WASHINGTON, DC (NV) – Trong lịch sử di tản của người Việt Nam, có một câu chuyện mà suốt hơn nửa thế kỷ qua ít được nhắc đến. Đó là chuyến di tản bằng đường hàng không khoảng 200 người dân miền Nam Việt Nam thoát khỏi Sài Gòn trước ngày 30 Tháng Tư, 1975. Ân nhân của những người may mắn đó là ông Lionel Rosenblatt, cựu nhân viên ngoại giao Hoa Kỳ.
Ông Rosenblatt vừa qua đời ngày 11 Tháng Tư tại nhà riêng ở Washington DC, thọ 82 tuổi, sau thời gian chống chọi với căn bệnh bạch cầu. Bà Ann Rosenblatt, vợ của ông, nói với nhật báo The New York Times.

Chuyến di tản ‘bất tuân mệnh lệnh’
Tháng Tư, 1975, Đại Sứ Graham Martin của Mỹ tại Việt Nam đề nghị những người Việt Nam muốn chạy khỏi quân đội Bắc Việt sắp tràn vào thành phố nên tìm đường ra các điểm ven biển, nơi tàu chiến Mỹ sẽ cố gắng đón họ. Khi đó, ông Rosenblatt và ông Larry Craig Johnstone (cả hai đều từng đảm nhiệm các vị trí ngoại giao tại Việt Nam) cảm thấy vô cùng lo ngại trước thái độ dường như thờ ơ của ông Martin và chính quyền Hoa Kỳ đối với những người Việt không phải là giới chức cấp cao. Vì vậy, họ đã bí mật xây dựng một kế hoạch di tản riêng nhằm hỗ trợ các đồng nghiệp cũ cùng gia đình của họ.
Vào ngày 20 Tháng Tư, 1975, ông Rosenblatt, khi ấy 31 tuổi, xin nghỉ việc, để bay từ Washington DC tới Sài Gòn. Đi cùng ông là ông Johnstone. Cả hai thuộc về một nhóm nhỏ các giới chức ngoại giao thường gặp gỡ ăn trưa hàng ngày tại Washington DC. Họ có chung nỗi lo về số phận của những người Việt Nam từng làm việc hoặc cộng tác với Hoa Kỳ trong suốt cuộc chiến. Hàng chục ngàn người trong số đó có nguy cơ phải đối mặt với sự trả thù từ chế độ Cộng Sản Bắc Việt nếu họ không thoát được ra khỏi Việt Nam.
“Đó là những người mà chúng tôi đã phối hợp làm việc rất hợp ý,” ông Johnstone chia sẻ trong một cuộc phỏng vấn, theo NYT kể lại. “Sinh mạng của chúng tôi từng phụ thuộc vào khả năng hỗ trợ của họ. Việc bỏ mặc họ mà ra đi là điều hoàn toàn không thể tưởng tượng nổi.”
Hai người Mỹ này đặt chân tới Sài Gòn vào ngày 22 Tháng Tư, trên một trong những chuyến bay Pan Am cuối cùng bay vào đất nước này. Lúc đó phi trường quốc tế Tân Sơn Nhất đang chìm trong cảnh hỗn loạn. Bom đạn và pháo kích diễn ra ngày đêm.
Từ một đồng nghiệp tại tòa đại sứ Mỹ, họ biết rằng nhiệm vụ của mình bị cấp trên phát hiện, và rằng họ sẽ bị điều động trở về nước.
Theo NYT, ông Rosenblatt đã kể lại trong một tư liệu lịch sử truyền miệng vào năm 2013 rằng ông và ông Johnstone lo bị bắt giữ, và họ đã “chạy trốn nhanh nhất có thể” và phải cải trang che giấu danh tính.
Ông Rosenblatt cạo bộ ria rậm rạp và đội mũ che khuất gương mặt. Cũng vì e ngại bị cảnh sát miền Nam Việt Nam phát hiện, họ sử dụng giấy tờ tùy thân giả, đồng thời lái một chiếc xe Citroen 30 năm tuổi, cùng những chiếc xe khác mà bạn bè bỏ lại khi rời Sài Gòn, để đi gặp gỡ các đồng nghiệp người Việt.
Cả hai đều nói được tiếng Việt, riêng ông Rosenblatt còn thông thạo tiếng Pháp.
“Ai cũng tưởng chúng tôi là những tay xã hội đen người Corsica,” ông kể trong một tư liệu lịch sử truyền miệng thuộc Kho Lưu Trữ Kỹ Thuật Số Về Người Việt Hải Ngoại. “Thế nên chẳng ai dám đụng đến chúng tôi cả.”
Cả hai ẩn mình và hoạt động trong hai căn nhà. Ông Rosenblatt và ông Johnstone gọi điện thoại cho các đồng nghiệp cũ, với nỗ lực liên lạc và di tản từ 400 đến 500 người trong số đó. Một số người không thể liên lạc được, trong khi những người khác lại từ chối rời đi.
Người quản lý của Continental Air Services, một nhà thầu của CIA thường xuyên đảm nhận việc vận chuyển binh lính và giới chức chính phủ Hoa Kỳ, cho họ mượn một chiếc xe van cùng một tài xế để hỗ trợ đưa đón những người di tản.
Trong cuốn sách “Refugee Workers in the Indochina Exodus, 1975-1982 (tạm dịch là “Những Nhân Viên Cứu Trợ Người Tị Nạn Di Cư Từ Đông Dương, 1975-1982”) do ông Larry Clinton Thompson, một cựu nhân viên ngoại giao, ấn hành năm 2010. Trong đó, ông kể lại một chi tiết thú vị. Người quản lý của Continental Air Services còn cung cấp những chiếc hộp đựng giày chứa đầy tiền Việt Nam (loại tiền mà chẳng bao lâu sau đó sẽ trở nên vô giá trị) để hối lộ các binh sĩ và cảnh sát Việt Nam đang canh gác tại phi trường.
Ông Johnstone dùng một chiếc máy đánh chữ cũ ông tìm được tại nhà của người bạn để chuẩn bị giấy tờ cần thiết cho những người Việt Nam có thể lên phi cơ quân sự Mỹ. Ông và ông Rosenblatt cũng xin được các mẫu đơn xuất cảnh, con dấu, và dấu lãnh sự từ những đồng nghiệp tại tòa đại sứ vốn có thiện cảm với họ.
Hai người đàn ông này thiết lập một trạm làm việc tại một sân chơi bowling nằm trong khu vực quân sự của phi trường để hoàn tất các thủ tục xuất cảnh. Sau đó hướng dẫn những người bạn Việt Nam của họ lên các chuyến bay tới Guam và Philippines, để rồi sau cùng đặt chân đến Hoa Kỳ.
Sau năm ngày đầy căng thẳng, thiếu lương thực và ngủ không đủ giấc, hai người Mỹ này cuối cùng cũng rời khỏi Sài Gòn. Vào ngày 30 Tháng Tư, 1975, chiếc trực thăng Mỹ cuối cùng cất cánh từ trên nóc tòa nhà.
Ngay khi trở về nước, ông Rosenblatt và ông Johnstone gặp Ngoại Trưởng Henry Kissinger để đối mặt với nguy cơ bị kỷ luật, hoặc thậm chí là bị sa thải. Ông Rosenblatt kể lại trong một tài liệu lịch sử truyền miệng rằng ông Kissinger đã khiển trách nhưng không trừng phạt họ. Ông Kissinger ghi nhận rằng hai người đã hoàn thành một “nhiệm vụ tuyệt vời và đầy anh hùng tính.”
Ngoại Trưởng Kissinger nói với họ: “Chúng ta đã rời khỏi Việt Nam mà chẳng còn lại bao nhiêu danh dự, nhưng riêng hai anh thì đã hành xử thật sự đầy danh dự.” Ông Rosenblatt kể lại trong tài liệu, theo NYT.
Cuối năm đó, “nhóm phản ứng nhanh hai người” Rosenblatt và Johnstone nhận được Giải Thưởng Bất Tuân Mệnh Lệnh Mang Tính Xây Dựng của Hiệp Hội Ngoại Giao Hoa Kỳ – giải thưởng nhằm tôn vinh những thử thách đối đầu với các chính sách hiện hành.
Năm 1979, cha của ông Rosenblatt chia sẻ với nhật báo The Washington Post rằng: “Con trai tôi hẳn đã được lời dạy trong kinh Talmud dẫn dắt. Đó là ‘Người cứu một mạng người cũng tựa như đã cứu cả thế giới.,” theo NYT kể lại.

Ân tình với di dân
Ông Lionel Rosenblatt sinh ngày ngày 10 Tháng Mười Hai, 1943 tại Manhattan. Gia đình ông thường xuyên chuyển chỗ ở trước khi định cư tại Bellport, New York, trên đảo Long Island. Cha ông, ông David Rosenblatt, là một nhà vật lý hạt nhân. Mẹ của ông, bà Carol (Blumenthal) Rosenblatt, là phụ nữ chăm lo việc gia đình.
Tại đại học Harvard University, ông tham gia chương trình huấn luyện bay thuộc Quân Đoàn Huấn Luyện Sĩ Quan Trừ Bị (ROTC) và nhận bằng cử nhân chuyên ngành Chính Trị Học vào năm 1965. Sau đó, ông học một năm tại trường luật đại học Stanford University trước khi gia nhập ngành ngoại giao vào năm 1966.
Ông Rosenblatt phục vụ tại Việt Nam từ năm 1967 đến 1969, và dành trọn tình nghĩa cho những người mà ông sát cánh làm việc. Trong một tư liệu lịch sử truyền miệng, ông kể lại chuyện những người lính canh gác, thuộc bộ tộc người Thượng, cứu mạng. Họ đã bắn hạ một kẻ xâm nhập mang theo thuốc nổ khi đang tìm cách tấn công khu nhà của ông Rosenblatt tại một căn cứ tiếp vận trên vùng cao nguyên, nơi ông đang tiến hành điều tra các vụ tham nhũng.
Từ đó, ông không bao giờ quên ân tình của những dân tộc thiểu số.
Chuyến di tản gần 400 người ra khỏi miền Nam Việt Nam lúc đó khởi đầu cho sự nghiệp cả đời của ông Rosenblatt. Đó là vận động bảo vệ người tị nạn tại Đông Nam Á và các điểm nóng khác trên thế giới.
Sau khi miền Nam Việt Nam lọt vào tay Cộng Sản, ông Rosenblatt dành trọn sự nghiệp của mình để giải quyết những khó khăn của người tị nạn. Ông tham gia một lực lượng đặc nhiệm của chính phủ nhằm hỗ trợ tái định cư đợt tị nạn đầu tiên gồm 130,000 người Việt Nam tại Hoa Kỳ. Từ năm 1976 đến năm 1981, ông đảm nhiệm vai trò điều phối viên về vấn đề tị nạn tại tòa đại sứ Mỹ ở Bangkok, Thái Lan.
Ông Rosenblatt rời Bộ Ngoại Giao vào năm 1988. Từ năm 1990 đến năm 2001, ông đảm nhiệm chức chủ tịch của Refugees International, một tổ chức vận động chính sách, trực tiếp chứng kiến các cuộc xung đột quốc tế như nạn diệt chủng tại Rwanda và cuộc chiến ở Bosnia sau sự tan rã của Nam Tư. (K.L) [đ.d.]




































































