Giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng


Lê Phan


Có hai quốc gia thuộc Hiệp Hội Asean đang đi ngược lại chính sách truyền thống trong liên hệ giữa cường quốc số một của thế giới và cường quốc vùng đang tìm cách lấn lên. Đó là câu chuyện của Miến Điện và Thái Lan.


Ở Miến Điện, khi binh sĩ của Miến truy lùng một trại đốn gỗ lậu ở bang Kachin, một tiểu bang đã nhiều năm chìm đắm trong chiến tranh ở miền bắc của Liên bang Miến Điện, họ đã tìm thấy nhiều ngàn phu phen (lao động), được nhập cảng từ tỉnh Vân Nam kế cận, sang làm việc với đồng lương mạt hạng. Một số trong ban quản trị người Hoa đã bỏ trốn vào rừng, không biết làm sao sống sót bỏ chạy được về biên kia biên giới. Đám không may, khoảng 150 người, bị bắt và đưa ra tòa. Trung Cộng tức giận gây gổ với Miến Điện hôm tháng 7 vừa qua khi một tòa án ở Bang Kachin kết án chung thân cho hầu hết trong đám này. Không lâu sau đó, họ được trả tự do và trục xuất về Trung Cộng, nhưng chỉ sau khi đã trải qua sáu tháng tù, có lẽ để răn đe.


Cuộc đụng độ ngoại giao này có lẽ chỉ là một chuyện nhỏ cho đám băng đảng Trung Cộng, vốn đã đốn gần sạch những khu rừng phía bắc của Miến Điện trong hơn 25 năm nay, thúc đẩy bởi nhu cầu hầu như không thể đáp ứng nổi của đồng bào họ. Cách đây 10 năm, khi Miến Điện còn thân thiện với Trung Cộng, một cuộc đàn áp ở cả hai bên biên giới có vẻ đã chặn đứng được nạn đốn gỗ lậu. Nhưng một cuộc khảo sát được phổ biến ở Luân Đôn hôm 17 tháng 9 bởi Cơ Quan Điều Tra Môi Trường (Environmental Investigation Agency EIA), một tổ chức thiện nguyện có trụ sở ở Luân Đôn, nói là việc đốn lậu gỗ đã tái tục trở lại, và có thể đã lên đến đỉnh cao mới. Bản phúc trình của EIA cho thấy Miến Điện đã mất đi 1.7 triệu ha rừng từ năm 2001 đến năm 2013, trong số đó khá nhiều đã bị buôn lậu qua biên giới từ Kachin sang Vân Nam. Đáng sợ hơn nữa là từ năm 2009, mức độ cây rừng bị đốn đã tăng lên gấp đôi mỗi năm, đến 185,000 ha.


Luật pháp Miến Điện nói là gỗ và các sản phẩm làm bằng gỗ chỉ có thể xuất cảng qua Giang Cảng Yangon, cố đô và là thành phố lớn nhất nước, và không bao giờ được xuất cảng sang các nước láng giềng qua đường bộ. Xuất cảng gỗ đã bị tuyệt đối cấm từ tháng 4 năm 2014. Nhưng những luật lệ đó chả nghĩa lý gì với các ông tướng tá tham nhũng vốn kiểm soát khoảng 60% lãnh thổ của tỉnh vốn đã là quê hương của dân tộc Kachin. Họ bán quyền di chuyển an toàn cho những tay đốn rừng từ Trung Cộng sang. Luật lệ này còn vô nghĩa hơn nữa cho những nhóm dân quân Kachin vốn đang đánh nhau với quân đội Miến. Họ được biết đã bán quyền qua lại các rặng núi đầy cây cho các công ty Trung Cộng để kiếm tiền mua vũ khí tiếp tục cuộc chiến chống lại quân đội Miến.


Mà ngay cả nếu Miến Điện gia tăng cố gắng để giảm thiểu việc buôn bán này, tiến bộ bền vững rất khó nếu không có sự hỗ trợ thực sự của Trung Cộng. Nhu cầu bất tận ở Hoa Lục cho gỗ rẻ từ ngoại quốc vào, sử dụng cả trong kỹ nghệ bàn ghế lẫn làm các sàn nhà kiểu cọ. EIA tìm thấy là các viên chức ở Vân Nam đã từ bỏ những cố gắng trước đây để giúp Miến bảo vệ biên giới, ngày nào mà các công ty Trung Cộng nhập cảng lậu gỗ đó chi tiền rộng rãi.


Chính sự lo ngại là Miến Điện quá lệ thuộc vào Trung Cộng đã là một lý do chính khiến các ông tướng cầm quyền mở cửa quốc gia lâu nay tách biệt khỏi thế giới. Kể từ khi tiến trình này bắt đầu, chính phủ đã có vẻ ít sợ hơn trong việc thách thức nước láng giềng khó tính phương Bắc. Hai chính quyền được dự trù sẽ họp bàn về vấn đề đốn gỗ lậu vào ngày 24 tháng 9 tới đây. Dĩ nhiên Miến Điện hẳn khó có thể dụ các quan lớn Trung Cộng bỏ cuộc trong một ngành béo bở vốn đã làm giàu cho giới quyền quý ở Vân Nam, chưa kể đám đàn em ăn theo.


Ở nước láng giềng Thái Lan, câu chuyện ngược lại. Trong khi các ông tướng ở Miến Điện tìm cách cởi mở để “thoát Trung,” Tướng Prayuth Chan-Ocha đã ngược lại tìm cách gần gũi hơn với Bắc Kinh để mong chống lại Hoa Kỳ.


So với Miến Điện, tuy chưa phải là một nền dân chủ thực sự, Thái Lan, cũng có thời có một nền dân chủ khá sôi động, nay đang từ từ chìm đắm vào một chế độ độc tài quân phiệt. Mới tháng này, Tướng Prayuth cho bắt nhà báo nổi tiếng Kavi Chongkittavorn của tờ The Nation, một trong hai tờ báo tiếng Anh đứng đắn của Thái Lan, vì viết những bài “có thể tạo rối loạn.” Ông Kavi, một nhà báo lão thành đã từng là chủ bút của tờ The Nation, chỉ bị giữ có vài ngày nhưng ông Kavi đã phản đối bằng cách từ chức luôn. Mà những bài ông viết thực ra rất chính đáng, chỉ trích mấy ông tướng đã lạm dụng luật Khi quân để đàn áp truyền thông và trí thức. Hơn thế các ông tướng đang ngày càng cố bám lấy quyền lực. Mới đầu tháng này, bản hiến pháp do một ủy ban của chính các ông tướng chỉ định để soạn thảo đã đột ngột bị bác bỏ bởi quốc hội cũng do các ông tướng chỉ định. Điều đó có nghĩa là việc bầu cử sẽ còn hoãn lại thêm nữa, ít nhất là cho đến năm 2017.


Nhưng sự việc Thái Lan ngày càng trở thành một quốc gia độc tài quân phiệt đã gây khó khăn cho liên hệ song phương với Hoa Kỳ, liên hệ ngoại giao lâu đời nhất của Thái Lan. Hoa Kỳ không ngừng kêu gọi đồng minh lâu năm của mình hãy tái lập dân chủ. Trung Cộng, trong khi đó, chẳng màng gì đến dân chủ, và vì thế liên hệ song phương chưa bao giờ tốt đến thế.


Một số chuyên gia về Thái Lan coi đó là sự gia tốc của một chiều hướng lâu dài và không lật ngược được trên toàn Á Châu. Sự thăng tiến của Trung Cộng về kinh tế và khả năng quân sự ngày càng lớn của họ đã khiến họ có được những ảnh hưởng ngoại giao trong khi Hoa Kỳ mất đi ảnh hưởng. Ông Benjamin Zawacki, một nhà nghiên cứu người Mỹ, đã viết về liên hệ song phương như sau, “Sau nửa thế kỷ nằm trong khu vực ảnh hưởng của Hoa kỳ, Thái Lan nay đang chuyển sang khu vực ảnh hưởng của Trung Quốc.”


Dĩ nhiên có nhiều vấn đề trong liên hệ Mỹ Thái. Ngoài việc lên án vụ đảo chánh của các ông tướng, Hoa Kỳ đã áp đặt một số lệnh trừng phạt, cắt giảm viện trợ cho quân đội và giới hạn các cuộc tập trận chung cũng như các cuộc viếng thăm của các quan chức. Tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Bangkok nay không có đại sứ chỉ có xử lý thường vụ. Và tệ nhất là năm nay Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, trong bản phúc trình thường niên về “Buôn người” đã giữ Thái Lan trong danh sách những quốc gia mà vấn đề này bị coi là quá tệ. Mặc dầu các viên chức Hoa Kỳ chối, việc này được rộng rãi coi là một hình thức trừng phạt chính trị. Giới lãnh đạo Thái rất nhạy bén trước những cử chỉ coi thường của người Mỹ. Liên hệ song phương tuy lâu đời, thân thiết nhưng vốn không bình đẳng. Từ thời xa xưa khi quốc vương Thái Lan lúc nào cũng có một cố vấn tài chánh người Anh và một cố vấn chính trị người Mỹ, liên hệ đó đã lên đến tột đỉnh trong cuộc chiến ở Việt Nam. Nhưng người Thái thường cảm thấy bị bắt nạt và coi thường. Sự tức giận vẫn còn đó trước những lời dạy bảo cũng như món thuốc đắng mà Thái đã phải nuốt khi nền kinh tế sụp đổ năm 1997. Người Thái chưa quên ngày phải mời IMF đến cứu. Một bản nhạc quen thuộc thỉnh thoảng vẫn còn được nhắc tới “When the IMF came to town, I lost my Rolex, I lost my house and I lost my wife too.”


Trong khi đó Trung Cộng đã sớm tỏ ý giúp đỡ và thường xuyên duy trì thái độ “không can thiệp” vào nội tình nước Thái, chẳng hạn như, không bao giờ chỉ trích các cuộc đảo chánh. Hiện nay, Trung Cộng là bạn hàng lớn nhất của Thái, trong số 25 triệu du khách đến Thái Lan năm ngoái có 4.6 triệu đến từ Trung Cộng, nhiều hơn bất cứ một quốc gia nào khác. Liên hệ sẽ còn được tăng cường thêm nữa qua hệ thống đường xe lửa cao tốc mà Bắc Kinh đang dự tính nối liền tỉnh Vân Nam, qua Lào đến Bangkok rồi sẽ đến Singapore. Một dự án tham vọng hơn nữa đào một kênh đào xuyên qua bán đảo Thái Malaysia ở Eo Biển Kra, vốn là nơi nhỏ nhất về chiều rộng, nay cũng được nhắc đến. Kênh đào này sẽ giúp Bắc Kinh khỏi phải đi qua Eo Biển Malacca vốn là “cái nút chặn” khiến Trung Cộng dễ bị mắc kẹt trước những kẻ thù như Hoa Kỳ chẳng hạn.


Một kênh đào như vậy đã được nói đến từ hơn 300 năm nay rồi, nhưng vẫn chưa được xây vì khó khăn vô cùng và tốn kém. Khi tin này loan ra trên báo chí Trung Cộng là hai bên đã ký kết một thỏa thuận để xây dựng kênh đào này với giá 28 tỷ đô la, cả hai quốc gia đều chối. Nhưng tin đồn là Hà Nội đang tính xây dựng một hải cảng trên đảo Phú Quốc đã dẫn đến đồn đoán là kênh đào này sẽ được xây dựng.


Điều đáng nói hơn là nhưng chuyện không tưởng đó đã được nhắc đến chính là vì cảm tưởng là Thái Lan nay đã trở thành một đàn em của Trung Cộng. Cũng chính là lý do tại sao Thái Lan, sau nhiều năm cho những người Uighurs thoát được khỏi Hoa Lục đi Thổ Nhĩ Kỳ, hôm tháng 7 vừa qua đã trục xuất 109 người trở về Trung Cộng.


Nhưng mặc dầu các ông tướng thích Bắc Kinh vì họ để các ông ấy muốn làm gì thì làm trong việc đàn áp dân chúng, có nhiều người trong hàng ngũ lãnh đạo của Thái Lan muốn tiếp tục duy trì liên hệ với Hoa Kỳ. Khi Tướng Prayuth cho trục xuất những người Uighurs, đã có những lời chỉ trích ở ngay trong nước. Khi hải quân đòi mua tàu ngầm của Trung Cộng đã có những chống đối mãnh liệt.


Dầu sao chăng nữa, hẳn có một số trong triều đình và thành viên của giới cầm quyền cổ truyền ở Bangkok hiểu rằng nếu không có Hoa Kỳ làm đối trọng thì Bắc Kinh cũng dễ trở mặt lắm. Cứ nhìn kinh nghiệm Miến Điện và Lào thì thấy rõ. Chính quyền Cộng Sản Lào, sau khi chứng kiến Trung Cộng xâm chiếm các tỉnh miền Bắc khi giúp làm các dự án hạ tầng cơ sở, đã cương quyết không chịu cho xây tiếp con đường xe lửa Vân Nam Phnom Penh! Hoa Kỳ có thể khó chịu nhưng Trung Cộng có thể chiếm đất nước thành ra chọn ai thì đã rõ.

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT