Mô hình Trung Quốc, con rồng đỏ phun lửa – Việt Nguyên


 


Việt Nguyên 


LTSTừ Bàn Viết Houston là cột mục bàn về các vấn đề thời sự từ chính trị tới kinh tế, văn hóa… do nhà báo Việt Nguyên trong ban biên tập Ngày Nay phụ trách. Ông cũng là một bác sĩ làm việc tại Houston. 


Ðầu năm dương lịch 2012, Chủ Tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Ðào đã chào mừng năm mới bằng lời kêu gọi dân Trung Hoa đồng lòng giữ vững truyền thống 5,000 năm chống lại làn sóng văn hóa Tây phương đang lan tràn khắp nước. Mặt trận văn hóa được ông Hồ đặt nặng từ tháng 10, 2011 khi Ðảng CSTQ ấn định làn ranh rõ rệt giữa văn hóa Tây phương và Trung Hoa. Ðảng CS đặt nặng vấn đề kiểm duyệt thông tin báo chí và mạng lưới, ngăn chận tự do dân chủ. Ðầu năm ngoái, ông Hồ Cẩm Ðào đi thăm Hoa Kỳ, viếng Viện Khổng Tử lớn nhất ở hải ngoại tại Chicago, tự hào về “xã hội hài hòa” của CSTQ, nay chương trình của Ðảng CS nhắm vào phát triển các viện Khổng Tử cùng với thông tin tuyên truyền của Tân Hoa Xã và Ðài Truyền hình CCTV khắp nơi trên thế giới trong khi ngân sách các đài BBC Anh quốc và VOA bị cắt giảm tối đa. Trong khi cả thế giới đang nhìn về Bắc Hàn với ông hoàng bé Kim Chánh Ân lên ngôi thì ông Hồ Cẩm Ðào âm thầm chuẩn bị cho Hoàng Ðế Tập Cận Bình lên ngôi thống trị thiên hạ thiết lập một “xã hội hài hòa” giả tạo nguy hiểm cho thế giới trong năm 2012. 


Xây dựng xã hội hài hòa? 


Xã hội hài hòa của Ðảng CSTQ đang được quảng cáo rầm rộ là một xã hội đang tự hủy. Con rồng Trung Hoa cũng như những con rồng Á Châu phun nước (khác với con rồng Âu Châu phun lửa) đem lại phúc lợi cho mùa màng và hạnh phúc cho người dân nay đã trở thành con rồng phun lửa độc hại. Từ người Trung Hoa cho đến mọi người trên thế giới đều tự thấy phải cần Thánh George ra tay cầm ngọn giáo tiêu diệt con “rồng đỏ” vào năm Nhâm Thìn đang đến.


Người Trung Hoa ngày nay đang sống trong một quốc gia thiếu đạo lý. Ngày 20 tháng 11, 2011, cả thế giới chứng kiến cảnh em bé hai tuổi bị chiếc xe minivan cán qua cán lại 2 lần, khách bàng quan đi qua nhìn không can thiệp cho đến khi có người kéo em bé lên (4 ngày sau đó em chết). Thông tin cộng sản cố giấu nhẹm nhưng Youtube đã cho thấy những cảnh khác như một ông lão té ở chợ, người đi chợ đứng dửng dưng không ai đỡ ông dậy. Xã hội thiếu lòng nhân là kết quả của xã hội pháp trị, luật pháp khắc nghiệt từ thời Thượng Ưởng che chở cho người quyền thế. Năm 2006, tòa án ở Bắc Kinh đã phán xét một trường hợp về một người ra tay cứu giúp kẻ bị nạn ở giữa đường, ông phải trả tất cả chi phí bệnh viện và xe cứu thương cho nạn nhân! Từ đó người Trung Hoa không giúp người lâm nạn, Trung Hoa không có luật “Good Samaritan” như ở Hoa Kỳ để che chở cho những người tốt bụng giúp người lâm nạn. CSTQ tự hào với Trung Quốc, vương quốc ở giữa thế giới, cái rốn của thiên hạ, của vũ trụ, nay “Trung Quốc” đã mất chữ “Trung.” Nguyên nhân của sự tự hủy bắt đầu từ giữa thế kỷ thứ 19 khi Trung Hoa bị tổn thương nặng từ chiến tranh quân sự đến kinh tế với Tây phương và Nhật. Khoa học và kinh tế của xã hội phong kiến Khổng Tử giả tạo nhắm chữ “Trung Hiếu” đễ tự bảo vệ chế độ thiếu tính dân chủ thật của Khổng Mạnh đã thua kỹ thuật Tây phương. Các cuộc cải tổ đã thất bại vì không thay đổi từ nền móng. Ðến thời cộng sản sau năm 1949, Ðảng CS xây dựng Xã hội Chủ nghĩa, con người mới XHCN đập phá tất cả tàn tích chế độ cũ phong kiến và tư bản, xóa sạch những cái đẹp kể cả ngôn ngữ, nghệ thuật, kiến trúc, tôn giáo, y phục, âm nhạc v.v… Xây dựng xã hội mới dựa trên hận thù và dối trá cũng như trên sự ngu dốt trên 60 năm, nay Ðảng CSTQ lại đang khoe đảng bảo vệ văn hóa cổ truyền Trung Hoa!


Thành công sau cuộc cách mạng năm 1949, Ðảng CS phản bội giai cấp công nhân, xây dựng các đô thị, bỏ quên các vùng thôn quê. Mỗi năm có 10 triệu người đổ về các thành phố lớn. Nhưng Bắc Kinh và các thành phố lớn là nguồn gốc của những bất ổn xã hội trong 20 năm qua. Trong những năm gần đây, giá nhà giá đất gia tăng, những người dân thường chỉ có thể ở trong các chung cư lớn. Giá nhà và vật giá leo thang giờ đây trở thành những câu chuyện hằng ngày của người dân Bắc Kinh. Bắt chước Tây Phương, dân Trung Hoa bắt đầu thưa kiện tập thể, trong năm qua hơn 10,000 vụ kiện, chính quyền CS phải ra lệnh cấm nhưng họ thiếu hẳn cái nhìn hiện đại hóa đất nước ngoài chuyện phô trương bên ngoài.


Năm 2003, ông Wang trong cuốn sách xã hội nổi tiếng “Hồ sơ thành phố” nay trở thành “Hồ sơ Bắc Kinh” bán chạy nhất trong 8 năm qua, gọi kiến trúc Bắc Kinh là kết quả của sự tấn công từ các “lãnh chúa” cộng sản. Dân chúng không còn tin vào cán bộ “chiếm đất giành nhà.” Thành phố cổ không được bảo tồn. Cơ quan chính quyền dọn xa ra về phía Tây, ra xa Cấm thành, xây đại lộ Trường An. Khi mới bắt đầu xây lại Bắc Kinh, ông Mao Trạch Ðông không nghe lời cố vấn Xô Viết giữ văn phòng, cơ sở chánh quyền ở khu Bắc Kinh cổ, đảng CSTQ muốn xây tất cả cơ sở “vĩ đại” như sự “vĩ đại của Ðảng CS.” Quảng trường Thiên An Môn phải được xây dựng, đại lộ Trường An và 10 tòa nhà đảng và chính quyền phải được xây “nhanh hơn, tốt hơn và rẻ hơn” để kịp mừng ngày 10 năm chiến thắng. Các di tích lịch sử được phá nhanh, phá chùa, phá cổng Tây Môn nổi tiếng trong truyện Tây Môn ký, phá khu hẻm nổi tiếng “Hutong.” Chuyên gia về Trung Hoa, GS Simon Ley phê bình nặng: “tên tuổi của chế độ CSTQ gắn liền với những phá hủy Bắc Kinh, di sản của nhân loại.” Sự phá hủy vẫn tiếp tục không ngừng vì đối với CS kiến trúc không quan trọng. Ðô thị ở Trung Hoa xây lên thiếu một tình người khác với những thành phố ở Ba Lan, với những câu thơ của thi sĩ đối kháng thời CS Zagajewski:


“Tôi nghĩ, thành phố được xây dựng,
Không bằng những căn nhà, những công trường,
Những đại lộ, những công viên
Mà bằng những gương mặt rạng rỡ như những ngọn đèn
những ngọn đuốc, của con người…”


Bắc Kinh trở thành một địa điểm “đấu tranh giai cấp” mới, thành phố toàn cầu của Ðảng CS và con ông cháu cha ở trung tâm và thường dân ở ngoại ô. Chính quyền đổ 70% ngân quỹ điều nghiên ngoại ô. Các tòa nhà đồ sộ của chính quyền có mục đích tuyên truyền vinh quang cho chế độ như những xây cất cho Thế vận hội năm 2008 nay bị bỏ hoang. Dân Bắc Kinh tự hỏi, “nếu chính quyền quan tâm đến họ tại sao không tân trang nhà của họ thay vì đuổi họ ra khỏi thành phố?” Kết quả của xã hội hài hòa trong mấy năm qua là dân mất đất mất nhà và các thành phố cổ bị hủy hoại vì lòng tham của cán bộ đảng. 


Văn hóa ô nhiễm? 


Ông Hồ Cẩm Ðào cảnh cáo dân Trung Hoa về một nền văn hóa ô nhiễm Tây phương khiến người ta nghĩ lời cảnh báo của ông Lưu Hiểu Ba, người đoạt giải Nobel “Ông Hồ Cẩm Ðào và Ðảng CS là một Hitler và Nazi mới của thế kỷ thứ 21,” họ Hồ xem người Hán ưu chủng, dân Hán siêu việt giống như quan niệm của chế độ phong kiến Trung Hoa trong 5 ngàn năm, tự xem mình là Trung Quốc văn minh còn các nước lân bang là man rợ “Bắc Rợ, Nam man.”


Chữ Rợ nguyên từ chữ Hy Lạp, Barbarian, xuất từ chữ barbaros những người ngoại quốc không nói được tiếng Hy Lạp bập bẹ: bar-bar-bar như những người Việt lúc mới đến Mỹ. Chữ được sử gia đầu tiên trên thế giới Herodotus dùng 2,500 năm trước không có nghĩa kỳ thị như những người Hán dùng cho dân tộc ngoài biên cương của họ. Ông Hồ Cẩm Ðào đi ngược thời gian ngược cả thời sử gia Herodotus “phong tục giống như sản phẩm trong thị trường, con người có quyền chọn lựa,” dĩ nhiên là dân tộc nào cũng thích chọn phong tục tập quán của xứ sở quê hương mình nhưng ở vào thời đại nào, nhất là thời đại toàn cầu hóa này, vấn đề ô nhiễm là điều không thể tránh và văn minh Trung Hoa trong suốt dòng lịch sử 5,000 năm không bao giờ “thuần túy,” chính họ đã học được những bài học chua cay.


Trong các năm qua, các lãnh tụ Ðảng CSTQ đã cố trở về phong tục cổ truyền, mỗi năm đi lễ bái tổ tiên, lên ngọn Hoàng Lĩnh tế hoàng đế. Trên núi Hoàng Lĩnh vẫn còn bia tưởng niệm hoàng đế, bia đề: “Nơi đây hoàng đế lập ra triều đại nhà Hán, ngài từ đâu đến không ai biết, chỉ biết ngài đến từ phương Tây.” Tổ tiên, nguồn gốc của người Hán chính họ cũng không biết rõ!


Tục lệ thờ cúng tổ tiên từ mấy ngàn năm được Khổng Tử làm sáng lại. Ngài chỉ có công san định lại Ngũ Kinh chứ chính Khổng Tử không viết. Luận ngữ được học trò ghi chép lại. Chính quyền cộng sản muốn dùng Khổng Tử để dạy dân. “Trung với đảng” “Hiếu với Hoàng Ðế Tập Cận Bình” bỏ đi những lời dạy dân chủ, “dân vi quý” không khác gì nền dân chủ Tây phương. Khổng Tử của Ðảng CSTQ là Khổng Tử nguyên tắc, cùm kẹp, hạn chế tự do cá nhân của con người vì vậy lịch sử Trung Hoa khác với lịch sử Hoa Kỳ, dân đi ra ngoài làm ăn buôn bán không về nhiều hơn là số di dân đến Trung Hoa. Khổng Tử của đảng CSTQ là Khổng Tử của thời quân chủ chuyên chế, một Khổng Tử bị Lão Tử phê bình “cái sắc của ông ngạo mạn, cái lòng của ông đầy dục.”


Khổng giáo và Lão giáo (500 năm trước Thiên Chúa) ở Trung Hoa sau bị đạo Phật từ Ấn Ðộ tràn qua lấn át. Những người dân bị áp bức tìm được lối thoát qua đạo Phật. Những người Trung Hoa hiện nay muốn phục hưng lại tinh thần đời nhà Ðường. Thời đại kéo dài gần 3 thế kỷ từ năm 618 đến 907. Thời đại thịnh vượng, hòa đồng tôn giáo Khổng, Lão, Phật. Thời đại của văn học với thơ đường Ðỗ Phủ, Lý Bạch. Thời kỳ Phật giáo hưng thịnh nhất Trung Hoa. Thời mà cái đạo của Khổng Tử “thiên thời, địa lợi, nhân hòa,” con người sống hòa với trời đất. Trung Hoa sống hòa bình với các nước láng giềng nhất là với Hàn Quốc và Việt Nam. Thời đại nhân tài được trọng dụng qua các kỳ thi chứ không lấy thúng đong tiền mua quan bán chức như trong thời cộng sản.


Chính ở thời đại huy hoàng của đời nhà Ðường, văn hóa Trung Hoa cũng bị ô nhiễm. Con đường tơ lụa đem văn hóa Trung Ðông và Trung Á đến. Ngày nay người Trung Hoa ăn mặc, cắt tóc như Tây phương còn ở thời nhà Ðường phụ nữ từ bỏ y phục bó sát thay vào những xiêm y lộng lẫy, ghế trường kỷ nhập cảng từ Trung Ðông, dụng cụ âm nhạc, đàn tì bà, đàn dây đến từ Khotan, Trung Á. Vua Ðường Minh Hoàng mê “vũ khúc Nghê thường,” mơ lên cung Quảng, yêu Dương Quý Phi bốn mươi phần trăm quan trong triều là người Trung Ðông, Trung Á đưa đến loạn tướng An Lộc Sơn (gốc Trung Á, Ubekistan hiện nay) vua phải chạy về hướng Tây, Dương Quý Phi treo cổ tự vẫn giữa đường.


Tự hào với dòng Hán, xem các nước ngoài biên cương là bọn rợ nhưng những bức Ðại Thành không ngăn được rợ, các triều nhà Nguyên, nhà Thanh gốc từ bọn rợ Mông cổ đến cai trị. Người Trung Hoa tự hào phát minh ra giấy cùng với chữ viết nên giỏi tuyên truyền. Giấy do ông Thái Luân phát minh năm 105 (được xem là phát minh của người Hán đang được tranh cãi, Thái Luân quê ở Quế Dương phần đất Việt Nam cũ) quan trọng cho sự tuyên truyền của người Hán, giấy nhẹ hơn tre, hơn gỗ để truyền bá được người Trung Hoa giữ bí mật nghề nghiệp trên 600 năm, nhưng ở trong Vạn Phật Ðộng trên con đường lụa các nhà khoa học đã tìm thấy kinh Phật in trên giấy 100 năm trước khi người Hoa phát minh.


Ðến thế kỷ 20, Trung Hoa lại bị văn hóa ô nhiễm từ phương Tây, lần này văn hóa Marx độc hại hơn, tiêu hủy tất cả truyền thống của quốc gia họ.


Mùa Thu năm 2011, Trung Cộng kỷ niệm Cách Mạng Tân Hợi 1911, 100 năm sau khi nhà Thanh, chính quyền quân chủ cuối cùng, sụp đổ. Cuộc cách mạng ấy dẫn đến sự chiến thắng của CS năm 1949. 100 năm này đánh dấu sự sụp đổ tinh thần của người Trung Hoa. Tinh thần tôn giáo, đạo thờ cúng ông bà Tổ tiên, bắt đầu từ ngày Tết, ngày mồng một bắt đầu một năm mới, ngày mà trời đất hài hòa, con người sống tử tế với nhau, nhân hòa, đất trời mở rộng, mùa màng gặt hái bị triệt từ đời nhà Thanh. Cuối thế kỷ 19, Trung Hoa có hơn một triệu chùa và miếu. Bắt đầu năm 1898, bà Từ Hy Thái Hậu thấy “bọn thầy chùa lười biếng” đã phá tất cả chùa để biến thành trường học. Triều nhà Thanh biện minh: “Tôn giáo phải bị hủy bỏ vì Trung Hoa cần hiện đại hóa.” Ðến khi ông vua cuối cùng Phổ Nghi mất ngôi, Trung Hoa bước qua những thập niên khủng hoảng, người Trung Hoa theo văn hóa Tây phương, hệ thống cũ không còn giá trị để đối đầu với kỹ nghệ và quân sự của Tây phương. Trung Hoa bị Ngũ cường chia cắt. Ðến thời CS sau 1949, tôn giáo lại bị đàn áp, một triệu chùa, miếu bị đập đổ, nhất là sau cách mạng văn hóa, đến năm 1982, Trung Hoa chỉ còn ít chùa, nhà thờ và đền thờ Hồi giáo trong một quốc gia hơn 1 tỷ người. Tinh thần quốc gia được Tổng thống Tưởng Giới Thạch xây dựng trong chương trình “Ðời sống mới” qua sinh hoạt Hướng Ðạo bị cấm ngay sau khi CS cầm quyền.


Ðời sống tinh thần của người Trung Hoa hiện nay trong chế độ CS đang được dân phục hồi bằng các tôn giáo khác hơn Khổng giáo. Cái đời sống tinh thần trống rỗng ấy được nhà văn Fiel Xiaotong mô tả: “Từ đầu thế kỷ 20, người dân quê chỉ còn biết và quan tâm đến chính gia đình và bạn bè của họ, họ không hề quan tâm và lo lắng đến người ngoài.” Những người trẻ tuổi sống và lớn lên trong chế độ hiện nay lại xem: “Những người già không thể tin được, các ông ấy lớn lên trong xã hội CS chẳng biết lễ giáo, luân lý là gì!”


Chủ Tịch Hồ Cẩm Ðào năm 2007, đi ngược về thời nhà Thanh, bắt đầu cho phép các tổ chức từ thiện giải quyết những vấn nạn xã hội. Tôn giáo là chỗ nương tựa cho 10 triệu người bỏ quê lên tỉnh. Tôn chỉ “Tôn giáo là thuốc độc của quần chúng” nay được Ðảng CS thay đổi, họ dùng “độc dược” này để dân chúng quên đấu tranh chính trị chống bất công đặc quyền đặc lợi. CS chủ trương khi vật chất đầy đủ, kinh tế phát triển dân không cần tôn giáo nhưng trong 30 năm qua, trường hợp Trung Hoa đã cho thấy quan niệm ấy sai. Hiện nay Ðảng CS chấp nhận 5 tôn giáo Phật, Lão, Hồi, Công Giáo và Tin Lành. Dân Trung Hoa tập khí công ở các công viên chỉ có Pháp Luân Công bị cấm, bắt và tra tấn vì chính quyền CSTQ cho rằng Pháp Luân Công đã chỉ trích đảng qua tập Cửu Bình, 9 bài bình luận về Ðảng CSTQ. Tôn giáo bùng phát ở Trung Hoa, hiện nay Trung Hoa là quốc gia có nhiều Phật tử nhất trên thế giới, là nước in Thánh Kinh nhiều nhất trên thế giới với hàng ngàn linh mục và mục sư mới. Ðền thờ Hồi giáo mọc lên nhiều nơi. Mỗi Chúa Nhật có từ 60 đến 80 triệu người đi nhà thờ. Ðạo Lão cũng trở lại với những đoàn hát dạo đi khắp Bắc Kinh, chỉ có Ðảng CS và Chủ Tịch Hồ Cẩm Ðào nói chuyện Khổng Tử!


Hồ Cẩm Ðào đang sửa soạn con đường lên ngôi cho Hoàng Ðế Tập Cận Bình, họ đang muốn con rồng Trung Hoa phun lửa, đe dọa các nước láng giềng. Con rồng độc hại của mô hình Trung Quốc ấy giống như lời phê bình của nhà độc tài CS Xô Viết Stalin, khi là người tù trẻ tuổi, đã phê bình chế độ Sa Hoàng: “Con rồng đen ấy đã đánh cắp mặt trời từ tay nhân loại!”


Ngày 9 tháng 1, 2012


 

Thiền viện Sùng Nghiêm ra mắt sách Phật ngày Xuân

Nguyên Huy/Người Việt 


GARDEN GROVE (NV) “Tại sao không mở mắt vãng sanh khi đang hiện sống?” là tựa đề của cuốn sách mới được tác giả là Ni Sư Thích Nữ Chân Thiền Thanh Tịnh Liên thuộc tu viện Sùng Nghiêm, Garden Grove, cho ra mắt nhân dịp Xuân Nhâm Thìn 2012.


Ðây là một trong những cuốn “khảo luận” về Phật pháp của tác giả Thanh Tịnh Liên, và cũng là thêm một cái nhìn mới về những lời Phật dậy qua kinh kệ được lưu truyền đến ngày nay.










Lễ Phật ngày Xuân. (Hình: Nguyên Huy/Người Việt)


Tác giả có nhiều cái nhìn rất thực tế về ý nghĩa của kinh kệ trong Phật pháp qua những tác phẩm đã xuất bản. Tác giả đọc kinh kệ, suy nghĩ, tìm tòi và nhận ra những điều rất “nhập thế” cho người Phật tử mà từ trước đến nay, người Phật tử cũng như nhiều vị tu hành đã không khai triển cho việc tu hành.


Tác giả đã tìm thấy trong “Bát Nhã Tâm Kinh” ý nghĩa vãng sanh ngay khi còn sống. Diễn giải về “Bát Nhã tâm Kinh,” tác giả nhìn trên hai phương diện hình tướng và vô hình tướng như cái tâm và cái trí để nắm bắt sự vật sau màn vô minh (tham, sân, si) cũng như mọi tạp khí như vui, buồn, giận, yêu, ghét mà chúng ta đã phá bỏ được. Nhưng đã là con người thì mấy ai không mắc phải cái màn vô minh nên cứ nghĩ chỉ khi chết mới mở mắt vãng sanh thì theo tác giả “đã quá muộn rồi.” Ngay khi còn sống nếu chúng ta nhận diện được “chân lý” ví như một đồng tiền có hai mặt và hai mặt ấy không thể rời nhau, mà nếu rời được nhau thì không phải là đồng tiền. Với đạo và đời thì cũng như vậy. Do lẽ đó mà trong kinh có nói: “Phật pháp không rời thế gian pháp.”


Ðể tâm trí mà suy nghiệm thì hẳn đã thấy mặt vô tướng cũng như mặt hữu tướng là hai mặt đạo và đời. Mặt đạo là vô tướng mà người đời đặt cho nó những danh từ làm cho chúng ta nhầm lẫn, khó hiểu. Còn mặt đời vì là hữu tướng nên cũng dễ nhận biết. Nhưng chân lý là mặt đời không rời mặt đạo nên nếu chấp mặt đời phải tiêu diệt đi rồi vứt bỏ đi để đi kiếm cái vô tướng là cực lạc thì chúng ta đã có “trí mà không có thân” là hoàn toàn đi ngược lại với chân lý cũng là đi ngược lại với những Kinh Bát Nhã, Lăng Nghiêm, Pháp Hoa, Duy Ma Cật.


Vẫn theo tác giả Thanh Tịnh Liên thì “vì chân lý là giải thoát sinh tử nên cũng khó hiểu và khó thâm nhập được là lẽ đương nhiên, nhất là đối với những ai ít chịu suy tư, nông cạn, lười biếng, chưa đủ duyên lành. Trái lại, đối với những ai đã chán ngán cuộc đời dâu bể, vô thường nên muốn xả bỏ vô thường và khao khát chân lý là cái giải thoát sinh tử thì chẳng ngại gì chông gai, những hành giả này lúc nào cũng khắc khoải, suy tư, dù có khó cách mấy cũng nỗ lực để hiểu và vượt qua.”


Ðúng vậy. Khi chúng ta còn say mê cuộc sống (mặt đời), đuổi theo những hư ảo giầu sang phú quí vợ đẹp con khôn, coi nhẹ mặt đạo, chờ đến khi chết đi buông xuôi hai tay không mang được gì mới cầu mong chuyện vãng sanh nơi miền cực lạc thì chẳng những đã muộn mà còn là hư ảo nữa. Nên lo chuyện vãng sanh khi hiện tiền cũng là trả cho đồng tiền có hai mặt hợp với chân lý.


Lời nhắn nhủ của Ni Sư Thích Chân Thiền Thanh Tịnh Liên qua tập khảo luận Phật pháp “Tại sao không mở mắt vãng sanh khi đang hiện sống” như một lời nhắn nhủ mọi người thiện nam tín nữ trong ngày Xuân đi lễ Phật theo truyền thống tín ngưỡng của người dân Việt.


Tác giả đã chọn đúng đêm giao thừa Nhâm Thìn để phát hành 500 cuốn sách này cho Phật tử và đồng hương như một món quà đầu Xuân của thiền viện Sùng Nghiêm. Những ai đã có duyên quả nhận được sách xin đọc để cùng tác giả suy luận thêm, tìm hiểu thêm về mặt đạo mặt đời để tôn giáo và đời sống không phải bị cắt chia riêng biệt, giúp cho con người sống sạch đẹp may ra nhân loại mới tránh được khổ đau, chinh chiến mà cùng nhau làm cho mặt đất này đâu cũng là miền cực lạc.


Những ai chưa có sách xin liên lạc với thiền viện Sùng Nghiêm, 11561 Magnolia St., Garden Grove, CA 92841, điện thoại (714) 636-0118.


 


––-


Liên lạc tác giả: [email protected]

‘Xe Lên Xe Xuống’ – Khảo sát dân tộc miền núi Bắc Việt

 


Phạm Xuân Ðài






LTS
– Diễn Ðàn Thế Kỷ vừa cho phát hành tiểu thuyết có tựa đề “Xe Lên Xe Xuống,” của tác giả Nguyễn Bình Phương, 46 tuổi, hiện đang sống tại Hà Nội. “Xe Lên Xe Xuống,” theo lời một số văn hữu trong nước, đã bị ba nhà xuất bản từ chối phát hành; và do đó, đây là lần đầu tiên tác phẩm được trình làng, và độc giả hải ngoại được cơ hội làm “người đọc đầu tiên.” Tác phẩm được đánh giá rất cao bởi hai người; một là nhà văn Bảo Ninh, tác giả “Nỗi Buồn Chiến Tranh,” và một là nhà phê bình văn học hiện sống tại Pháp, Thụy Khuê. Chúng tôi xin đăng bài viết sau đây, của nhà văn Phạm Xuân Ðài, điểm một khía cạnh khác – khảo sát dân tộc miền núi – trong tác phẩm “Xe Lên Xe Xuống” của Nguyễn Bình Phương.


“Xe lên” là một chuyến xe đầy ắp sự kiện. Ngoài mấy chủ đề lớn là phỉ, cuộc chiến biên giới và băng đảng tội ác, tác giả Nguyễn Bình Phương còn rỉ rả kể cho chúng ta nghe những câu chuyện thuộc về từng dân tộc thiểu số trong những địa phương mà chuyến xe lên đã đi qua. Ðó là những câu chuyện nho nhỏ nhưng rất điển hình, khắc họa tính cách hoặc hoàn cảnh sống của từng cộng đồng người, cũng thuộc dân tộc Việt Nam đấy, nhưng hầu như đại đa số người Việt chẳng ai biết gì về họ. Chính vì thế tôi coi những câu chuyện loại này là những khảo sát có tính chất dân tộc học. Trên vùng rừng núi mênh mông ấy chỗ nào cũng có một nhóm dân tộc sinh sống, mà đã có người ở thì một dòng sông, dòng suối, một ngọn núi đều có thể là một đề tài. Họ đã sống bao lâu trên những đỉnh cao lạnh ấy, cuộc sống khắc khổ hay êm đềm đều để dấu vết trên tâm hồn họ, ngôn ngữ và tính cách họ, từ ngày xửa ngày xưa cho tới hôm nay. Có những câu chuyện cho thấy thời xưa đôi khi không có ranh giới rõ ràng giữa người và vật.


“Vả lại ăn thịt người đâu phải là chuyện hiếm. Giỏng tai lên có thể nghe ở bất cứ đâu những câu chuyện như thế. Sách cổ ghi lại chuyện ở vùng Phong Khê, Bạch Hạc có loài đười mặt ngay ngắn như mặt người, lại nói được tiếng người, giọng rất buồn, buồn đến mức khi nghe hai con đười nói chuyện với nhau thì ai cũng não lòng chảy nước mắt. Ngày kia, viên huyện lệnh được một người mời đến nhà khoản đãi. Viên huyện lệnh nhìn quanh, không thấy đồ nhắm gì ngoài cái cũi nhốt một con đười trong đó, bèn hỏi chủ nhà: Ðãi ta món gì đấy? Chủ nhà chưa kịp trả lời thì đười nói: ‘Chỉ có rượu nhắm với thịt tôi thôi.’ Mình cho rằng đười thực ra cũng là một loại người thiểu số như những người thiểu số bây giờ.”


Trong khoảng thập niên 1960 của thế kỷ trước, tạp chí National Geographic của Mỹ có bài nghiên cứu về một nhóm người hoàn toàn sơ khai trong rừng núi Phi Luật Tân, với nhiều hình ảnh cho thấy họ chưa có nhà cửa, chưa biết mặc áo quần, thức ăn là những con đuông, con sâu còn sống bày trên một tàu lá chuối. Liên hệ với loại “đười” mà Nguyễn Bình Phương viết ở đây, có thể nói rằng loài người tiến hóa không đồng đều, trong khi đại đa số đã phát triển cao, vẫn còn những nhóm mà ngay cả tiếng nói còn chưa hoàn chỉnh, và tôi nghĩ đó là lý do khiến người đã phát triển cao hơn nghe họ nói “thì ai cũng não lòng chảy nước mắt.”


Có những vùng, rất cao như trên đỉnh Tà Vần, con người sống trong sự thoáng đãng và yên tĩnh hầu như tuyệt đối, nhưng tai họa thì lại không hiếm. Con chim bay trên trời có khi cũng là một nguy hiểm chết người.


“Có hai bóng chim lầm lừ sóng đôi lượn ngay trước tầm mắt mọi người. Không rõ đó là loại chim gì. Lái xe buông một tay khỏi vô lăng, co duỗi thư giãn, bảo:


– Ðại bàng đấy.


– Vùng này cũng có đại bàng ấy à? Lạ nhỉ?


Mình thắc mắc.


– Nhiều là đằng khác – Lái xe bình thản khẳng định – chúng nó từng quắp cả trẻ con về tổ để ăn. Còn bắt lợn gà là chuyện bình thường.


Trang rú lên. Lái xe nói người dân tộc đi nương thường mang theo trẻ con, để ở chỗ mát, nhiều khi mải làm quên luôn cả chúng. Ðại bàng từ trên cao thấy đứa trẻ ngoe nguẩy, cho đó là con mồi, thế là vụt xuống quắp lên. Lúc ấy bố mẹ chỉ biết đứng dưới mà ngửa mặt kêu gào. Trẻ sơ sinh dân tộc bắt đầu với thế giới này bằng vô vàn những bất trắc. Không ít đứa bị bố mẹ bỏ quên trên nương, về gần nhà mới sực nhớ, quay lại thì chỉ thấy còn sót một mảnh áo đầy máu với những vết chân hổ to như cái bát tô, chồng chéo.”


Còn địa bàn sinh sống của một giống người gọi là La Chí mới thật lạ lùng. Cái gì khiến họ chọn một địa điểm cao nhất quanh năm chỉ có mây mù và giá lạnh, với chim chóc lạ, đá lạ, cây lạ:


“ -Cao nhất ở vùng Ðông bắc này là đỉnh Lũng Tẩu.


(…) Ðó là thánh địa của một nhóm người La Chí. Họ chiếm trọn cái đỉnh ấy, quanh năm sống trong mây, trong giá lạnh, trong dồng dộng gió. Ðỉnh cao hoang lạnh ấy cũng là nơi họa mi chúa sống. Con họa mi chúa trắng từ đầu tới chân, hiếm ai nhìn thấy, nó thống trị tất cả họa mi ở dải Tây Côn Lĩnh. Mỗi khi họa mi chúa hót, lá trên đỉnh Lũng Tẩu đổi màu và sương sẽ rơi xuống như mưa. (…) Một đặc điểm quan trọng: Người La Chí rất giỏi đọc ý nghĩ của kẻ khác nhưng khó ai đọc được ý nghĩ của họ. (…) Người La Chí thích hát, bài hát của họ thanh thoát hơn các dân tộc khác. Chính vậy mà họa mi chúa mới chọn sống với họ. (…) Trước khi xảy ra cuộc va chạm, dân nước họ vẫn vượt qua biên giới, lần mò lên tận đỉnh Lũng Tẩu để lấy cây và đá về làm cảnh. Những cây tùng mọc trên đỉnh núi này có tuổi hàng vài trăm năm nhưng lại chỉ nhỉnh hơn ngón chân cái một chút, dáng của chúng rất đẹp. Theo hắn có hai lý do: Thứ nhất cây mọc trên đá, nên cằn, thứ hai, gió ở đây nhiều, vì thế mà cây luôn vặn vẹo theo đủ các dáng. Ðá của đỉnh Lũng Tẩu còn kỳ bí hơn bởi nếu mang xuống vùng đồng bằng khí hậu khô thì có khả năng tự phát ra âm thanh. Sống trên đỉnh Lũng Tẩu có thể thọ đến trăm hoặc trăm rưỡi vì khí hậu cực tốt.”


Khi đọc những trang Nguyễn Bình Phương viết về các dân tộc thiểu số trên vùng biên giới, tôi bỗng sực nhớ tôi đã có dịp tiếp xúc với họ, không chỉ một vài người mà cả một tập thể đông đảo. Thực lạ lùng là dịp gặp gỡ ấy cũng liên quan đến trận chiến 1979. Từ năm 1976 chúng tôi, một nhóm công chức thuộc chính quyền Việt Nam Cộng Hòa được đưa đi “cải tạo” tại trại Thanh Cẩm trên miền thượng du tỉnh Thanh Hóa. Năm 1981 tôi bị tai nạn vỡ xương bánh chè, người chữa cho tôi là một tù nhân người Trung Quốc, và những lá thuốc cần thiết cho việc chữa chạy lại hoàn toàn do những người dân tộc này hái trên núi quanh trại Thanh Cẩm. Tôi nhớ là tôi đã có viết về sự kiện này, vội đi tìm chồng báo cũ, và may quá đã tìm ra bài viết trên các số báo Thế Kỷ 21 đầu năm 1995, xin trích mấy đoạn liên quan. Trước hết là ông thầy thuốc người Tàu tên Phi:


“Phi là một tù nhân người Tàu độ 35 tuổi, đậm người, mặt tròn, bị bắt năm 1975 vì xâm nhập Việt Nam bất hợp pháp và bị kết tội gián điệp, ở Hỏa Lò Hà Nội một thời gian dài, mới được chuyển đến trại này mấy tháng nay. (…)Vừa là thầy thuốc giỏi, vừa chuyên về xương, sự hiện diện của anh ta giữa lúc này giống như là một sắp xếp của màn kịch định mệnh.” (Phạm Xuân Ðài, Chuyện cái đầu gối, Thế Kỷ 21 số 69, Jan. 1995).


Và đám tù nhân người dân tộc thiểu số đã đi hái lá thuốc để chữa chân cho tôi:


“Tất cả các thứ thuốc mà Phi có được đều là cây cỏ quanh vùng đem về sao chế. Có điều kẹt là Phi không được phép đi ra khỏi trại, các loại cây lá đều phải nhờ người khác hái trong khi đi lao động bên ngoài. Thường người Việt Nam không làm được việc này, vì Phi không biết các loại cây cỏ làm thuốc ấy tiếng Việt gọi là gì, mà mô tả hình dạng thì người được nhờ không thể nào nhận ra giữa vô số cây cối của núi rừng nhiệt đới. Cũng may là thời ấy có những đội toàn là người Tàu, Phi nhờ họ kiếm được khá đầy đủ lá thuốc. Thật ra đám tù nhân ấy không hẳn là người Tàu, họ là các sắc dân thiểu số sống ở vùng gần biên giới Tàu, có thể nói tiếng Việt, tiếng Tàu và thổ ngữ của họ. Sau trận chiến với Trung Quốc năm 1979, các sắc dân ấy, mà Hà Nội nghi là thân Tàu, bị tập trung hàng loạt nhốt một chỗ cho chắc ăn, chứ thật ra họ không có tội tình gì cả. Họ toàn là dân sống ở miền núi nên cây cỏ họ cũng rành lắm. Ðối với một vài sắc dân thảm cảnh đã xảy ra: bị bắt vào tù họ đã chết hàng loạt, đến độ trại mộc dù làm hết công suất cũng không thể cung cấp đủ hòm để chôn kịp, cuối cùng đành phải quấn chiếu mà chôn. Ðó là những giống dân ở vùng núi cao, họ trồng cây thuốc phiện và dùng thuốc phiện hàng ngày như ăn cơm, uống nước, khi vào tù cơ thể họ không chịu nổi tình trạng thiếu thuốc, cứ rũ liệt, héo tàn dần dần không có cách gì cứu chữa được (dĩ nhiên có một thứ thuốc có thể chữa được, là thuốc phiện, nhưng kiếm đâu ra). Cái chết của họ thực thương tâm, họ đã sống hồn nhiên như cây cỏ, đã say sưa với chất nhựa ma túy lấy từ thiên nhiên chung quanh họ là những đỉnh cao lạnh lẽo mù sương, chắc cả đời họ chẳng biết đến những chuyện chính trị như kẻ này cần dạy cho kẻ kia một bài học, thế mà một hôm họ bị gom vào tù, rời khỏi môi trường cố hữu của họ, và gục chết. Chết không kịp chôn.” (Phạm Xuân Ðài, Chuyện cái đầu gối, Thế Kỷ 21 số 70, Feb. 1995).


Trên chuyến “xe lên” Nguyễn Bình Phương có nhắc đến vùng thuốc phiện.


“Huyện tặng đoàn hai can mật ong hoa bạc hà. Hồi chưa cấm trồng thuốc phiện thì mật ong hoa thuốc phiện là nhất, giờ thì mật ong hoa bạc hà là nhất. (…)Thời kỳ Pháp cai trị, vùng này là nơi cung cấp thuốc phiện cho toàn bộ Ðông Dương.”


Ðó là địa bàn của người Mèo, nơi có con sông Nho Quế chảy qua. Trong lịch sử, sông Nho Quế đã mấy lần biến thành màu đỏ vì các cuộc tàn sát, và trong cuộc 1979, nó lại được nhuộm đỏ bởi máu Tàu lẫn máu Việt.


Người Mèo là một dân tộc thiểu số được biết đến nhiều, nhưng ít ai biết điều này:


“Người Mèo ít khi sử dụng ưu thế của đôi mắt, họ không dùng nó để biểu cảm như các dân tộc khác. Ðối với họ, mắt chỉ thuần để nhìn, không phải để xét đoán.”


Tôi không biết do duyên nợ từ kiếp nào mà tôi, một người miền Nam, lại có dây dưa với dân tộc trồng thuốc phiện này, nhân cuộc chiến 1979 mà họ vào Thanh Hóa, giúp đi hái lá thuốc để chữa chân cho tôi. Và hôm nay, 30 năm sau, tôi lại ngồi săm soi tác phẩm của Nguyễn Bình Phương, cũng về cuộc chiến ấy, để tìm dấu vết của một cuộc khảo sát dân tộc học về người Mèo ở tuốt từ trên đỉnh núi cao, những người một thời đã lừng lẫy sống vì thuốc phiện, và cũng đã chết vì thuốc phiện.

Trường Monroe mừng Xuân Nhâm Thìn

 


Linh Nguyễn/Người Việt


FOUNTAIN VALLEY (NV) Hội trường của trường tiểu học Monroe, Fountain Valley, hôm Thứ Ba mang đầy màu sắc lễ hội từ lúc 8 giờ sáng, vì hàng trăm học sinh, thầy cô và phụ huynh trường này mừng Tết Con Rồng ngồi kín hội trường.










Cô giáo Hằng Nga dặn dò các em trước giờ trình diễn. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)


“Ðây không phải là lần đầu trường Monroe mừng Tết Nguyên Ðán mà là năm thứ 14,” cô giáo Hằng Nga Nguyễn, người đứng ra tổ chức hoạt động truyền thống này, nói với phóng viên nhật báo Người Việt.


Cô cũng tâm sự: “Thời gia qua mau. Mới đó mà đã gần 15 năm rồi. Tôi xin cám ơn các phụ huynh và nhất là anh Troy Nguyễn và chị Katie Dương, chủ nhân Vina Entertainment, ủng hộ tài chánh để giúp chia sẻ phí tổn tổ chức.”


Cô kêu gọi phụ huynh và các cơ sở thương mại ủng hộ cho nỗ lực duy trì văn hóa Việt.










Lì xì cho lân. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)


“Xin hãy nghĩ đến tinh thần chung của cộng đồng. Ðừng nghĩ rằng chỉ giúp vì có con em theo học tại đây. Hãy hỗ trợ dù chỉ về phương diện tinh thần,” cô Hằng Nga cho biết thêm. “Cộng đồng sắc dân khác mạnh và đem về cho họ nhiều quyền lợi là vì họ hỗ trợ nhau. Họ đóng góp. Họ nghĩ đến quyền lợi chung.”


Cô chia sẻ: “Khi tôi kêu gọi phụ huynh Việt Nam mặc áo dài làm gương cho con, họ vui vẻ làm theo. Nhờ vậy mà cả trường Monroe, các thầy cô người bản xứ cũng mặc áo dài Việt Nam ăn Tết!”


Về phía Học Khu Garden Grove, Tiến Sĩ George West, chủ tịch Hội Ðồng Giáo Dục, cho biết: “Chúng tôi thấy việc chia sẻ các nét đẹp văn hóa, không phân biệt nguồn gốc, ngay từ những ngày ấu thơ, sẽ đem lại sự phong phú cho sự giáo dục con em.”


Chị Sandra Lương, một phụ huynh, nói: “Thấy các cháu nhỏ trình diễn tiếng Việt, tôi thấy cảm động vì các em biết duy trì nguồn gốc.”










Màn múa dù “Thần Tài đến.” (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)


Ông Ðoàn Trần, ở Fountain Valley, có hai con học tại trường, nói: “Tôi rất xúc động khi tham dự và thấy các cháu được hướng dẫn về văn hóa của người Việt mình tại Hoa Kỳ.”


Chị Huyền Vũ, cư dân Fountain Valley, hãnh diện nói: “Tôi thấy vui khi thấy người Việt tổ chức Tết trong trường Mỹ.”


Giữa những ý tưởng được chia sẻ, cử tọa tham dự đọc được những hàng chữ “Chúc Mừng Năm Mới” bằng tiếng Việt, xen lẫn ý nghĩa tương tự bằng các ngôn ngữ khác trên tấm phông sân khấu. Các em học sinh đứng chuẩn bị làm lễ chào cờ Mỹ-Việt, với màu cờ Việt Nam và Hoa Kỳ trong tay, hoặc cuốn vòng trên trán.


Cô giáo Hằng Nga giới thiệu sáu học sinh lớp ba, trong đó có hai em gốc Việt, hướng dẫn chương trình mừng Tết Con Rồng 2012.


Ðoàn lân của học sinh trung học Los Amigos, chỉ cách trường Monroe vài con đường, cũng tham dự, như mọi năm. Tiếng trống dồn dập, năm con lân tiến vào hội trường từ hai cửa phía sau, lôi cuốn mọi người. Theo sau khoảng 10 ông Ðịa cầm quạt phe phẩy sau những khuôn mặt tếu, cười toe toét.


“Xem lại cuộn phim năm ngoái, tôi nhận ra được một em học sinh trong đoàn lân. Trước đây em là một học sinh của tiểu học Monroe. Nay em này tham gia đoàn lân của trung học Los Amigos để có thể về trình diễn cho các học sinh trường cũ.” Cô giáo Hằng Nga kể.










Hẹn lại năm sau. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)


Cô nói thêm: “Tôi rất xúc động vì hạt giống tôi và các thầy cô cùng các phụ huynh Việt Nam gieo xuống năm nào, tại trường này, nay đã nẩy mầm!”


Trong những hạt giống ấy, trước mặt phụ huynh là các em mẫu giáo và lớp một thuộc mọi sắc tộc, tóc đen, tóc vàng. Các em vui vẻ và lôi cuốn cử tọa qua bài hát “This Land Is Your Land.”


Cô Hằng Nga cho biết đây là nhóm học sinh mà cô thích nhất vì xem các em trình diễn nhiệt tình với sự hồn nhiên trong sáng. Cô nói: “Thấy các em hát, tôi thấy tan biến hết những sự mệt nhọc khi hướng dẫn các em tập hát, tập múa.”


Bà Hiệu Trưởng Michelle Rushall nói: “Năm nay là năm mừng Tết hay nhất trong vòng năm năm qua.” Bà mời tất cả ai mặc áo dài cùng tham dự màn trình diễn thời trang của các em học sinh.” Luật Sư Nguyễn Quốc Lân, ủy viên Học Khu Garden Grove, đã vui vẻ hưởng ứng. Cùng hiện diện trong buổi lễ cũng có một ủy viên giáo dục khác, ông Nguyễn Quốc Bảo, và tổng quản trị học khu, Tiến sĩ Laura Schwam.


 


––


Liên lạc tác giả: [email protected]

Cộng Hòa phản ứng ‘diễn văn liên bang’: Obama làm kinh tế đi xuống

 
WASHINGTON, DC (AP) – “Tổng Thống Barack Obama là người theo ‘chủ nghĩa cực đoan’ trong chính sách ‘bẻ tay’ và chống tăng trưởng kinh tế, cũng như tìm cách chia rẽ dân Mỹ, chứ không đoàn kết họ.” Ðó là phát biểu của thống đốc tiểu bang Indiana, ông Mitch Daniels, đại diện đảng Cộng Hòa đáp lại bài diễn văn liên bang do người đứng đầu khối hành pháp Hoa Kỳ, thuộc đảng Dân Chủ, đọc trước lưỡng viện Quốc Hội tối Thứ Ba.



(Hình: AP Photo/Saul Loeb, Pool)



Tám tháng sau khi quyết định không ra tranh cử tổng thống, Thống Ðốc Mitch Daniels dùng bài diễn văn được truyền hình toàn quốc đả kích ông Obama và đưa ra hình ảnh đảng Cộng Hòa là những người nhiệt thành, sẵn sàng “cởi trói” để nền kinh tế Hoa Kỳ vươn lên.


Vị thống đốc tiểu bang Indiana đặc biệt nhắm ngay vào đề nghị tăng thuế người giàu của ông Obama. Ông Daniels cũng bác bỏ chỉ trích của ông Obama rằng người giàu không chia sẻ gánh nặng quốc gia một cách công bằng.


Ông Daniels và những người thuộc đảng Cộng Hòa hy vọng sự chỉ trích thẳng thừng này sẽ chuyển hướng sự chú ý của công chúng đối với chủ đề của ông Obama về sự công bằng, bao gồm bảo vệ giới trung lưu và bảo đảm người giàu phải đóng thuế như người nghèo.


“Không có gì tệ hại hơn những cố gắng của ông Obama khi tìm cách chia rẽ chúng ta, khi thiên vị một số người Mỹ và trừng phạt một số người khác,” Thống Ðốc Daniels nói. “Cũng giống như những lần trước, người Mỹ chúng ta đang sống trong nguy hiểm.”


Các nhà lãnh đạo Cộng Hòa cũng nhắm vào đề nghị tăng thuế của ông Obama, trong đó bảo đảm những người kiếm được bạc triệu phải đóng thuế ít nhất 30%.


Thượng Nghị Sĩ Mitch McConnell (Cộng Hòa-Kentucky), thủ lãnh khối thiểu số tại Thượng Viện, gọi bài diễn văn của ông Obama là “diễn văn vận động tranh cử, làm hài lòng cử tri cấp tiến của ông.” Ông McConnell cũng cảnh báo rằng ông Obama đừng nên để “những viên thuốc độc, như tăng thuế đối với người tạo ra việc làm” ảnh hưởng công việc của mình.


“Cho dù tổng thống có biện luận như thế nào về sự công bằng, trên thực tế, đề nghị tăng thuế của ông sẽ ảnh hưởng xấu đối với doanh nghiệp nhỏ,” Thượng Nghị Sĩ Orrin Hatch (Cộng Hòa-Utah) nói. Ông là thành viên cao cấp nhất của đảng Cộng Hòa trong Ủy Ban Tài Chánh Thượng Viện.


Nội dung bài diễn văn của Thống Ðốc Daniels được coi là lạ lùng, vì ông nổi tiếng là một người luôn đoàn kết mọi người và được tôn trọng, ngược hẳn với sự trái ngược giữa hai ứng cử viên tổng thống Cộng Hòa, Mitt Romney và Newt Gingrich.


Ông Daniels, từng là giám đốc ngân sách đầu tiên dưới thời Tổng Thống George W. Bush và hiện là thống đốc hai nhiệm kỳ ở Indiana, luôn chống lại lãng phí ngân sách làm thâm thủng ngân sách, mặc dù một số người cho rằng ông làm việc trong thời kỳ nước Mỹ đang có thặng dư bị trở thành thiếu hụt ngân sách.


“Khi Tổng Thống Obama nói rằng kinh tế nước Mỹ ngày càng tệ hại, ông phải biết trong suy nghĩ của ông là điều này không đúng sự thật,” ông Daniels nói. Ông nói thêm rằng mặc dù ông Obama không gây ra tình trạng kinh tế tồi tệ này, nhưng ông “được bầu lên với lời hứa sẽ giải quyết khó khăn kinh tế nước Mỹ, và ông không dám nói là trong ba năm qua đã làm tình trạng kinh tế ngày càng tệ hơn.”


Bài diễn văn của Tổng Thống Obama kéo dài 65 phút, trong khi bài diễn văn của ông Daniels dài 20 phút. (Ð.D.)

Tin hay không tin – Ngô Nhân Dụng

 


Ngô Nhân Dụng


 


Sau vụ anh Ðoàn Văn Vươn ở xã Vinh Quang huyện Tiên Lãng bị cướp đất rồi bị bắt, nhiều người Việt trong nước đã đặt câu hỏi trên các mạng lưới: “Liệu vụ này có bị chìm xuồng không?” Rồi tự trả lời, “Chúng tôi chả còn biết tin vào đâu nữa!” Một độc giả khác trấn an: “Hãy tin vào đảng vào trung ương…” Nhưng có người phản bác ngay: “Các bác vẫn còn cái trung ương để tin. Em thì chẳng. Dứt khoát như thế cho nó nhanh. Còn tin vào đâu?”


Một cách cụ thể, một vị độc giả trên mạng đề nghị: “Hãy làm một cuộc trưng cầu dân ý bằng cách cho mọi người bỏ phiếu với hai khả năng (chọn lựa): Tin – Không tin.” Và vị này đoán kết quả sẽ “có đến 90 % người dân không tin vào vai trò lãnh đạo của đảng nữa.” Một vị khác đồng ý: “Tôi nghĩ… việc mất lòng tin của dân là nhãn tiền.”


Thực sự bây giờ mà đặt câu hỏi dân Việt Nam còn tin hay không tin đảng cộng sản thì hơi phí thời giờ. Ðó là một vấn đề chẳng cần nêu ra làm gì nữa, câu trả lời ai cũng biết rồi. Có thể đặt ngay một câu hỏi là “Ðảng cộng sản có còn tin vào đảng nữa hay không?” Và có thể trả lời ngay là KHÔNG. Cũng trả lời “Dứt khoát như thế cho nó nhanh!”


Hãy thử tự đặt mình vào địa vị các đảng viên và lãnh tụ cao cấp của đảng mà tự hỏi: “Nếu TIN thì TIN vào cái gì? Có cái gì để TIN hay không?” Hỏi rồi, nhìn quanh nhìn quẩn, thực tình, chẳng thấy có cái gì để tin hết! Chính họ cũng không thấy có gì để tin vào đảng của họ nữa, “Nói dứt khoát như thế cho nó nhanh!”


Trước hết, đảng viên cộng sản còn ai tin vào mục đích sau cùng của các đảng cộng sản là làm cách mạng vô sản toàn thế giới hay không? Các đảng viên cộng sản bây giờ còn tin rằng kinh tế tư bản đang rẫy chết, sắp sụp đổ như ông tổ Karl Marx đã tiên đoán trước đây hơn 150 năm hay không? Các đảng viên cộng sản bây giờ còn ai muốn nghiên cứu học tập những lý thuyết viển vông như Duy Vật Biện Chứng hay Duy Vật Lịch Sử nữa hay không?


Những giáo điều căn bản của đảng cộng sản, họ không tin, thì họ tin vào cái gì? Ngay cả những lãnh tụ cao cấp nhất trong đảng cũng chỉ chăm chắm lo làm giầu, lo củng cố địa vị cho con cháu; có ai bây giờ còn tự xưng mình là một “chiến sĩ vô sản?”


Cơn khủng hoảng niềm tin trong nội bộ đảng Cộng Sản Việt Nam đã bắt đầu ngay từ khi họ chiếm được miền Nam Việt Nam. Những đảng viên người miền Bắc thấy rõ người dân trong Nam từng có mức sống cao hơn và có nhiều quyền tự do hơn trước khi “được Ðảng giải phóng.” Những chính sách kinh tế thất bại gây ra nạn đói, cho thấy chủ trương và tài cán của các lãnh tụ là số không. Các cuộc chiến tranh với Khờ Me Ðỏ và Trung Cộng cho thấy cái gọi là chủ nghĩa quốc tế vô sản là hoàn toàn dối trá, bịp bợm. Cảnh sụp đổ của Liên Xô và khối cộng sản ở Âu Châu đã mở mắt tất cả những đảng viên vẫn còn mơ hồ. Khi đảng cộng sản quyết định “đổi mới” thì người ta đã thấy chẳng qua chỉ là trở về với những phương pháp cũ, trước bị đảng cộng sản thay đổi! Nếu còn ai tin tưởng vào đảng cộng sản thì niềm tin đó cũng chấm dứt khi người ta nhìn thấy cảnh các cán bộ từ trên xuống dưới chạy đua trên con đường biến thành tư bản đỏ. Không phải tất cả các đảng viên cộng sản đều hy vọng thành tư bản đỏ, vì chỉ có một thiểu số giành được quyền làm giầu. Những người còn lại phải bám vào đảng để sống.


Riêng đám lãnh tụ đầu đảng bây giờ chỉ còn lo củng cố địa vị mà làm giầu. Họ tìm cách học tập rồi chắp vá những mánh khóe của các chế độ độc tài khác trên thế giới, cố làm sao bảo vệ quyền hành, và bảo đảm đám con cháu sẽ còn được hưởng thụ như họ càng lâu càng tốt. Tất cả là một mạng lưới kết hợp chặt chẽ với nhau để giữ quyền và đục khoét. Ở cấp xã, cấp huyện thì tiêu biểu là xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng. Ở cấp cao hơn thì tiêu biểu là bọn những tập đoàn PMU 18, Xa lộ Ðông Tây ở Sài Gòn, Vinashin. Tất cả đều nhắm mục đích vơ vét thật nhanh, vì biết ngày sụp đổ không còn xa nữa. Leo lên ngồi được vào một cái ghế rất tốn kém, thời gian kiếm chác không biết được bao lâu, cho nên phải nhất trí vơ vét thật nhanh! Như một người dân đã viết trên mạng: Họ đầu tư thì họ phải cố thu hồi!


Tóm lại, bây giờ, đảng cộng sản cũng không còn tin vào chính nó nữa. Những bài diễn văn vẫn đề cao những chủ nghĩa lạc hậu, vẫn hô to các khẩu hiệu rỗng tuếch; chính họ cũng không còn tin lời họ nói nữa. Ngay việc họ vẫn tự gọi tên đảng của họ là đảng cộng sản đã là một điều dối trá trơ trẽn rồi. Người dân coi họ chỉ là một bè lũ Mafia.


Nhưng một hậu quả thê thảm sau hơn nửa thế kỷ cộng sản cai trị, là họ cũng phá vỡ hết cả niềm tin của mọi người dân Việt Nam. Ðảng cộng sản ngay từ đầu đã chủ trương phá các tôn giáo, vì sợ lòng trung thành với đảng bị chia sẻ. Họ hủy bỏ trật tự của các gia đình, là nơi vẫn chứa đựng các giá trị nhân bản như tình thương yêu giữa cha mẹ và con cái, niềm tin vào phúc đức tổ tiên, truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác. Họ biến công việc giáo dục thành một khí cụ tuyên truyền, xóa sạch tinh thần “tôn sư trọng đạo” mà các tiền nhân từ Chu Văn An đến Nguyễn Ðình Chiểu đã xây dựng trong hàng ngàn năm. Họ bỏ mặc các giáo chức sống nghèo khổ, phải lo kiếm ăn nhiều hơn là lo giáo dục; làm mất uy tín của các thầy giáo, cô giáo, mà từ đời xưa vẫn được coi là lớp người làm gương mẫu cho thanh thiếu niên Việt Nam. Họ coi cả hệ thống tư pháp là một dụng cụ cai trị, không người dân nào tin tưởng vào luật pháp nữa. Trật tự xã hội chỉ dựa trên nỗi sợ hãi trước guồng máy công an.


Hậu quả của các chính sách cộng sản là tạo nên một xã hội bơ vơ không còn ai tin vào các giá trị tinh thần. Trước đây 30 năm, tập truyện Thằng Người Có Ðuôi của nhà văn Thế Giang đã cho thấy những thứ tội ác diễn ra lạnh lùng, ngay cả cảnh người lớn đối xử ác độc với trẻ em. Trước đây 25 năm Nguyễn Huy Thiệp đã mô tả tình trạng con giết cha, vợ bỏ chồng, anh em, bạn bè lợi dụng lẫn nhau; trong một xã hội hoàn toàn không có các tiêu chuẩn luân lý. Nhưng trong văn chương của Nguyễn Huy Thiệp cũng như Thế Giang độc giả còn thấy bóng dáng của lòng từ bi, của những khát vọng hướng về Cái Thiện. Ngày nay, đọc tiểu thuyết Xe Lên Xe Xuống của Nguyễn Bình Phương chúng ta thấy ông cực tả tình trạng trống rỗng tinh thần ở một mức độ kinh hoàng hơn nữa. Cái Thiện hoàn toàn vắng mặt. Các nhân vật trong Xe Lên Xe Xuống không quan tâm đến một giá trị luân lý nào cả. Ðộng cơ của họ khi cư xử với nhau, khi đối phó với hoàn cảnh bên ngoài, đều là do lòng tham và nỗi sợ. Họ chỉ đi tìm tiền bạc, quyền hành, và nhục dục. Họ nhìn người khác đều chỉ thấy đó là những vật có thể dùng để thỏa mãn các mục đích này. Hình ảnh duy nhất còn mang lại niềm tin trong toàn cảnh tiểu thuyết này là tình anh em ruột thịt, qua những ký ức về thời thơ ấu của nhân vật chính, khi hai anh em đối xử với nhau như những con người, không vụ lợi.


Có thể đó là một điều mà Nguyễn Bình Phương nêu lên như mầm mống để nuôi hy vọng cho một nước Việt Nam tốt đẹp hơn. Cuốn tiểu thuyết đặt trong bối cảnh cuộc chiến tranh Việt Hoa tàn khốc những năm 1979, và 1984, cuối cùng, chứa đựng một nỗi khát khao: Phải sống lại tình anh em máu mủ, như thời chúng ta còn là những đứa trẻ thơ.


Bởi vì các chế độ chính trị sau cùng đều tàn lụi cả. Các chủ nghĩa, các lý thuyết đều chỉ có giá trị nhất thời. Những người giầu có nhất, quyền lực cao nhất, sau cùng cũng sẽ bị lãng quên. Quyền hành, danh vọng, tiền bạc, khi chết không ai mang theo được. Nhưng tình tự dân tộc, tình thương yêu giữa người Việt Nam với nhau giống như tình anh em ruột thịt, vẫn tồn tại. Mọi người Việt Nam dù ở trong nước hay ở nước ngoài đều chia sẻ những nỗi nhục nhằn cay đắng của các nhân vật trong Xe Lên Xe Xuống, trong cơn hoạn nạn đất nước bị xâm lăng. Tất cả đều xúc động khi đọc tin tức về gia đình ông Ðoàn Văn Vươn. Tình đồng bào đó vượt lên trên mọi bức tường chia rẽ chúng ta, dù là tường lửa.


Bây giờ chẳng cần đặt ra câu hỏi người dân còn tin chính quyền cộng sản hay không nữa. Nhưng chúng ta có thể tin vào tình thương yêu giữa đồng bào với nhau. Mối quan tâm lớn là chính chúng ta phải xây dựng lại niềm tin giữa người Việt Nam với người Việt Nam. Bắt đầu bằng tấm lòng thành thật, bằng lời nói đúng sự thật, và thái độ sẵn sàng tin tưởng vào những người cùng thành tâm thiện chí. Chỉ có sự thật xây dựng được niềm tin.

Giá tiền mướn chung cư tăng hầu hết Quận Cam

 


QUẬN CAM (OCR) – Thăm dò mới nhất của Real Facts cho thấy, tiền mướn chung cư ở hầu hết các thành phố trong Quận Cam tăng trong tam cá nguyệt của mùa Thu năm 2011, với Irvine và Santa Ana tăng cao nhất.



Phòng khách một căn chung cư tại Costa Mesa, Quận Cam. (Hình minh họa: David McNew/Getty Images)


Tiền mướn chung cư trung bình ở Irvine là $1,897, cao hơn cùng kỳ năm ngoái $155, tức tăng 8.9%; về nhì là Santa Ana ở giá $1,415, lên $129, tức tăng 10.1%.


Trong số 23 thành phố được thăm dò, chỉ có hai thành phố tiền mướn không tăng mà lại còn giảm nữa. Tại Cypress tiền mướn trung bình là $1,342, hạ $31 hay giảm 2.3%; và tại Mission Viejo, giá mướn hằng tháng trung bình $1,448, giảm $4 hay hạ 0.3%.


Tính chung toàn Quận Cam, tiền mướn trung bình $1,561, tăng $83 mỗi tháng hay 5.8% so với tam cá nguyệt của mùa Thu năm 2010. Ðây được xem như tăng nhiều nhất kể từ 4 năm rưỡi qua.


Một vài thành phố tiêu biểu trong Quận Cam, nơi có nhiều người gốc Việt cư trú, những thay đổi như sau: Westminster có giá thuê trung bình là $1,307, tăng $25 hay 2.0%. Garden Grove $1,310, tăng $28 hay 2.2%. Huntington Beach $1,448, tăng $41 hay 2.9%. Fountain Valley $1,375, tăng $54 hay 4.1%. Anaheim $1,306, tăng $86 hay 6.0%. Costa Mesa $1,580, tăng $78 hay 5.2%. Tustin $1,529, tăng $86 hay 6.0%. Stanton $1,212, tăng $64 hay 5.6%. (TP)

Hạ Viện Mỹ điều trần về nhân quyền Việt Nam

 


Ðòi đưa Việt Nam vào CPC và thả nhạc sĩ Việt Khang


 


Ðỗ Dzũng/Người Việt


 


WASHINGTON, DC (NV) – Một số nhà đấu tranh nhân quyền và nạn nhân buôn người tham dự một buổi điều trần liên quan đến tình trạng nhân quyền Việt Nam do Dân Biểu Chris Smith chủ tọa, tại văn phòng Hạ Viện Mỹ lúc 2 giờ chiều Thứ Ba, trong đó vị dân biểu chủ tọa chỉ trích tình trạng nhân quyền tại Việt Nam và Dân Biểu Ed Royce đòi đưa Việt Nam trở lại Danh Sách Các Quốc Gia Cần Quan Tâm Ðặc Biệt (CPC) và yêu cầu Việt Nam thả nhạc sĩ Việt Khang vừa bị bắt trước Giáng Sinh năm ngoái.



Dân Biểu Chris Smith (trái) và Tiến Sĩ Nguyễn Ðình Thắng (phải) cùng một số người bàn bạc về buổi điều trần nhân quyền Việt Nam tại Hạ Viện hôm Thứ Ba. (Hình: BPSOS)


“Chính quyền Việt Nam tiếp tục vi phạm nhân quyền quá mức với bình diện rộng hơn,” Dân Biểu Chris Smith (Cộng Hòa-New Jersey) nói tại buổi điều trần, theo thông cáo báo chí do văn phòng ông đưa ra. “Mặc dù Bộ Ngoại Giao đưa Việt Nam ra khỏi danh sách CPC hồi năm 2006, trên thực tế, Việt Nam vẫn tiếp tục là một trong các quốc gia vi phạm tự do tôn giáo tệ hại nhất trên thế giới.”


Theo báo cáo năm 2011 của Ủy Ban Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế Hoa Kỳ, “chính quyền Việt Nam vẫn tiếp tục kiểm soát tôn giáo và đàn áp dã man những cá nhân và nhóm được coi là thách thức chính quyền,” vị dân biểu đại diện tiểu bang New Jersey nói tiếp.


Dân Biểu Smith là thành viên cao cấp của Ủy Ban Ngoại Giao Hạ Viện.


Trong phần phát biểu của mình, theo thông cáo báo chí do văn phòng ông gởi ra, Dân Biểu Ed Royce (Cộng Hòa-California) nói: “Tôi có đề nghị một dự luật đưa Việt Nam trở lại danh sách CPC vì hồ sơ đàn áp tôn giáo của họ. Tôi cũng đưa ra dự luật, cùng với ông Joseph Cao, đề nghị trừng phạt giới chức Việt Nam vi phạm nhân quyền. Chúng ta nên thông qua những dự luật này. Ðó là điều tối thiểu cần làm.”



Các nhân chứng tại buổi điều trần. (Hình: BPSOS)


Về nhạc sĩ Việt Khang, ông Royce nói: “Hôm nay, nhạc sĩ này vẫn còn ngồi trong tù chỉ vì sáng tác nhạc và bỏ lên Internet. Nhạc sĩ này, giống như các tù nhân chính trị khác tại Việt Nam, nên được thả tự do ngay hôm nay.”


“Buổi điều trần này tiếp tục soi sáng những điểm quan trọng về những vi phạm này. Tôi hy vọng chính quyền Obama chú ý,” ông Royce nói tiếp.


Trả lời phỏng vấn nhật báo Người Việt, Tiến Sĩ Nguyễn Ðình Thắng, giám đốc điều hành tổ chức BPSOS, một trong năm nhân chứng phát biểu tại buổi điều trần, nói: “Ðây là một buổi điều trần quan trọng. Ngoài những vấn đề nhân quyền, tự do tôn giáo, ca sĩ Việt Khang, lần đầu tiên, chúng tôi cũng đưa ra vấn đề chính quyền Việt Nam đàn áp người Hmong tại Mường Nhé, có đưa ra danh sách người chết và người bị bắt nữa.”


“Tôi nghĩ, đây là ‘bàn đạp’ để Dân Biểu Smith và các dân biểu khác đẩy mạnh dự luật nhân quyền Việt Nam tại Quốc Hội,” Tiến Sĩ Thắng nhận xét.


Ông cho biết, ngoài ông ra, buổi điều trần còn có các nhân chứng khác như ông Joseph Cao (cựu dân biểu Hoa Kỳ), cô Vũ Phương-Anh (từng là nạn nhân của vụ buôn người ở Jordan trước đây), ông Rong Nay (giám đốc điều hành tổ chức “Montagnard Human Rights Organization”) và ông John Sifton (Human Rights Watch).


Ông Thắng cũng cho biết, ngoài hai dân biểu nêu trên, buổi điều trần còn có sự tham dự của các dân biểu Al Green (Dân Chủ-Texas), Dana Rohrabacher (Cộng Hòa-California), Jeff Fortenberry (Cộng Hòa-Nebraska) và Donald Payne (Dân Chủ-New Jersey).


Sau buổi điều trần, theo Tiến Sĩ Thắng, BPSOS đã tổ chức một buổi tiếp xúc giữa đồng hương Việt Nam và cô Vũ Phương-Anh, đồng thời giới thiệu về hoạt động của Liên Minh CAMSA, một tổ chức chống buôn người, vào lúc 7 giờ 30 tối, tại văn phòng ở Falls Church, Virginia.


 


–––


Liên lạc tác giả: [email protected]

Bà Maria Nguyễn Mùi

 

Ông Nguyễn Văn Sáng

 

Ông Vũ Long Mão

 

Nhạc sĩ Nhật Ngân

 

Nhạc sĩ Nhật Ngân

 

Nhạc sĩ Nhật Ngân

 

Nhạc sĩ Nhật Ngân

 

Bà Nguyễn Thị Diệu Tâm

 

Bà Nguyễn Thị Diệu Tâm

 

Bà Nguyễn Thị Diệu Tâm

 

Bà Vương Thị Kim

 

Bà Vương Thị Kim

 

Tin mới cập nhật