lớn tụ nhau lại để đánh đuổi bầy sư tử tấn công các con buffalo nhỏ bé. Ðoạn video này như muốn nói đến sự đoàn kết của người dân Việt để đuổi tan đi những tham vọng của cường quyền, bá quyền chung quanh muốn “ăn thịt” dân Việt nước Việt.










Nyala, một loài linh dương ở Nam Phi. (Hình: ATNT Tours & Travel)


Tôi không chỉ bắt gặp “big 5” của Phi Châu mà tôi còn gặp được nhiều hoang thú khác như hươu cao cổ (Giraffe), ngựa vằn (Zebra), hà mã (Hippopotamus), Warthog, Wild dog, Sable (một loại chồn), Về các loại linh dương thì rất nhiều như Roan, Waterbuck, Kudu, Steenbok, Impala, Nyala, Hyena (linh cẩu). Còn khỉ thì gặp loài Chacma baboon to lớn, phá phách và dữ tợn, mặt giống như mặt chó. Còn loại khỉ nhỏ thì có conVervet monkey. Dĩ nhiên là còn khá nhiều loại thú khác mà chỉ có dịp thấy thoáng qua vì chúng chạy biến khi nghe tiếng động đến gần chúng. Khi đi vào safari tôi đã phải mua một cuốn sách chuyên nói về tên các con hoang thú nên chỉ biết tên tiếng Anh mà chưa biết về tên tiếng Việt, có nhiều loài hoang thú ở Phi Châu mà chúng không có tên trong ngôn ngữ tiếng Việt chúng ta. Ðó là chưa kể đến tên các loại chim trong Kruger National Park. Thú thật, hai ngày ở đây không có đủ thì giờ để tìm hiểu về các loài chim.


Safari không phải chỉ là nơi để bắt gặp các loại sinh vật có đời sống hoang dã, nhưng safari còn là một hình ảnh đời sống trung thực nhất của thiên nhiên. Con người tại đây đã không can thiệp vào đời sống của các loài hoang thú, họ để chúng sống tự nhiên và theo đúng quy luật của rừng xanh. Loài sư tử, beo cần thịt của các con thú yếu để sống còn. Loài thú yếu sinh sản nhanh chóng và hình như tạo hóa sinh chúng ra để làm thực phẩm cho các loài thú dữ. Nhưng đôi khi tôi thắc mắc tự hỏi Con Người trên tinh cầu này mạnh hay yếu, thiện hay ác. Nếu yếu thì làm sao con người có thể giết chết những con thú hoang mạnh gấp trăm lần con người, còn nếu thiện thì làm sao các loại thú vật gần như sắp tuyệt chủng trên trái đất này. Có trách chăng chỉ còn biết trách Tạo hóa tại sao lại “nhẫn tâm” tạo ra đời sống sinh vật như vậy.










Giờ nghỉ mệt trong rừng vào lúc trời tối. (Hình: ATNT Tours & Travel)


Ngồi suy gẫm bên tách trà nóng, ngẫm nghĩ lại đời sống các con thú mạnh được yếu chết. Loài thú nào yếu thì sẽ trở thành các bữa ăn cho các loài thú dữ hơn. Nếu không có các con thú yếu đuối đó thì con thú dữ cũng sẽ dần chết đói và tuyệt chủng. Loài thú chắc có lẽ chúng không biết chỉ cần một cơn hạn hán, chỉ cần một trận động đất, chỉ cần một họa thiên tai, chỉ cần một thiên thể đâm sầm vào trái đất là chúng trở thành tuyệt chủng như những loài khủng long xa xưa. Con người thì khác hơn, họ có đủ ngôn ngữ để nói chuyện với nhau, họ có đủ sự thông minh và khéo léo để tranh giành miếng ăn của nhau bằng những ngôn ngữ dịu dàng mật ngọt, nhưng bản chất vẫn chỉ là dùng đầu óc để tạo thế mạnh, để “làm thịt” lấy đi tài nguyên và thực phẩm của những đầu óc nô lệ ngu đần, mạnh được yếu thua mà! Ngồi trên xe ranger và chứng kiến cảnh con beo Cheetah đang dùng bữa trưa bằng thịt con Impala, tôi đã có những giây phút thật im lặng để suy nghĩ về đời sống thiên nhiên và con người. Những hình ảnh lướt qua vội trong trí nhớ như John Paul II, Ðạt Lai Ðạt Ma IV, Nelson Mandela, Gandi, Mẹ Theresa đối xứng qua với hình ảnh Stalin, Showa, Mao Trạch Ðông, Hitler, Polpot. Cùng là con người có hai tay hai chân nhưng tâm họ khác nhau hoàn toàn. Bản tính thánh thiện hay thú dữ nằm ngay trong tâm con người, thật chẳng ở ngoài xa.










Các gian hàng bán vật lưu niệm bên đường. (Hình: ATNT Tours & Travel)


Trở về lại Johannesburg, phượng tím vẫn khoe màu sắc, một ít hoa đã rơi xuống mặt đường. Hoa phượng tím chỉ khoe sắc vào mùa Hè tháng 11 ở Johannesburg. Tháng sau tôi lại có dịp trở lại đây và tin chắc sẽ không còn một đóa phượng tím nào nữa trên cành. Những trận mưa, những cơn gió sẽ tiễn biệt hoa phượng. Còn safari để lại trong tôi về cái-lẽ-vô-thường và sự luân lưu sống còn của đời sống sinh vật, của đất trời nằm trong tâm tư du khách.










Ngựa vằn (Zebra). (Hình: ATNT Tours & Travel)


Hoa phượng còn hay mất có lẽ không quan trọng bằng cái giây phút tôi hưởng trọn được cái không gian màu tím nhạt của Jakaranda ngay trong lúc tôi nhìn hoa. Tôi hạnh phúc với màu phượng tím trước mắt vì chắc gì hoa phượng tím năm sau đã đẹp như năm nay.


Chú thích: bài viết được kèm theo nhiều hình ảnh, độc giả có thể vào trang du lịch www.người– việt online.com xem thêm các hình ảnh về Nam Phi.


 





ATNT Tours & Travel tổ chức và hướng dẫn:


Xin quí khách gọi cho văn phòng ANTN Tours để biết thêm các lịch trình và chi tiết về các chuyến tour năm 2013.


 


=> Escorted Tour Nam Phi (South Affrica): captown – johanesburg –


Safari & Victoria Falls tổ chức vào DEC. 06 – 19, 2012 du ngoạn Safari hoang dã của Phi Châu.


Tour Safari Phi Châu 2013: Tour #1: Mar. 09 – Mar. 22, 2013


Tour #2: Jun. 06 – Jun. 19, 2013


Tour #3: Sep. 11 – Sep. 24, 2013


Tour #4: Dec. 06 – Dec. 19, 2013


=> Escorted Tour Turkey + Greece 12 ngày


Greece: Athens – Patmos – Rhodes – Heraklion – Santorini


Turkey: Istanbul – Cappadocia – Pamukkale – Ephasus – Kusadasi


Tour #1: Mar. 13 – 24, 2013


Tour #2: Oct. 10 – 21, 2013


=> Escorted Tour Ðài Loan – Nhật Bản Mùa Hoa Anh Ðào 2013


(Chú ý: Xin quí khách giữ chỗ ngay từ bây giờ)


Nhật Bản: Tokyo – Nagoya – Nara – Kyoto – Kobe – Osaka


Ðài Loan: Ðài Bắc – Nhật Nguyệt Ðàm – Lukang – Ðài Trung – Ðài Nam


Tour #1: Mar. 26 – Apr. 09, 2013


Tour #2: Apr. 07 – Apr. 21, 2013


=> Escorted Tour: Nhật Bản – Ðài Loan – Nam Hàn Hoa Anh Ðào 2013


(Chú ý: Xin quí khách giữ chỗ ngay từ bây giờ)


Nhật bản: Tokyo – Nagoya – Nara – Kyoto – Kobe – Osaka


Ðài Loan: Ðài Bắc – Nhật Nguyệt Ðàm – Lukang – Ðài Trung – Ðài Nam


Nam Hàn: Seoul – Phim trường “Bản Tình Ca Mùa Ðông” – Vùng phi quân sự “DMZ” – Gyeongbok Palace – Dongdeamun Market


Tour: Apr. 07 – Apr. 23, 2013


=> Escorted Tour: Nhật Bản – Nam Hàn (bao gồm Seoul & đảo Jeju)


(Chú ý: Xin quí khách giữ chỗ ngay từ bây giờ)


=> Escorted Tour: South America: Brazil – Argentina – Chile – Peru (17 ngày)


Rio De Janeiro – Brazil Iguassu Falls – Argentina Iguassu Falls – Buenos Aires –


Santiago – Valparaiso – Lima – Cusco – Sacred Valley – Machu Picchu


Tour #1: Apr. 14 – Apr. 30, 2013


Tour #2: May. 19 – Jun. 04, 2013


Tour #3: Oct. 02 – Oct. 18, 2013


Tour #4: Nov. 24 – Dec. 10, 2013


=> Tour Việt Nam: tổ chức mỗi tháng cho gia đình hoặc group.


=> Tổ chức “Private Tour” đi khắp mọi nơi trên thế giới.


ATNT Tours & Travel chuyên nghiệp về bán vé máy bay & tổ chức và hướng dẫn tours.


Xin liên lạc ATNT TOURS & TRAVEL


9126 Edinger Ave., Fountain Valley, CA 92708.


Tel: (714) 841-2868 / (888) 811-8988


Website: www.atnttravel.comhay www.atnttour.com







Cô dâu Việt ở Nam Hàn ôm con nhảy lầu tự tử


VIỆT NAM (NV) –
Tin một cô dâu Việt ôm hai con nhỏ nhảy lầu tự tử tại xứ Hàn đang gây chấn động dư luận các gia đình Việt Nam gả con cho người Nam Hàn.










Các cô dâu Việt xếp hàng cho đàn ông Nam Hàn tuyển vợ. (Hình: Báo Thanh Niên)


Báo mạng VietNamNet dẫn nguồn từ hãng thông tấn Yonhap, Nam Hàn cho hay có một phụ nữ ôm hai con nhỏ, từ ban công căn phòng ở tầng thứ 18 một chung cư gieo mình xuống đất. Vụ này xảy ra hôm 23 tháng 11 tại thành phố cảng, phía Nam Busan.


Danh tính của cô dâu này hiện chưa được tiết lộ, chỉ biết rằng đó là một phụ nữ khoảng 27 tuổi. Hai con của cô gồm một trai 3 tuổi và một gái 7 tuổi.


Báo mạng VietNamNet còn dẫn nguồn từ nhà chức trách Nam Hàn cho biết, nạn nhân theo chồng về Nam Hàn được tám năm nay, nhưng đã ly hôn. Người chồng, 47 tuổi, không ngăn được vợ ôm con nhảy xuống lầu vì cửa phòng bị khóa chặt. Căn nhà mà người phụ nữ đang sống là của gia đình chồng.


Giới chức Nam Hàn cho hay người phụ nữ này để lại một bức thư tuyệt mạng viết bằng tiếng Việt.


Cũng theo VietNamNet, từ năm 2008 cho đến nay, đã có 3 cô dâu Việt tại xứ Hàn thiệt mạng vì xung đột với chồng hoặc gia đình chồng. Một cô nhảy lầu tự vận, một cô bị chồng giết chỉ một tuần lễ sau lễ kết hôn. Cô còn lại bị chồng đánh chết khi đang nằm ngủ cạnh đứa con sơ sinh mới 19 ngày tuổi.


Lâu nay ở Việt Nam bùng nổ dư luận phản đối việc đưa các cô gái Việt đi làm dâu xứ người trong khi chưa chuẩn bị tâm lý và bản lĩnh để vượt qua hoàn cảnh khắc nghiệt.


Tuy nhiên mới hồi đầu năm nay, sứ quán Việt Nam tại Nam Hàn công bố một phúc trình cho biết “phần lớn trong số khoảng 45,000 cô dâu Việt sinh sống ở Nam Hàn đang sống hạnh phúc”.


Cán bộ sứ quán Việt Nam nói rằng “chỉ một số ít cặp vợ chồng Việt-Hàn xung đột vì bất hòa và bất đồng, thường nhất là bất đồng ngôn ngữ”.


Mặt khác, dư luận còn cho rằng phía nhà nước Việt Nam thiếu sót trong việc bảo vệ cô dâu của mình ở ngoại quốc. (P.L.)

Chùa Phật Ân bị kẻ lạ phá




Ðêm Thứ Bảy, 17 tháng 11, 2012 chùa Phật Ân ở 275 đường Minnesoata Avenue, Roseville bị kẻ lạ đến phá, bôi kem cạo râu vào hai bức tượng Di Lạc, Ðịa Tạng và cửa vào chánh điện bị bôi trắng và mấy bát nhang bị hất văng tung tóe. Cảnh sát được nhà chùa thông báo, có đến lập biên bản.


Chùa này cũng là trụ sở của Hội Phật Giáo Việt Nam tại Minnesota được thành lập ngày 15 tháng 5 năm 1976. Theo trang Phatan.org cho biết, trụ sở đầu tiên được đặt tại nhà vị hội trưởng sáng lập ở số 9441 Blaisdell Avenue South, Bloomington, MN 55420. Tháng 10 năm 1977, hội mua và biến cải căn nhà ở Dale Street, Saint Paul làm Niệm Phật Ðường.


Tháng 8 năm 1983, hội mua khuôn viên nhà thờ ở số 475 Minnesota Avenue, Roseville, và biến cải nơi này thành Chùa Phật Ân. Lễ Lạt Thành Chùa Phật Ân được sự chứng minh của Ðại Lão Hòa Thượng Thích Tâm Châu, Thượng Thủ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam trên thế giới.


Tháng 4 năm 1989, chánh điện của chùa được khởi công xây cất. Ngày 8 tháng 9 năm 1991. Mục đích hội Phật Giáo Việt Nam tại Minnesota là một tổ chức không vụ lợi, phục vụ cộng đồng Phật tử Việt Nam tại Minnesota. Chùa cũng đã hoàn tất dự án xây cất chánh điện mới, khởi công hồi tháng 7, 2011; với tốn phí là trên hai triệu. Hiện chùa còn nợ nhà băng nửa triệu và nợ của Phật tử cho vay mượn không lời cũng vào khoảng số tiền đó.

Lá thư chủ nhiệm: Hoàn tất một dự án



 


Cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ có rất nhiều sinh hoạt. Chúng ta đã và đang làm các công tác trong các lãnh vực chính trị, văn hóa, giáo dục, thương mại, xã hội, truyền thông báo chí, v.v.


 Riêng lãnh vực phim tài liệu, Câu Lạc Bộ Phim Tài Liệu Việt Nam đã hoàn tất dự án đầu tiên “Phim Hồn Việt – Quốc Kỳ và Quốc Ca Việt Nam.” Chúng tôi xin nêu lên vài tin tức liên quan về dự án này, ngõ hầu mong quý độc giả tìm hiểu và tham gia yểm trợ.


Dù khó khăn về tài chánh lúc khởi đầu, nhưng với sự quyết tâm của Ban Ðiều Hành, Câu Lạc Bộ Phim Tài Liệu Việt Nam (VN Film Club) đã vượt qua những trở ngại đáng kể để tạo được một sản phẩm đầy ý nghĩa. Qua buổi lễ ra mắt/phát hành đầu tiên tại Minnesota, mọi người tham dự đều vui vẻ và hãnh diện đón nhận cuộn phim (DVD) về cả hình thức lẫn nội dung.


Chúng tôi xin nghiêng mình cảm kích Câu Lạc Bộ Phim Tài Liệu Việt Nam và cảm tạ tất cả quý ủy ban yểm trợ, quý ủy ban tổ chức khắp nơi đã và sẽ đem đến đồng hương một món ăn tinh thần vô cùng quý giá. Chúng tôi cầu mong quý độc giả và đồng hương xin ưu ái đón nhận món ăn tinh thần cao cả này.


Trân trọng


Huỳnh Sĩ Nghị


Chủ nhiệm

Giới thiệu thương mại: Dịch vụ Phương Nam



Dịch vụ Phương Nam được biết đến là trung tâm cung cấp dịch vụ cho người Việt thuộc Cộng đồng Minnesota.










Chủ nhân Trịnh Thế Trinh và phu nhân Nguyễn Thị Kim Loan tại bàn tiếp khách của trung tâm.


Trung tâm đã và đang cung cấp nhiều dịch vụ thiết thực trong đời sống hằng ngày cho đồng hương Việt Nam.


Chúng tôi xin được giới thiệu cùng quý độc giả về cơ sở đặc biệt này để quý vị tiện bề giao dịch mỗi khi cần.


Dịch vụ Phương Nam cung cấp nhu cầu của đồng hương Việt qua các công việc như vé máy bay – nội địa và quốc tế, du học và du lịch, chuyển hàng, chuyển tiền quốc tế và Việt Nam, thẻ điện thoại pinless, nhận thiết lập mua bán, trao đổi trên mạng (online), thông dịch và nhũng vấn đề liên quan đến pháp lý.


Theo chủ nhân Trịnh Thế Trinh cho biết: “Ngoài những dịch vụ kể trên Dịch vụ Phương Nam còn là một nhịp cầu không thể thiếu giữa người Việt tha hương tại Mỹ và những bà con còn sống tại Việt Nam.”


Ðược biết Phương Nam còn có trang mạng www.ltsaigon.com là trang mạng xã hội được xây dựng với mục đích nối kết, phổ biến và cập nhật các thông tin sinh hoạt cộng đồng người Việt tại Minnesota, đặc biệt chú trọng đến tin tức thương mại, kỹ thuật, thị trường, tin trong nước-quốc tế,…


Trang mạng còn là nơi dành cho thành viên của công ty có thể trao đổi, liên lạc hoặc nhận những khuyến mãi từ những doanh nghiệp người Việt tại Minnesota. Trang mạng còn là nơi dành cho thành viên của công ty hoặc cộng đồng mạng có thể trao đổi, liên lạc, nhận những khuyến mãi, những thông báo cần người làm từ những doanh nghiệp người Việt tại Minnesota được cập nhật thường xuyên và miễn phí.


Ðịa điểm: Dịch vụ Phương Nam


2429 Nicollet Ave. S.


Minneapolis, MN 55404


Ph.: 612-870-5672


Fax: 612-870-6580


Email: [email protected]

Giới thiệu sách ‘Vụ án “Siêu Nghiêm Trọng” T2-T4’

 


Trăng Vàng phụ trách


 


Vụ án “Siêu Nghiêm Trọng” T2-T4


Tác giả Tâm Việt


 


Vụ án “gián điệp dỏm” giữa hai ông đại tướng (Võ Nguyên Giáp và Lê Ðức Anh) có khả năng làm thay đổi cục diện Việt Nam trong những ngày tháng tới, trình bày như một hồ sơ tài liệu đầy đủ nhất (một số chưa bao giờ được công bố) với phân tích (theo hoa Hà Nội học) bởi Tâm Việt và Bùi Tín.


Trăng Vàng được hân hạnh giới thiệu với quý độc giả tác phẩm mới Vụ Án “Siêu Nghiêm Trọng” T2 -T4 của tác giả Tâm Việt.


Sách do tủ sách Thời Sự Việt Nam và Thế Giới xuất bản năm 2004.


Sách dày 300 trang. Ấn phí $15.


Mọi chi tiết, liên hệ với:


Tổ Hợp Xuất Bản Miền Ðông Hoa Kỳ & Cành Nam Publishers.


Tel: (703) 525 4538.

Tản mạn thơ văn

 


Tim mười ngăn


Thơ: Hương Quế


 


Ừ thì gã nói gã yêu


Tim mười ngăn cất muôn điều giai nhân


Vẽ màu tươi vẽ hương xuân


Thêu mây áo lụa bâng khuâng nắng chiều


 


Em về chạm ngõ điều hiu


Lỡ chân vướng mộng xiêu xiêu ngọt ngào


Sầu tương tư đợi chiêm bao


Phù vân bốn bể xanh xao lệ tràn!


 


Ừ thì gã hốt mây hoang


Ướp hồng tình nhớ lang thang gọi mùa


Trăng non trăng mật gió đưa


Vẫn tình sương trắng trời mưa thu tàn


 


Em về hứng gió trên ngàn


Mở ngăn tim nhỏ hai hàng lệ sa


Ơi em buộc áo chiều tà


Ngồi xuống góc nhớ mà ca hương tình


 


Mơ còn một hạt nguyên trinh


Em giấu em cất lệ tình trắng tay


Tim nào tim không đắng cay


Mười ngăn tim khúc đọa đày tình nhau


 


Ừ thì gã hốt mây hoang


Ướp hồng tình nhớ lang thang gọi mùa


Trăng non trăng mật gió đưa


Vẫn tình sương trắng trời mưa thu tàn


 


Em về hứng gió trên ngàn


Mở ngăn tim nhỏ hai hàng lệ sa


Ơi em buộc áo chiều tà


Ngồi xuống góc nhớ mà ca hương tình


 


Mơ còn một hạt nguyên trinh


Em giấu em cất lệ tình trắng tay


Tim nào tim không đắng cay


Mười ngăn tim khúc đọa đày tình nhau


 


Hương Quế


 


***


 


Bơ vơ


 


Có người em nhỏ năm xưa


Cuối bờ dâu bể trời mưa mịt mù


Giã từ mắt biếc làn thu


Ôm sầu đông nước mắt ru diễm tình


 


Một thời trăng mật tôn vinh


Ði vào cổ tích lặng thinh góc trời


Chân mây hồn phách chơi vơi


Gửi lang thang mảnh vụn rời con tim


 


Có người hôm ấy ngang thềm


Nhà hoang đổ nát vai mềm hứng sương


Ðiêu tàn tro bụi còn vương


Bóng chìm lặng lẽ nhặt thương nhớ về


 


Có người năm cũ chiều quê


Ra đi bỏ xứ con đê vỡ bờ


Mẹ ru tìm bóng con thơ


Cha gào dâu bể bơ vơ lạnh lùng


 


Mỹ Trinh


 


***


 


Ðừng nói yêu em


Thơ: Hương Quế


 


Em cúi xuống che đi ánh mắt


Ðừng nhìn nhau lời nói sẽ ngỡ ngàng


Xin cứ để hoang mang cơn sóng vỗ


Ðẹp ngàn sau khi em bước sang ngang


 


Em cất hết vào con tim nhỏ


Những lời yêu phù phiếm cõi u mê


Ðừng yêu em bằng lời môi trên cửa miệng


Anh tránh ra còn một lối em về


 


Em giấu hết niềm yêu thương nhớ


Khóc đã nhiều giông bão đã ngàn khơi


Trả lại cho em tháng ngày trông đợi


Trả lại cho em tuổi mộng của thuở nào


 


Hương Quế


 


***


 


Về cõi tôi


 


Về cõi tôi nghe dòng đời nước chảy


Bỏ lại mình hờ hững một dòng sông


Nước vẫn đục không tìm ra mầm sống


Lặng thinh chiều bóng nắng cuốn vào mây


 


Lầm bầm nói một mình trong hoang vắng


Ðã lâu rồi chừng ấy ở cõi tôi


Ngày ngờ nghệch bâng quơ điều quên nhớ


Xin giùm tôi quên hết chuyện đã rồi


 


Trả tôi về mà chẳng biết về đâu


Chân lẩn thẩn bước lên điều vô cớ


Nhặt mớ chữ để biết mình còn nhớ


Những cần quên còn thở nhịp của tim


 


Về cõi tôi vớt bèo mây kỷ niệm


Lau khô đời cho nước mắt đừng rơi


Không gió trăng không nhật nguyệt gọi mời


Cõi tôi ướt trên vùng xưa mưa lệ


 


Mỹ Trinh


 


***


 


Tình phai


Thơ: Mỹ Trinh


 


Sầu đã phai tình hồng vụn rải


Tim nhạt màu thân ái ra đi


Mưa ơi khóc nữa mà chi


Mai quên hết chuyện sầu bi cuộc đời!


 


Người đã đi chân rời kỷ niệm


Những ân tình mây tím rồi tan


Hoàng hôn khóc nắng đi hoang


Cuối bờ ảo vọng lạc loài bóng chim


 


Cũng đành thôi con tim rạn nứt


Tình bay theo gió vút trời xa


Chiều nay bên mái hiên nhà


Có người lặng lẽ châu pha giọt lòng


 


Người đã khóc một dòng sông nhớ


Nước chảy rồi có trở lại không


Xuôi ra biển mặn tình nồng


Tan vào muôn cõi hư không nẻo về


 


Mỹ Trinh


 


***


 


Môi em là thuốc độc


Thơ: Văn Châu


 


Em trói buộc hồn ta bằng sợi tóc


Và hong tình- nước mắt đẫm bờ vai.


Bờ môi nhỏ, ướp chi nhiều thuốc độc?


Một lần hôn là nhớ mãi; thương hoài…


 


Văn Châu


 


***


 


Thơ: Chân-Trời-Chân-Mây


Tặng: Nụ Mỉm Cười Duyên


 


Giai-nhân, tài-tử trích tiên,


Chán chê tục lụy,l ợi quyền, hư danh!


Rủ em vào núi rừng xanh,


Dựng lên một xóm chân-tình thương-yêu!


 


Giữa đường Ban Blech,Cheo Reo,


Quẹo Thung-Lũng-Tím, trèo đèo hoa lan.


Ngàn xưa núi lửa sôi tràn,


Tạo ra hồ mướt xanh làn mắt nhung!


Thanh Sơn Liệp Hộ săn lùng,


Cò Ke treo hoẵng, đào trùng câu lươn.


 


Thuyền Thơ hồ mộng sầu thương,


Bơ Vơ?!


Ðã dứt đoạn-trường rất lâu!


Húp canh bí sáp ngọt ngào,


Xuýt xoa gió nhạc, làu làu ánh Trăng!*


 


Bứt mây thắt chục giây thằng,


Cõng về danh mộc nằm lăn sân nhà.


Ðóng bàn thờ Mẹ, thờ Cha,


Dạy con nhân-nghĩa…


sáng lòa Mai sau!


Mai sau con cháu rất giàu,


Sáng danh đạo-đức…


đứng đầu nhân-gian!


Vạn Hồ, Maple Grove Nov-12-2012.


Thái Văn


 


Ghi chú:


Cám ơn Thong Huabinh tặng Thung-Lũng-Tím để làm VN Center.


* Bí sáp là đặc sản Ban Blech dẻo, ngọt bùi ngon nhất thế giới. Ðêm rằm lành lạnh húp canh bí rợ nóng hổi, ngắm Trăng treo đầu núi thì còn gì thú hơn, hỡi quí thi hữu!

Một nền giáo dục bất khả



Nguyễn Thị Từ Huy


 


Chưa bao giờ mấy chữ “cải cách giáo dục” xuất hiện trên báo chí nhiều như hiện nay. Thậm chí Bộ Giáo Dục còn đề ra cả một chương trình đầy tham vọng: Ðổi mới căn bản và toàn diện giáo dục.


Tuy nhiên, từ góc nhìn chủ quan của người viết bài này, dù là “đổi mới” hay “cải cách”, muốn gọi kiểu nào thì tùy, hay chỉ ngắn gọn là “giáo dục”, ở thời điểm hiện tại, đều là bất khả. Nếu cố tình tách giáo dục như một hiện tượng riêng biệt để sửa chữa, đắp vá, thêm thắt các chi tiết, thì không thể có cải cách, không thể có đổi mới, thậm chí không có cả giáo dục.


Tại sao bất khả?


Cách điều hành của nhà nước, cách vận hành của bộ máy chính quyền, của bộ máy pháp luật (đã được đề cập đến rất nhiều trên các phương tiện truyền thông, ở đây chúng tôi không đi vào cụ thể, và sẽ trở lại trong trường hợp sinh viên Nguyễn Phương Uyên) khiến cho mọi điều được dạy trong nhà trường đều có nguy cơ thành ra giả dối. Cách ứng xử hành động của chính bản thân giáo viên cũng khiến cho mọi bài giảng của giáo viên thành ra giả dối. Vì thế, về cơ bản, hệ thống trường học ở Việt Nam hiện nay không thực hiện được chức năng giáo dục, chỉ thực hiện được chức năng cung cấp kiến thức, tức là chức năng đào tạo. Tất nhiên chất lượng của kiến thức, và chất lượng của đào tạo ở mức độ nào thì báo chí chính thống đã nói nhiều, các nghiên cứu về giáo dục cũng đã chỉ ra nhiều, bài viết ngắn này không nhằm bàn tới điều đó.


 


Trường hợp Nguyễn Phương Uyên: Từ sự bất khả của nền giáo dục tới khả năng tự giáo dục của thế hệ trẻ


 


Một năm trước, tại hội thảo “Văn chương lâm nguy của Todorov và các vấn đề về lý luận văn học” do trung tâm nghiên cứu quốc học tổ chức, tôi từng phát biểu nếu giờ đây (tức là vào thời điểm hội thảo) phân công cho tôi giảng một bài mà nội dung có liên quan đến lòng yêu nước thì tôi sẽ rất lúng túng. Quả thật là tôi sẽ giảng cho học sinh sinh viên như thế nào khi những người yêu nước bị đàn áp, bị đạp vào mặt, bị kết tội, bị tống vào tù hay vào trại phục hồi nhân phẩm? Hay tôi sẽ làm như không biết chuyện gì xảy ra, và lúc đó sinh viên học sinh sẽ nhìn tôi ra sao, bởi vì họ biết trong thực tế mọi chuyện đang diễn ra như thế nào? Dĩ nhiên, họ sẽ khinh bỉ tôi, họ sẽ xem tôi là kẻ hèn nhát, giả dối, và lúc đó tất nhiên tôi không đáng làm thầy của họ. Còn nếu họ nghe và không phản ứng gì trước sự mâu thuẫn trong bài giảng của tôi và thực tế, thì đấy là trường hợp đáng buồn nhất, bởi vì như thế thì tôi đã hoàn tất cái quá trình mà đúng nghĩa phải gọi là “ngu dân”, tức là khiến cho học sinh sinh viên trở nên trơ ỳ, mất khả năng nhận thức, mất khả năng phản ứng, và đấy là điều kiện khiến họ mất khả năng hành động. Lúc đó tôi sẽ hoàn toàn đi ngược lại với những gì mà một quá trình giáo dục đòi hỏi, nghĩa là tôi thực hiện một quá trình phản giáo dục, tôi tự thủ tiêu tư cách người làm giáo dục của mình bằng cách đứng trên bục giảng và làm cho học sinh của tôi suy thoái về nhận thức và nhân cách, tê liệt khả năng hành động.


Nếu trên bục giảng tôi mở miệng ra giảng về lòng yêu nước, và trong thực tế tôi ra các văn bản cấm học sinh sinh viên có hành động biểu lộ lòng yêu nước, hoặc tôi chất vấn kỷ luật những sinh viên học sinh đã tự giác có hành động biểu lộ lòng yêu nước của họ, thì không những tôi trở thành biểu tượng của sự giả dối, mà còn trở thành điển hình cho quá trình phản giáo dục. Bởi vì giáo dục đòi hỏi sự làm gương. Người thầy phải là tấm gương cho học sinh sinh viên noi theo. Khi người thầy không còn gương mẫu nữa thì quá trình giáo dục chấm dứt, và khi người thầy trở thành mẫu hình cho những điều tồi tệ thì quá trình phản giáo dục bắt đầu. Sự suy thoái của giáo dục, theo tôi, có nguồn gốc một phần (và là phần quan trọng) trong sự suy thoái của bản thân người thầy. Khi người thầy chỉ còn hành động như những công cụ chỉ nhằm phục vụ cho lợi ích của chính mình, hay của chính quyền (cũng giống nhau mà thôi), thì giáo dục sẽ bị triệt tiêu.


Giáo dục đích thực hầu như trở thành bất khả trong một xã hội như xã hội của chúng ta. Giáo viên của chúng ta có thể nắm rất vững các kỹ năng nghiên cứu, thậm chí có thể có công bố quốc tế (dù rằng còn hiếm hoi), có thể tham gia các hội thảo quốc gia hay hội thảo trên thế giới, có thể công bố các công trình, giáo trình, sách giáo khoa… nhưng rất có thể sẽ không thực hiện được chức năng giáo dục.


Giáo dục đích thực có lẽ chỉ còn tồn tại ở những lớp học tư nhân nơi thầy giáo dạy không lấy tiền, và học sinh, sinh viên, đến học vì đam mê, vì sự hiếu kỳ hay là ước muốn tìm kiếm những giá trị chân thiện mỹ đang bị tận diệt bởi chính bản thân bộ máy giáo dục.


Giáo dục đích thực có lẽ chỉ còn tồn tại nơi các hoạt động vì cộng đồng, các tọa đàm, cà phê học thuật, các dự án nghệ thuật cộng đồng, các hoạt động miễn phí cho người tham dự, nơi mà những người tổ chức thực sự muốn phổ biến các tri thức và giá trị, và những người tham dự thực sự muốn tiếp nhận các tri thức và giá trị đó.


Cá nhân người viết bài này đã không còn niềm tin vào những hội thảo được tổ chức hoành tráng, thậm chí có cả khách mời quốc tế. Và kể cả khi trong những hội thảo đó có những bài có giá trị, có những kiến tâm huyết và hữu dụng, thì đằng sau sự “thành công” không thể tránh khỏi của các hội thảo đó (vì một hội thảo không thể không thành công nơi các diễn văn bế mạc), các tư tưởng, các ý kiến hầu như chẳng bao giờ được vận dụng, được ứng dụng trong thực tế.


Một sinh viên đã hỏi tôi câu hỏi này khi kết thúc hội thảo Khoa học xã hội nhân văn thời hội nhập: “Thưa cô, sau hội thảo thì sao?” Tôi đã cố tìm cách chuyển câu hỏi này cho những người có trách nhiệm tổ chức hội thảo ấy. Và bây giờ tôi chuyển câu hỏi đó cho tất cả những hội thảo sẽ được tổ chức trong tương lai.


Phải đưa ra đây ít nhất một dẫn chứng cụ thể để tránh trở thành vu khống. Tình cờ tôi đọc được bài này của GS Trần Văn Ðoàn (Ðại Học Quốc Gia Ðài Loan), “Sự thiết yếu của tự do nghiên cứu”, một tham luận nhân dịp Hội Nghị Quốc Gia về Liên Kết Hợp Tác Ðể Phát Triển Giáo Dục Ðại Học Việt Nam, Thành Phố Hồ Chí Minh, Việt Nam, 10.10.2002. Tạp chí Văn hóa Nghệ An đăng lại ở đường link này. Những ý kiến của GS Trần Văn Ðoàn mười năm trước đây giờ nhắc lại vẫn còn nguyên giá trị của nó, thậm chí còn nguyên tính chất mới mẻ, bởi vì hiện thực không hề thay đổi. Có ai nghĩ tới chuyện áp dụng những ý kiến đó? Thậm chí nhiều phương diện có thể còn tồi tệ hơn (chẳng hạn mười năm trước hiện tượng mua bán bằng cấp chưa đến mức tồi tệ như bây giờ, có lẽ cũng chưa có những liên kết quốc tế mang tính chất lừa đảo hạng nặng như bây giờ, bộ trưởng Bộ Giáo Dục mười năm trước chắc cũng không nghĩ rằng hàng ngàn điểm 0 về môn sử là chuyện bình thường…). Và hãy nhìn xem những nỗ lực của GS Hoàng Tụy được đáp lại như thế nào bằng hố thẳm im lặng còn đáng sợ hơn mọi thứ hư vô, ở những người có quyền quyết định.


Có thể thấy gì hay cảm gì từ trường hợp nữ sinh Nguyễn Phương Uyên? Sự bi quan có thể được gợi lên từ cái khoảng im lặng phản giáo dục của toàn bộ giáo giới (ở đây đương nhiên phải loại trừ một vài cá nhân nhà giáo riêng lẻ đã lên tiếng hoặc đã ký kiến nghị đòi trả tự do cho Phương Uyên). Nhưng sự bi quan còn khủng khiếp hơn khi những người làm giáo dục ở Ðại Học Công Nghệ Thực Phẩm TP. HCM không im lặng nữa mà hành động. Các thầy giáo đã hành động bằng cách “tạo áp lực và yêu cầu những sinh viên có tên trong danh sách ký tên gởi thư cho chủ tịch nước mỗi người phải viết cam kết là không có viết lá thư gởi cho chủ tịch nước và không có ký tên. Xong rồi nộp lại cho nhà trường, nhà trường sẽ cử đại diện giao lại các bản cam kết đó cho chủ tịch nước.” (Tôi trích nguyên văn thông báo của họ đăng trên diễn đàn Dân Làm Báo). Tất nhiên, đấy là hành vi phản giáo dục tột độ. Toàn bộ ý nghĩa của giáo dục bị thủ tiêu bởi hành vi đó. Ý nghĩa của giáo dục bị thủ tiêu bởi chính những người làm giáo dục.


Dĩ nhiên đằng sau họ là toàn bộ cỗ máy điều hành xã hội này.


Hành động của sinh viên Nguyễn Phương Uyên và phản ứng của nhóm sinh viên trường Ðại học CNTP TP. HCM chứng tỏ một xu hướng khác, một xu hướng khiến cho những người bi quan nhất cũng có thể thay đổi thái độ, đó là: Khả năng tự giáo dục của thế hệ trẻ, khả năng tự nhận biết phải trái, đúng sai, khả năng hành động theo lẽ phải, theo tiếng gọi của lương tri; cho dù đôi khi họ phải chứng kiến lẽ phải và lương tri bị hủy diệt bởi chính thầy cô của họ.


Hy vọng rằng, kể cả khi đơn thư cầu cứu của họ không được hồi đáp, kể cả khi họ phải chịu áp lực từ phía nhà trường, từ phía Ðoàn Thanh Niên (như họ thông báo), thì họ vẫn biết cách tự cứu mình. Hy vọng rằng lớp trẻ ngày nay, không chỉ riêng nhóm sinh viên trường ÐHCN, mà thế hệ trẻ của đất nước này, biết đánh giá khả năng của chính họ, biết tự hành động, và không lệ thuộc, không trông chờ một cách thụ động vào sự cứu giúp đến từ bên ngoài, nhất là không trông chờ vào sự ban ơn. Hy vọng họ biết trông chờ vào chính họ, hiểu rõ các quyền của họ và biết tự bảo vệ các quyền đó. Họ chỉ có thể cứu vãn được đất nước này khi họ biết cách tự cứu mình, khi họ biết trông chờ vào chính mình.

Phim “Hồn Việt” được đón nhận với nhiều thiện cảm

 


Tâm Việt


 


Tối Thứ Bảy, 17 tháng 11 vừa qua, tại nhà hàng Hoa Biển ở thành phố St. Paul, Minnesota, đã có khoảng 250 đồng hương đến dự buổi ra mắt rất thành công của phim “Hồn Việt” về Quốc kỳ và Quốc ca Việt Nam.










Ðại diện Câu Lạc Bộ Phim Tài Liệu VN (VN Film Club) và Ủy Ban Yểm Trợ Phim Tài Liệu VN/MN.


Có thể nói một số đồng bào đến cũng vì tò mò muốn được biết những người thực hiện phim “Hồn Việt,” sản phẩm đầu tiên của Vietnam Film Club. Từ nhiều ngày trước đã có tin đồn là năm người chủ chốt trong phim “Hồn Việt” đã hẹn nhau tề tựu tại Song Thành để đánh dấu lần ra mắt đầu tiên của DVD này.


Song phần lớn của sự thành công đêm Thứ Bảy vừa qua là thuộc về một ban tổ chức hùng hậu, lại được sự hậu thuẫn của Ủy Ban Minnesota Yểm Trợ cho Vietnam Film Club. Ðây có thể nói là một nét son của tiểu bang Vạn Hồ so với các tiểu bang khác.


 


Khai mạc


Mở đầu buổi họp, ông Vĩnh Ðại thuộc Hội Thân Hữu Huế đã tuyên bố lý do tại sao Minnesota lại là nơi đầu tiên Vietnam Film Club chọn để ra mắt DVD mới hoàn tất nhưng đã được nói đến nhiều, phim “Hồn Việt” về Quốc kỳ và Quốc ca VN.


Sau đó là ông Phạm Văn Vy, người cầm đầu Ủy Ban Minnesota Yểm Trợ cho VN Film Club. Ông cho biết sở dĩ Minnesota có ủy ban yểm trợ là vì Minnesota sớm trông ra sự hy sinh của một số anh em trong VN Film Club, không những đã bỏ công sức ra làm một cuốn phim ý nghĩa mà còn bỏ cả tiền túi ra để có vốn hoàn tất sản phẩm mà “chúng ta sẽ được coi đêm nay.”


Ðến lượt ông Nguyễn Ngọc Bích được mời lên nói chuyện. Ông chia sẻ: “Sở dĩ anh chị em chúng tôi dành buổi ra mắt đầu tiên phim ‘Hồn Việt’ cho Minnesota cũng là vì chúng tôi cảm nhận tấm lòng của Ủy Ban Minnesota.” Rồi ông giới thiệu năm người trong VN Film Club có mặt hôm đó: hai người từ Virginia lên (nhà đạo diễn Chu Lynh và chính ông), hai người từ Cali qua (nhạc sĩ Lê Văn Khoa và phu nhân, ca sĩ Ngọc Hà, giọng đọc chính trong phim) và anh Huỳnh Sĩ Nghị, người ở ngay Song Thành nhưng có nhiệm vụ quảng bá phim Hồn Việt trên khắp 50 tiểu bang. Bên cạnh đó cũng còn có GS Tiến Sĩ Ðào Thị Hợi đi cùng với ông Bích và bà Chu Lynh.


Ông Bích cho biết uyên nguyên của tổ chức VN Film Club. Theo ông, cách đây hơn hai năm, nhân một đại hội của Nghị hội, mọi người đã đặt ra câu hỏi: Cách nào đến với tuổi trẻ VN, mang đến cho các em những hiểu biết căn bản về đất nước VN, từ lịch sử đến văn hóa? Kết luận là muốn đến với các em thì phải dùng đến ngôn ngữ của các em, tức là phim ảnh, Youtube, video… Do đó mới nảy ra ý lập VN Film Club để sản xuất những phim có thể thu hút sự chú ý của các em và qua các em, đến với các cộng đồng bạn. “Hồn Việt” là dự án đầu tiên, cuốn phim đầu tiên của VN Film Club.










Quang cảnh hội trường.


Ðến phần nhạc sĩ Lê Văn Khoa, ông cho biết làm nhạc cho phim là cả một vấn đề. Tỷ như bài Quốc thiều của VN. Phải hùng hồn đã đành song cũng phải có nét bay bướm, phải rạo rực thì mới chuyên chở được cái tinh thần của bài nhạc. Rồi lại phải viết hòa âm, phối khí cho 65 nhạc cụ khác nhau của một dàn giao hưởng, một công việc không phải là dễ. Cuối cùng, ông đã hoàn tất được một bản nhạc mà khi được ban nhạc của Phủ Tổng Thống Ukraina (một nước cựu cộng sản) tấu lên, không ít người rơi lệ vì quá đẹp.


Nhiều câu chuyện lý thú chung quanh việc đi phỏng vấn và thực hiện cuốn phim được anh Chu Lynh thuật lại làm mọi người rất cảm động và thấu hiểu ý nghĩa của cuốn phim tài liệu thật chính xác này. Như anh kể về ông Chris van Hoy, người mang cờ vàng ba sọc đỏ lên tận đỉnh Everest, đỉnh núi cao nhất thế giới, vào năm 2004. Hay chuyện ông thị trưởng thành phố nhỏ Sundre, bang Alberta ở Canada, khi ông tuyên bố: “Ngày nào tôi còn sống thì lá cờ này còn bay ở đây,” một thành phố 2600 người.


Ðể minh họa tầm quan trọng của phim tài liệu, ông Nguyễn Ngọc Bích cũng nói: “Trường hợp bà Nguyễn Tôn Hoàn, nhũ danh Phan Thị Bình, bà mới mất hôm Chủ Nhật, 11 tháng 11 vừa qua. Bà là người đầu tiên, ở tuổi 23 cách đây 70 năm, cất tiếng hát bài ‘Tiếng Gọi Sinh Viên,’ vào ngày 15 tháng 3, 1942 ở giảng đường Ðại Học Hà Nội nhân dịp ra mắt Tổng Hội Sinh Viên ÐH Hà Nội. Bà may mắn còn giữ được cả tấm chương trình ngày hôm đó. Thật may mắn cho VN Film Club là đã kịp phỏng vấn bà vào năm ngoái khi bà ở tuổi 90 và còn rất minh mẫn, nhớ lại từng chi tiết của ngày hôm đó. Nếu chúng tôi chỉ chậm chân một chút là chúng ta mất đi một nhân chứng hàng đầu nói về gốc gác bài quốc ca của ta.”


 


Chiếu phim


 


Sau phần trình bày trên, ban tổ chức đã cho chiếu 15 phút chọn lọc lấy từ DVD “Hồn Việt.” Tuy chỉ dài 15 phút nhưng mấy đoạn này cũng đã nói lên được những nét chính trong 9 đề tài như sau:


Lược sử hình thành Quốc kỳ VN (Cờ vàng ba sọc đỏ)


Lược sử hình thành Quốc ca VN


Quốc kỳ theo mệnh nước (đi theo người tỵ nạn)


Quốc kỳ ở Việt Nam hải ngoại


Quốc kỳ VN trên thế giới (trên ngọn Everest, ở thành phố Sundre, Boston, v.v…)


Những câu chuyện về Quốc kỳ VN


Quốc kỳ trong tim mọi người


Quốc kỳ và người ngoại quốc


Trình tấu Quốc thiều VN do Ban nhạc Phủ Tổng Thống Ukraina









Ban Ðại Diện NV Film Club và Ban Tổ Chức: Bà Chu Lynh, TS Ðào Thị Hợi, GS Nguyễn Ngọc Bích, ông Phạm Văn Vy, ông Huỳnh Sĩ Nghị, ca sĩ Ngoc Hà, nhạc sĩ Lê Văn Khoa và ông Dương Quang Ngự.


Bà con đã vỗ tay khi được xem những đoạn cảm động trong phim như gương đấu tranh đến giờ phút chót của Trường Thiếu Sinh Quân ở Vũng Tàu, ngay sau cả giờ Tướng Dương Văn Minh kêu gọi quân đội miền Nam buông súng. Một trận chiến oai hùng của những em nhỏ mà hai em chỉ huy chưa đầy 16 tuổi.


Vì những hình ảnh hiên ngang và oai hùng đó, nói lên lá cờ chủ yếu là ở trong tim người Việt tự do khắp năm châu, bất cứ nơi đâu họ đặt chân tới, nên ta đã có thể nói được đến “hồn Việt” trong Quốc kỳ và Quốc ca VN. Cuối cùng, đáp ứng lời kêu gọi của ban tổ chức, qua hai MC thượng thặng, ông Vĩnh Ðại và ca sĩ Ngọc Hà, những người có mặt đã góp được gần 5 nghìn đô la để đền đáp công lao thực hiện cuốn phim lịch sử này.      

Bệnh viện lại làm chết trẻ sơ sinh


QUẢNG NGÃI (NV) –
Người bảo mổ mà người kia không chịu, cuối cùng ca trực tại bệnh viện tỉnh Quảng Ngãi để trẻ sơ sinh “chết lâm sàng”.










Gia đình sản phụ tức giận bao vây bệnh viện vì cho rằng bác sĩ để chết trẻ sơ sinh. (Hình: Báo Dân Trí)


Tin dữ bùng ra hôm 22 tháng 11 khiến gia đình sản phụ bị “sốc” nặng. Một vụ xô xát xảy ra giữa các nhân viên bảo vệ bệnh viện và một số ký giả làm dư luận thêm xôn xao.


Báo Sài Gòn Tiếp Thị cho biết, sản phụ Bùi Thị Mỹ Ly 30 tuổi, cư dân thành phố Quảng Ngãi đã có một con gái đầu lòng. Có thai biết là con trai lần này, cả gia đình bà đều vui mừng chờ đón cậu bé “nói dõi tông đường”.


Gia đình bà Mỹ Ly nói “đã có ý kiến của bác sĩ ca trực đề nghị cho mổ để lấy thai vì sản phụ bị cao huyết áp và mắc bệnh tim”. Tuy nhiên, bác sĩ khám thai cho bà Ly lại không chịu mổ. Khi thấy tình trạng sức khỏe của bệnh nhân bất ổn, họ còn “ngồi chơi xơi nước” để chờ bác sĩ “chịu trách nhiệm mổ” đến.


Người nhà sản phụ cho rằng vì cách chẩn bệnh và giải quyết sự việc vô trách nhiệm của các y bác sĩ bệnh viện Quảng Ngãi khiến trẻ sơ sinh bị ngộp. Hiện nay, đứa bé trai nặng hơn 3.3 kg đang hôn mê, phải thở bằng máy, ít hy vọng sống sót.


Sợ người nhà sản phụ gây rối, lực lượng nhân viên bảo vệ bệnh viện đã phong tỏa các khoa phòng, cấm cản một số ký giả địa phương tiếp xúc với họ. Có nhân viên bệnh viện còn đòi đập máy ảnh và hành hung các ký giả chụp ảnh họ.


Còn theo báo Dân Trí, chỉ trong ba tháng đầu năm 2012 xảy ra 3 vụ “tai biến sản khoa” tại bệnh viện Quảng Ngãi, trong đó có hai vụ cả mẹ lẫn con đều bị thiệt mạng, và vụ còn lại chỉ cứu được mẹ.


Mới hôm 2 tháng 11 vừa qua, bệnh viện này cũng đã để hai bé song sinh chết oan uổng khi chưa lọt lòng mẹ.


Ðã có ít nhất bốn bác sĩ và 3 nữ y tá sản khoa bệnh viện Quảng Ngãi bị kỷ luật vì sai sót làm chết người trong các vụ trên. Tuy nhiên, sau các biện pháp trừng trị này, bệnh viện Quảng Ngãi lại để xảy ra thêm hai vụ chết trẻ sơ sinh đáng tiếc. (P.L.)

Tình bạn & những người bạn tù không bao giờ quên

 


Tác giả: Trường Lực Nguyễn Xuân Phi/Người Việt Utah


 


Sinh ra và lớn lên trong xã hội, tất cả mọi người chúng ta, dù nam hay nữ, đều có những tình cảm riêng tư, những mối quan hệ cá nhân và không có gì cao đẹp hơn là “tình bạn”!


Dù ở một độ tuổi nào, chúng ta cũng đều có những tình cảm gắn bó giữa hai hay nhiều tâm hồn với nhau. Tình bạn ấy trở nên thiêng liêng, chân thật, sâu sắc và vững bền, đánh dấu trong suốt cuộc đời của mình vậy!


Chúng ta không những chỉ có tình bạn ở lứa tuổi học trò, của thời niên thiếu hay lúc trưởng thành mà cũng còn có những mối tình bạn rất đậm đà tha thiết và đầy xúc động ở lớp tuổi đã xế chiều. Song tất cả quý hồ ở lòng thanh cao trong sáng, chân thật và thủy, trước sau như một, “Ðồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” vậy!


Xưa kia ở Trung Hoa có truyện “Ðào viên kết nghĩa,” ở nước ta có chuyện “Lưu Bình Dương Lễ”; những mối tình bạn thật là cao đẹp, sáng chói hiếm có!


 


…“ Dọn mâm cơm với một quả cà,


Ăn chẳng được anh liền phẫn chí!


Cửa nhà sa sút, biết lấy gì đèn sách học hành?


Nàng phải đi thay bạn nuôi mình,


Công đức ấy xem bằng non Thái!”…


 


Ngay từ lúc tấm bé còn cắp sách đi học, ta đã được giáo dục qua các câu tục ngữ, cách ngôn như: “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng” hoặc “Chọn bạn mà chơi” v.v… Lớn lên, tình bạn giữa nam và nữ ở lứa tuổi còn thanh xuân, phần nhiều đã chuyển hóa thành tình yêu thơ mộng tốt đẹp và hầu hết những mối tình này đi đến xây dựng hạnh phúc lứa đôi. Ðề tài “Tìm bạn bốn phương” cũng không ngoài các mục đích ấy!


Trong thơ ca dân gian, một kho tàng văn chương truyền khẩu từ xưa lưu lại, thật hồn nhiên lành mạnh giữa tình bạn với nhau có khi nồng nàn da diết, có lúc trách móc dỗi hờn! Trong thi ca cổ điển, tình bạn lại thường bị gò bó trong quy phạm của cuộc đời và trong quy tắc của nghệ thuật, song cũng rất đặc sắc, độc đáo và thâm thúy không kém phần, nói lên tình cảm giữa con người, của tình bằng hữu khắc cốt keo sơn, thủy chung duy nhất! Riêng trong thi ca hiện đại, càng có vô số bài thơ hay, lời đẹp để diễn tả tình bạn thiêng liêng ấy thật là đa dạng. Những tác phẩm này đã nở rộ trong vườn thơ hiện đại, đậm sắc ngát hương, thật là phong phú, trữ tình!


 


“Tình bạn không hề khép kín,


Cùng nhau mở rộng vòng tay,


Ðón cả tuổi già, tuổi trẻ,


Ôm cả người xưa, người nay!”


 


Sau biến cố ngày 30 tháng 4, 1975, cộng sản tấn chiếm Miền Nam Việt Nam, làm đảo lộn cả trật tự, đạo đức lâu nay, kể cả tình bạn cao quý cũng bị chà đạp, phản trắc khôn lường!


Ðể nêu lên những tấm lòng bằng hữu trước sau như một, những tấm gương sáng về tình bạn thủy chung duy nhất dù đã gặp phải cảnh ngộ loạn ly bất trắc hay tù đày gian khổ cũng vậy, tôi cố gắng ghi chép lại những người bạn hiếm có trong tù, không bao giờ có thể quên lãng được.


Người xưa đã nói: “Nhất nhựt tại tù, thiên thu tại ngoại!” song dưới thời thực dân cũ, mới gì, dù có bị tù cũng còn được đối xử nhân đạo, thoải mái hơn là bị tù với Cộng sản ngày nay. Sau ngày Quốc Nạn 30 tháng 4, 1975, bọn chúng lùa tất cả sĩ quan, công chức, đảng phái, v.v… dưới chế độ cũ tức Việt Nam Cộng Hòa, vào các trại tập trung cải tạo trá hình được thiết lập ở những nơi rừng sâu nước độc trên toàn quốc. Tất cả chúng ta đều chịu muôn điều tủi nhục, lao động khổ sai hàng ngày mà ăn uống không đủ no, mặc dù với sắn khoai, dưa muối! Tất cả đều bị lãnh một bản án vô tận, không sao biết được ngày trở về lại với gia đình vợ con. Bọn chúng muốn tận diệt hết đối thủ (phe Quốc Gia) không còn cơ hội “ngóc đầu dậy,” với dã tâm làm cho chúng ta chết dần chết mòn trong ngục tù lao khổ khắc nghiệt, chúng đày đọa cả thể xác lẫn tinh thần, tuyệt vô hy vọng về tương lai cũng như gia đình, bè bạn.


 


“Ðường ấy rong rêu phủ kín mờ,


Tôi buồn, trời lại trở mùa mưa!


Chiều nay soi bóng trong gương cũ


Nuối tiếc làm sao nói cho vừa?”…


Cơn mưa đầu mùa (6/1975)


 


Trong những tháng ngày ở tù tại trại giam, bọn tù chúng tôi thường lén mua lại loại mi ca trắng trong để ra công mài giũa thành những đồ nữ trang như nhẫn, vòng, tượng hình… gởi về cho vợ con làm vật lưu niệm, có làm mấy vần thơ kèm theo sau đây:


 


“Ðây, kỷ vật gởi về con,


Tự tay Ba mài giũa,


Trong ngục tù lao khổ,


Dành riêng cho cu Thọ (1)


Dùng làm đồ sính lễ


Khi đến lúc trưởng thành!


Ðời Ba trót tan tành,


Mong sao đời con trẻ


Hoàn toàn tinh, trắng, trong,


Không bợn như cõi lòng


Như những kỷ vật này!”…


Ðà Thành Trong Tù (1976)


(1) Tên đứa con trai út của tôi.


 


Khoảng cuối năm 1976, bọn chúng phân tán dần anh em tù chúng tôi lên trại Phú Túc thuộc quận Hòa Vang (Quảng Nam/Ðà Nẵng) miền núi rừng heo hút mà lúc sinh tiền ông cha ta thường gọi địa danh này là vùng “Mọi Phú Túc” (mọi có đuôi).


Ở trại nầy trong những tháng năm đầu không biết bao nhiêu là cực hình đầy ải, kể sao cho xiết! Hầu hết cũng giống như những trại tù khác trên đất nước VN ta mà mọi tù nhân chính trị đều phải rán chịu đựng. Cơm không có ăn no, bo bo là quý lắm rồi; toàn là sắn khoai mà phần nhiều lương khô là tiêu chuẩn chính với muối sống hòa nước sôi, bỏ thêm cục đường đen cho có màu mè mà anh em tù chúng tôi thường rỉ tai mai mỉa là “nước mắm cụ Hồ,” nhưng vẫn không no đủ so với dạ dày xệp lép sau khi thi đua lao động ở nương rẫy trở về trại.


Tình trạng trốn trại, thoát nhà giam hay đi lao động tẩu thoát diễn ra liên tiếp, gây ra bao liên lụy cho đồng bạn, nhưng trách sao được, đó là con đường cùng của mọi tù nhân dưới chế độ hà khắc của cộng sản vô nhân!


Chúng tôi chuyền tay nhau lén xem bài thơ “Ðêm Ðông gác tù” của tôi cảm hứng lúc bấy giờ, bị chúng hay biết được cho theo dõi kiểm điểm cả mấy tháng trời. Bài thơ ấy như sau:


 


“Lạnh lẽo đêm đông gió lọt mành (1)


Ba hồi kiểng đánh đã thâu canh!


Hai bên doanh trại, tù mê mẩn,


Bốn phía sơn hà, cảnh vắng tanh!


Chiếc bóng tù đày in vách lá (1)


Một bầu nhiệt huyết với đèn xanh!


Gác khuya mới biết đêm dài nhỉ? (2)


Chạnh nỗi quan hoài nghĩ quẩn quanh!”


Phiên Gác Tù Ðêm Ðông 1978


(1) Trại làm toàn bằng tranh tre, mới được xây dựng trong rừng núi.


(2) Ý muốn trốn trại.


 


Tóm lại, mọi sinh hoạt lao động hằng ngày hay kiểm điểm phê bình hằng đêm thì trại cải tạo nào của bọn chúng cũng đều khuôn rập như nhau trên cả nước, tôi khỏi phải ghi chép ra đây vì ai cũng biết.


Vì tình hình bên ngoài sôi động giữa bọn Cộng sản Việt Nam và Cộng sản Tàu, lẫn tình trạng trốn trại bộc phát liên tục trong những năm 1978-81, anh em tù chúng tôi lại bị phân tán mỏng một lần nữa. Một số tù chuyển lên trại Tiên Lãnh, miền núi rừng của huyện Tiên Phước, Trà My; một số lại dưa ra trại An Ðiềm, miền núi rừng huyện Ðại Lộc, Thường Ðức (QN/ÐN) vùng giáp ranh với Hạ Lào: nước độc, thú dữ, dân làng thưa thớt và phần nhiều số dân đàn ông ở đây đều to bụng…


Tôi cũng được chuyển về đây khoảng cuối năm 1978 sau một trận sốt rét ngã nước khá kiệt quệ: người xanh xao ốm yếu răng rụng gần hết. Bọn cán binh chúng tuyên bố vì nhân đạo nên bổ sung tôi vào đội xây dựng nhẹ do bạn Lê Văn Nghiệp (hiện tỵ nạn với vợ con tại Florida) làm đội trưởng. Nghe nói tôi cũng mừng thầm không phải vì được lao động nhẹ mà đã ở tù Cộng sản thì việc gì cũng khổ sai cả, riêng chỉ vì anh đội trưởng này quá quen thân với tôi từ lâu, vừa là đồng nghiệp, vừa là đồng chí nữa, một cơ hội hiếm có để tâm tình, an ủi cho nhau vậy!


Tuy gọi là xây dựng nhẹ, nhưng phần lớn công tác hằng ngày đều vất vả, nặng nhọc cả: lo xây cất trại mạc, kho tàng, nhà cửa, cơ quan cho cán binh chủng cũng như các dãy trại giam giữ tù nhân vì trại mới được thiết lập chưa bao lâu. Ðội tôi phải ra sức đi cấy, chặt lồ ô, tre nứa, cắt tranh đốn lá, bứt mây v.v… là những vật liệu nhẹ. Ðội vỏn vẹn có mười mấy người mà tàn tật ốm yếu gần hết một nửa quân số, nên tôi dù đau mới khỏi, hàng sáng sớm cũng phải chui rúc vào rừng rậm để tìm kiếm vật liệu trên. Tháng này qua tháng khác, năm này qua năm nọ, tôi cùng một số đồng đội, độ 5, 7 người còn khỏe mạnh hơn phải lo gánh vác việc trèo đèo lặn suối từ sáng sớm tinh sương đến chiều tà mới trở về trại. Ôi thôi! kể làm sao cho xiết cảnh rừng núi hoang vu, hùm beo thú dữ quanh mình; thổ ngữ địa phương có câu: “Ði đâu cũng không tránh khỏi cọp xứ An Ðiềm!,” trước đây có đồn trú quân của Pháp, Nhật rồi Mỹ, chưa kể đến sên vắt muỗi mòng… quá nhiều, không ngày nào là bạn tù chúng tôi không mất hết mấy cc máu. Vượt mọi khó khăn hiểm nguy, chúng tôi chỉ biết tự an ủi, cổ xúy và tương trợ lẫn nhau để lo đốn cây kéo gỗ đem về làm nhà làm kho; chặt tre nứa hay lồ ô để làm phên vách hay sạp nằm; đốn lá cắt tranh để lợp nhà, sao cho đủ tiêu chuẩn của bọn chúng đưa ra (cả chất lẫn lượng). Với nhân số khiêm nhường của đội, hơn một nửa ốm yếu tàn tật phải bố trí ở nhà làm việc nhẹ như chẻ tre, vót mây, đánh tranh v.v… thế mà chẳng bao lâu chúng tôi đã hoàn tất được bao nhiêu công trình xây cất cho trại như hội trường rộng lớn, nhà ở nhà ăn, trụ sở ban quản đốc, các dãy nhà giam, nhà bếp, nhà chăn nuôi… Thật đúng với câu thơ của tên bồi bút Hoàng Trung Thông (Tố Hữu) của bọn chúng:


“…Bàn tay ta làm nên tất cả,


Có sức người sỏi đá cũng cùng cơm!”


Nói chung ở trong tù trong trại cải tạo trá hình của Cộng sản, mọi người đều phải ra sức thi đua năng nổ, làm kiệt sức mình cũng chỉ để cầu mong đổi lấy được sự cứu xét trả tự do về với vợ con hay ít ra cũng được ăn uống no đủ, nhưng ngược lại không bao giờ có như thế cả. Hết đợt này đến đợt khác, hết năm nọ qua năm kia, tù nhân chúng tôi như một cái máy, lao động không biết mệt mỏi, ốm đau không có thuốc men, ăn uống không bao giờ được no đủ, ngoài hai bữa Tết nhất là lễ Quốc Khánh của chúng (2/9) và Tết Nguyên Ðán cổ truyền của dân tộc ta mới có được ít lát thịt mỡ, vài miếng da bò hay bát canh xương lỏng lẻo để gọi là bồi dưỡng cho cả một năm trường đầu tắt mặt tối! Ngày mùa mới có được sắn khoai tươi, không thì cứ ăn mãi khoai, bắp, sắn khô cứng ngắc, ráng nuốt cho đỡ đói, càu quấu cả thực quản, dạ dày xẹp lép!


Ròng rã trải qua mấy năm liền, sức lực của mọi người bạn tù từ suy mòn dần, riêng tôi sau nhiều trận đau liên tiếp, may mắn được chúng cho nằm điều trị tại bệnh xá trại năm ba ngày, song chả có thuốc men gì, mà gia đình vợ con thì đã nghe lời lừa phỉnh của cán binh chủng đăng ký đi kinh tế mới ở vùng cao nguyên Ðắc Lắc xa xôi, túng thiếu, không thể ra vào thăm viếng hay tiếp tế gì được, sau đấy cũng phải bồng bế nhau trốn thoát để vượt biển biệt vô tâm tín!


 


“Gần hai mươi năm xa cách,


Hơn mười năm đi tù!


Sự nghiệp tiêu tan sạch,


Vợ con không còn xu!


Bồng bế nhau vào Nam,


Tìm đường trốn vượt biên,


Khổ cực cũng đành cam,


Miễn sao được bình yên!”…


(Bài “Lỡ Làng Duyên Kiếp” của tôi)


 


Trong mấy ngày nằm tại bịnh xá trại, bên cạnh giường tôi nằm có bạn Phan Chức (hiện gia đình anh tỵ nạn tại Utah hơn hai mươi năm nay) bị thương tật cũ hành đau nhức nên thường lén lút giúp đỡ quần áo, thực phẩm nhất là thuốc men đủ thứ. Bạn Chức này thường được vợ con đến thăm nuôi hàng tháng và được tiếp tế đầy đủ vì gia đình anh may đâu buôn bán đắt đỏ ở Chợ Cồn (Ðà Nẵng) lúc bấy giờ. Nằm bên cạnh nhau lúc vắng người, chúng tôi thường rỉ tai trao đổi thơ văn, báo chí nhất là tin tức bên ngoài cho nhau biết để kiên định ý chí, lập trường chống Cộng trước sau như một mặc dù đã sa cơ thất thế hay hãy còn trong vòng lao lý tù đày! “Chúng ta còn, Cộng sản phải mất” vậy!


Ðược ở bên cạnh người bạn tâm đắc ý hiệp nên bịnh tình của tôi mỗi ngày một thuyên giảm và anh Phan Chức trong tình bạn thân thiết cũng đã lợi dụng cơ hội đề nghị cho rút tôi qua làm ở tổ nan nón cùng đội, thuộc diện lao động trong nhà.


Rời khỏi bịnh xá, tôi được bổ sung liền qua làm tại tổ nan nón và được cử làm tổ phó, vỏn vẹn chỉ có 5 hay 6 người mà toàn là bị thương tật thời trước cả. Anh tổ trưởng Lê Cần (hiện tỵ nạn với con tại Ohio) thì bị bịnh trĩ kinh niên; tôi còn nhớ bạn Huề tuy là thanh niên nhưng bị tật ở tay và đi khom lưng, còn bạn Chức nói trên thì bị thương tật ở chân và ốm yếu. Hàng ngày tôi phải giúp đỡ dìu dắt các anh đi lao động cũng như khi về lại trại. Lại còn có bạn Văn Quý Nhạn, một cựu thương phế binh bị cụt chân, hiện ở đâu tôi chưa được rõ; duy chỉ có mình tôi là còn nguyên vẹn tay chân nhưng sức lực so với lúc chưa vào tù thì là quá suy yếu, và một anh bạn nữa lớn tuổi hơn tôi là Nguyên Phú đã rụng hết hai hàm răng nên bọn chúng tôi thường trêu chọc là “cụ Móm” người quê Quế Sơn (Quảng Nam) còn mạnh khỏe hơn tôi nhiều. Hai chúng tôi được toàn tổ xem như là trụ cột chính yếu. Vì vậy bất cứ công tác nặng nhọc, khó khăn gì thì hai chúng tôi đều lo gánh vác cả, nói lên được tinh thần đồng đội, tương thân tương trợ lẫn nhau, nhất là trong những năm tháng bị tù đày nầy: Nào là đi đốn tre (tục ngữ ta có câu: “Nhất đốn tre, nhì ve gái”), đi đoác trong rừng sâu để dập lấy chỉ về chằm nón lá, v.v… chúng tôi đều vui vẻ xung phong gánh vác cả. Từ ấy trở đi, các bạn tù trong tổ chúng tôi đều xem nhau như anh em ruột thịt một nhà, điển hình là anh Phan Chức, người bạn tù tâm tình từ đầu đến cuối, đã giúp đỡ cho tôi mọi điều, nào san sẻ vật chất, nào an ủi tinh thần, luôn luôn bên cạnh đều có nhau chia ngọt xẻ bùi, “miếng khi đói bằng gói khi no vậy!”


Rồi bỗng đâu năm ấy, cặp mắt của anh bị kéo mây, sờ soạng không thấy đường, dần dần đi đến mù lòa, không thể đi lao động được nữa. Trại đưa anh đi chữa tại bệnh viện tỉnh cũng vô phương cứu chữa nên bọn chúng đành phải ký giấy tạm tha cho trở về nhà. Thật là “rủi mà may” cho anh được sớm trở về cùng với vợ con để lo chữa trị được, song anh cũng đã phải trải qua trên 11 năm lao tù và nay cả gia đình đang tỵ nạn ở Mỹ Quốc (Utah) từ năm 1990.


Toàn đội, toàn tổ đã mừng thầm cho anh lúc bấy giờ, riêng tôi bị mất đi một người bạn tâm đắc trong ngục tù Cộng sản, một người bạn đầy nghị lực, đầy can đảm và đầy nhân đức, không bao giờ có thể quên lãng trong suốt cuộc đời mình được!


Trong những năm tháng còn lại trong tù, tôi như đánh mất một vật gì quý báu vô ngần và trong lúc chép lại mấy trang bút ký nầy, tôi lại được mãn nguyện vì: “Bạn còn đó, tôi còn đây,” tuy cách biệt tiểu bang nhưng tâm trí tôi vẫn luôn nhớ đến, hướng về người bạn đánh kính, đáng phục, vô vàn khắc ghi trong ký ức, không thể nào phai nhạt, cho đến giờ phút nhắm mắt xuôi tay vậy! Thật đúng với câu: “Tha hương ngộ cố tri,” một trong tứ khoái của đời người!


Ðể kết thúc, tôi xin trao đến các bạn bài thơ đã cảm xúc dưới đây trong lúc anh em chúng ta đều là những kẻ lưu vong tỵ nạn ở xứ người, mong sớm có ngày trở về cố hương góp phần còn lại của đời mình để xây dựng Ðất Nước Việt Nam Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền thật sự!


 


Ta buồn, ta nhớ bạn tri âm,


Biết nói cùng ai? chỉ nhủ thầm!


Chén rượu thâm tình không kẻ chuốc


Câu thơ đắc ý thiếu người ngâm!


Mơ màng chuyện củ ngày lao lý,


Vắng vẻ lời khuyên phút lỡ lầm!


Vần biết bạn xa, người khác thế,


Ðời nhiều đồng cảnh, ít đồng tâm!

Thơ Mỹ Lệ Nguyễn Quang Bửu/Người Việt Utah


Tình si


 


Em tặng anh đóa cúc vàng,


Anh không nhận đóa hoa héo tàn.


Ðóa hoa héo tàn cánh còn e ấp,


Ðóa hoa cần một giọt nước mắt,


Em khóc nước mắt chảy vào tim.


Gió lên… gió càng lên…


Từng cánh hoa bay… từng cánh hoa bay…


Giọt nước mắt rớt vào tay,


Em đâu hay… em vừa giết chết một tình yêu!


Anh đâu hay… anh vừa giết chết một tình yêu!


–––––


 


Vô đề


 


Chớp chớp đằng đông ánh ánh hồng,


Vàng vàng hừng hực sáng từng không.


Long lanh ngàn giọt ùa nhau đến,


Ðồng loạt rơi mau xuống xuống trần.


Tựa bức màn sao buông lấp lánh,


Ảo huyền nhàn cảnh có dường không.


–––-


 


Ðộng viên


 


Cuộc sống đó tuy phủ màu đen tối,


Nhưng nụ cười sẽ xóa cả đêm đen.


Bình minh lên làm bừng sáng muôn đời,


Em sẽ thấy tuổi xuân em dài mãi.

Tan bóng đêm

 


Tác giả: Cao Mỵ Nhân/Người Việt Utah


 


Buổi sáng nhìn sương ngỡ áo người


Ðôi ta vương vấn thả xa khơi


Mênh mông vạt đất chìm cây cỏ


Từng đóa thời gian nở cuối trời


 


Ta đợi bình minh đến mỗi ngày


Ánh hồng rực rỡ xẻ chân mây


Viết thơ ca tụng thiên nhiên trẻ


Xin hãy cùng ai trở lại đây


 


Bát ngát thảo nguyên say đắm xuân


Hóa ra năm tháng đã bao lần


Cho ta tất cả nguồn hy vọng


Quanh một vòng đời tặng cố nhân


 


Trên chuyến tàu thiên kỷ vắng im


Hừng đông hoa khói tỏa êm đềm


Từ xa, xa tít, sầu cô quạnh


Cùng mới vừa tan bóng dáng đêm.

Mừng Bát Tuần


Danh họa Vũ Hối


 


Tâm Nguyện Phan Chức/Người Việt Utah


 


Chúc mừng anh tuổi đã tám mươi


Ðôi môi hoan hỉ một nụ cười,


Văn chương, thư họa truyền muôn nẻo


Trăm năm thiên hạ có mấy người?


 


Ðông con nhiều cháu, nhiều phước lộc


Vung gươm, múa bút cũng một thời,


Tuổi già hạnh phúc bên hiền phụ,


Sống được như anh sướng nhất đời!


 


Bằng hữu yêu thương, sống hết mình,


Nhìn đời thanh thản, hạt sương rơi,


Hạnh phúc như anh, nhất cuộc đời,


Tuổi đã tám mươi, vẫn nhiệt tình.


 


Tình bạn 70 năm – Tâm Nguyện Phan Chức


Chủ nhiệm, chủ bút, quản lý và toàn thể Ban Biên Tập Tuần Báo Người Việt Utah chúc mừng Thượng Thọ 80 tuổi danh họa Vũ Hối

Chúc mừng thượng thọ 80 Thi Họa Vũ Hối



 


Tác giả: Phan Khâm/Người Việt Utah


 


Tám mươi năm cuộc đời


Tranh thơ nở nụ cười


Từ con tim Vũ Hối


Một nhân cách tuyệt vời


 


Phước: tam đại đồng đường


Lộc: khắp cả bốn phương


Thọ: như năm ngọn núi


Tình: xanh biết đại dương


 


Chúc mừng thượng thọ tám mươi


Vẫn còn tô thắm cho đời nét son


Lượn xuống biển, vút lên non


Nét rồng, nét phượng mạch nguồn quê hương.

Philadelphia: Người Việt gặp gỡ thị trưởng Wilmington, DE


Qua sự kết nối của anh Nguyễn Lan, một nhân vật hoạt động trực thuộc đảng Dân Chủ, hôm 17 tháng 11, 2012, Thị trưởng tân nhiệm Dennis Williams của thành phố Wilmington, thuộc tiểu bang Delaware đã có một cuộc gặp gỡ với cộng đồng doanh nhân gốc Việt tại thành phố Philadelphia để giới thiệu các chính sách kinh tế của thành phố trong nhiệm kỳ tới.










Thị trưởng Wilmington, Dennis Williams (thứ 2 từ phải), kêu gọi người Việt sang Delaware phát triển.


Wilmington chỉ cách Philadelphia khoảng 30 phút lái xe và đây cũng là thành phố lớn nhất của tiểu bang Delaware với nhiều lợi thế bất ngờ về địa hình cũng như kinh tế. 200 công ty lớn của Mỹ như Dupont và rất nhiều công ty tài chánh nổi tiếng đều chọn Wilmington làm đại bản doanh.


Thị trưởng đang tuyển Dennis Williams (chưa tuyên thệ nhậm chức) cho biết kế hoạch phát triển Wilmington của ông là tìm cách lôi cuốn một số doanh nghiệp ở Philadelphia và các thành phố lân cận của Pennsylvania sang xây dựng và phát triển. Tính về mật độ người gốc thiểu số trong giới doanh thương và chuyên gia Việt Nam cũng chuyên viên cao cấp gốc Á ở Wilmington là tương đối cao. Tuy vậy, ở trong một thành phố chỉ khoảng bảy vạn dân, tổ chức hội đoàn hầu như chưa có.


Thành phần gốc Á đông nhất của Delaware là Ấn Ðộ nhưng họ theo một mô hình chuyên môn phát triển khác biệt không nhiều màu sắc đô thị như người Hoa và người Việt.


Ông thị trưởng Dennis Williams không ngần ngại gọi mời người Việt, người Hoa, người Khmer,… sang Wilmington thị sát và nếu thích thú hơn thì chọn Wilmington làm nơi cư trú. Thành phố Wilmington này hiện đang đối mặt với tỉ lệ giảm sút dân số trầm trọng. Bị phủ bóng bởi thành phố Philadelphia của bang Pennsylvania to lớn và hai tiểu bang khác là New Jersey và Maryland ở bên cạnh, “thành phố Wilmington mất hẳn động lực để phát triển về mặt dân sinh và đô thị” – theo lời anh Lê Kỳ Quốc, chủ nhiệm tuần báo Người Việt Ðông Bắc.


Delaware cũng là tiểu bang có bờ biển dài, có cảng biển, lại có đại lộ I-95 xuyên bang đi dọc bờ biển miền Ðông từ Canada xuống tận Florida. Nhưng Delaware cũng là tiểu bang nhỏ thứ nhì nước Mỹ, đi xuyên bang trên I-95 cũng chỉ 20 phút là hết.


Ðây cũng là tiểu bang không có thuế hàng hóa cho nên là địa điểm đến đặc biệt của du khách. Thế nhưng, sau 6:00 giờ chiều là mọi thứ ở Wilmington lại vắng tanh, tịnh không có văn hóa đô thị lúc đêm về. Vấn nạn phát triển của thành phố này là bị phủ bóng bởi thành phố quá lớn không cùng một chính phủ tiểu bang.


Với một niềm tin lớn trong phương hướng phát triển mới, Thị trưởng tân nhiệm Dennis Williams tin rằng Wimington dưới sự lãnh đạo của ông sẽ có sự thay đổi đặc biệt về bề mặt vì ông sẽ bắt đầu từ việc vận động từ các cộng đồng nhỏ. Với xu hướng phát triển đô thị từ cộng đồng thiểu số, Wilmington chắc chắc sẽ phát huy được ưu thế của thành phố này trong những năm tới.


Có người nói rằng, nếu quy tụ tất cả người Việt ở California sang Delaware thì dân Việt Nam sẽ vượt qua toàn bộ dân số 600 ngàn của tiểu bang này. Ðứng ở vị trí này mà phân tích, Delaware đúng là một cơ hội tiềm năng cho các cộng đồng sắc dân về cả kinh tế, văn hóa lẫn chính trị.


Ngày nay, đi ngang thành phố Wilmington này, người ta có thể thấy được các tòa nhà cao ngất có các bảng hiệu của các đại doanh nghiệp đại diện cho nền kinh tế Hoa Kỳ.


Miếng bánh phát triển quá lớn nhưng chưa có động lực đủ sức lôi kéo khách lữ hành dừng chân. Wilmington lâu nay được thừa hưởng khoản thuế quá dồi dào mà quên mất việc phát triển dân sinh. Nhân viên làm việc của các công ty lớn cũng thường không ở trong thành phố này.









Thị trưởng tân tuyển Williams trò chuyện thân mật cùng các cựu sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tại thành phố Philadelphia.


Với tâm huyết của thị trưởng tân nhiệm, ông Dennis Williams đang quyết tâm thay đổi hiện trạng.


Ðại diện người tổ chức cuộc gặp mặt, anh Lan Nguyễn hứa sẽ giúp ông thị trưởng đưa tín hiệu gọi mời này đến cộng đồng Việt Nam đồng thời sẽ tạo một ủy hội họp tác để thông báo cho các doanh nghiệp nhỏ có cơ hội đầu tư và cập nhật các chương trình đấu thầu sắp tới của thành phố.


Người Việt Ðông Bắc

Tin mới cập nhật