Hiếu Chân/Người Việt
Chiến thắng của ông Ferdinand Marcos Jr. trong cuộc bầu cử tổng thống Philippines hôm Thứ Hai, 9 Tháng Năm, hoàn toàn không bất ngờ nhưng báo hiệu những thách thức mới cho phong trào dân chủ nước này và cho Hoa Kỳ trong cuộc cạnh tranh với Trung Quốc mà Tổng Thống Joe Biden “đóng khung” là cuộc đối đầu giữa hai hệ thống thể chế dân chủ và độc tài.

Đến 4 giờ 30 phút chiều Thứ Ba, 10 Tháng Năm, ông Ferdinand Marcos Jr. – con trai và người thừa kế tên tuổi của nhà độc tài bị lật đổ Ferdinand Marcos Sr. – giành được 31 triệu phiếu, hơn gấp đôi số phiếu của ứng cử viên kế tiếp là bà Leni Robredo, đương kim phó tổng thống.
Bà Sara Duterte, con gái của tổng thống đương nhiệm, ứng cử viên phó tổng thống liên kết với ông Marcos Jr., giành được 31.5 triệu phiếu, hơn ba lần so với người kế tiếp là Thượng Nghị Sĩ Francis Pangilinan, ứng cử viên phó tổng thống liên kết với bà Leni Robredo.
Đây là chiến thắng có số phiếu cao nhất trong lịch sử Philippines kể từ khi bà Corazon Aquino đắc cử tổng thống sau khi người dân lật đổ nhà độc tài Marcos Sr. năm 1986. Dù người ủng hộ bà Robredo đã lập tức tổ chức nhiều cuộc biểu tình phản đối kết quả bầu cử nhưng hoàn toàn không có triển vọng thay đổi kết quả.
Philippines – sự tráo trở của lịch sử
Thắng lợi của ông Marcos Jr., 64 tuổi, được cho là do cử tri đã bị vỡ mộng với thể chế dân chủ của Philippines; các chính phủ kế tiếp cầm quyền sau ngày nhà độc tài Marcos Sr. bị lật đổ đã thất bại trong việc giải quyết những nhu cầu căn bản của người dân, tình trạng nghèo khó lan tràn, bất bình đẳng mở rộng và nạn tham nhũng vẫn không có thuốc chữa. Sau 36 năm kể từ ngày cuộc cách mạng Quyền Lực Nhân Dân (People’s Power) lật đổ chế độ độc tài và thực thi dân chủ, Philippines lại quay về điểm xuất phát.
Thực ra, thể chế dân chủ của Philippines – được coi là nền dân chủ lâu đời nhất Đông Nam Á – đã lung lay tận gốc rễ khi Tổng Thống Rodrigo Duterte lên cầm quyền năm 2016 và cai trị đất nước 106 triệu dân này bằng một thứ quyền lực không bị kiểm soát nhờ đã thao túng được các hệ thống tư pháp và lập pháp.
Ông Duterte đã thực hiện một chiến dịch bài trừ ma túy đẫm máu, hàng ngàn người bị giết không qua xét xử; các tiếng nói đối lập đều bị dập tắt. Ông Duterte cũng là người góp phần vào sự trỗi dậy trở lại của gia tộc Marcos. Ông đã cho phép cải táng thi hài của nhà cựu độc tài vào nghĩa trang quốc gia bất chấp sự phản đối dữ dội của công chúng chỉ vài tháng sau khi ông lên nắm quyền. Đổi lại, ông Marcos Jr. đã hứa nếu đắc cử tổng thống sẽ che chở ông Duterte trước cuộc điều tra tội phạm và yêu cầu truy tố của Tòa Án Hình Sự Quốc Tế (ICC).
Đáng chú ý là con đường trở lại đỉnh vinh quang của gia tộc Marcos đầy những chuyện dối trá và tội lỗi. Theo tài liệu của tòa án Philippines, gia đình Marcos đã ăn cướp của quốc gia hơn $10 tỷ, hiện còn mắc nợ ngân sách $3.87 tỷ tiền thuế bất động sản mà ông Marcos Jr. mới chỉ thanh toán được $1,278 rồi từ chối trả tiếp và gọi khoản nợ đó là “fake news” (tin giả!). Ông quảng bá câu chuyện rằng 21 năm cầm quyền của cha ông là “thời đại hoàng kim” trong lịch sử Philippines bất chấp nền kinh tế bị phá sản năm 1983, hơn 11,000 người là nạn nhân của các vụ vi phạm nhân quyền, trong đó có khoảng 2,300 người bị giết và 1,900 người bị tra tấn, theo số liệu của Ủy Ban Tranh Đấu Nhân Quyền Philippines.
Năm 2018, bà Imelda Marcos – năm nay 92 tuổi – bị một tòa án Philippines kết án 11 năm tù về tội tham nhũng nhưng được tại ngoại hậu tra trong khi chờ kháng án. Bản thân ông Marcos Jr. năm 1995 cũng bị kết án ba năm tù giam về tội trốn thuế nhưng bản án bị Tối Cao Pháp Viện Philippines bác bỏ hai năm sau đó dù cáo buộc của viện công tố vẫn còn nguyên. Các chính trị gia cho rằng tân Tổng Thống Marcos Jr. sẽ dùng quyền lực để hủy bỏ các bản án chống lại mẹ ông và bản thân ông cũng như các vụ kiện chống lại gia đình ông ta.
Trong các bài diễn văn tranh cử, ông Marcos Jr. cam kết sẽ khôi phục sự đoàn kết, thống nhất quốc gia và nâng cao mức sống của người dân. Nhưng với một lịch sử cá nhân và gia đình đầy những vết hoen ố như vậy, liệu ông có đoàn kết được nhân dân hay không là điều chưa thể nói trước được. Chỉ có thể đoán rằng, với thắng lợi của Marcos Jr. và Sara Duterte, nền dân chủ bị tổn thương của Philippines lại bước vào một thời kỳ ảm đạm mới.
Nhiều nhà quan sát lo ngại, mối liên kết trên đỉnh cao quyền lực giữa gia đình Marcos và gia đình Duterte “thực tế đã tạo thành một tập đoàn phong kiến” (dynasty cartel), như nhận định của Aries Arugay, giáo sư khoa chính trị học tại Đại Học Philippines Diliman. “Philippines đang tiến ngày càng gần tới một chế độ chuyên chế dân cử (electoral autocracy),” một hệ thống có thể bầu ra “một Duterte khác, một Marcos khác trong rất nhiều thập niên sắp tới,” ông Arugay nói với báo The New York Times.
Manila sẽ rơi sâu vào quỹ đạo Trung Quốc?
Thắng lợi của Marcos Jr. ở Philippines xảy ra vào lúc Hoa Kỳ đang nỗ lực tối đa để củng cố liên minh các nền dân chủ Đông Nam Á trong cuộc cạnh tranh với Trung Quốc. Chỉ hai ngày nữa, Tổng Thống Joe Biden sẽ chủ trì hội nghị thượng đỉnh đặc biệt Mỹ-ASEAN kéo dài hai ngày 12 và 13 tháng Năm tại trụ sở Bộ Ngoại Giao Mỹ. Hội nghị đánh dấu 45 năm ngày thiết lập quan hệ Mỹ-ASEAN, đồng thời nhấn mạnh “Ưu tiên hàng đầu của chính quyền Biden-Harris là đóng vai trò một đối tác mạnh mẽ, đáng tin cậy và củng cố một ASEAN vững mạnh và thống nhất để giải quyết những thách thức của thời đại chúng ta,” Tòa Bạch Ốc cho biết trong thông cáo báo chí về hội nghị sắp tới. Ai cũng biết một trong những “thách thức của thời đại chúng ta” ở khu vực Đông Nam Á chính là sự trỗi dậy mạnh mẽ và ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc.
Chuyển biến chính trị mới nhất ở Philippines cho thấy kỳ vọng của Hoa Kỳ vào ASEAN như “một đối tác mạnh mẽ và đáng tin cậy” đang gặp nhiều trở ngại.
Philippines là nước Đông Nam Á duy nhất có hiệp định phòng thủ chung với Hoa Kỳ nhưng sáu năm qua quan hệ giữa hai nước đã rất lạnh nhạt do ông Duterte công khai bày tỏ thái độ thù địch với Washington và ngày càng thân thiện với Bắc Kinh.
Ông Marcos Jr. cũng đi theo con đường đó. Chính quyền Trung Quốc đã đầu tư rất nhiều vào tỉnh Ilocos Norte, căn cứ địa chính trị của gia tộc Marcos, hiện do các thành viên gia tộc này nắm quyền cai trị với các ghế tỉnh trưởng, thị trưởng, thượng nghị sĩ và dân biểu trong Quốc Hội Philippines.
Trong các cuộc vận động tranh cử, ông Marcos Jr. cho biết ông sẽ không thực thi quyết định mà Tòa Trọng Tài Quốc Tế về Luật Biển (PCA) tại The Hague đã ban hành Tháng Bảy, 2016, bác bỏ yêu sách chủ quyền của Trung Quốc, ủng hộ Philippines trong cuộc tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông. Ông Marcos cho rằng, Trung Quốc “sẽ không lắng nghe phán quyết của tòa. Đó không phải là phán quyết trọng tài vì chỉ có một bên.” Quan điểm của ông đã vấp phải sự phản đối mạnh mẽ trong công chúng Philippines do phong trào chống Trung Quốc ở đây đã lên cao trong những năm gần đây. Nhưng ông vẫn thắng cử và Trung Quốc rất đỗi hài lòng.
Lãnh đạo ASEAN vẫn bắt cá hai tay
Trong ASEAN, các nhà lãnh đạo thân thiện với Trung Quốc như các ông Duterte, Marcos Jr. chiếm đa số, cầm đầu các quốc gia như Lào, Cambodia, Miến Điện, Việt Nam, Thái Lan, Philippines và phần nào đó cả các nước Singapore, Malaysia và Brunei. Điều đó cũng dễ hiểu vì đa số các nhà lãnh đạo này đều cai trị bằng quyền lực chuyên chế, phản dân chủ và họ tìm thấy sự tương đồng trong mô hình quản trị của Trung Quốc: tập trung phát triển kinh tế, nâng cao mức sống người dân trong khi vẫn duy trì ách áp bức về chính trị, duy trì độc quyền cai trị cho một đảng (Việt Nam, Lào, Cambodia, Malaysia, Singapore), một gia tộc (Philippines, Brunei) hoặc một tập đoàn quân phiệt (Miến Điện, Thái Lan). Chỉ có Indonesia là có nền dân chủ tương đối ổn định, dù quyền tự do chính trị của người dân chưa thật sự được tôn trọng.
Dù vậy, ASEAN luôn coi quan hệ giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc có ý nghĩa quan trọng đối với chính họ – Trung Quốc là đối tác lớn nhất về thương mại, còn Hoa Kỳ là người bảo vệ an ninh. ASEAN – như lời Thủ Tướng Singapore Lý Hiển Long – không muốn chọn bên, không muốn đứng về một phe trong cuộc cạnh tranh ảnh hưởng giữa các cường quốc, nhưng đồng thời đều muốn Hoa Kỳ hiện diện và gắn bó ở Đông Nam Á để cân bằng ảnh hưởng có khả năng áp đảo của Trung Quốc.
Chính quyền Biden cho đến nay đã có nhiều nỗ lực lôi kéo các nước ASEAN vào một “mặt trận” chung kiềm chế sự bành trướng của Bắc Kinh, khai thác nỗi lo ngại và bất mãn của các nước này trước những hành vi chèn ép của Trung Quốc, nhất là ở Biển Đông, nhưng chắc chắn không thể thay đổi lập trường bắt cá hai tay của các nhà lãnh đạo ASEAN, không thể đòi hỏi ASEAN phải chống Trung Quốc mạnh mẽ hơn, quyết liệt hơn.
Cũng nên để ý, ASEAN mong muốn hợp tác và phát triển kinh tế, các vấn đề dân chủ, nhân quyền, tự do chính trị của người dân… không phải là ưu tiên của họ. Phản ứng lúng túng, bất nhất của ASEAN trước vụ đảo chính quân sự ở Miến Điện hai năm trước và cuộc xung đột Nga-Ukraine hiện nay (tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc, có 7/10 nước bỏ phiếu chống đề nghị của Hoa Kỳ loại Nga ra khỏi Hội Đồng Nhân Quyền) cho thấy lựa chọn đó.
Tại hội nghị thượng đỉnh sắp khai mạc với ASEAN, nếu Tổng Thống Biden đặt trọng tâm vào công cuộc cổ xúy dân chủ, tự do và nhân quyền, kiềm chế ảnh hưởng của Trung Quốc thì có thể ông sẽ đẩy các nhà lãnh đạo ASEAN vào thế khó xử, dù đây là những mục tiêu dài hạn của Hoa Kỳ. Tất nhiên ông Biden và các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ vẫn sẽ nêu mối quan tâm của Mỹ về dân chủ, nhân quyền ở các nước ASEAN vì đó là một nền tảng của chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ nhưng khó mà kỳ vọng một kết quả tích cực ngoài những lời hứa hẹn có tính chất ngoại giao mà các nguyên thủ ASEAN sẽ đưa ra.
Tìm tiếng nói chung Hoa Kỳ-ASEAN
Chỗ mà Hoa Kỳ và ASEAN có thể tìm tiếng nói chung là hợp tác phát triển kinh tế thương mại và duy trì một trật tự thế giới dựa trên luật lệ. Trong cuộc đấu tranh với Trung Quốc ở Biển Đông, các nước ASEAN luôn viện dẫn luật pháp quốc tế, chẳng hạn như Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS) làm nền tảng pháp lý; trong cuộc chiến Nga-Ukraine, ASEAN yêu cầu tuân thủ Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, trong đó nhấn mạnh chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia, không được sử dụng sức mạnh quân sự để thay đổi các đường biên giới.
Quan điểm của ASEAN về thượng tôn pháp luật quốc tế phù hợp với chiến lược của Hoa Kỳ xây dựng một khu vực Châu Á-Thái Bình Dương tự do và rộng mở. Chúng tôi nghĩ rằng, yêu cầu của Mỹ về duy trì trật tự quốc tế dựa trên luật lệ sẽ dễ được các nhà lãnh đạo ASEAN tiếp thu và chấp nhận. Từ đó có thể tiến dần sang yêu cầu các nước ASEAN thực thi các công ước quốc tế như Công Ước Liên Hiệp Quốc về Quyền Dân Sự và Chính Trị (ICCPR), Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền 1948 mà hầu hết các nước này đã phê chuẩn thì sẽ thuận lợi hơn.
Trên lĩnh vực kinh tế, từ khi Mỹ rút ra khỏi Hiệp Định Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) đầu năm 2017 thì ảnh hưởng của Mỹ tại khu vực đã thu hẹp rõ rệt trong khi ảnh hưởng của Trung Quốc tăng lên rất mạnh. Đây là điều mà Washington phải tính toán. Nếu không có những sáng kiến hiệu quả để kết nối kinh tế Mỹ với ASEAN thì Hoa Kỳ sẽ khó mà “củng cố một ASEAN vững mạnh và thống nhất để giải quyết những thách thức của thời đại” như kỳ vọng của Tòa Bạch Ốc.
Trường hợp Philippines là một bài học. Sở dĩ ông Duterte xoay trục sang Bắc Kinh vì ông ta tin vào những cam kết đầu tư hạ tầng và mở rộng thương mại mà ông Tập Cận Bình, chủ tịch Trung Quốc, đưa ra. Cử tri Philippines dồn phiếu cho gia tộc Marcos và Duterte vì họ quá thất vọng với thành tích phát triển kém cỏi của các chính phủ dân chủ cầm quyền sau khi nhà độc tài Ferdinand Marcos Sr. bị lật đổ. Nếu Washington có chiến lược thúc đẩy kinh tế của Philippines – thuộc địa cũ của Hoa Kỳ – thì nền dân chủ ở đảo quốc trấn ngự Biển Đông này sẽ có triển vọng sáng sủa hơn, sẽ không có chỗ cho các chính trị gia chuyên chế như gia tộc Marcos. [qd]






























































