Vụ Do Construction-Donner: Hoán chuyển toàn bộ cảnh sát tuần tra

 

Mở điều tra nội bộ, lập trang web để người dân tố cáo

Ðỗ Dzũng/Người Việt

WESTMINSTER, California (NV) Chỉ huy trưởng cảnh sát thành phố Westminster quyết định hoán chuyển toàn bộ cảnh sát tuần tra từ Ðông sang Tây và từ Tây sang Ðông trong địa bàn thành phố, chỉ hơn một tuần sau khi FBI bắt ông Kevin Ðỗ, chủ nhân Do Construction & Design, Inc., và cảnh sát viên Anthony Dương Donner, hai người bị tố cáo cho vay nặng lãi và sử dụng cảnh sát đi đòi tiền con nợ.


Cảnh Sát Trưởng Kevin Baker chỉ trang web của Sở Cảnh Sát Westminster để người dân báo cáo các trường hợp hối lộ. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)

Nói chuyện với phóng viên nhật báo Người Việt tại sở cảnh sát thành phố, Cảnh Sát Trưởng Kevin Baker xác nhận: “Chúng tôi hoán chuyển tổng cộng 53 cảnh sát viên tuần tra và cả chỉ huy của họ từ hôm 7 Tháng Chín. Nhóm phụ trách khu vực phía Ðông, tính từ Beach Boulevard, là khu vực có nhiều cư dân gốc Việt cư ngụ, được điều sang làm việc tại phía Tây con đường này, và nhóm phía Tây sang phía Ðông.”

“Ðây là biện pháp đầu tiên trong tiến trình điều tra nội bộ xem có ai khác liên quan đến vụ một cảnh sát viên của chúng tôi bị FBI bắt và điều tra, cùng với ông Kevin Ðỗ,” ông Baker giải thích. “Sau khi hoàn tất điều tra, nếu không có vấn đề gì nghiêm trọng, có thể chúng tôi sẽ hoán chuyển họ trở lại chỗ cũ.”

“Ðiều này không có nghĩa là tất cả họ có vấn đề. Ðây là trách nhiệm của một cảnh sát trưởng, và tôi là người đầu tiên tiến hành việc hoán chuyển này từ trước tới nay. Chúng tôi có một ‘trái táo bị sâu,’ chúng tôi phải có biện pháp để bảo đảm không còn ‘trái táo’ nào như vậy nữa, để lấy lại uy tín với công chúng, nhất là cư dân gốc Việt, luôn tin tưởng chúng tôi,” ông Baker chia sẻ. “Khi đưa ra quyết định này, tôi có nói là không còn lựa chọn nào khác, và được sự ủng hộ của rất nhiều cảnh sát viên, vì họ cảm thấy danh dự của họ bị ảnh hưởng qua vụ cảnh sát viên Donner. Ngoài ra, toàn bộ Hội Ðồng Thành Phố cũng ủng hộ quyết định này.”

Nghị Viên Margie Rice, từng là thị trưởng trước đây, cho biết bà ủng hộ giải pháp hoán chuyển này để cảnh sát phục vụ hữu hiệu hơn.

Bà nói với nhật báo Người Việt: “Vụ này làm tôi rất khó chịu. Tôi rất giận. Tôi đã nói với ông Baker là phải hoán chuyển cảnh sát tuần tra, vì một chuyện xảy ra trong hai năm mà không ai biết là không được. Khi hoán chuyển như vậy, người dân sẽ biết tới hai người cảnh sát, chứ không phải một người. Ngoài ra, cảnh sát sẽ có điều kiện phục vụ toàn thành phố, chứ không phải chỉ một khu vực. Khi một cảnh sát viên ở một nơi quá lâu, rất dễ cho họ vi phạm.”

Vị chỉ huy cảnh sát Westminster cũng cho biết công việc điều tra sẽ mất nhiều tháng và cơ quan của ông đang hợp tác với FBI trong việc này.

“Chúng tôi muốn mọi người kiên nhẫn chờ đợi và tin tưởng vào cuộc điều tra của chúng tôi. Chúng tôi không tha thứ bất cứ trường hợp vi phạm nào. Ðó là điều tôi có thể bảo đảm trong tư cách cảnh sát trưởng,” ông Baker khẳng định.

Và ông cho biết còn có thêm hai biện pháp nữa.

Theo ông Baker, kể từ nay, “Bất cứ cảnh sát viên nào vào bất cứ quán bar nào ở Little Saigon, họ phải mở máy thu băng lên, và sau đó phải viết bản báo cáo chi tiết tại sao vào đó, gặp ai, nói chuyện gì. Khi về, họ phải nộp cả bản báo cáo và băng thu âm.”

“Sau đó, chúng tôi sẽ có người xác định xem bản báo cáo có đúng hay không,” ông Baker nói tiếp.
Chưa hết, vị cảnh sát trưởng còn mở thêm một mục mới trong trang web của sở cảnh sát để người dân có thể vào, viết những tố cáo liên quan đến cảnh sát, hoặc bất cứ ai, tham nhũng, hối lộ, hà hiếp người dân, bất lịch sự,… nếu có.


Trang web của Sở Cảnh Sát Westminster để người dân báo cáo các trường hợp tham nhũng. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)

Khi vào trang web thành phố tại http://www.westminster-ca.gov, nhấn vào chữ “Departments,” rồi nhấn vào chữ “Police,” cư dân sẽ được dẫn sang trang web của sở cảnh sát. Sau đó, vào hàng chữ “How Do I” (trên cùng bên trái), sẽ thấy chữ “Report” (màu vàng) ngay ở dưới. Dưới chữ này là một dãy chữ từ “Public Corruption” cho đến “Police Misconduct.”

Sau khi vào trang “Public Corruption,” người sử dụng được dẫn sang một trang khác, gọi là “Reporting Public Corruption,” có hai số điện thoại, một của Sở Cảnh Sát Westminster và một của FBI. Ngoài ra, từ trang web này, cư dân có thể đọc thêm thông tin của FBI để biết cách báo cáo từng trường hợp tham nhũng.

Ông Baker cũng kêu gọi sự hợp tác của tất cả cư dân khi thấy bất cứ hành động sai trái nào.

“Chúng tôi dù có đưa biện pháp nào ra cũng không thể thành công, nếu không có sự hợp tác của nạn nhân và người dân,” Cảnh Sát Trưởng Kevin Baker nói. “Nếu ngại ngùng, quý vị có thể báo cáo thẳng với FBI.”

Về những tin đồn còn có nhiều người liên quan đến các vụ tham nhũng và hối lộ trong vụ Do Construction-Donner, ông Baker cho biết: “Cho tới nay, theo điều tra trong nội bộ, chúng tôi chưa thấy có ai khác liên quan ngoài cảnh sát viên Anthony Dương Donner. Có một số cảnh sát khác được nêu tên, nhưng đó là những trường hợp khi Anthony gọi họ đến hỗ trợ, và có thể họ vô tình bị cảnh sát viên này ‘sử dụng.’ Chúng tôi vẫn đang tiếp tục hợp tác với FBI để điều tra. Bất cứ ai vi phạm, chúng tôi không tha thứ. Chúng tôi muốn bảo vệ thanh danh của chúng tôi.”

Khi được hỏi, trong bản khai hữu thệ của FBI, có đề cập một số dân cử, ông Baker cho biết: “Một lần nữa, tôi xin nhắc lại là cư dân phải tin tưởng cuộc điều tra của chúng tôi và phải kiên nhẫn trong lúc sự việc đang được tiến hành. Nếu có bất cứ cá nhân nào liên quan, chúng tôi sẽ đưa ra ánh sáng. Không ai có thể can thiệp vào cuộc điều tra của chúng tôi. Nếu chúng tôi không làm nghiêm túc, chúng tôi sẽ không được người dân tin tưởng.”

Về trường hợp của cảnh sát viên Anthony Dương Donner, ông Baker cho biết: “Chúng tôi không thể nói gì được vì FBI đang điều tra. Sau ngày ra tòa, có lẽ chúng tôi sẽ biết thêm một số chi tiết.”


Cảnh Sát Trưởng Kevin Baker: “Chúng tôi không tha thứ bất cứ trường hợp vi phạm nào. Ðó là điều tôi có thể bảo đảm trong tư cách cảnh sát trưởng.” (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)

“Liệu các biện pháp đưa ra có ngăn được tình trạng hối lộ?” phóng viên nhật báo Người Việt hỏi vị cảnh sát trưởng.

Ông trả lời: “Chúng tôi hy vọng như vậy. Tuy nhiên, đó là thách thức rất lớn đối với chúng tôi. Trước đây, chúng tôi có tổng cộng 107 cảnh sát viên, bây giờ ngân sách bị cắt giảm, Westminster chỉ còn 87 người. Ðây là một khó khăn, vì chúng tôi không có đủ người để chỉ huy, để kiểm tra chặt chẽ. Ngay bản thân tôi bây giờ cũng không có thư ký, mà phải nhờ một tình nguyện viên làm giúp công việc này.”

“Tôi không nghĩ hoán chuyển có thể giải quyết được vấn đề lâu dài,” bà Margie Rice nói. “Con người mà, dù có biện pháp thế nào, cũng có người tìm cách vi phạm luật, làm sao tránh được. Tuy nhiên, những biện pháp mà Cảnh Sát Trưởng Kevin Baker đưa ra là đáng khích lệ và đáng hy vọng. Ðó là cách duy nhất mà thành phố có thể làm trong lúc này.”

Theo bản cung khai hữu thệ mà FBI cung cấp, ông Kevin Ðỗ sống chung nhà với cảnh sát viên Anthony Dương Donner tại Fountain Valley từ năm 2011 cho đến nay.

Căn nhà này do ông Kevin Ðỗ làm chủ, và ông Anthony không phải trả tiền nhà.

Cảnh sát viên Anthony Dương Donner, 28 tuổi, thuộc Sở Cảnh Sát Westminster.

Ông Kevin Ðỗ, 38 tuổi, là chủ nhân công ty Do Construction & Design, Inc. có văn phòng tại Westminster.

Cả hai bị bắt hôm 30 Tháng Tám và sau đó được tại ngoại hậu tra. Sở Cảnh Sát Westminster hiện cho cảnh sát viên Anthony Dương Donner nghỉ phép có lương, trong lúc FBI tiếp tục điều tra.

Cả hai sẽ bị ra tòa liên bang vào ngày 20 Tháng Chín. Nếu bị kết tội, cả hai có thể bị tối đa 20 năm tù và bị phạt $250,000.
Theo FBI, ông Kevin Ðỗ cho một phụ nữ tên là H.L. vay tiền. Phụ nữ này là chủ nhân một nhà hàng dạng “lounge/restaurant” ở Westminster và một quán cà phê ở Garden Grove.

Khoảng Tháng Tư, 2011, ông Kevin Ðỗ cho bà H.L. vay $70,000 để mở nhà hàng ở Westminster. Sau đó, ông lại cho bà vay nhiều lần, tổng cộng thêm $100,000 nữa. Ðổi lại, ông Kevin Ðỗ đòi bà H.L. trả tiền lời 5%/tháng, tổng cộng là 60% một năm.

Cũng theo tài liệu FBI, bà H.L. nói bà đã trả $168,000 tiền lời cho ông Kevin Ðỗ, nhưng chưa trả vốn.

Sau đó, ông Kevin Ðỗ “ra lệnh” cho “lính” Anthony Dương Donner đi đòi nợ, bằng cách đe dọa sẽ bắt bà tội DUI, cho dù bà có uống rượu hay không, hoặc đến quấy rầy doanh nghiệp của bà.

Có lần, cảnh sát viên Anthony Dương Donner đi xe và mặc quần áo cảnh sát đến gặp bà H.L. thu tiền cho ông Kevin Ðỗ.

Ông Kevin Ðỗ, theo tài liệu FBI, có lần nói với bà H.L. rằng ông “căn bản là giới chức công lực và sẽ dùng quan hệ với nhân viên công lực và nhân viên kiểm tra thành phố can thiệp” vào công việc làm ăn của bà nếu bà không trả tiền lời đúng hạn.

––
Liên lạc tác giả: [email protected]

Hôm nay tôi đi học

 

Hoàng Xuân Sơn

Lật bật đã tới tháng 9 mùa tựu trường. Lòng nao nao nhớ thời học sinh nhỏ nhít đất thần kinh xưa. Ở Huế, mùa tựu trường cũng tưng bừng rộn rịp như bất cứ nơi nào khác trên đất quê nhà. Cũng bâng khuâng luyến tiếc những ngày hè tươi đẹp chóng qua. Cũng nao nức trở lại trường lớp gặp bạn thầy cũ, mới. Có khác chăng mặt mũi mấy cô mấy cậu học trò đều phảng phất một vẻ nghiêm trọng. Làm như mình đã trưởng thành tới nơi!


Mùa Thu, mùa tựu trường ở Huế trời bắt đầu se lạnh. Một chút mặt trời trong hơi thở sương mù lãng đãng. Ðâu đây phảng phất một vài hình ảnh đẹp. Từng đoàn học sinh nam đồng phục quần xanh sơ mi trắng, nữ áo trắng dài trinh nguyên lũ lượt tung tăng đạp xe nối đuôi nhau qua cầu. Gió hình như quấn quít thêm. Che nửa mặt người nón bài thơ và gót hồng rợp bến sông. Ði dưới tàng cây long não biếc xanh ngọc tiếng nói cười rộn rã. Những ánh mắt trao nụ cười bẽn lẽn. Trong nắng trong gió.

Không hiểu tại sao mỗi khi nhắc tới mùa tựu trường tôi lại liên tưởng đến câu thơ của cố thi sĩ Thanh Tâm Tuyền:

Tôi chờ đợi
lớn lên cùng giông bão
Hôm nay tuổi nhỏ khóc trên vai…

Mặc dù nhà thơ không chủ tâm viết về cái buổi đầu đời cắp sách đi học đó, nhưng sức tương phản dữ dội của câu thơ đã khắc đậm nét biết bao ảnh hình.

Ơi tuổi ấu thơ đã khóc nhè những giọt lệ đầu nơi nao? Trên đôi vai nào? Trên vai mình hay trên vai dịu mềm của chị, của mẹ hiền? Có khi mưa ngoài trời là giọt nước mắt em-đã nương theo vào đời làm từng nỗi ưu phiền (Ca từ Trịnh Công Sơn – Ru Ðời Ði Nhé). Chờ đợi nỗi ưu phiền. Lớn lên. “Thuở chờ đợi thời gian ghê gớm quá!” Ai đã viết câu thơ này nhỉ? Cái khoảnh khắc đợi chờ nào mà chẳng rụng rời khiếp đảm. Ðợi phút lâm chung. Hay giờ sinh ly tử biệt? Ðợi chờ Một Ðiều Gì Không Thể Biết đổ ập xuống đời ta. Ôi đợi chờ cuộc đời mai hậu sẽ không còn phẳng phiu nếp áo trinh nguyên. Giông bão đến. Giông bão không hề dự báo tương lai. Giông bão cuốn hút. Xóa nhòa tất cả. Của niềm thiết tha trìu mến ngày đầu theo chân mẹ đến trường. Của hôm nay tôi đi học.

Bạn cũng như tôi, chúng ta hẳn đã có một thời tuổi nhỏ êm đềm. Thời trẻ thơ vời vợi trong vòng tay đầm ấm gia đình. Thời của những ngày đầu năm quần áo lượt là tung tăng đầu ngõ với tờ bạc mừng tuổi trên tay còn thơm mùi mực. Nhớ tuổi nào ngô nghê lạc mẹ níu áo người khóc ròng giữa chợ. Nhớ thời nào của ý nghĩ trong veo, của quyên ca dế gáy và nhạc khúc rạng rỡ dưới đèn trăng. In hình đâu đó tôi đã hồi tưởng:

Nấc lên một tấc lòng xa vắng
tay nắm vòng múa quanh đèn giăng
nghiêng tuổi thơ vời vợi
con cá chép lên bờ
những chiếc vảy long lanh ánh bạc
me cười ngấn cổ cao che kín khuy hàn ngự
tháng chưa già đã lạnh
mắt nội lim dim hương trà mạn tiết
bé như hạt cườm chuỗi đeo
bé tèo teo con giống…

(Trích Ðêm Thu – Thơ Hoàng Xuân Sơn)

Những năm dài tha phương đã làm cùn nhụt trong tôi cái cảm thức nao nao và cõi lòng nô nức chờ đợi mùa tựu trường cùng những ngày vui hội hè lễ tết. Phương chi giờ đây trong nhà chỉ có “người già” mà không còn “em bé.” Chỉ còn hai mái đầu bạc thui thủi nhìn nhau. Hỡi ơi gia đình phân tán. Tình quyến luyến thân tộc bỗng chốc lấn cấn và nhạt nhẽo làm sao! Còn chi cái hương vị đậm đà của những bữa ăn cùng, của miếng ngọt bùi chia sẻ.

Mùa tựu trường! Mùa tựu trường! Tiếng trống tùng bi đánh lạc mất ngòi bút lá tre, bình mực tím và nụ cười duyên răng khểnh cô em bạn cùng đường. Giờ đây chỉ còn máy vi tính, điện thoại di động, giày nón thể thao lên đường nhập học. Buồn ơi đời tha phương. Tiếc nhớ khôn cùng. Năm nào còn làm thơ hoài vọng cố hương:

Nhớ quá chiều năm xưa áo mới
Xuân hành rạng rỡ chị cùng em
Chị còn giữ lại vành khăn ấm?
Em áo tha hương đã bạc sờn

(Trích Thư Xuân Gửi Chị – Thơ Hoàng Xuân Sơn)

Bạn ơi! Manh áo nào còn giữ lại được vết mực ố hoen đầu đời?
(Nguồn: sangtao@org)

Email từ Ðức

 

Chung Trường Sinh

Cuối Hè rồi…

Các bạn HH3 thân,
Chiều hôm kia, nghe tin tức buổi tối, ở phần cuối xướng ngôn viên chuyển qua phần dự báo thời tiết: chỉ còn chưa đầy 1 tháng nữa thì vào Thu rồi! Nhìn lên lịch, cuối tháng 8 rồi, thời tiết bước vào cuối hè, hèn gì mấy ngày nay buổi sáng sớm thấy lạnh. Không gian sương mù dầy đặc, nhiệt độ ngoài trời chỉ còn 10, 12 độ C (50-54 độ F).

Ðúng ra ở vùng cao như nhà tôi thì vào tháng này nhiệt độ như thế vẫn có thể gọi là “ấm.” Ban ngày nắng vẫn tốt và cũng có thể nóng đến 20 độ C. Người ta vẫn có thể dạo phố nghênh ngang với cái áo blouson, từ 10 giờ sáng trở đi thì có quyền cởi ra, ưỡn ngực khệnh khạng với cái áo T-shirt và đi giầy không vớ… cho mát!

Nhưng dù sao cuối Hè rồi, trên các lề đường những cánh hoa hồng đã bắt đầu héo đi, chỉ còn đâu đó 1 vài đóa hồng cuối hè đưa sắc, kiểu của nội dung ca khúc The Last Rose of Summer. Chỉ vì muốn chọc ông hai Dũng nên mấy ngày nay tôi lục lạo mấy cái video khác nhau về bản nhạc Odé an die Freude (Ode tot he Joy) của nhạc sư Beethoven. Cứ lo enjoy hoài mà quên mất ngày vui qua mau, hè đã ra đi gần hết. Ở đây mùa đẹp nhất vui nhất trong năm là mùa Hè, trời nắng từ sáng đến tối, nhiệt độ cứ trên 20 độ C, mọi người tự nhiên cũng vui vẻ, dễ chịu hẳn lên; nhất là cư ngụ ở cái xã tôi, đâu đâu người ta cũng trồng bông hồng, không những ở vườn sau, sân trước, cả đến những góc đường, đầu ngõ, người ta cũng trồng bông hồng, hay ít nhất cũng là các loại hoa đủ mầu. Dân Âu-Châu này gặp thứ gì cũng là Rosen. Tường-vi, Mãn-đà-La, Sơn trà hoa, Nguyệt Quế… đều gọi là hồng ráo trọi. Thường thì không có mùi thơm nhưng gai thì thứ nào cũng cùng mình! Rớ vô là đau nhói như chơi! Người Ðức còn lấy cả trái của 1 loại hồng dại phơi khô pha trà uống, tên là Hagebutte, tiếng anh gọi là Rose Hip; tôi tìm tự điển thì tiếng Việt là trái của cây tường vi (Không biết có phải không ? vì trái tường vi hơi có độc, tuy không mạnh nhưng cũng nhức nhối!)… Hơi lạc đề.

Mùa hè, cuối Hè, lá chưa vàng nhưng hoa thì bắt đầu héo. Ở những cánh đồng gần nhà tôi, người ta đã thu hoạch xong1vụ lúa. Bây giờ đất lại được bừa ra để trồng thứ khác, có chỗ trước trồng loại lúa mau chín nên từ hơn tháng nay đã đổi sang trồng bắp, có chỗ trồng cải để ép dầu, cũng có chỗ vừa thu hoạch khoai tây xong thì chuyển ra trồng bí rợ. Mấy năm gần đây, dân Ðức cũng làm lễ Haloween, đặc biệt là ở vùng Nam Ðức này, nguyên là gốc Kelten khác với dân Germanen ở phương Bắc. Bên Ái-nhĩ-lan, Tô-cách-lan, cũng gốc Kelten (Celts) nên cũng có những phong tục hơi hơi giống dân vùng này. Vả lại gần đây người ta có cái mode ăn uống lành mạnh mà theo tụi Ðức thì bí rợ rất tốt, có đủ thứ chất này chất nọ, tốt hơn thuốc Tiên (!)nên bây giờ dân chúng Ðức cũng thích “ra chợ xách 1 khoanh bí”… Rồi vì Nhật và Ðức là 2 nước bạn anh em, tuy núi không liền núi sông cũng chả liền sông nhưng 2 xứ đều thích chiếm nước bên cạnh, thích ngăn nắp, thích sạch sẽ và thích viết hay nói với động từ để ở cuối câu! Nên có 1 giống bí, gọi là giống Hokaido, nghe kể là nguồn gốc từ bên Nhật qua, trái bí bé tí (như dân Nhật), to chừng bằng trái dưa gang nhưng vỏ bí cứng, mầu cam sậm gần như đỏ, chỗ cái cuống u lên như quả bầu nhỏ. Bí rợ Hokaido rất ngọt, vì trái nhỏ, tối đa chừng 2kg, khác với bí rợ thường có trái nặng đến 7-8kg. Thứ này người ta trồng khá nhiều (tại bán đắt hơn bí rợ thường đến 2-3 lần), chỉ có cái là nhỏ quá, trẻ con không cắt hình đầu người được nên thường thì dù có mua bí này, người ta vẫn cứ phải mua 1 trái bí rợ bự về cho trẻ con chạm trổ, cắt xén để thắp nến…

Nhưng đó là chuyện mùa Thu, bây giờ bí mới mọc dây nhỏ xíu. Có những nhà nông ‘lười’ thu hoạch xong, chỉ trồng cỏ cho đỡ chăm sóc. Cứ cuối thu thì lái xe ra cắt cỏ đánh bành rồi cất vào chuồng bò để bò ăn qua đông. Thường mấy chỗ như thế thì họ hay chừa 1 khoảnh đất ra, sát đường cái, chuyên trồng bông, đủ thứ, rồi họ đặt ở đó 1 cái thùng sắt có 1 cái kẽ hở sau thùng cắm 1 tấm bảng đề giá tiền cho từng loại bông, trên cây cọc bảng có 1 cái lon cắm mấy con dao để người khách lấy dao và tự tay cắt cành bông nào mình thích, rồi cứ theo bản giá mà tự động nhét tiền vào thùng. Hồi trước thì thùng để khơi khơi nhưng dần dần các“quý khách” trở thành “ác khách,” nghĩa là bông cũng cắt mà thùng tiền cũng… bợ mất luôn! Nên bây giờ những cái thùng đó được xiềng vào cây cọc sắt cắm sâu xuống đất, và con dao cắt cũng được hàn vào chỗ cán1ống sắt to và dài để khỏi bị “quên” rồi bỏ luôn vào túi quần!

Thường những nơi có những vườn bán bông selft-service này là những địa điểm tôi nhớ nằm lòng, để nếu phải chở vợ tôi đi đâu đó thì tìm đường mà tránh xa cho tiết kiệm ngân quỹ eo hẹp! Nếu không thì phòng khách nhà tôi sẽ trở thành… rừng Amazone, mỗi lần đi vào đấy phải xẻ lá tìm đường mới thấy được… hiền nội!

Nếu không có những phiền toái này thì dù là cuối hè nhưng vẫn có thể vui vẻ nốc bia mà nghe bản nhạc The Last Rose of Summer cho thêm… thi vị!

Hồi xưa, xa xưa, nghĩa là lúc trên đầu tôi chỉ có 1 thứ tóc và còn mặc quần áo civil, thì cứ thích nghe: “Mỗi năm đến hè lòng man mác buồn…” của 1 cô ca sĩ có tiếng hát như khóc (không nhớ tên), hay là chui lên cái gác nóng như lửa của tay Vỵ nghe nó đánh gitar bài Hạ Trắng, nhưng lâu lâu cứ bị ông Sơn honda 66 lớp mình ử ư “anh ngỡ ai rót mật vào lòng…” Những mùa hè ấy (nói là những cho nhiều chứ thật ra chỉ có 3 mùa) đã đánh dấu 1 đoạn đường tuy ngắn nhưng khá quan trọng, trên đường đi mấy chục năm nay của tôi, đi từ Saigon ra Nha Trang, lên tới Bình Ðịnh rồi xuống Cần Thơ của Chị Ðào, rồi thì… ra biển, đi Phú Quốc, lên rừng Long Khánh rồi lại trên trời dưới nước qua Philippine, qua Ðức… cuối cùng chui vào 1cái hóc bà tó này ngồi rung đùi, ngó trời ngó đất! Trời to bằng cái vung, đất thì nhỏ bằng cái bàn tay! Còn lại chỉ là vài tấm hình trắng đen được chụp lúc tôi vừa lớn lên và… biết thắt cà-ra-vát!

Và bản Dòng Sông Xanh đang vang vang bên tai!: http://www. youtube. com/watch?v=3-mThvnBvIY

Cánh hồng cuối Hè
Ngày 07. 09. 2013

Các bạn HH3 thân,
Mùa Hè năm nay đến giờ phút này đã bắt đầu đi vào phần cuối. Những ngày này, ở vùng chân núi nhà tôi, thời tiết biến đổi đúng như những gì mà mình biết về cuối mùa hè bên Âu Châu: Trời nắng mưa bất chợt. Cỏ cây, hoa lá đều ở trong 1 tình trạng… vui được ngày nào vui ngày nấy. Như những ngày cuối Tháng Tư năm 1975 ở Thủ Ðô sàigòn vậy!

Trong các loại hoa, bông hồng, loài bông mọc khắp cùng vùng đất Âu Châu, ngay cả ở nơi hang cùng ngõ hẹp như ở chỗ nhà tôi, cũng cố gắng nở vào những ngày nắng ấm cuối cùng trong năm, để khoe sắc khoe hương, như nhiều người nói là “giữ vững lập trường” đến ngày cuối cùng của… mùa Hè chói lọi 1 thời ngắn ngủi, để chứng tỏ với thế gian rằng lòng trung trinh cao thượng của người quân tử, trượng phu vẫn sáng lừng dù là vào thời mạt vận.

Những ngày như thế này hằng năm, nghĩa là trong 30 năm qua, tôi đều ngồi im bên máy hát, hay cái computer, để nghe và chìm đắm trong tiếng vọng của bản nhạc được phổ từ bài thơ của 1 thi sĩ Ái-nhĩ-lan: The Last Rose of Summer, hoặc trong tiếng hát u sầu, uất hận của bản: Rừng Lá Thấp của nhạc sĩ Trần thiện Thanh.

Cho dù là với âm điệu nào, cuối Hè cũng cho tôi 1 cảm giác: Những ngày xán lạn huy hoàng nắng ấm sẽ qua đi, để nhường chỗ cho mưa Thu buồn thảm;và tiếp theo là băng tuyết khắt khe tàn bạo của những ngày đông không mặt trời, không gió ấm, không cả tiếng cười, và dĩ nhiên không cả tiếng hát, lời ca hoan lạc của mọi lớp tuổi yêu đời!

Hôm nay, bên bàn phím, ngoài cửa sổ trời vẫn nắng vẫn ấm, vẫn văng vẳng những tiếng cười đùa của đám trẻ “hợp chủng quốc” nơi khu nhà tôi ở, Nghĩa là vẫn vang hưởng âm thanh của những tuổi đời hồn nhiên hoan lạc: Hát cho con chim trên cành, cho cái diều trên không, cho con mèo hàng xóm, cho đứa trẻ đến từ bên kia bờ đại dương… Tất cả đều rộn rịp vui tươi của những đứa trẻ con vô tư lự, không có khác biệt chủng tộc ngôn ngữ tổ tiên, mầu da, tôn giáo. Chúng ta cùng nhẩy cò cò, cùng đạp xe đạp lượn ngược vòng trong xóm, cùng đeo vào xe bán cà-rem để mua cục kem lạnh mát, ngọt ngào,…
Tôi chống nạnh, (vì bụng đã hơi bự) nhìn theo chúng, rồi cứ thế mà thả hồn trở lại những ngày thơ ấu, thời những năm ê a lớp 5, lớp 4,… thời những năm của thập niên 50 thế kỷ trước.

Những người lớp cha mẹ chú bác lo âu hằng ngày vì cuộc sống, vì tương lai đám trẻ như chúng tôi thời ấy,… Tất cả đều vô nghĩa với đám trẻ chúng tôi: những ngày nắng tuy có gắt nhưng rất vui, không có tây đen gạch mặt, không có phòng nhì tây, không có những gương mặt lạnh lùng đến mất nhân tính của những ông cách mạng về thành… Chúng tôi, những đứa trẻ lúc ấy 7, 8 tuổi chơi trò “năm-mười”, lính kín cưỡi ngựa, bí đường, chạy tọt vô bót cảnh sát gần nhà: Chú ơi! thằng đó cỡi ngựa bắt con kìa! Chú “lính” cảnh sát áo kaki, dây nịt, chân bọc sà-cột da trắng, kéo cây súng vào người, cười cười rồi nói: “Thằng nào dám bắt con vậy? Cứ đứng đây. Nó mà tới, chú bắt nó để con khỏi sợ. Nha!” Rồi những ngày đến bãi cỏ trên quận thả diều, mấy chú cảnh sát chạy ra, vừa hút thuốc, vừa cá độ: Tao bắt thằng quần xanh, nó bay cao hơn! Tao bắt thằng nhỏ răng sún bay cao hơn!… Họ cá độ bằng vài điếu thuốc Ruby. Bọn trẻ con chúng tôi cứ thả diều. Ðằng nào khi đã thắng thì mấy chú cảnh sát cũng cho được1 cục kẹo, thứ kẹo cứng và hơi trong nhưng ngon thì tuyệt trần!

Bây giờ, tôi đứng nhìn đám nhỏ đủ mầu da, đang đá banh, đạp xe, nhẩy cò cò ở xóm bà tó nhà tôi. Tự nhiên tôi nhớ đến thời thơ ấu năm nào, nơi 1 cái quận còn nằm ngoại vi thành Sài Gòn, nơi những đứa trẻ nhổ ô-rô, vớt cá lòng tong và hay chạy lên bãi cỏ bên quận để xem mấy chú cảnh sát có cho mình1cục kẹo hơi trong trong nhưng cứng như đá không!

Ðám con nít khu nhà tôi thấy tôi cười hăng hắc, nham nhở ở ban-công, chúng nó ùa chạy lại, nhao nhao, “Hast du bonbon fur uns? -Onkel, hast du Eis?” Cái đám tí nhau này chúng nó cũng ồn ào nhốn nháo như đám con nít thời những năm 56-57của thế kỷ trước ở vùng Bình Tân, thủ đô Sàigòn, nước VNCH, có lẽ còn… hỗn hơn! Cà rem ở đây thì phải nói là rẻ mạt. Thứ nghèo sống bằng trợ cấp xã hội như tôi cũng có thể ăn kem thay cơm được! 2.60 Euros 1 hộp 12 cây cà rem. Bảo đảm lành mạnh, không hóa chất!

Mười mấy đứa Sây-Lẩu-Cố (tức tí nhau!) hoan hỉ hài lòng. Ðứa bóc kẹo, đứa bóc kem vừa đi vừa nói, “Danke Schun!- Ihr musst die Verpackung in den Mulleimer einwerfen, OK?” Tôi nói với theo bằng 1 câu Ðức-Mỹ đề huề (chúng mày phải bỏ giấy gói vào thùng rác, nghe!).

Mùa Hè vẫn cứ khiến cho tôi có những niềm vui nho nhỏ nhưng êm đềm như thế!

Hồi nhỏ tôi được cụ thân sinh dạy cho vần thơ của Victor Hugo:

“…Le Vieillard regardait le soleil qui se couche,
Le soleil regardait le vieillard qui se meurt !…””

Mùa Hè đẹp rồi cũng đi qua!

Thân chào.

Ba tôi, người đánh máy mướn

 

Ðoàn Xuân Thu

Năm 1961, thằng em thứ sáu, vừa lên 5 của tôi, bị viêm màng não rồi chết. Thân phụ tôi đang làm trưởng ty Bưu Ðiện Rạch Giá buồn bã quá, xin đổi về Sài Gòn làm ở Bưu Ðiện Trung Tâm gần Vương Cung Thánh Ðường, dắt cả gia đình chạy trốn một kỷ niệm buồn đau!

Nhà thì chính phủ cho một căn, ở lầu hai cư xá Bưu Ðiện trên đường Hai Bà Trưng, nằm trong con hẻm lớn, đối diện nhà thờ Tân Ðịnh.

Rồi năm 63, cuộc đảo chánh 1/11 của các tướng lãnh. Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và bào đệ là Cố Vấn Ngô Ðình Nhu bị giết. Cái chết của Tổng Thống Diệm đã chấm dứt luôn cuộc sống tương đối dễ thở của các công chức bậc trung. Nhà đông con, vật giá càng lúc càng tăng, con cái ngày một lớn, tiền ăn tiền quần áo tiền trường đè nặng lên vai Ba. Nên Ba phải làm thêm ‘job’ nữa. Ðánh máy mướn!

Vốn xuất thân từ thư ký, sau vừa làm vừa học, thi đậu cải ngạch thành Cán Sự Bưu Ðiện, Ba đánh máy rất nghề, chỉ nhìn vào văn bản mà không cần nhìn vào bàn phím chữ. Ðánh bằng mười ngón, tốc độ nhanh, nghe như tiếng rào rào đổ trên mái tôn. Mưa!

Cuối đường Phan Ðình Phùng, đi về phía Chợ Lớn rồi quẹo tay phải sang đường Lý Thái Tổ có rất nhiều tiệm Ronéo. Trong tiệm, ngoài giàn máy Ronéo, còn có vài cái máy đánh chữ, bàn ghế ngồi do chủ tiệm cung cấp. Làm ăn chia, tứ lục, 6/4.

Muốn in Ronéo, phải đánh trên giấy stencil. Ðó là loại giấy có tráng sáp để khi đánh, chữ sẽ khắc dấu trên sáp; rồi khi đưa vào máy, mực sẽ tràn ra phủ đầy trên những dấu lõm. Dán stencil vào máy, rồi quay bằng tay hay bằng điện. Bài viết sẽ lần lượt được in ra.

Khách hàng đến là các giáo sư mướn đánh máy bài giảng ở trường đại học, bán “cours” cho sinh viên.

Khách hàng cũng có thể là các nhà văn chuyên viết truyện dài đăng trên báo hằng ngày mà Miền Nam lúc bấy giờ gọi là viết “feuilleton” như Dương Hà, An Khê, Ngọc Linh, Sơn Nam… Họ mang những bản thảo viết tay, thường là khó đọc, đến mướn đánh máy cho rõ ràng để thợ sắp chữ nhà in dễ đọc, dễ sắp chữ trên bản kẽm rồi in ra thành tiểu thuyết.

Giá cả có khác nhau tùy theo khách hàng thường xuyên như các giáo sư hay các nhà văn. Ngoài ra cũng có nhận đánh đơn từ các loại.

Mỗi ngày, Ba cỡi chiếc xe đạp đòn dông đi làm theo giờ hành chánh từ 7 giờ sáng đến 5 giờ chiều. Tan sở lại phải chạy xuống tiệm Toàn Thắng ở cuối đường Phan Ðình Phùng để làm cái “job” thứ hai.

Khoảng 9, 10 giờ đêm, mệt mỏi, rã rời sau 16 tiếng đồng hồ làm việc, Ba mới theo đường Phan Thanh Giản, chỉ cho chạy một chiều để quay trở về Hai Bà Trưng, Tân Ðịnh.

Má vẫn thường chờ Ba cơm tối; còn 8 anh em tôi thì đã đi ngủ mất rồi. Hôm nào được lãnh lương hoặc đánh máy có tiền nhiều, Ba vẫn thường ghé qua xe bán bánh mì Tám Cẩu ở ngã tư Cao Thắng và Phan Thanh Giản, gần rạp hát Ðại Ðồng, mua vài ổ bánh mì về cho con.

Về nhà Ba vô giường, bế từng đứa dậy, đặt ngồi ngoài bàn rồi bảo: “Ăn đi con!” Ăn thì khoái thiệt nhưng “bù ngủ” híp con mắt luôn! Em gái tôi cắn miếng bán mì nhai, chưa kịp nuốt thì gục xuống bàn… ngủ tiếp. Ba lại bế từng đứa, cho vào giường ngủ.

Người ta thường bảo người mẹ như cánh cò. Cánh cò lặn lội bờ sông… Ba tôi không phải là cánh cò, Ba tôi là đại bàng nhưng con đông quá, bám vào đôi cánh của Ba nặng trĩu. Ba không bay cao, bay xa được mà chỉ bay là đà; nhưng vẫn phải rán mà bay để tìm mồi về cho vợ và con trong thời khốn khó!

Ba chưa từng bao giờ từ bỏ ước vọng là con mình sẽ được ăn học đàng hoàng, tới nơi tới chốn để cuộc đời chúng nó sau không phải vất vả như Ba!

Bước ra đời, nếu mình có thành công, có giỏi hơn người khác thường là bị gièm pha, xúc xiểm, ganh tị… nhưng mỗi thành công dù rất nhỏ trên trường đời của con thì Ba lại tự hào, hãnh diện coi thành công đó là rất lớn và là chính của Ba luôn!

Năm 63, tôi thi đậu vào Petrus Ký. Ðỡ cho Ba không phải lo tiền trường. Vì nếu rớt, phải đi học tư, tốn lắm! Việt Nam lúc đó đậu vào một trường công lập nổi tiếng như Petrus Trương Vĩnh Ký cho con trai hay Gia Long cho con gái là rất khó. Trường rất có kỷ luật nên học trò trường công không dám “cúp cua” đi chơi nên thường học giỏi hơn học trò trường tư dù giáo sư trường tư lại nổi tiếng dạy hay hơn: Dạy hay hơn nên mới được chủ trường tư mời dạy!

Ngày coi kết quả thi vào Petrus Ký, trời đổ trận mưa to. Thầy Trường dạy luyện thi đệ thất, có danh sách học trò thi đậu, báo tin vui. Ba nhường áo mưa cho con, còn mình đội mưa đến. Thầy và Ba bắt tay nhau, hỉ hả cười rạng rỡ, dù nước mưa còn chảy ròng ròng trên má. Tôi thấy thương Ba quá trời. Sao mà khổ dữ vậy! Tôi thấy đậu vô đệ thất, cho dù là của một trường trung học nổi tiếng nhứt miền Nam đi chăng nữa thì có gì là… lớn lao lắm đâu! Mấy thằng bạn học chung với tôi cũng thi đậu đó thôi.

Rồi khi thi đậu tú tài một, tú tài hai, Ba cũng mừng như chính Ba thi đậu vậy!

Khi vào đại học, Ba muốn con học Luật Khoa để trở thành luật sư chẳng hạn… Có lẽ đường hoạn lộ công danh của Ba đã từng bị xui xẻ, bị đối xử bất công quá hay chăng mà Ba không muốn con mình phải gánh chịu: Phải biết Luật để cho tụi nó sợ mà không dám áp bức lại mình?

Tôi thì thấy những chồng “cours” là đã “ớn.” Lại phải tốn rất nhiều tiền để mua nên không muốn đi học Luật; dù trường đó, trên con đường Duy Tân, thơ mộng và có biết bao nhiêu là con gái, tiểu thơ con nhà giàu chưng diện, ẹo tới, ẹo lui…
Ba nói một, hai lần thì tôi vẫn giả bộ tảng lờ. Nhưng lần thứ ba thì con Ba, cái thằng bất hiếu, cứng đầu cãi lại: “Con là con ếch mà Ba muốn con to bằng con bò! Không được đâu!”

Tôi đã nhẫn tâm làm tan nát niềm ước vọng của Ba tôi rồi; mà tôi cứ “thản nhiên” như không. Trời ạ!

Sau nầy vào Ðại Học Sư Phạm ra trường, đi dạy, một hôm Ba nói: “Thôi không làm luật sư, làm giáo sư cũng được!” Dù tôi chỉ là Giáo Sư Trung Học Ðệ Nhứt Cấp “quèn” mà thôi!

***

Rồi 75 đến, nước mất nhưng nhà tôi nhứt định không tan. Cũng sống lầm than mà cũng không nghe Ba một tiếng thở than: Ði tù cải tạo sáu tháng vì là viên chức ngụy quyền, cấp trưởng ty. Trong tù, Ba tôi vẫn ăn mặc một cách đàng hoàng, tề chỉnh. Ðêm trong trại, Ba xếp quần áo lại, lót dưới gối trên đầu nằm cho thẳng thớm. Sáng ra, mặc áo bỏ vô quần, mang giày như thuở còn đi làm; dù mấy thằng cán bộ nhiều lần mỉa mai, phê bình Ba là còn giữ tác phong”tiểu tư sản”! Ba chỉ nói: “Mình mất nước chớ không mất tư cách!”

Ra tù, Ba lại trở về Sài Gòn, ra Lý Thái Tổ ngồi đánh máy mướn để nuôi đàn con: đứa thì đi tù vì là sĩ quan Ngụy, đứa thì bị đuổi! Ba vẫn ăn mặc rất đàng hoàng, vẫn áo trắng bỏ vô quần, vẫn mang giày, dù cũ, ra đánh máy mướn, làm đơn cho bà con cô bác Sài Gòn đi thăm nuôi chồng, con đang ở tù cải tạo.

Cuộc sống cực kỳ khốn khó mà Ba vẫn không than van; vẫn không phiền trách ai đã làm cho mình mất nước!

Bà con ở Hố Nai, có thời đi lính Liên Hiệp Pháp, xuống nhờ Ba đánh đơn gởi Tổng Thống Francois Mitterrand để xin đi định cư. Là người học chương trình Pháp, Ba viết thơ giùm họ cảm động làm sao đến nỗi ông chánh văn phòng của tổng thống hồi đáp ngay, rồi Ba dịch ra tiếng Việt cho bà con nghe là: “Tổng Thống Cộng Hòa Pháp đã nhận được thơ ông và đã chỉ thị chuyển hồ sơ qua Bộ Ngoại Giao để hoàn tất tiếp hồ sơ!”. Sau đó cũng có vài gia đình được đi Pháp định cư.

Có lần ông chủ một cây xăng ở Rạch Giá bị đánh tư sản, bị đuổi đi vùng kinh tế. Khổ quá, ông trốn về Sài Gòn và gặp lại Ba. Ông vẫn còn gọi Ba là ông trưởng ty như ngày cũ! Ông nói vì không có hộ khẩu nên không làm được thông hành và chiếu khán nhập cảnh Hoa Kỳ; dù con ông đã gởi đơn về bảo lãnh. Ba lại giúp ông làm đơn gởi cho bọn công an, bộ phận xuất nhập cảnh ở đường Nguyễn Trãi Chợ Lớn và Tòa Ðại Sứ Mỹ ở Bangkok, Thailand. Ðơn thành công và ông được ra đi! Bùi ngùi từ giã, ông nói: “Tôi đi rồi, không biết chừng nào mới có dịp gặp lại ông trưởng ty.” Rồi rưng rưng nước mắt, bắt tay chào vĩnh biệt!

Ðọc sử thế giới, tôi nhớ rằng Raoul Wallenberg (1912-1947), nhà ngoại giao Thụy Ðiển, đã cứu hàng chục ngàn người Do Thái ở Hungary thoát khỏi Holocaust, lò hơi ngạt của Phát Xít Hitler trong Thế chiến thứ hai. Ông đã cấp những thông hành bảo vệ (Schutz-Pass) và cho những người Do Thái ẩn náu trong những tòa nhà thuộc tòa đại sứ Thụy Ðiển ở hải ngoại. Ngày 17 tháng 1, 1945, Hồng quân Cộng Sản Liên Xô tiến vào Budapest, Hungary bắt ông giam cầm và ông chết ngày 17 tháng 7, 1947 trong nhà tù Lubyanka ở Moskva. Trái tim vĩ đại của một con người nhân hậu đã mãi mãi thôi đập nữa!

Chủ Nghĩa Phát Xít và Chủ Nghĩa Cộng Sản đều tàn ác như nhau. Chính bọn chúng đã giết đi những người nhân hậu!

Dĩ nhiên thân phụ tôi không thể cứu được nhiều nạn nhân như ông Raoul Wallenberg đã từng làm; nhưng chí ít Ba tôi cũng đã giúp được một số người, dù con số đó rất nhỏ nhoi, vượt thoát khỏi gông cùm cộng sản. Chỉ có một trái tim nhân đạo mới dám làm được như thế! Ba từng nói: “Giúp được ai, dù là chuyện nhỏ, để làm cho họ bớt thống khổ hơn là điều phải làm con ơi!”

***

Năm 81, thằng em thứ 5 của tôi liều chết vượt biên đến được Pulau Bidong, Mã Lai. Về Adelaide, Nam Úc định cư, nó lần lượt lãnh Ba và các anh em qua. Cuối cùng cả gia đình đoàn tụ!

Ðêm nay, ngồi trước bàn phím computer, viết bài này do anh Hoàng Ðịnh Nam, báo Trẻ Garland Texas đặt bài, nhân Father’s Day bên Mỹ, tôi lại nhớ đến cái bàn máy đánh chữ của Ba. Nhớ mười ngón tay xương xẩu, cong vòng của Ba gõ trên bàn đánh máy mà ngày xưa người ta thường cảnh báo về già sẽ bị đau tim mà chết. Nhưng Ba không sợ! Mười ngón tay đó của Ba đã nuôi anh em con ăn học, đủ để sống sót và làm lại cuộc đời nơi đất lạ quê người. Tụi con xin cảm ơn Ba!

Ba bỏ tụi con đi, năm nay nữa là 15 năm chẵn. Tiếng gõ trên bàn máy chữ vẫn rào rào như tiếng mưa rơi… vẫn còn vang động đâu đây!Nhớ và thương vô cùng cái dáng của Ba còng lưng trên xe đạp trong những ngày ngược gió. Nhớ bánh mì Tám Cẩu Ba mua; mà đút vào miệng chưa kịp nhai tụi con đã gục đầu xuống bàn… mà ngủ tiếp. Nhớ cái bắt tay của Ba với thầy Trường ngày con đậu vào đệ thất.

Người ta cần tới Father’s Day, Chúa Nhựt, tuần lễ thứ ba của Tháng Sáu như ở Hoa Kỳ hay Chúa Nhựt, tuần lễ thứ nhứt của Tháng Chín ở Úc để kỷ niệm ngày từ phụ, để nhớ tới phụ thân!

Còn con, con nhớ Ba mỗi ngày, khi còn sống… Và cho đến lúc nào đó con sẽ được gặp lại Ba!

(Nguồn: trucle9@yahoo. com)

Thơ Hạ

 

Tìm Lại Mùa Hè

Ði tìm mùa Hè xưa
Góc sân trường năm cũ
Cây phượng già đứng rủ
Lớp học khẽ thở dài

Ði tìm mùa Hè xưa
Trong mắt người bạn cũ
Từ xa về họp mặt
Tuổi bạn đã vào Thu

Ði tìm mùa Hè xưa
Trên con đường kỷ niệm
Dốc xưa dài thương nhớ
Mối tình đầu ngây thơ

Ði tìm mùa Hè xưa
Tiếng ve sầu đầu Hạ
Lưu bút trao vội vã
Mắt buồn, thoáng mây qua

Ði tìm mùa Hè xưa
Giữa mùa hoa phượng nở
Bài thơ tình dang dở
Trong hộc bàn năm nao…

*Huỳnh Phước Minh

Phượng Vĩ

Em trở lại quê hương mùa phượng vĩ
Ðời kiêu sa trên mười ngón tay mềm
Anh cúi mặt đi giữa trời dông bão
Quê hương mình nghèo lắm phải không em

Thời ly loạn tưởng chẳng còn gặp nữa
Anh làm tthơ hoài vọng dấu chân người
Em thuở ấy tóc thơm mùi hoa bưởi
Áo lụa vàng rung nhịp bước chân vui

Trời sinh anh ra làm tên đãng tử
Khóc say sưa những chuyện thế gian cười
Tình huyễn mộng nên tình thường dang dở
Ðời vốn buồn nên tiếc một lần vui

Em trở lại quê hương mùa hạ đỏ
Sợ con ruồi con muỗi dính trên tay
Sợ vũng nước đen, sợ bờ kênh nhỏ
Sợ người quen như sợ kẻ ăn mày

Em đã gặp gì chăng trên vỉa phố
Ðám dân nghèo khổ cực sớt chia nhau
Và như thế hai mươi năm “giải phóng”
Họ cúi đầu gánh chịu những thương đau

Như anh cúi đầu nhìn em trở lại
Thương cuộc tình một thuở đã xanh rêu
Ôi cô gái tóc thơ mùi hoa bưởi
Chết thật rồi trong mộng tuổi hoa niên.

*Trần Trung Ðạo

Chút Tình Ðầu

Những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng
Em chở mùa hè của tôi đi đâu?
Chùm phượng vĩ em cầm là tuổi tôi mười tám
Thuở chẳng ai hay thầm lặng – mối tình đầu

Mối tình đầu của tôi có gì?
Chỉ một cơn mưa bay ngoài cửa lớp
Là áo người trắng cả giấc ngủ mê
Là bài thơ cứ còn hoài trong cặp
Giữa giờ chơi mang đến lại… mang về.

Mối tình đầu của tôi là anh chàng tội nghiệp
Mùa hạ leo cổng trường khắc nỗi nhớ vào cây
Người con gái mùa sau biết có còn gặp lại
Ngày khai trường áo lụa gió thu bay…

Mối tình đầu của tôi có gì?
Chỉ một cây đàn nhỏ
Rất vu vơ nhờ bài hát nói giùm
Ai cũng cũng hiểu – chỉ một người không hiểu
Nên có một gã khờ ngọng nghịu mãi thành câm…

Những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng
Em hái mùa hè trên cây
Chở kỷ niệm về nhà
Em chở mùa hè đi qua còn tôi đứng lại
Nhớ ngẩn người tà áo lụa nào xa.

*Ðỗ Trung Quân

(Nguồn: Son Ng.; [email protected])

Thơ Luân Hoán

 

Mượn dấu thời gian lưu hoa tay

[gởi các bạn Phan Nguyên, Song Thao, Hồ Ðình Nghiêm, Hoàng Xuân Sơn,Lưu Nguyễn, Võ Kỳ Ðiền, Trang Châu và Bắc Phong (vắng mặt)]

bè bạn mươi tuần réo gặp nhau
uống ăn nghiêm chỉnh, nhậu gì đâu
đương nhiên cũng có cụng ly chén
cụng cả bàn tay lẫn cái đầu

hôm nay gặp mặt bởi Phan Nguyên
họa sĩ rất ghiền vẽ lá tiên
rủ rê bằng hữu chơi trò mới
“mượn dấu thời gian” lưu cái duyên

duyên nghiệp với đời vốn khác nhau
mỗi người riêng một cõi nông sâu
mỏng dày cho mấy rồi cũng dính
bụi tháng năm thoa nhạt sắc màu

hẹn gởi lại đời những dấu tay
ngoằn ngoèo vân sống đến hôm nay
cà phê pha nước không đường có (1)
thở tiếp hơi người theo gió mây?

mười nụ hoa-tay ta bất ngờ
tàn phai vài cánh cuối đời thơ
dấu tình lưu lại cầu may được
hầu hạ người qua ghé tình cờ!

nhìn bạn xòe ra những tỏ bày
ngỡ như chuẩn bị phút chia tay
cười giòn sao tiếng nghe buồn lắm
mỗi đứa còn riêng được mấy ngày?

tự hỏi sao không lưu dấu gì
đại khái như hình cái con chi
phương phi thanh nhã truyền nhân ái
xứng cặp vừa đôi tình thánh thi

thầm nghĩ bậy chơi đấy bạn hiền
cảm ơn trang-giấy-lòng-Phan-Nguyên
chúng tôi in dấu tay ngon lắm
chứng tỏ đời còn sống hồn nhiên

“mượn dấu thời gian” nhắn gởi gì?
thật tình đâu để nói điều chi
bàn tay nằm chết trên vuông giấy
không khéo đôi khi biết thầm thì…

16 tháng 8, 2013

(1) chất liệu để thực hiện lưu dấu hoa tay

Gặp bạn

tóc ố chưa hề nhuộm
râu vụn thỉnh thoảng sơn
hôm nay đi gặp bạn
không mang theo “cây đờn”

đúng, cái chuyện tụ tập
bè bạn như cái ghiền
đã hứa bỏ, không được
đành tùy lúc tùy duyên

sức mình không mạnh rượu
cũng hoàn toàn yếu trà
ngồi nhâm nhi hơi thở
của bè bạn bay ra

Montréal chừ vắng
Phạm Nhuận, Bắc Phong rồi
may còn đủ mấy mống
Nguyễn, Châu, Sơn, Nghiêm, Ðiền

ồ suýt quên tri kỷ
Song Thao, gặp mỗi ngày
dù chỉ qua giọng nói
chừ ung dung ngồi đây

tình xưa vẫn như cũ
dẫu bàn nhậu thiếu người
vẫn thấy Chung, Ngữ, Ngạc (1)
với đủ kiểu rung đùi

sang năm sang năm nữa
lâu mấy cũng đến giờ
đám ta vứt hành lý
thăng thiên vào hư vô

ta tình nguyện đi trước
bởi vốn là bộ binh
chuyên mở đường lót xác
những ngã đi ấm tình

các bạn hãy cứ nhậu
sau khi viếng nhà quàng
ta không có ý đợi
nhớ thong thả xếp hàng.

(Viết vội sau khi về từ quán Phương Thảo, Montreal, 16 tháng 8, 2013)

(1) Những bạn đã mất Nguyễn Hữu Chung, Nguyễn Khắc Ngữ, Nguyên Ðông Ngac
(Nguồn: sangtao@org)

Thơ Nghiêu Minh

 

Tô cháo nấm tràm

Má gởi qua con ký nấm tràm
Gói theo ngàn sông biển tình thân
Mùi nấm gây gây mùi đất thở
Như mỗi hừng đông má quét sân

Hơn mười năm mới thấy tay nấm
Màu mốc cời như da khét nắng
Chiếc nấm ốm tong như tuổi thơ
Mỗi chiều má bắt con đi tắm

Con nhớ hoài cháo cá nấm tràm
Má thường nấu vừa ngọt vừa thanh
Má lựa từng nấm màu mướt rượt
Như có dầu dừa trên tóc xanh

Gạo thơm, cá ngọt, nấm đăng đắng
Mùi tiêu cay đầu lưỡi căng ra
Má luôn nhắc ăn nhiều nên thuốc
“Ăn đi con, mát thịt hiền da”

Vào ngày chay mười lăm mồng một
Má kho nấm tràm với tương hột
Quây quần trên bộ ván nhà sau
Nhìn ơ nấm mùi bay cào ruột

Hôm nay đông đủ người quê cũ
Con mời nếm lại nấm tràm xưa
Tuy cháo không ngọt bằng má nấu
Nhưng lịm cả tình má nắng mưa

(Nguồn: [email protected])

Thơ Nguyễn Phan Nhật Nam

 

Tháng Chín em về không?

Tháng Chín vào Thu lá rụng đầy,
Trời cao, cao lắm một tầng mây.
Mây bay qua núi rồi qua biển,
Tưởng đã như quên tới chốn này.

Ở chốn này dòng sông lặng im,
Lưa thưa bến vắng khói sương chìm.
Trang thơ nhạt gót chân mùa Hạ,
Anh lật qua mà nhói trái tim.

Bởi thiếu em niềm vui cũng phai,
Ôi chao anh nhớ tóc em dài.
Con đường thơ mộng ngày xưa đó,
Còn ấm lòng anh ánh nắng mai.

Tuổi ngọc hồn nhiên áo lụa đào,
Liễu gầy vương dáng nét thanh tao.
Thoảng bên tai tiếng đời sâu lắng,
Biển cả mênh mông sóng bể trào.

Buổi sáng anh nhìn những giọt sương,
Long lanh trên lá cuối khu vườn.
Sương tan, lá rụng nào ai biết,
Em có buồn không em dễ thương?

Gió phương xa chuyển kéo mây về,
Nơi chốn nào em đang mải mê.
Anh gối đầu trên thung lũng nhớ,
Ấm lên hơi thở lúc em kề.

Sẽ đến ngoài hiên những trận mưa,
Tâm tư xao động lúc giao mùa.
Em không là áng mây tan, tụ,
Bất chợt như là mưa buổi trưa.

Lại khiến cho lòng anh ngẩn ngơ,
Ðây con phố vắng vẫn anh chờ.
Có chia ly mới còn mong gặp,
Da diết đầy thêm mỗi ý thơ.

Tháng Chín vào Thu lá rụng nhiều,
Anh nhờ cơn gió gởi lời yêu.
Mây bay bay cuối trời phiêu lãng,
Hãy nhé giùm anh nói một điều.

Êm dịu vầng trăng thanh giữa đêm,
Soi cây cổ thụ nép bên thềm.
Chớm Thu anh góc đời hiu quạnh,
Tháng Chín em về không hỡi em?

Thơ Nguyễn Thị Thanh Dương

 

Mùa hè chua ngọt

Mùa hè có nhiều mùi vị dễ thương,
Mùi của hoa Huệ Tây vừa mới cắt,
Hoa cắm trong bình mùi thơm thoang thoảng,
Em ngủ trưa hè mộng giữa ban ngày.

Em nâng niu mùa hè trên từng ngón tay,
Những quả Raspberry xinh xinh chín đỏ,
Mùi vị chua chua sao mà quyến rũ,
Cho em vơi cơn khát nắng đang về.

Em lại thấy thèm mùi Strawberry,
Mùi dâu thơm như lời tình anh nói,
Em say nắng trong mùa hè ngắn ngủi,
Dù quả chua em vẫn nếm ngon lành.

Ðóa hoa Huệ Tây trong bình đã tàn,
Em vẫn vui Blueberry chín ngọt,
Cắn miếng dưa hấu vỏ xanh, đỏ ruột,
Mùa hè ơi sao ngọt mát thế này!

Mùa hè có nhiều mùi vị ngất ngây,
Không chỉ một loài hoa Huệ Tây em thích,
Mùi hương mong manh như mơ như thật,
Hồn em chơi vơi giữa thật và mơ.

Em yêu mùa hè chua ngọt nên thơ,
Là vẻ đẹp hồn nhiên của cuộc sống,
Quả mơ vàng hiền ngoan như cố tích,
Quả đào ửng hồng màu má thanh tân.

Mùa hè hào phóng nhiều trái cây ngon,
Quả trên cành nắng mùa hè giục giã,
Chưa kịp hái quả chín rơi trên cỏ,
Con chim ngẩn ngơ còn đậu trên cành.

Cho dù ngày mai em sẽ mất anh,
Như mùi thơm hoa Huệ Tây sẽ hết,
Còn lại với em mùa hè chua ngọt,
Những buồn vui yêu cho đến cuối mùa…

(22 tháng 6, 2013)

Thơ Tuyết Sơn- Nguyễn Văn Thu

 

Sóng Tình

Ven lề cỏ mượt ánh hoàng hôn
Dìu dập thanh xuân bước bước dồn.
Cuối mắt đường xa sa mạc vắng.
Ðàn trong âm ỉ tiếng tơ ngân.
Ði, về, cùng lạ tai, âm mới.
Bến đỗ mù giăng sóng trắng vờn.
Bên biển bên non chằn ruột nát.
Ðầu thêm sợi bạc. Ðắng tang thương.
Con sóng tình ơi sao vỗ mãi
Lăn tăn da diết trái tim người
Trăng phương nao đêm dài trăng sáng
Tình ơi. Tình. Tình không nguôi ngoai.

 

Tản mạn chiều

Chim di giương cánh vút,
Sớm tối giọng buồn vang
Trường hận cửa Vàm Cỏ,
Bóng lê cầu đoạn tràng.
Mênh mông trời đất lạnh,
Chầm chậm đêm đen lan.
Chiều gọi hồn dâu biển,
Trong từng hạt nắng tan.

 

Hoa trắng

Trời Xuân bóng ngả nghiêng chiều
Sân tù hoa trắng tiêu điều rụng rơi
Về quê ngày ấy xa xôi
Vỗ đàn ta hát những lời ngông nghênh.

(trích trong tập thơ Tình Thu-2)

Nhớ anh nhiều, anh Ðoàn Trọng Cảo


Nguyên Huy

Nhớ anh nhiều, anh Ðoàn Trọng Cảo ơi, người lính Thủy Quân Lục Chiến. Tôi phải ghi rõ Người Lính Thủy Quân Lục Chiến sau tên anh vì với tôi, anh xứng đáng là một người lính Thủy Quân Lục Chiến VNCH. Tôi không ở trong ngành TQLC mà lại dám khẳng định như vậy vì tôi đã có một kỷ niệm với anh trong đời quân ngũ.

Nguyên khi tôi được cử về làm trưởng ban Ðen vào năm 1964, trong đó có Ðài Gươm Thiêng Ái Quốc thuộc Sở Tâm Lý Chiến, Nha Kỹ Thuật, Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH, tôi được Thiếu Tá Phạm Thế Phiệt, khi ấy là chánh sự vụ Sở Tâm Lý Chiến có Thiếu Tá Vũ Quang Ninh làm phụ tá kiêm quản đốc Ðài Tiếng Nói Tự Do (The Voice of Freedom), có cho tôi biết là Trung Úy Ðoàn Trọng Cảo sẽ được điều về làm trưởng Ðài Gươm Thiêng Ái Quốc. Tôi vui mừng lắm vì sẽ được làm việc chung với người cũ thời hai chúng tôi còn là học sinh của trường Nguyễn Trãi Hà Nội. Thật ra tôi còn học dưới anh Cảo tới 2 lớp, nhưng chúng tôi đã thân nhau khi cùng tham gia trong ban văn nghệ của trường tổ chức đón Tết vào năm 1953. Nhớ lại chuyện cũ, thật bồi hồi biết mấy. Nguyên do tôi vào ban văn nghệ vì bạn bè (trong đó có anh Nguyễn Tường Ánh, cháu văn hào Nhất Linh chơi Piano trong ban nhạc) thấy tôi thỉnh thoảng có viết văn gửi báo (tuần báo Hồ Gươm, Hà Nội) nên đã đề cử tôi. Khi ban văn nghệ tổ chức ban nhạc, thiếu người đã cắt luôn tôi vào. Tôi từ chối vì ngoài cây đàn Mandolin chơi theo lối tài tử, tôi chẳng biết một thứ đàn gì thì anh Cảo, lúc đó đang học đệ Tam (lớp 10 bây giờ) đã nắm tay tôi khích lệ: “Ðừng lo, cậu không đàn được piano hay violon như Ánh, thì ở bên cạnh tớ, cầm cái mõ gõ nhịp theo ban nhạc là khỏi chê rồi.” Vẻ thân thiết của anh làm tôi tin tưởng. Ðến khi ban nhạc tập dượt một bài xuân nhịp Rumba Bolero, trong khi anh Cảo say sưa lướt những ngón tay mềm dẻo trên phím đàn Acordeon thì tôi cứ ngớ ra không biết gõ nhịp mõ vào mesure nào. Giải lao, anh Cảo đã chỉ cho tôi cách gõ mõ vào những dịp “choãi”. Nhưng với mớ kiến thức từ các giờ nhạc của thầy Chung Quân, tôi cũng chưa phân biệt được thế nào là nhịp “choãi” nên khi ban nhạc tập dượt trở lại tôi hăng hái gõ nhịp mõ vào những nhịp “chẵn” nên tiếng mõ không làm cho điệu Rumba Bolero được nhộn nhịp. Anh Cảo nhìn tôi cười cười. Khi hết giờ tập, anh dịu dàng bảo: “Cậu gõ sai nhịp cả, nhưng ăn thua mẹ gì, cứ thế mà chơi” và tôi đã trở thành “mõ sĩ” trong ban nhạc của nhà trường vào dịp Tết năm ấy.

Ngày xuân qua đi, chúng tôi trở lại lớp học, anh học buổi sáng, tôi học buổi chiều nên it khi được gặp lại nhau và anh bị gọi động viên đi Ðà Lạt lúc nào cũng không được rõ. Cho đến khi đất nước chia đôi, di cư vào Saigon, một vài lần có gặp lại anh trong bộ đồ vàng đi phép với chiếc nón beret xanh, bên cánh tay có huy hiệu khẩu đại bác thì cũng chỉ thăm hỏi nhau qua loa rồi đường ai nấy đi. Khi cũng được gọi vào quân ngũ, về làm việc tại Sở Tâm Lý Chiến, Nha Kỹ Thuật, lòng thầm mừng vui vì được làm “lính chữ Thọ” nhưng khi được biết Ðoàn Trọng Cảo sẽ về thay thế trong chức vụ trưởng Ðài Gươm Thiêng Ái Quốc, lòng tôi cũng hơi hốt hoảng vì thầm nghĩ như thế tôi có thể phải ra đơn vị tác chiến! Nhưng chờ cả mấy tháng qua, vẫn không thấy anh về nhận nhiệm vụ. Không khỏi mừng thầm và cám ơn anh Cảo đã không về, tôi tiếp tục công tác và cũng quên bẵng anh cho đến khi tình cờ được biết một nữ nhân viên trong đài Tiếng Nói Tự Do cho biết mình là vợ Ðại Úy Ðoàn Trọng Cảo, chúng tôi mới liên lạc lại với nhau.

Biến cố 30 tháng 4, 1975, xảy đến, chúng tôi cùng vào tù và mãi mười mấy năm sau, được định cư ở Hoa Kỳ chúng tôi mới gặp lại nhau trong những lần sinh hoạt của các hội Cựu Quân Nhân. Nhắc lại chuyện cũ, tôi có hỏi sao lần ấy anh không về làm trưởng Ðài Gươm Thiêng Ái Quốc, anh Cảo cho biết: “Moa không thích ở hậu phương chen chân trong các văn phòng. Nơi các đơn vị chiến đấu, toa có thể thỏa chí tang bồng bốn phương mới thỏa được chí nguyện của mình.”

Lời tâm tình của anh khiến tôi nhớ lại tâm tư hèn nhát của mình ngày ấy, không khỏi thấy thẹn thùng và cảm thấy kính phục người bạn vong niên thêm. Bao nhiêu năm qua, anh Cảo đối với tôi vẫn là niềm thông cảm cho những yếu kém của mình. Lúc nào cũng hòa nhã, êm ái thể hiện những lời khuyên nhủ khuyến khích. Biết tôi chủ trương tờ báo lính KBC Hải Ngoại đầy khó khăn tài chính, thỉnh thoảng anh lại dúi vào tay tôi trăm bạc gọi là “để duy trì cho được tiếng nói của lính.”

Ngày tôi ra mắt được hai cuốn truyện Giòng Xoáy, anh đến rất sớm, hoan hỉ khuyến khích “Hãy giữ vững ngòi bút cho ngay thẳng của một người lính”…

Bây giờ anh đã ra đi, với tôi là một mất mát một tình bạn vong niên, âm thầm nhưng thắm thiết, đã là một phần trong tuổi niên thiếu của mình.

Viết những dòng sổ tay này trên trang Chiến Hữu/Người Việt, tôi mong ước được gửi theo anh những tình cảm luyến nhớ anh, những tình cảm có với anh từ thời niên thiếu cho đến những ngày cùng sinh hoạt với các chiến hữu xưa.

Cầu xin anh đã nhẹ bước thênh thang vào Nước Chúa.

Quá khứ phản bội


Tình Hoài Hương

Trước khi vào chuyện: Do một số đông thân hữu khẩn thiết nhờ THH tìm anh tù “cải tạo” có tên Long, năm 1982 đã bị tù ở trại Z 30 Gia Rai-Xuân Lộc.
Vâng lời bạn, THH xin post bài viết đúng sự thật 100% này. Tác giả chỉ biết tên anh là Long, tôi đã không thể biết “họ” và tên đệm của anh Long. Anh Trung Úy Long, tù “cải tạo” ở trại Z 30 B, làm tại tổ than của trại tù. Anh Long được tin mẹ ở Khánh Hội đã chết. Nhưng… sau đó Mẹ anh Long đã đến “thăm con” trong chiếc quan tài. Vậy, nếu tình cờ anh Long (hoặc thân nhân của anh Long) có đọc được bài viết này, xin vui lòng nhắn gửi tin trên diễn đàn nhé anh. Có nhiều anh bạn tù “cải tạo” trong Z 30A + B vẫn ân cần nhiệt thành hỏi thăm tin tức và bệnh tình của anh Long đấy ạ.
Kính anh Long,

THH
([email protected])

***

Từng dòng lịch sử và dòng thời gian dài lê thê vùn vụt trôi qua theo tiếng còi tàu tốc hành hú từng hồi lát gừng, giô ng như nấc cụt, và con tàu từ từ xục xịch chuyển bánh, khói tỏa thành một lằn dài ngoẵng, bay mù mịt cả một góc trời, than khói đen đen xám xám kéo theo đoàn va-gông cũ kỹ, xập xệ lắc lư. Con tàu dường như nhão mục rền rĩ rung chuyển, rung rinh, hì hục, lết lết, lắc lư thụt lui thụt tới, cạ quẹt, rên xiết, rọt rẹt nghiến trên hai thanh tà vẹt hoen màu rỉ sét. Tôi nghe thật nhức óc và điếc con ráy quá chừng!

Vẫn những toa tàu chật như nêm chở đầy nhóc hàng hóa cồng kềnh ngổn ngang. Hành khách hỗn độn từ ga Sài Gòn đi về miền Nha Trang lố nhố bu đầy trên bậc cấp, trên mui trần, bên những ô cửa. Họ la hét, xô đẩy, giành giựt chỗ ngồi náo loạn. Tất cả những toa xe đều huyên náo, ồn ào kinh khủng. Nhân đó nạn sờ mó, móc túi, cướp bóc tràn lan trong toa tàu.
Dù có tên tiểu đoàn đường sắt chống trộm cướp thủ củ súng và cây dùi cui lăm le trong tay, ông ta đập cây dùi cui chan chát trên ô cửa, lớn tiếng oang oang la không ngớt, tay chỉ trỏ ra lệnh đóng hết cửa tàu. Cuối cùng ổng đứng áng ngữ ở bậc thang cửa lên xuống tàu, ổng cũng không thể ra oai, mà đành giương mắt trơ ra nhìn.

Bởi do phần lớn trại tù học tập “cải tạo” mọc lên như nấm mà ra. TÙ! hơn cả chuyện nhà nước quyên góp cứu trợ nạn nhân thiên tai, hỏa hoạn, lụt lội. Nhà nước không dựng-xây kiến thiết quốc gia, xây trường học, làm đường sá, hay làm những công trình kiến tạo khác. Mà, trên toàn lãnh thổ Việt Nam đâu đâu cũng có “trại tù” khổng lồ! Trại tù đã giết chết bao người trai trẻ, hủy hoại rất nhiều tiềm năng, xeo nạy nạo vét hết sĩ khí dũng chí con người. Họ đã bị nhà nước xã hội chủ nghĩa láo khoét tuyên bố: “đi học tập 14 ngày cho thông rồi về.” Nên đa số anh em quân nhân công cán chính Việt Nam Cộng Hòa chân thật đã bị mắc lừa, bị lọt lưới. Họ đã xô nhau tới đường cùng, đã trở thành những người tù tội bị nhánh tình đọa đày lưu vong trên chính quê hương.

Lớp lớp thanh niên trai tráng bị nhà nước đánh cắp không chỉ là gia sản, tài năng, trí dũng, sức khỏe, thân phận… tình bạn, tình thân giữa đồng loại, ý niệm về không gian và thời gian từ sự bình thường tiềm ẩn trong những phi thường đã qua. Trơ tráo trắng trợn hơn là tù “cải tạo” bị ăn cắp tuổi xuân-thì và bị lột trần cả về tình yêu – (tình yêu nhìn qua nhiều lĩnh vực và lăng kính: tự tin, dung hòa, tha thứ v.v… trên mọi phương diện). Thế nhưng… quá khứ ngục tù canh cánh bên lòng trỗi dậy; hy vọng mong manh, tự do bị vùi dập, lãng quên, một sự thiếu tình thương và thông cảm từ “phía nội thù” nằm ngay trước mặt. Yêu thương và đồng cảm thì ở chân trời xa tít tắp. Ðể rồi hắt lại trong đời tù sự đố kỵ, lạnh lùng, câm nín vì chọn lầm chỗ, khi người tù xa cơ thất thế nằm gọn trên đe dưới búa – hóa ra như chinh nhân chọn lầm một đất nước mà cấp lãnh đạo ấy chỉ biết giẫm đạp lên mình mà trả thù! – Gợi lại trong lòng mọi người bao hoài niệm bi hận về một giai đoạn lịch sử quá đau thương, nghiệt ngã của Miền Nam Việt Nam khốn cùng, điêu linh khổ ải và bất hạnh: Họ bị lọt vào cái bẫy sập tinh vi, độc ác, kinh dị nhất thế giới. Hàng hàng lớp lớp thanh niên trai tráng trở thành tù “cải tạo,” vùi dập đời trai đầy dũng khí và tráng kiện như món hàng béo bở đã ngã giá trong thương vụ quốc tế; qua những túm quà thăm nuôi eo xèo bé xíu đựng mắm muối, đường thẻ, tôm khô, cá khô, bánh thuốc lào, nửa ký đường cát trắng, trăm gram cà phê, v.v…
Ðôi khi sơ ý ngủ gục, vợ con tù cũng bị cướp sạch trơn. Ai vô phước đeo bông vàng, đều bị cướp giật đứt lìa tai, máu chảy ròng ròng. Thậm chí áo quần mặc trong người, nếu cướp coi “bộ đồ gió, bộ đồ vía” polyester mới xỏ vào lần thứ nhất, cũng bị trấn lột trắng trợn. Bạn tôi nói thế mà linh:

-Tao đi thăm nuôi tù “cải tạo” chính trị, chứ có phải đi vào trại tù “cải tạo” coi ca nhạc, hay đi ăn tiệc tùng gì, mà tao xum xoe diện áo quần lành lặn, bảnh bao tươm tất. Hử? Khi trời tối canh ba, cướp ùa ra trấn lột hết, chỉ còn bộ đồ lót. Có may, thì cướp nó quăng cho bộ đồ rách cụt ngủn, vợ tù đi chân đất vào thăm chồng. Khi đó thì mi nghe nè:

Ngày xưa ăn nói dễ nghe,
Bây giờ cẳn nhẳn chua lè khó ưa.
Ngày xưa thích được mây mưa,
Bây giờ hạn hán hết ưa tù tì
Ngày xưa thường sánh vai đi,
Bây giờ chỉ thích năm ì… xem phim…
Ngày xưa nhớ nhau đi tìm,
Bây giờ mặc kệ… con chim mất dzồi.
(*)

***

Bà mẹ chồng và các con trai, tôi, đi tàu lửa chật như nêm, họ nhét bà nội, mẹ con, cháu; ngồi chung với bầy súc vật kêu la đinh tai nhức óc, hôi thối, áo quần bu trét đầy phân heo, phân chó. Gà, vịt kêu quang quác ngổn ngang nhảy lên đầu lên cổ chúng tôi. Khổ nhất là khi chúng tôi đáp tàu chuyến, tàu chợ, xe đò… để vô Xà Bang cách Bà Rịa 28Km về hướng Bắc Ðông Bắc, xa Xã Cẩm Mỹ 6Km về hướng Nam. Xà Bang nằm cạnh Liên Tỉnh Lộ số 2, (từ Ngã ba Tân Phong, Quận Xuân Lộc, thuộc Tỉnh Long Khánh) thăm Luật. Về sau này Luật bị chuyển trại ở Long Giao, vô Z 30. Không có tiền, nên nhiều lần mẹ con bà cháu trụt xuống tàu lửa, hay xuống xe tại ngã ba Ông Ðồn, Xuân Lộc, rồi đi bộ ngang qua trại “tù cải tạo” Z 30 C Gia Rai (chúng tôi phải đi ngang qua trại tù Z 30 C ở đồi Phượng Vỹ. Hồi xưa do Trung-đoàn 48, thuộc Sư-đoàn 18 Việt Nam Cộng Hòa trấn giữ.) Muốn đi vào trại tù Z 30 A – hay Z 30 B – xa rất xa. Rất xa.

Mưa ào ạt đổ xuống khu rừng rậm, thế nên thiên nhiên được kỳ cọ rửa sạch cây cối, và những láng trại tù, nóc nhà tôn, nhà lá… Rừng cây trở nên dịu dàng vì vừa qua trận mưa to tắm mát núi rừng. Mẹ con tôi vội vàng lẽo đẽo theo sau những chị vợ tù, mẹ con tù. Họ từng đi thăm nuôi chồng, cha, con, trên đường rừng đồi nương nầy có ngõ tắt, thì sẽ đốt giai đoạn, sớm vào láng trại tù nhanh hơn, trước khi trời chuyển mưa, hay chóng sập tối. Chúng tôi và bốn con trai cố rảo bước, chỉ sợ chậm lại, thì sẽ bị lạc mất đường đi. Cỏ tranh cao lút đầu bọn trẻ đã cào xước vô da những lằn dài đỏ tươm máu và rát bỏng. Cỏ may rậm cũng cao gần đến bụng con, bông cỏ xâu vô hai ống quần, chích vào chân chúng tôi ngứa ngáy, khó chịu dường bao. Ve chó, ve đất, châu chấu, cào cào, ruồi trâu và muỗi cứ bay ào lên từng đoạn, mỗi khi chúng tôi bước qua khu đường tắt trong rừng sâu.

Trại tù Z 30 (là một trong muôn vàn trại tù mọc lên đông đen nhiều vô số, ấy là thành trì cốt cán chặt chẽ, độc ác, tróc khảo lột da con người kinh khủng), do đảng và nhà nước dựng lên, để cai trị tù “cải tạo.” Tù nhân bị dời đổi đi luôn luôn, xáo trộn lung tung tùng phèo lên như thế. Vì đảng, nhà nước, cán bộ rất sợ! Họ không muốn người tù ở lâu một nơi, cùng nhau ở một chỗ. Tù nhân sẽ dễ dàng kết thân với nhau, sẽ bí mật “tạo phản, phục hồi danh dự, và phục quốc, phục quê.”

Chả phải trai tráng đi “học tập cải tạo” (Reeducation Camp) gì sớt! mà trăm ngàn tốp tù chuyên môn đi “lao động khổ sai là vinh quang.” Tốp này chặt cây, tốp kia lo đào ao, tốp khác phải đi gánh phân, múc nước đái tưới rau tươi đã gieo trồng.
Trong lều bên góc trại có dựng lên một lò rèn thô sơ bằng tay, để tù nhân vào đó rèn rựa, rèn dao. Tù phải tự làm thợ rèn dao, rựa, cuốc, xẻng, cào; để đi cuốc đất, trồng ngô khoai đem cho đảng và cán bộ ăn. Tù vác xẻng đi đào mương khai cống rãnh. Tốp tù vào rừng lấy củi, chặt tre đốn cây làm nhà tù, làm thành nhà xong thì tự nhốt mình trong những láng trại xa xôi hẻo lánh: mùa nóng thì nóng lột da, mùa lạnh thì lạnh thấu xương.

Nơi tiếp tân: trên bàn quản giáo có chiếc hộp để “Góp ý.” Thật ra đấy là nơi dùng để làm “cần câu” theo dõi, đấu tố nhau, điềm chỉ “cho chắc cú thấu triệt” hơn. Nhiều thủ tục đơn từ khai báo lỉnh kỉnh, lẩm cẩm, rườm rà. Cán bộ lấy cây que tăm xe đạp thọc vào, khám xét, moi móc tỷ mỷ những thỏi kem đánh răng, rất lâu. Nhưng, thành thật mà nói thì mẹ con tôi sợ tên quản giáo (mà chúng tôi rỉ tai nhau là bộ mặt “Lucifer”) coi ở phòng khách, sợ gấp trăm lần sợ anh chị nào mang bệnh cùi lở loét. Chỉ sơ suất một cái gì, thì kể như chúng tôi không được cho phép thăm viếng, chuyện trò với chồng, con, cha, gì sớt. Nhưng nói cho cùng, không phải cán bộ trông coi trại giam, là ai ai cũng “ác ôn côn đồ độc ác” cả đâu. Bằng chứng là chỉ có một cán bộ Nhượng đối đãi với tù có khá tôn trọng, từ-tâm hơn nhiều người cán bộ công an cộng sản khác.

Chúng tôi bồn chồn nôn nóng lo âu chờ đợi vài giờ, nhón gót dáo dác nhìn quanh, mẹ con cứ đi ra lại đi vô. Trong hàng rào phân định làm thành mô hình chữ U, là bảy dãy nhà tù lợp tôn, lợp lá đối diện nhau. Phân đôi giữa những dãy tù là khoảng sân vừa đủ rộng. Ði xuống dãy nhà bếp và bốn dãy nhà tù biệt giam. Nơi đây tù nhân bị mang gông cùm lởm chởm, cornex thì ở tít sau mé cùng, các anh bị đọa đày khổ cực, khốn cùng đắng cay, đau khổ vô vọng hết biết. Bị tù không bao giờ biết ngày tuyên án. Chẳng biết lúc nào ra khỏi nơi quỷ khóc thần sầu!

Ðoàn tù lần lượt nối gót nhau từng tốp mươi người ra nhà khách. Thân thể họ toát ra những giọt mồ hôi hột, chảy dài từ đầu đến ngực, ướt đẫm lưng áo bạc phơ sột soạt từng đám phong trần. Trong cơn bấn loạn, sợ hãi, và băn khoăn tột độ, chúng tôi dáo dác nhìn quanh, cố tìm khuôn mặt người thân. Tôi lặng người nhìn những khuôn mặt vàng bủng, nhận ra nét cằn cỗi, già nua, hốc hác, bơ phờ và ốm đói mỏi mệt của tù, từ những lằn nhăn bên khóe miệng người tù, trên đuôi mắt hằn lún những đường rãnh trên vầng rán cao cao sạm nắng gió khuya chiều, mà bỗng dưng mình bủn rủn. Nhà khách im phăng phắc nghe cán bộ đọc tên tù xong. Thế rồi, mọi nơi, mọi chỗ, mọi người đồng loạt rộ lên tiếng nói rộn ràng lao xao, ríu rít như bầy ong vỡ tổ. Người người bùi ngùi thân thiết mừng rỡ trong nghẹn ngào, nức nở xúc động bồi hồi chào mừng nhau, rưng rưng hỏi thăm, ủi an nhau, vỗ về nhau, tay quệt nước mắt trào lệ, miệng cố mỉm cười méo mó để che dấu nỗi chua cay xót xa, đầy đắng chát tủi nhục vô trong lòng.

Tôi và Luật ở giữa hai vòng ngục tù quê hương. Chồng tôi ở vòng tù trong địa ngục, và đôi khi anh bị cùm trong vòng tù thứ ba là nơi chuyên giam nhốt ai có “trọng tội,” là bị xiềng xích hai tay hai chân, nơi cùm gông dành cho thứ dữ. Gia đình tôi (nói riêng và đa số gia đình bạn tù nói chung, cùng đồng bào ở vòng ngục tù bao la ngoài chấn song vô hình, khổng lồ đồ sộ và vô cùng kiên cố). Từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, lan ra tận Phú Quốc, Côn Sơn, đều giống nhau. Trước kia Luật đã ở các trại tù: Suối Máu – Ra Phú Quốc – Về trại Long Giao… Sau đó chuyển tới trại Z 30 A. Rồi chuyển qua Z 30 B. Gia Rai – Xuân Lộc. Quả thực, hồi nhỏ ông chồng tôi, có tên cúng cơm rất là dễ sợ, do bố mẹ ảnh đã đặt cho ảnh cái tên: “Phạm Trọng Luật” thật. Nhưng khi lớn lên, Luật đi học đến lớp Nhất, thì bị thầy giáo vui tính gọi bố mẹ lên, thầy ôn tồn nói:

-Tên gì cụ không đặt, lại đặt cho con cụ có cái tên kinh khủng đến thế. Nếu cậu ấy không có “tội,” thì cũng vì “phạm trọng…” mà vô tù, nghĩa là đi tù ây.

Ông thầy giáo “làm phụ thầy bói” như thế mà linh! Nay ảnh đã bị “phạm trọng luật” mà đi tù gần 10 năm bị học tập “cải tạo” sao ta!? Có lần chồng tôi cười cười trêu đùa:

-Thùy Mến ơi! Anh có muốn đổi tên thật phí, vẫn bị lừa như thường.

-Mắc gì đổi tên mà bị… ai lừa nào!

-Thì anh không đổi tên họ, mà vẫn phạm trọng luật, (!!??) đi tù, thì xong béng đời trai là cùng chứ gì!

Chúng tôi hết sức lo lắng về tình trạng bệnh sốt rét của Luật, nhất là đôi bàn tay anh đã lở loét, bàn chân anh làm độc dạo trước, (do bị cán bộ y tế trại kêu anh vào làm thí nghiệm, ông ta lấy con dao bầu cắt rau trong nhà bếp, cứa cứa vào chỗ đau, xịt máu mủ ra. Chẳng có sát trùng, sát triết gì. Không có thuốc tê, thuốc bại gì ráo. Luật đau đến ngất thì thôi). Mặc dù Luật đã ở tù mươi năm rồi, mỗi tháng anh đều được giấy cho đi thăm nuôi, nhưng gia đình tôi quá nghèo. Một năm chúng tôi chỉ chia nhau đi thăm nuôi Luật vài lần. Có năm chúng tôi không đi nỗi. Cho đi thăm nuôi tù, thật ra nhà nước chẳng ưu ái khoan hồng, tử tế hay tốt lành gì. Cho phép người ở vòng tù ngoài đi thăm nuôi vòng tù trong, chẳng qua là đảng muốn tù ngoài gánh vác đỡ bớt gánh nặng nuôi miệng ăn tù trong. Mặc dù tù “cải tạo” ăn ngày non bữa, bỏm bẻm chỉ có một muỗng cơm lạt độn bo bo hoặc sắn khoai. Do số lượng tù quá sức đông, nếu chiết tính sơ sơ, đảng cũng nát óc điên đầu, nhà nước khó khăn, nan giải trong vấn đề gạo thóc mắm muối của đảng, thì cũng là chuyện không thể. Luật thấy rõ hai túm quà bé tí nị, mà gia đình mang vào cho anh, nhưng quý giá gấp mười lần cá, thịt: Ðó là tất cả sức cần lao, đói khát, gian khổ, từ mẹ già răng long tóc bạc. Từ những bàn tay con gầy bé tí xíu. Từ người vợ mảnh mai. Họ đã nhịn đói, nhịn khát, ngõ hầu góp nhặt từng xu, từng đồng, cố gắng dành dụm cúp nũm, để mang vào tù cho anh ăn tạm qua cơn đói rã ruột.

Dĩ vãng vinh sang, anh: xe pháo rủng rỉnh, nhà cửa đình huỳnh sung túc an vui thình lình ồ ạt chảy về trong hiện tại đầy ứ, quá khứ phản bội khiến anh xốn xang chóng mặt đến hụt hơi. Vì, chuỗi lao tù cay cực kéo dài trước hàng chữ: “Không có gì quí hơn độc lập tự do.” Mỗi lần gặp mẹ ruột, vợ, con: mệt mỏi đến thăm, Luật chỉ ôm chúng tôi khóc ròng. Anh khóc, không vì cảnh “nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại.” Mà bởi anh rõ hơn ai hết, khi nhìn mẹ gầy trơ xương, nhìn vợ ốm yếu, nhìn đàn con nheo nhóc khẳng khiu, yếu xìu, xanh lướt kia đang rưng rưng giọt lệ mừng vui cuống quýt. Luật lặng người nhận ra nét già khú đế trên khuôn mặt mẹ xếp lớp lăn tăn. Anh đau đớn nhìn những hố mắt con thơ trũng sâu. Và, nơi khuôn mặt cô vợ hoa hậu diễm kiều mặt hoa da phấn năm nao, bàn tay búp măng nõn nà thuở xưa, nay “em tôi” có từng đường gân xanh nổi cồn bên thái dương, nơi bàn chân nứt nẻ, tróc lở, ở bàn tay sần sùi của “nàng”! Luật mủi lòng chẳng sợ ai cười chê, anh đã úp mặt vô hai bàn tay nứt nẻ mà khóc tướng lên, như trẻ thơ.

***

Lui cui dọn dẹp mấy bọc ni lông đựng túm xôi đậu xanh, tôi nhồi thêm ít đậu phụng rang vào xôi, để lát nữa sau khi hết giờ thăm nuôi, Luật sẽ xách vô trại, (thay vì Luật và mẹ con tôi ngồi ở đây, vừa ăn vừa nói chuyện, sẽ mất thì giờ, mà không nói được chuyện gì), thì tôi sửng sốt chợt thấy một đoàn hai chiếc xe hơi, từ ngoài con đường đất đỏ từ từ lăn bánh vào, và dừng lại ngay bên ngoài cổng trại Z 30. Trên xe lố nhố kẻ đứng người ngồi, đa số là người mặc áo tang, tôi nghe họ khóc than thảm thiết lắm. Tên cán bộ trại liền ra lệnh cho những người đang thăm nuôi dồn lại ở một cái bàn dài trong góc cùng. Tôi còn ngơ ngác và lo lắng nhìn quanh, Luật thì thầm:

-Anh Trung Úy Long, tù ở trại Z 30 B, hiện làm tại tổ than của trại tù. Anh Long được tin mẹ ở Khánh Hội đã chết. Dù có giấy báo tử, anh Long đã tức tốc xin phép trại trưởng, cho anh về nhà một ngày, để phục tang. Nhưng họ kiên quyết không cho. Nên hôm nay, thân nhân của anh Long đưa mẹ về quê an táng tại Phan Thiết. Trên đường đi về quê, xe tang ghé qua trước cổng trại, họ xin phép trại trưởng cho anh Long ra đứng bên trong cổng, ngay dưới hàng chữ: “Không có gì quý hơn độc lập tự do,” để lạy chào mẹ lần cuối cùng.

Bần thần chua xót và vô cùng cay đắng, khi tôi tận mắt chứng kiến cảnh anh Long xanh lướt, thân thể anh héo hon thất thểu ra cửa trại tù. Anh chập choạng ủ rũ như người mất trí, như người say, anh như thân cây sắp ngã. Anh Long lê từng bước thấp bước cao ra tới bàn quản giáo. Anh run run ký tên vào sổ thăm nuôi. Ðôi mắt anh Long sưng chù vù, mọng đỏ.
Lúc ấy người nhà mang vào cho anh Long bộ đồ tang trắng, họ quấn lên đầu anh mảnh khăn tang, anh buông thõng hai tay, đứng bất động như trời trồng. Anh Long để mặc họ xỏ áo thả gấu xỏ quần trắng cho mình như cậu bé con. Hai người thân kè xốc anh Long ở hai bên cánh tay, dìu đưa anh bước thấp bước cao ra cỗ áo quan mẹ lạnh giá. Như cái xác không hồn. Anh Long run rẩy cầm ba cây nhang quỳ xuống mặt đường đất đỏ gồ ghề. Bỗng anh Long khóc rống tướng lên. Nghe thảm thiết lắm. Anh Long sì sụp lạy mẹ và bất thần rệu xuống. Chuyện nầy ai ai trong trại tù Z 30 cũng biết, có thật 100%.

Bỗng dưng, từ thinh không rót vào tim tôi cảm giác rờn rợn, đau đau, phiền phiền uất ức, nghẹn ngào rất vớ vẩn. Tôi để tiếng lòng ngân trong chiều Thu vẫn hầm hập nóng rần. Dù gió heo may hái lá so đũa rụng đầy sân tù. Ôi! Vô vàn đau xót, chua cay và đắng chát nghẹn ngào, thương tâm dường bao! Những người đi thăm tù đang chứng kiến cảnh não nùng vĩnh biệt ly tan nầy, đều bưng mặt khóc. Nhìn mây trắng bồng bềnh trôi, như từng lọn bông gòn xôm xốp thao thức giữa hoàng hôn đượm buồn, tôi òa vỡ hàng nước mắt chảy ròng ròng xuống má. Cổng đập đã mở toang hoang, mọi nỗi niềm đau đớn được dịp tuôn trào. Tôi khóc cho quê hương lầm than. Khóc vì chồng đọa đày khốn khổ trong ngục tù. Khóc vì anh Long xa lạ mà quá gần gũi vô vàn thân thiết. Khóc vì mọi nhánh tình lưu vong bi lụy, người tù đọa đày trên chính quê hương Việt Nam dấu yêu. Khóc mẹ chồng già nua khổ sở. Khóc các con thơ ốm yếu cơ cực đói khát. Và khóc chính thân tôi tàn úa trước thời gian ủ rũ rục rã. Khóc ròng! Chuyện Mẹ Ðến Thăm Con trong tù “cải tạo” của Long đã có qua lời thơ của anh tù “cải tạo” Lê Xuân:

Xưa mẹ đến thăm con giữa chốn lưu đày,
Thời gian leo lét cháy trên tóc bạc như mây.
Tình mẹ thiên thu.
Nhưng đời mẹ chỉ còn tháng ngày.
Mẹ thường đến thăn con như mưa xuống cỏ cây.

Trưa hôm nay nắng nhiều hơn cả gió!
Có chiếc xe tang phủ đầy bụi đỏ
Trong chiếc quan tài, mẹ lại đến đây,
Mẹ lại đến đây giữa chốn lưu đày
Dù môi mẹ không còn hơi thở!
Gió trong con nhiều hơn giông tố.
Dù tim mẹ không còn nhịp thở.
Ðất lung lay, trời cũng xoay xoay.
Mắt con lệ mờ, hay sương khói xa bay?

Chúng tôi phải sống thầm lặng, đói nghèo, cơ cực suốt mười tám năm tẻ nhạt, hèn mọn, dưới tận đáy xã hội, giữa sự lạnh lùng, độc ác, phân biệt đối xử đầy bất công. Một sự thiếu thông cảm, không đức độ, trả thù dân tộc trắng trợn chẳng xót thương. Chả vị tha và hoàn toàn không có sự đồng cảm, tương thân tương trợ trong lúc khốn cùng. Thạch sùng tróc lưỡi lõ mắt nhìn gia đình tù dở sống dở chết, khi đất nước đổi đời. Số phận dân đen vùi dập trong bùn, sau ngày 30 tháng 4 mất nước. Ðồng bào ngoài tù đói khổ lầm than. Luật ở tù trong một chế độ phi nhân, tàn bạo, dã man đáng nguyền rủa suốt kiếp. Suốt kiếp! Gây cuồng nộ triệu triệu con tim, làm kinh hoàng thế giới! Chao! Trời cao đất dày ơi! Xin Trời ở trên cao ngó xuống. Ðất ở dưới ngóng lên. Hai bên giá vai có hai thánh linh biên chép, soi xét: Chứ, chúng tôi nào làm gì nên tội, sao phải gánh chịu cảnh đọa đày, tù tội oan nghiệt, ô nhục đến thế nầy? Quá khứ chồng chất lên dĩ vãng quá đầy, quá nặng, quá đau. Tôi không thể tom góp ít chuyện đau buồn vào từng ấy nét phác họa sơ sơ, ghi vỏn vẹn trên năm bảy trang giấy, kể hầu quý vị nghe hết nỗi cùng cực, cay đắng, khiếp đảm xiết đỗi trên chính quê hương tôi. Dạ thưa! Không thể! Vả chăng, giờ nầy tôi ghi lại dòng “lịch sử đổi đời,” không mục đích để bôi nhọ làm xấu xí thêm trang giấy. Câu chuyện tù “cải tạo” rành rành ra đấy, cũng chả cần phải trách móc chế diễu ai. Tuyệt nhiên tôi không muốn lên án một cá nhân, hay chế độ nào. Tôi xấu hổ khóc thầm cho số phận hẩm hiu, thân khổ-qua con cò lò mò, con rùa cơ cực bẽ bàng quá đỗi đau xót. Thế thôi!

Hội H.O. Cứu Trợ TPB&QP/VNCH

Hội H.O. Cứu Trợ TPB&QP/VNCH
(Disabled Veterans and Widows Relief Association)
A Non-Profit Corporation – No. 3141107 EIN: 26-4499492
P.O. Box 25554, Santa Ana, CA 92799
Phone: (714) 539-3545, (714) 371-7967
Email:
[email protected]; [email protected]
Website: http://www.camonanhtb.com
Chi phiếu xin đề: Hội H.O. Cứu trợ TPB&QPVNCH

Hải ngoại không quên tình chiến sĩ
Ðồng hương nhớ mãi nghĩa thương binh

Danh sách ân nhân gửi tiền đến hội:
(Tính đến ngày 1 tháng 9, 2013)

Nam Trần, San Jose, CA $100
Bà Minh Hà, Stockton, CA $100
Hoa Nguyễn, Seattle, WA $100
Qui Văn Nguyễn, Chantilly, VA $100
Ket Phạm, Santa Ana, CA $50
Diana Cao, Anaheim, CA $50
Lộc M. Phạm, Garden Grove, CA $50
Mai Lan Nguyễn, Richmond, TX $50
An Nguyễn, Lawrenceville, GA $20
Liên Lê, La Puente, CA $30
Tiền phúng điếu O. Nguyễn Duy Nghệ (dư), Garden Grove, CA $50
My D. Văn, Anaheim, CA $20 (còn tiếp)

Danh sách mạnh thường quân ủng hộ ÐNH “Cám Ơn Anh” Kỳ 6:

Tiếu Văn Nhàn (Chú Nhàn), Gastonia, NC $100
Cao Xuân Hai, $200
Mạnh Phạm, $100
Phạm Thuyên, $100
Tony Huỳnh, $100
ÔB. Hồ Văn Bè, $100
Nguyễn Tùng, $100
Lâm Tuấn Phước, $50
Nguyễn Tuân, $100
Nguyễn Ðức Lộc & gia đình, $500
Mong Lan Huỳnh, $50
Hồng Nguyễn, $100
Thiêm Vũ, $100
Ðỗ Vinh, $100
Nguyễn Thanh Nhiên, $100
Nguyễn Quang Bân, $100
Ðặng Phát Hữu, $100
Trịnh Nguyễn, $100
Liệu Nguyễn, $100
ÔB. Nguyễn Văn Danh, $100
Cựu TrT Châu Văn Hiền (K1 Thủ Ðức) $200 (2 lần)
Gia Ðình Kiem Nguyễn, $100
Nguyễn Văn Hao, $100
Phạm Vũ Tài, $100
Hứa Thanh Phong, $50
Hoàng Văn Tân, $200
Trương Hiền, Lebanon, TN $300
Thăng Nguyễn, $100
Ann Tô, $50
Hảo Mạnh Trần, $50
Nguyễn Văn Tuy, $100
Nguyễn Công Thành, $150
Kiều Leo, Kiều Nhất Tâm Alec (con trai), Richardson, TX $300
Michael Trần, $100
Dannie Lai, $50
Khanh Phan, $50
Gia Ðình Nguyễn Minh Quang, $50
Hoàng An, $50
Thien Nguyễn, $100
Kimy Nguyễn, $100
Gia Ðình Hai Anh, $100
Trần Lê Khanh, Trần Bình, $100
Smith Bùi Lệ Chi, Fountain Valley, CA $100
Nguyễn Oanh, $300
Ðức Nguyễn, $50
Tri Nguyễn, $50
Tony Phạm, $50
Vương Hòa, Escondido, CA $300 (còn tiếp)

Danh sách mạnh thường quân ủng hộ ÐNH “Cám Ơn Anh” Kỳ 7:

Ô. Hoàng Mão, Anaheim, CA $500
Nguyễn Trường Thịnh, Switzerland $1,000
HQ Ðặng Thanh Long, Irvine, CA $150
KQ Phạm Vương Thục, Irvine, CA $100
Chị Nguyệt Thu, Irvine, CA $50
Chị Bích Thu, Irvine, CA $100
Chị Diệu Phương, Irvine, CA $100
Chị Kim Xuân, Irvine, CA $100
Chị Ðại, Irvine, CA $100
Ô. Trần Thanh Lan, Pinellas Park, FL $100
Cô Tạ Mai Phương, San Francisco, CA $100
ÔB. Duy Tường, CHattanooga, TN $100
Bà Trần Thị Nhị, Santa Ana, CA $100
Ô. Ðỗ Quang Thomas, San Antonio, TX $100
Ô. Hồ D. Peter, Plano, TX $100
Bà Nguyễn Thị Như Hoa, Antioch, CA $100
Ô. Phạm Văn Huỳnh, Spokane, WA $100
Ô. Nguyễn Văn Hoàng, Chanhassen, MN $100
Phùng T. Khanh, Anaheim, CA $100
Bà Dương Thị Ngọc Diệp, Laguna Hills, CA $100
Ô. Nguyễn Ðức Phú, Everett, WA $100
ÔB. Ngô T. Hoàng, Chino Hills, CA $100
Nhóm H.O. Hoàng Ðạt San Francisco, CA $140 (gồm Diệp Quang Miêng, Vương Tứ Mỹ, Trần Sam Ðê, Nguyễn Văn Tài, Nguyễn Văn Hải, Nguyễn Văn Ngọc, và Hồ Văn Ðạo)
ÔB. Ðỗ Tri Timothy & Gia Ðình, Burnsville, MN $150
ÔB. Trần B. Ðịnh, Gardena, CA $200
Cô Nguyễn Bùi Kim, Huntington Beach, CA $200
Nguyễn Lê Thạch Tư, San Jose, CA $200
ÔB. Nguyễn Andrew, Fountain Valley, CA $200
ÔB. Võ Anh Tuấn, San Ramon, CA $200
Ô. Hoàng T. Gian, Metarie, LA $200
ÔB. Phạm Ngọc Lợi, Houston, TX $500
South Vietnamese Veterans Association of S.Carolina, Taylors, SC $1,000
Bà Ðào Thị Bồng, Burnsville, MN $1,000
ÔB. Trần Minh Vang, San Jose, CA $50
ÔB. Hoàng Bá Kiệt, San Jose, CA $50
Bà Trần Thị Tuyết, Temple City, CA $50
Bà Nguyễn Thị Xuân Lang, $50
Bà Nguyễn Thị Xuân Hương & Nguyễn Thịnh, $50
Trần M. Ðào, San Jose, CA $100
ÔB. Phạm Hồng Anh, Sunnyvale, CA $100
ÔB. Phạm Tuấn Sơn, Santa Clara, CA $100
Nguyễn Quốc Thái, $100
Ô. Tôn Thất Vui, $100
ÔB. Ngô Dư, Garden Grove, CA $100
Cô Kim Hồng Eggrolls, Westminster, CA $100
Bà Nguyễn Ngô Thị Hiền, San Diego, CA $200
ÔB. Lê Tuất & Trâm, Los Angeles, CA $200
Bà Huỳnh Quế Chi, Los Angeles, CA $200
Cựu ÐT Huỳnh Ẩn & Gia Ðình, San Jose, CA $200
Bà Quả phụ Nguyễn Hữu Ái, $200
Bà Ðặng Thị Mới, Anaheim, CA $40
Ô. Ngô Văn Hà, Garden Grove, CA $50
Ô. Phan Văn Ý, Anaheim, CA $200 (còn tiếp)

Danh sách TPB/VNCH đã được giúp đỡ:

Nguyễn Quyên, Quảng Ngãi, NQ Sq:123.701. Cụt chân phải.
Phạm Bảy, Quảng Ngãi, CLQ Sq:209.113. Cụt chân phải.
Nguyễn Kiếm, Quảng Ngãi, NQ Sq:130.147. Cụt chân trái.
Ðinh Hữu Nghĩa, Quảng Ngãi, CLQ Sq:208.286. Cụt chân trái.
Bùi Thanh Minh, Quảng Ngãi, HS CLQ Sq:201.926. Cụt chân trái.
Trần Hay, Quảng Nam, NQ Sq:183.671. Cụt chân phải.
Trần Ðức Phúc, Quảng Ngãi, CLQ Sq:200.686. Cụt chân trái.
Trương Văn Thành, Ðà Nẵng, ÐPQ Sq:299.582. Cụt chân phải.
Nguyễn Cáng, Ðà Nẵng, CLQ Sq:213.939. Cụt chân phải.
Ngô Quảng, Quảng Nam, NQ Sq:169.824. Liệt chân trái.
Lê Xuân Tuế, Quảng Nam, TS CLQ Sq:221.437. Cụt chân phải.
Bùi Văn Diêm, Quảng Nam, CLQ Sq:206.984. Mù mắt trái.
Trần Vật, Quảng Nam, ÐPQ Sq:702.959. Cụt chân trái.
Phạm Trơn, Quảng Nam, B2 CLQ Sq:696.235. Cụt chân phải.
Lê Tân, Quảng Nam, NQ Sq:113,852. Cụt chân trái.
Hồ Bá (Bảy), Quảng Ngãi, B1 CLQ Sq:213.083. Cụt chân trái. Cụt bàn tay trái.
Phạm Vàng, Quảng Ngãi, HS CLQ Sq:207.240. Cụt chân trái.
Tần Minh Thành, Ðà Nẵng, TU CLQ Sq:145.560. Cụt chân phải.
Nguyễn Văn Mành, Quảng Nam, NQ Sq:113.697. Cụt chân phải.
Ðặng Ngọc Dũng, Quảng Ngãi, Sq:402.197. Cụt chân trái.
Nguyễn Hoa (Hoanh), Quảng Ngãi, B2 ÐPQ Sq:215.467. Cụt bàn chân trái.
Trương Luận, Quảng Nam, CLQ Sq:200.892. Mù mắt trái.
Nguyễn Ba, Quảng Nam, CLQ Sq:204.709. Gãy chân phải.
Mai Cân, Quảng Ngãi, CLQ Sq:??? Cụt bàn chân trái.
Nguyễn Hữu Luận, Bình Ðịnh, NQ Sq:237.339. Cụt chân phải. Gãy bàn chân trái.
Nguyễn Danh Ðại, Bình Thuận, Quân Dịch Sq:130.382. Mù mắt trái.
Nguyễn Văn Thời, Bình Thuận, CLQ Sq:140.821. Mù mắt phải.
Lê Văn Nị, Phú Yên, NQ Sq:206.636. Cụt chân phải.
Ngô Ngọc Sen, Khánh Hòa, TS ÐPQ Sq:109.799. Bị thương ở đầu.
Nguyễn Thành Trung, Phú Yên, TS CLQ Sq:403.024. Cụt chân phải.
Lương Muộn, Khánh Hòa, HS1 CLQ Sq:412.056. Cụt chân phải. (Còn tiếp)

Danh sách QP/VNCH đã được giúp đỡ:

Nguyễn Thị Ngộ, Long An, Quả phụ Cố TS1 Phùng Văn Lợi. Tử trận năm 1970.
Nguyễn Thị Kiện, Long An, Quả phụ Cố HS ÐPQ Trần Thông Tâm. Tử trận năm 1972.
Lê Thị Bảnh, Cần Thơ, Quả phụ Cố B1 TPB Nguyễn Văn Hùng. Tử trận năm 1972.
Lê Văn Ða, Quảng Nam, Tổ phụ Cố ChU Lê Văn Lân. Tử trận năm 1974.
Ðặng Thị Hai, Long An, Quả phụ Cố B1 ÐPQ Tô Văn Rớt. Tử trận năm 1969.
Ðinh Thị Nhượng, Bến Tre, Quả phụ Cố HS ÐPQ Huỳnh Văn Tơ. Tử trận năm 1971.
Vũ Thị Bông, Saigon, Quả phụ Cố TS Trần Văn Màu. Tử trận năm 1971.
Nguyễn Thị Lang, Long An, Quả phụ Cố TS Phạm Văn Tình. Tử trận năm 1972.
Nguyễn Thị Chúc, Saigon, Quả phụ Cố TS Nguyễn Văn Chu. Tử trận năm 1974.
Lê Thị Diệu, Saigon, Tổ phụ Cố B2 Nguyễn Văn Kiêm. Tử trận năm 1974.
Kiều Thị Mười Hai, Long An, Quả phụ Cố TS Phạm Văn Hai. Tử trận năm 1968.
Trần Thị Năm, Long An, Quả phụ Cố HS Nguyễn Văn Bá. Tử trận năm 1969.
Trần Thị Bùi, Long An, Quả phụ Cố HS1 Trần Văn Ðức. Tử trận năm 1971. (còn tiếp)

Nam Hàn thể hiện ‘toàn cầu hóa là tiêu chuẩn mới’

 

LOS ANGELES (NV)Giải thưởng “2013 Korean Globalization Awards” về các nỗ lực thể hiện việc quản lý tòan cầu hóa được trao cho các công ty lớn nhỏ của Nam Hàn, như Huyndai Motor (giải đặc biệt), KOAM International (giải thành tích), Maltani Lighting Co., Ltd. (giải công ty sản xuất tòan cầu). Các giải khác tùy loại về tay các công ty Chungdahm Learning, Inc.; All&B, CHA Hollywood Medical Center, LP; Jeon Hospital, Dream Plastic Surgery, Hansarang Woman’s Clinic, Ganghwa County, Gochang County, Daegu Metropolitan City, và Paju City.

Giáo Sư Sang Lin Han, Đại Học Hanyang, Chủ Tịch Hội Đồng Giám Khảo. (Hình: Korea Times)

Giáo sư Sang Lin Han thuộc Đại Học Hanyang, chủ tịch hội đồng giám khảo, nhân dịp này có những nhận xét về những đặc điểm của sự kiện.

Ông nói: “Nam Hàn Toàn Cầu Hóa Tốc độ ngày càng tăng của phát triển công nghệ và sự phát triển liên tục của truyền thông di động và Internet đem mọi người trên thế giới gần gũi nhau hơn hơn bao giờ hết. Như vậy, nó sẽ không quá lời khi nói rằng các doanh nghiệp ngày nay sẽ nguy nếu họ không để tâm hoạt động với thị trường toàn cầu. Công ty phải thường xuyên theo đuổi đổi mới và phải cạnh tranh không chỉ trong lĩnh vực quốc gia, nhưng phải hòa nhập vào thị trường trên toàn thế giới.”

“Trong ý nghĩa đó, Giải Thưởng Nam Hàn Toàn Cầu Hóa do nhật báo The Korea Times tổ chức và được tài trợ bởi Phòng Thương Mại và Công Nghiệp Nam Hàn, nhằm xác định và vinh danh các doanh nghiệp đủ loại trong nội địa Nam Hàn, xét trên thực tế về cách họ thi hành quản lý toàn cầu. Giải thưởng được tổ chức năm nay là lần thứ hai, và chứng tỏ rõ ràng rằng sự quan tâm chung trong việc toàn cầu hóa Nam Hàn ngày càng gia tăng, như được thấy qua số công ty nộp đơn tham dự đông hơn, so với lần tổ chức giải thưởng năm ngoái, “ ông giải thích.

Giáo sư kết luận: “Sự vinh danh không chỉ đơn giản là một cái vỗ nhẹ trên vai cho một công việc thực hiện tốt đối với một số công ty đáng chú ý. Đó là một cách đánh dấu cột mốc quan trọng cho nhiều công ty tham gia vào chương trình trong hành trình trau dồi khả năng quản lý toàn cầu để tiến tới đẳng cấp có tầm cỡ thế giới. Một lần nữa, xin chúc mừng tất cả những cá nhân được vinh danh và những người nhiệt tình nhận ra họ thông qua sự thành công của chương trình này tại Nam Hàn và ở ngoại quốc.” (L.N.)

Giải quyết vụ khủng hoảng Syria trong hoàn cảnh mới

 


WASHINGTON (WP) Syria hôm Thứ Ba cho hay đã chấp nhận đề nghị của Nga là để quốc tế kiểm soát võ khí hóa học của mình trong khi chờ đợi được phá hủy.









Tổng Thống Obama từ tòa Bạch Ốc nói chuyện với dân chúng Mỹ qua truyền hình. (Hình: Evan Vucci/Getty Images)


Ngọai Trưởng Syria, Walid al-Moallem, tuyên bố hôm Thứ  Ba sau cuộc họp với chủ tịch quốc hội Nga rằng chính phủ ông nhanh chóng “ đồng ý với đề nghị của Nga.”  và nói thêm rằng Syria làm như vậy để “ngăn cản sự hiếu chiến của Mỹ.”

Trong khi đó, Ngoại Trưởng Nga Sergey Lavrov cho hay Nga nay đang cùng với Syria chuẩn bị một  đề nghị chi tiết và sẽ đưa ra trước thế  giới trong thời gian ngắn tới đây.

Với những diễn biến ấy cuộc khủng hoảng Syria đi tới một giai đoạn có thể giải quyết bằng ngoại giao thay vì quân sự và Hoa Kỳ cũng đồng ý đi theo con đường đó dù vẫn có dè dặt về thái độ tuân hành của Syria.

Tờ báo mạng The Huffington Post cho biết Dân Biểu Dân Chủ Brad Sherman, đơn vị 30 California,  trao đổi ý kiến với đại sứ Nga ở Washington trưa Thứ Ba và ông tin rằng Nga nghiêm chỉnh trong việc thúc đẩy giải pháp ngoại giao đi đến kết quả.

Nhưng một quan sát viên đôc lập lại nghi ngờ rằng trong vụ này Nga và Mỹ đang thỏa hiệp ngầm để chơi trò “good cop” “bad cop”. Dù đó chỉ là một giả thuyết nhưng có nhiều dấu hiệu cho thấy Hoa Kỳ có vẻ thật sự không đặt Syria là.đối tượng nặng ký cần phải thanh toán bằng mọi giá.

Tờ The Telegraph ở Anh nhắc lại rằng ngày 28 tháng 3 năm 2011, Tổng Thống Obama cũng đã từng nói chuyện với dân chúng về chiến dịch của NATO ở Libya, trong đó ông nhấn mạnh nhu cầu phải có hành động nhanh chóng và đã can thiệp không cần thông qua quốc hội. Nhưng lần này ở Syria ông không có quyết định vội vã mà đưa vấn đề xin ý kiến quốc hội ngày 31 tháng 8, mặc dầu thời gian đó quốc hội còn đang nghỉ hè 10 ngày sau mới trở lại làm việc.

Người ta chờ đợi Tổng Thống Obama sẽ trình bày vấn đề như thế nào với dân chúng Mỹ tối Thứ Ba. Dự định ban đầu của Tổng Thống từ khi còn ở hội nghị G-20 là song song với việc vận động quốc hội chấp thuận, ông sẽ giải thích cho dân Mỹ về nghĩa vụ và nhất là nhu cầu khiến Hoa Kỳ phải can thiệp, mặc dầu chỉ có nhiều nhất là phân nửa dư luận quốc tế đồng quan điểm. Nếu đạt hai mục tiêu này, ông sẽ dễ dàng quyết định ra lệnh hành động. Nếu không đạt mục tiêu được sự chấp thuận của quốc hội thì ông vẫn có quyền hành động nhưng tình thế sẽ phức tạp hơn và sẽ phụ thuộc vào kết quả cụ thể của chiến dịch oanh kích Syria.

Bây giờ với sự trung gian của Nga, Syria đã lui bước và Tổng Thống không còn đứng trước khó khăn của việc cần phải thuyết phục nữa. Do đó bài diễn văn của ông hầu hết chỉ nêu ra những nguyên tắc.  Đồng thời ông cho rằng hãy còn quá sớm để nói là nỗ lực ngoại giao có thể kết quả hay không, nhưng hiện nay đang có triển vọng dứt bỏ vũ khí hóa học ở Syria mà không cần sử dụng tới vũ lực. Tổng Thống cũng xác nhận là đã yêu cầu quốc hội hoãn lại việc bỏ phiếu cho phép đánh Syria.

Những điểm cụ thể mà người ta chờ đợi ở bài diễn từ dài 2,200 từ của Tổng Thống Obama tối Thứ Ba, được đề cập trong đoạn gần cuối khoảng 400 từ, bao gồm:

“Trong vài ngày gần đây chúng ta đã nhìn thấy một số dấu hiệu đáng khích lệ”, lời Tổng Thống, “một phần vì sự đe dọa đáng ngại bằng hành động quân sự của Hoa Kỳ cũng như cuộc thảo luận xây dựng của tôi với Tổng Thống Putin. Chính quyền Nga đã chứng tỏ đứng về phía cộng đồng quốc tế để thúc đầy Assad từ bỏ vũ khí hóa học”.

Tổng Thống cũng cho biết đã cử Ngoại Trưởng John Kerry đi gặp Ngoại Trưởng Nga ngày Thứ Năm còn ông sẽ tiếp tục các cuộc thảo luận với Tổng Thống Putin.

Tổng Thống cho là “Chúng ta hãy để cho các thanh tra Liên Hiệp Quốc báo cáo về những gì họ tìm được trong vụ tấn công ngày 21 tháng 8” trong khi Hoa Kỳ tiếp tục vận động sự ủng hộ của các nước đồng minh từ Âu Châu đến Mỹ Châu, từ Á Châu đến Trung Đông. Hai nước đồng minh thân cận nhất là Anh và Pháp sẽ cùng với  Hoa Kỳ tham khảo Nga và Trung Quốc để tiến tới một nghị quyết của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc.

Tổng Thống xác định  quân lực Hoa Kỳ vẫn được duy trì ở tư thế sẵn sàng hành động nếu giải pháp ngoại giao thất bại.

Nhiều lần trong bài diễn văn, Tổng Thống Obama nêu lên quan điểm Hoa Kỳ không phải là cảnh sát quốc tế để can thiệp trên toàn thế giới và trong mọi hoàn cảnh ông luôn luôn mong muốn những giải pháp hòa bình. Ông cũng cho là không nên bằng vũ lực  loại bỏ những nhà độc tài vì đó không phải là giải pháp đem đến hậu quả tốt đẹp  mong muốn.

Nhắc lại một lời của Tổng Thống Franklin Roosevelt, Tổng Thống Obama cho rằng lý tưởng và nguyên tắc cũng như an ninh quốc gia và vai trò lãnh đạo thế giới của nước Mỹ bị thử thách ở Syria, nên Hoa Kỳ không thể bất động.  (HC)

Thế lưỡng nan của Obama và Hollande

 

Ngô Nhân Dụng

Quốc Hội Anh không đồng ý cho chính phủ dùng vũ lực ngăn chặn quân đội của Bashar al-Assad để giúp phe nổi dậy ở Syria; trong đó có cả những đại biểu của đảng cầm quyền. Ðại đa số dân chúng Pháp chống việc chính phủ họ can thiệp quân sự vào Syria.

Nhưng những người lãnh đạo hai nước này vẫn không nản chí, họ tiếp tục lên án chế độ độc tài Assad đàn áp dân, trong tháng qua có thể đã giết chết 1,400 người bằng vũ khí hóa học. Tổng Thống Pháp Francois Hollande tỏ ra không bị các cuộc nghiên cứu dư luận lay chuyển. Trước bản tin về dư luận phản chiến của dân Pháp, trong lúc còn dự hội nghị G-20 ở Nga, ông Hollande chỉ tuyên bố sẽ báo cho dân chúng biết quyết định của ông. Việc có đem quân tới Syria hay không, ông sẽ chờ nghe kết quả cuộc điều tra của Liên hiệp Quốc về biến cố ngày 21 Tháng Tám mà phe nổi dậy tố cáo chính quyền đã dùng bom hơi ngạt giết người. Mọi người hiểu rằng: Nếu chế độ Assad có dùng vũ khí hóa học thì nước Pháp sẽ trừng phạt; nếu không thì thôi.

Ở nước Mỹ, Tổng Thống Barack Obama không bày tỏ một thái độ quả quyết như ông Hollande. Cũng giống như bên Pháp, chưa tới 30% dân Mỹ ủng hộ việc can thiệp quân sự vào Syria. Nhưng ông Obama không báo cho dân Mỹ biết chính ông là người sẽ quyết định chiến hay hòa. Ông lên đài truyền hình thuyết phục dân Mỹ, mà không tự mình quyết định lấy trong việc lãnh đạo quốc gia; không nói như kiểu ông Hollande: Tôi sẽ suy nghĩ. Tôi sẽ báo cho quý vị biết nước Mỹ phải làm gì, sau khi tôi quyết định. Obama khác Hollande, cũng như nước Pháp khác nước Mỹ.

Nhưng khi chờ ý kiến Quốc Hội về quyết định can thiệp vào Syria, ông Barack Obama sẽ tạo ra một tiền lệ mà các vị tổng thống Mỹ sau này sẽ oán ông. Có thể coi ông Obama là một vị tổng thống Mỹ đầu tiên, cũng là tổng tư lệnh quân đội, đã tự giới hạn quyền điều binh khiển tướng của mình, khi muốn can thiệp vào việc thế giới. Ðiều này có thể giải thích theo nhiều cách: Hoặc là ông không tự tin vào khả năng quyết định của chính mình; chính ông không biết nên làm gì! Hoặc là ông đã chuẩn bị can thiệp vào Syria rồi, nhưng không muốn một mình chịu trách nhiệm. Một giả thuyết nữa, là ông Obama không muốn Mỹ dính vào vụ Syria, mong Quốc Hội biểu quyết bó tay ông, để ông không bị thế giới chê cười!

Nhưng dù động cơ là gì chăng nữa, ông Obama đã tạo một tiền lệ. Hiến Pháp Mỹ dành quyền tuyên chiến cho Quốc Hội; nhưng chính phủ Mỹ đã nhiều lần đem quân can thiệp vào nước khác mà không chính thức tuyên chiến; một cách “lách” đi đường tắt, không qua Hiến Pháp. Lần sau cùng chính phủ Mỹ xin Quốc Hội tuyên chiến là năm 1941, chính thức đưa nước Mỹ dự vào Thế Chiến Thứ Hai; sau khi bị Nhật tấn công trước. Sau đó chưa có vị tổng thống nào xin Quốc Hội tuyên chiến nữa!

Năm 1950, ông Truman đưa quân Mỹ sang Hàn Quốc; năm 1964 ông Johnson gửi quân qua Việt Nam; năm 1970 ông Nixon đưa quân qua Campuchia; năm 1983 ông Reagan can thiệp vào Granada; năm 1991 ông G.H. Bush đánh quân Iraq ở Kuwait; năm 1999 ông Clinton oanh tạc quân Serbs ở Kosovo. Họ đều không chờ Quốc Hội cho phép. Vì họ không “tuyên chiến,” mà chỉ “điều binh” thôi.

Nhưng một ông tổng thống Mỹ không thể qua mặt Quốc Hội. Họ chỉ được tự do hành động trong khuôn khổ luật pháp cho phép. Ðạo luật năm 1973 đã giới hạn quyền can thiệp quân sự của Tòa Bạch Ốc, sau khi hành pháp và lập pháp Mỹ tranh luận xem ai có thẩm quyền quyết định về chiến tranh, nhân cuộc chiến Việt Nam. Luật này cho phép một tổng thống được đưa quân Mỹ tham chiến ở nước ngoài, nhưng sau 60 này phải hỏi ý kiến Quốc Hội; và trong 90 ngày Quốc Hội có thể ra lệnh ngưng. Ðó cũng là những thời hạn mà các đại biểu Mỹ ở Thượng Viện và Hạ Viện đang bàn sẽ ràng buộc ông Obama trong bất kỳ hành động nào ở Syria.

Nhưng thật ra thì cả hai viện Quốc Hội của Mỹ không cần bàn, không cần bỏ phiếu cho những nghị quyết nếu chỉ nhân dịp xác định những thời hạn 60 ngày hay 90 ngày. Vì các nghị quyết đó chỉ nhắc lại những gì trong đạo luật 1973 đã nói rồi. Các nghị sĩ và dân biểu Mỹ vẫn cứ phải đem ra bàn bạc và biểu quyết chỉ vì ông Obama ngỏ ý. Không lẽ ông tổng thống đã xin ý kiến mà các đại biểu Quốc Hội lại trả lời rằng: “Ông cứ theo luật mà làm!”

Tổng Thống Obama vốn là một giáo sư luật khoa, chuyên dạy về hiến pháp học. Khi còn là một nghị sĩ, năm 2007 ông đã tuyên bố với nhật báo Boston Globe rằng: “Theo Hiến Pháp, một vị tổng thống Mỹ không có quyền đưa quân tấn công vào nước nào nếu không phải để ngăn chặn một mối đe dọa đang hoặc sắp xẩy ra cho nước Mỹ.” Biết như vậy cho nên bên cạnh hội nghị G-20 ở St. Petersbourg, ông Obama đã giải thích với các nhà báo: “Tôi muốn hỏi ý kiến Quốc Hội, bởi vì thành thật mà nói, tôi không thể giải thích với Quốc Hội rằng việc Assad dùng vũ khí hóa học giết đàn bà trẻ ở Syria gây ra một mối đe dọa cho nước Mỹ!”

Cho nên, việc ông Obama xin ý kiến Quốc Hội Mỹ là một hành động thuần túy chính trị. Mà việc Quốc Hội Mỹ bàn bạc một nghị quyết về can thiệp quân sự vào Syria cũng hoàn toàn vì lý do chính trị. Nghĩa là họ không cần làm những việc đó, cứ chiếu theo luật pháp, luật nói sao thì làm theo, cũng đủ rồi. Có thể đoán rằng việc ông Obama xin ý kiến Quốc Hội chỉ là một kế hoãn binh, mua thời giờ, để chưa cần phải quyết định gì cả! Ông Francois Hollande cũng vậy, ông hứa sẽ công bố quyết định của mình sau ngày 21 Tháng Chín, tức là ông có thêm gần ba tuần chờ đợi coi các chuyên gia Liên Hiệp Quốc nói sao về việc Assad dùng vũ khí hóa học.

Tại sao cả hai ông Obama và Hollande lại dùng “kế hoãn binh” như vậy? Bởi vì họ ở một thế lưỡng nan. Một mặt, nước Pháp và nước Mỹ không thể bỏ qua vấn đề Syria, sau khi đã dùng vũ lực giúp phe nổi dậy ở Lybia lật đổ chế độ Gadhafi!

Nếu Mỹ, Anh và Pháp bất động, sau khi đã chỉ trích Assad hết lời, thì chẳng khác gì cả ba đều chịu thua ông Putin! Tổng thống Nga là người đỡ đầu cho chế độ Assad, từ trước đến sau! Theo lý lẽ đó, thì các nước Tây phương nên can thiệp!

Mặt khác, chính phủ các nước này lại biết rằng dân nước họ đều không thích chính phủ can thiệp vào Syria. Dân chúng không muốn, chẳng phải vì họ thương xót gì ông Assad. Họ muốn đứng ngoài chỉ vì trong nước họ có nhiều chuyện quan trọng hơn. Một bà mẹ ở New York đã công khai hỏi Tổng Thống Obama rằng: “Việc các tên độc tài láo lếu dùng vũ khí hóa học giết dân đã bao nhiêu năm, bao nhiêu lần rồi, ai chẳng biết? Nhưng còn con gái tôi nó đi học, mà nhà trường thiếu sách giáo khoa, vì ngân sách giáo dục bị cắt giảm! Tại sao ông không lo vụ sách học cho con nít mà lại lo chuyện Syria?
Nếu quý vị đứng trước thế lưỡng nan đó, quý vị sẽ quyết định ra sao: Can thiệp hay không can thiệp vào Syria?

Có lẽ giải pháp tốt nhất là chờ đợi. Là câu giờ. Có nhiều vấn đề trên thế giới tự nó sẽ biến mất, mà không cần làm gì cả! Nếu các chính phủ Tây phương cứ tiếp tục đe dọa nay đánh, mai đánh, có thể sẽ tới lúc chính các diễn viên trong cuộc như Assad hay Putin phải thay đổi, để chính họ được thoát khỏi một mối bế tắc! Nếu các nước Anh, Pháp, Mỹ cứ vừa dọa đánh, vừa trì hoãn không quyết định đánh thế nào, các ông Assad và Putin chờ đợi lâu quá cũng mỏi mệt và phải nói chuyện. Nếu có một giải pháp “giữ thể diện” được cho tất cả mọi bên, thì chắc sẽ tới lúc không cần ai bàn đến chuyện hay không can thiệp vào Syria nữa!

Một tia hy vọng đã lóe ra, là khi ông ngoại trưởng Mỹ mở một lối thoát cho Assad, và được ông ngoại trưởng Nga tìm cách dụ Assad chấp nhận lối thoát đó! Ông Kerry mới mớm ý rằng nếu Assad chịu để cho Liên Hiệp Quốc kiểm soát kho vũ khí hóa học, rồi hủy diệt, thì chính phủ Mỹ sẽ không can thiệp nữa. Khi ông ngoại trưởng Nga nói chuyện với nhà báo lại tiết lộ rằng ông Assad có thể theo giải pháp đó, thì mọi người lại hy vọng có một lối thoát cho tất cả mọi phía, từ các chính phủ Pháp, Mỹ, Anh, Nga cho tới chính ông Assad!

Nhưng tại sao ông Obama lại ngập ngừng không dám can thiệp vào cuộc nội chiến ở Syria; như trước đây ông đã hành động ở Lybia? Ðây là một đề tài cần phân tích rõ hơn!


Quý độc giả có thể tham gia vào chương trình “Nói Chuyện với Ngô Nhân Dụng” trên Người Việt TV bằng cách gửi câu hỏi đến: [email protected]

MoneyGram khuyến khích học sinh dùng máy thiết bảng mới

 

SAN GABRIEL VALLEY, California – MoneyGram nhận thấy rằng việc giúp các em học sinh gặt hái thành công những môn như Toán và Khoa Học sẽ giúp các em xây dựng một ngày mai tươi sáng hơn.

Ðó là lý do tại sao công ty hợp tác với Asian Youth Center (AYC), một trung tâm bất vụ lợi phục vụ những nhu cầu về xã hội và giáo dục cho các em học sinh Á Châu mới đến Hoa Kỳ, nhằm giúp các em không đủ điều kiện trong việc học hành, theo một thông cáo báo chí của công ty.


Học sinh trường Roosevelt nhận máy thiết bảng do đại diện MoneyGram tặng. (Hình: MoneyGram cung cấp)

Là một phần trong cuộc vận động học sinh trở lại trường, MoneyGram quyên tặng 65 máy thiết bảng “Kurio” cho các em học sinh lớp 5 trường tiểu học Roosevelt tại San Gabriel, California. Những máy thiết bảng này cung cấp những bộ sách trên mạng và những tài liệu giáo khoa khác nhằm giúp các em trong việc làm bài vở trong trường từ toán học đến khoa học và văn chương. Món quà này tiếp bước theo việc khảo sát cho thấy rằng 57% trẻ em sử dụng những máy thiết bảng giúp các em trong việc học hành.

“Chúng tôi rất vui là có thể mang những gia đình lại gần nhau hơn qua các dịch vụ của chúng tôi, và hạnh phúc nhất là được phục vụ cho cộng đồng trong việc giáo dục nơi chúng tôi làm việc và sinh sống trên toàn thế giới,” ông Juan Melendez, phó giám đốc điều hành kiêm giám đốc tiếp thị MoneyGram, được trích lời nói. “Tại MoneyGram, chúng tôi tin tưởng rằng một nỗ lực mạnh mẽ về giáo dục dành cho những mầm non là rất quan trọng. Xuyên qua cuộc vận động khuyến khích các em trở lại trường, chúng tôi tin chắc những máy thiết bảng này sẽ giúp các em học sinh trường tiểu học Roosevelt đạt được nguyện vọng trong việc học của các em.”

MoneyGram có lịch sử nhiều năm trong việc quyên góp những tài liệu giáo khoa vào Tháng Tám trong cuộc vận động khuyến khích các em trở lại trường. Trong quá khứ, công ty đã quyên tặng những đồ dùng học tập cho những quốc gia như Romania, Philippines, và Kenya. MoneyGram đã cộng tác với AYC vì đây là tổ chức được đánh giá hàng đầu trong việc đào tạo lớp trẻ trong cộng đồng vùng San Gabriel Valley. AYC đề nghị trường tiểu học Roosevelt là nơi cần được hỗ trợ nhất.

“Khi các lớp học tiếp tục có thêm những dụng cụ học tập tối tân, điều quan trọng là chúng tôi cung cấp cho các em học sinh phương tiện học tập nhằm kích thích sự tìm tòi và ham muốn để thành công trong việc học,” bà Cheryl Wilson, hiệu trưởng trường tiểu học Roosevelt, được trích lời nói. “MoneyGram hiểu được giáo dục mầm non là rất quan trọng trong việc đào tạo những nhà lãnh đạo của thế hệ tiếp nối. Chúng tôi rất cám ơn họ đã có cử chỉ đẹp này và rất mong làm việc cùng với các em khi các em bắt đầu làm quen việc học qua những máy thiết bảng này.”

MoneyGram International, một công ty chuyển tiền hàng đầu, giúp những khách hàng có nhu cầu về tài chánh mà không đủ điều kiện theo tiêu chuẩn của những ngân hàng tài trợ. MoneyGram cung cấp những dịch vụ chuyển tiền trên toàn thế giới qua hệ thống toàn cầu bao gồm 327,000 địa điểm – trong đó có những cửa hàng bán lẻ, bưu điện quốc tế và ngân hàng tài trợ – tại 198 quốc gia và nhiều lãnh thổ khác. MoneyGram cũng cung cấp những dịch vụ thanh toán hóa đơn ở Mỹ và Canada. MoneyGram có trong danh sách những công ty cổ phần của NASDAQ dưới dấu hiệu MGI.

Mọi chi tiết về các dịch vụ chuyển tiền và thanh toán hóa đơn tại một văn phòng hoặc trên mạng, xin vui lòng ghé vào moneygram.com.

Trường Việt Ngữ Tin Lành Midway City khai giảng khóa mới

 

Lâm Hoài Thạch/Người Việt

MIDWAY CITY, California (NV)Trường Việt Ngữ Hội Thánh Tin Lành Midway City vừa khai giảng niên khóa (2013-2014) vào Thứ Bảy tuần qua tại 8141 Washington Ave., Midway City, California.

Cho dù các phụ huynh bận lo việc cho các con em trong mùa tựu trường của các trường Mỹ, họ cũng đưa con em của mình đến học thêm tiếng Việt. Lý do là họ muốn các em không quên tiếng Việt.


Thầy Văn Phú Trạch đánh đàn cho mọi người cùng hát nhân ngày khai giảng. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

Ban điều hành của trường gồm có: Mục Sư Văn Ðài (quản nhiệm), Mục Sư Ðoàn Peter (phụ tá), thầy Martin Trần Mừng (ủy viên đặc trách tổng quát, chịu trách nhiệm mọi sinh hoạt của trường như cơ sở an toàn, học cụ, học liệu và chương trình dạy). Cô Lê Thị Thanh Hương (hiệu trưởng), cô Phạm Thị Tuyết Anh (thủ quỹ), bà Trần Nguyễn Thanh Trúc (giám thị và trưởng ban ẩm thực).

Ban điều hành và các thầy cô giáo tổng cộng được 25 thành viên để phục vụ cho công việc dạy dỗ cho các em đến học tiếng Việt. Và họ toàn là những thiện nguyện viên đến giúp cho trường.

Mục Sư Văn Ðài nói với nhật báo Người Việt: “Chúng tôi rất vui vì được dự phần trong cộng đồng của mình là giúp cho các em học tiếng Việt, vì còn tiếng Việt thì những người Việt của mình ở hải ngoại được gần gũi với nhau nhiều hơn, nhất là trong thế hệ trẻ. Cho nên chúng tôi luôn khích lệ các anh chị em đã có lòng tình nguyện giúp đỡ như các giáo viên; các ông bà tình nguyện; các phụ huynh đã đưa các con em đến học tiếng Việt. Tôi được biết ở trong Midway City có 40% cư dân ở đây là người Việt Nam. Và tôi ước mong là con em của chúng ta học được tiếng Việt cũng như sự ước mong của các trung tâm Việt Ngữ khác.”

Theo thầy Martin Trần Mừng, trường Việt Ngữ Hội Thánh Tin Lành Midway City được thành lập từ năm 1987, tại Santa Ana, lúc đó chỉ có các lớp 1, 2 và 3. Một thời gian sau, trường dời về hai địa điểm khác cũng trong thành phố này. Ðến năm 2002, trường được di chuyển về Midway City, khu vực này được rộng rãi hơn những trường cũ. Cho đến bây giờ, trường đã thực hiện được ba lớp mẫu giáo và bảy lớp từ lớp 1 đến lớp 7. Số học sinh năm rồi được trên 80 em, và năm nay vì còn chờ một số phụ huynh đưa con em của mình đến ghi danh nên chưa xác định được số học sinh là bao nhiêu.

Cũng theo thầy Martin Trần Mừng cho biết, khi các học sinh đến đây học, trường phải lo in sách vở và những dụng cụ cần thiết có liên quan đến học cụ, phần ăn cho các em và các chi phí khác, nên mỗi em đến đây học các phụ huynh ủng hộ cho trường số tiền là $120 một năm học, những gia đình nào có từ hai em trở lên đến học thì cứ bắt đầu từ em thứ nhì, các em được bớt $10 cho một niên khóa. Thời gian dạy, Thứ Bảy mỗi tuần, từ 10 giờ sáng đến 12 giờ 30 trưa.


Phụ huynh đến ghi danh cho con em nhập học. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

Chương trình dạy gồm tập cho các em nói; viết và hát tiếng Việt, học cách lễ phép và biết vâng lời ông bà, cha mẹ, các em lớn con được học thêm lịch sử và địa lý của Việt Nam.

Ðến giờ khai giảng, Mục Sư Văn Ðài lên cầu nguyện và cám ơn những thành viên cũng như quý phụ huynh đã hỗ trợ cho trường. Sau đó là phần sinh hoạt văn nghệ do thầy dạy hát Văn Phú Trạch điều khiển cho các em hát. Tiếp theo, các thầy cô tổng kết số học sinh đến ghi danh và xếp lớp học cho các em.

Cô Lê Thị Thanh Hương cho biết: “Tôi làm hiệu trưởng trường này được năm năm. Tôi làm công việc này, vì lòng của tôi muốn cho các em biết tiếng Việt để giữ được nguồn gốc của ông bà tổ tiên của mình, tôi mong ước khi các em giữ được tiếng Việt để khi các em đi đến nơi nào cũng nói được tiếng Việt. Và chính ngôn ngữ đó do tổ tiên, ông bà, cha mẹ để lại cho mình.”

Theo cô Thanh Hương, khi các em biết nói tiếng Việt thì các em cũng có cơ hội giúp ích cho xã hội nữa, tại vì hiện nay trong các trường trung học và đại học, họ có dạy thêm tiếng Việt để giúp cho ngôn ngữ này những nước khác chú ý đến.

Hơn nữa, họ thấy các học sinh người Việt rất lễ phép, vì họ thấy các em học sinh Việt Nam đi thưa về trình với ông bà cha mẹ và biết lễ phép khi gặp những người lớn tuổi. Còn một điều tốt nữa là khi các em biết được tiếng Việt, các em có thể giúp cho đồng bào của mình tại hải ngoại này về phương diện thông dịch.

Có nhiều trở ngại khi các phụ huynh muốn đưa con em của mình đến đây học thêm tiếng Việt. Thứ nhất là các em không muốn đến đây học, tại vì ngôn ngữ này là ngôn ngữ thứ hai của các em nên trong những lần đầu tiên đưa các em đến đây học rất là khó khăn. Nên các thầy cô tìm đủ mọi cách để tạo những sinh hoạt vừa học, vừa chơi, thậm chí tạo cho các em những động tác dễ nhất để cho các em hiểu được tiếng Việt và chữ Việt.

Ban đầu mới vào rất là khó, sau đó các em cảm thấy vui thích khi đến đây gặp được thầy cô và bạn bè, ngoài ra, khi đến đây học các em được các thầy cô khuyến khích thưởng những cái bánh hoặc kẹo nho nhỏ, thì các em giữ được sự trung tín là các em đến đúng giờ và thường xuyên hơn. Trường cũng có đưa các em đi thi “Bé vui, bé học” để tranh tài với những trung tâm Việt Ngữ khác.

Có một số các em lớn đã học ở đây 10 năm trước. Bây giờ các em đó đã tốt nghiệp đại học và đang làm việc. Các em cho biết, tiếng Việt được xem là ngôn ngữ thứ hai của các em nên các em cũng có lương cao hơn. Ðiều này cũng bù đắp cho ban điều hành và các thầy cô cảm thấy hãnh diện khi đã giúp cho các em biết nói được tiếng Việt.


Mục Sư Văn Ðài (bìa trái) ngỏ lời cùng các phụ huynh và thầy cô. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

Hai câu châm ngôn của trường là: “Hãy dạy cho trẻ thơ con đường nó phải theo, dầu khi nó trở về già, cũng không hề bỏ nó.” Hai câu này, theo cô hiệu trưởng, là vì khi mình dạy cho các em đã thông thạo tiếng Việt thì khi các em trở về già các em vẫn còn nhớ đến mình, và mình cũng không bỏ chúng nó.

Thầy Nguyễn Minh nói: “Trở ngại lớn nhất là khi các bậc phụ huynh đưa các em đến đây học tiếng Việt chỉ có hai tiếng trong tuần nên không có đủ để cho các em hội nhập được. Thứ hai nữa là đa số các em còn nhỏ, các em chưa thấy được sự quan trọng của tiếng Việt, vì ở bên ngoài, các em sử dụng tiếng Việt không nhiều nên nhiều khi chúng nó lười và không muốn đến học nữa. Ðó là những trở ngại hàng năm mà chúng tôi gặp phải.”

Có hai dạng các em đến đây học chữ Việt. Một dạng thường có ông bà nội, ngoại ở nhà thì các em đó đã nói tiếng Việt vỡ lòng từ còn bé cho nên việc dạy chữ tiếng Việt cho các em đó rất là dễ. Còn dạng các em đã lớn trên 10 tuổi mới bắt đầu học tiếng Việt thì rất khó khi dạy tiếng Việt cho những em này. Vì thế, âm giọng tiếng Việt của các em này thường có chút lơ lớ không đúng chính xác âm ngữ của tiếng Việt.

Cô Mai Hồng, trước là một phụ huynh đưa con đến đây học chữ Việt, sau này cũng tình nguyện vào đây để giúp cho trường. Cô chia sẻ: “Việc thu xếp cho con của tôi đi học ở trường Mỹ và học thêm chữ Việt cũng có hơi chật vật tại vì tôi có đến ba cháu nhỏ lận. Nhưng mình cũng cố gắng thu xếp thời giờ để cho con của chúng tôi học thêm tiếng Việt mỗi tuần chỉ có hai tiếng vào những Thứ Bảy.”

Cô nói thêm: “Tôi có nhiều người bạn lúc trước cũng đưa con của họ đến đây học thêm tiếng Việt. Nhưng một thời gian sau, vì bận lo công việc, nên họ đã không đưa con đến đây học nữa. Nhưng rồi, khi họ thấy trong đám bạn con nít, có nhiều đứa biết nói tiếng Việt mà con của họ không biết. Kể từ đó họ cố gắng đưa con của họ đến đây để tiếp tục học tiếng Việt.”

Mạng lưới Blogger Việt Nam gặp phái đoàn EU


HÀ NỘI (NV) –
Một nhóm bloggers đại diện cho hàng trăm blogger Việt Nam đã có cuộc tiếp xúc với đại diện Ủy Ban Liên Âu khi phái đoàn này tới Hà Nội đối thoại nhân quyền.

 

Đại diện Mạng lưới Blogger Việt Nam trao Tuyên bố 258 cho bà Veronique Arnault, đại diện Phái đoàn EU sang dự phiên Đối thoại Nhân quyền 2013 với Việt Nam. (Hình: Mạng Lưới Blogger Việt Nam)

Theo bản tin của Mạng Lưới Blogger Việt Nam, 4 blogger đại diện cho giới bloggers Việt thuộc cả 3 miền Bắc Trung Nam đã gặp một số quan chức cao cấp của Ủy Ban Âu Châu (EU) vào buổi chiều ngày Thứ Ba 10 Tháng Chín. 

Phái đoàn này dự trù có cuộc đối thoại nhân quyền thường niên với nhà cầm quyền CSVN vào ngày hôm sau, Thứ Tư, 11 Tháng Chín, tại Hà Nội.

Bốn blogger Việt Nam gồm Nguyễn Tường Thụy, Nguyễn Chí Tuyến, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, và Châu Văn Thi. Phái đoàn của EU đến Hà Nội do bà Véronique Arnault, giám đốc phụ trách nhân quyền của Cơ quan Hành động Đối ngoại châu Âu (EEAS, tương đương với một Bộ Ngoại giao chung của EU), dẫn đầu.

Mạng Lưới Blogger Việt Nam được thành lập từ giữa Tháng Bảy vừa qua khi nhóm khởi xướng gồm một số blogger nổi tiếng ở trong nước phổ biến bản tuyên bố kêu gọi chế độ Hà Nội phải sửa đổi pháp luật theo đúng tiêu chí của Liên Hiệp Quốc mà CSVN đã ký cam kết tuân hành nhưng không thực hiện trong thực tế.

Điểm nổi bật nhất của bản tuyên bố này là đòi hỏi CSVN hủy bỏ Điều 258 của Bộ Luật Hình Sự kết án tù người dân khi tố cáo họ tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của nhà nước…”

Điều 69 của bản Hiến pháp CSVN công nhận người dân “có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin, có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật”. Nhưng nhà cầm quyền Hà Nội lại đưa Điều luật 258 để bỏ tù nhiều người dân trong những phiên tòa bất chấp luật lệ hình sự tố tụng, ngược lại với luật mẹ là Hiến Pháp.

Hai blogger nổi tiếng là Trương Duy Nhất và Phạm Viết Đào hiện đang bị giam giữ không biết bao giờ có án bị truy tố theo điều 258 dù những bài viết của họ chỉ là những ý kiến cá nhân ôn hòa về những gì xảy ra trong nước. Đinh Nhật Uy viết blog để vận động trả tự do cho em trai là Đinh Nguyên Kha cũng đang bị giam giữ chờ lãnh án cũng bị quy chụp theo điều luật vừa kể.

Từ khi phát động chiến dịch vận động đòi CSVN bãi bỏ Điều 258 trong Luật Hình Sự, nhiều nhóm trong Mạng Lưới Blogger Việt Nam đã mở nhiều cuộc tiếp xúc với một số tòa đại sứ tây phương ở Hà Nội. Họ cũng cử đại diện tới Thái Lan tiếp xúc với các tổ chức quốc tế bảo vệ nhân quyền và LHQ có trụ sở đại diện ở đây.

Vì vận động chống luật lệ ngược ngạo của nhà cầm quyền, một số blogger tham gia các cuộc tiếp xúc, đã bị nhà cầm quyền sách nhiễu.

Ngược lại với sự cấm cản, sách nhiễu của nhà cầm quyền CSVN, đại diện các tổ chức quốc tế cũng như các tòa đại sứ Âu tây ở Hà Nội đã bày lỏ hậu thuẫn mạnh mẽ đối với giới blogger Việt Nam. (TN)

Chúc Mừng Jimmy Jamie So

Tin mới cập nhật